Các câu độc lập về nội dung chưa có sự liên kết và lôgic…Đôi khi các em còn viết câu không rõ ý, từ lặp lại nhiều…Là một giáo viên giảng dạy ở lớp 2, tôi rất băn khoăn và trăn trở: Làm t
Trang 11 MỞ ĐẦU 1.1 Lí do chọn sáng kiến kinh nghiệm:
Tiếng mẹ đẻ có vai trò cực kì quan trọng trong đời sống cộng đồng và đời sống con người Đó là phương tiện để giao tiếp và tư duy Đối với trẻ em, tiếng
mẹ đẻ càng có vai trò quan trọng K.D.U-sin-xki (1824 – 1870) - một nhà giáo dục nổi tiếng thế giới đã chỉ rõ: “Trẻ em đi vào đời sống tinh thần của mọi người xung quanh nó duy nhất thông qua phương tiện tiếng mẹ đẻ và ngược lại, thế giới bao quanh đứa trẻ được phản ánh qua nó chỉ thông qua công cụ này” Do đó trẻ em cần được học tiếng mẹ đẻ một cách khoa học trong các giờ học Tiếng Việt đặc biệt là trong phân môn Tập làm văn Tiếng mẹ đẻ có tính chất hai mặt:
nó vừa là đối tượng học tập của học sinh, vừa tạo cho các em công cụ để học các môn học khác, là công cụ tư duy, giao tiếp
Tập làm văn là một phân môn có vị trí đặc biệt trong chương trình Tiếng Việt ở Tiểu học Nó nối tiếp một cách tự nhiên các bài học khác nhau của môn Tiếng Việt nhằm giúp học sinh tạo ra một năng lượng mới: năng lực sản sinh ngôn bản nói hoặc viết Đây là một phân môn mang tính chất thực hành tổng hợp sáng tạo và mang đậm dấu ấn cá nhân trong quá trình tạo lập ngôn bản Làm văn là một hoạt động giao tiếp Dạy làm văn cho học sinh thực chất là dạy cho các em nắm được cơ chế của việc sản sinh ngôn bản nói và viết theo đúng quy tắc ngôn ngữ Để sản sinh được các bài văn, học sinh phải có nhiều kĩ năng: nghe, nói, đọc, viết kĩ năng phân tích đề, tìm ý, lập dàn ý, viết đoạn và liên kết đoạn
Phân môn Tập làm văn góp phần bổ sung kiến thức đồng thời cùng các môn học khác rèn luyện tư duy, phát triển ngôn ngữ và hình thành nhân cách cho học sinh Trong trường Tiểu học, môn Tiếng Việt có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với học sinh bởi nó là môn học cung cấp cho các em những kiến thức cần thiết trong giao tiếp hàng ngày Nó giúp các em phát triển toàn diện, hình thành
ở các em những cơ sở của thế giới khoa học, góp phần rèn luyện trí thông minh, hình thành tình cảm, thói quen đạo đức tốt đẹp của con người mới
Phân môn Tập làm văn ở Tiểu học có nhiệm vụ rất quan trọng là rèn kĩ năng nói và viết Thế nhưng hiện nay, đa số các em học sinh lớp 2 đều rất sợ học phân môn Tập làm văn vì không biết nói gì, viết gì Ngay cả bản thân giáo viên đôi khi cũng không tự tin lắm khi dạy phân môn này so với các môn học khác Trong chương trình Tập làm văn lớp 2, ngay từ đầu năm học, các em được làm quen với đoạn văn và được rèn kĩ năng viết đoạn văn từ 3 đến 5 câu Tôi dự giờ thăm hỏi một số lớp, tôi nhận thấy các em còn lúng túng, nhiều học sinh làm bài chưa đạt yêu cầu Các em thường lặp lại câu đã viết, dùng từ sai, cách chấm câu còn hạn chế; có em viết không đúng yêu cầu của đề bài hoặc có những bài làm đảm bảo về số câu nhưng viết không đủ ý
Việc dạy cho học sinh viết đoạn văn chính là quá trình giáo viên khơi dậy
sự hiểu biết và cảm nhận của các em về người, vật và cuộc sống xung quanh Điều đó đòi hỏi giáo viên dạy cho học sinh có cách tổ chức, sắp xếp câu, ý sao cho lôgic, cách sử dụng từ chính xác và hay khi viết Song thực tế chỉ ra rằng một số học sinh lớp khó nhận thức được việc sắp xếp ý (cảm nhận của mình) theo trật tự đúng Vốn sống của các em còn hạn chế, do đó khi diễn đạt các em
Trang 2gặp rất nhiều khó khăn, sự sắp xếp tổ chức câu trong đoạn còn rời rạc Các câu độc lập về nội dung chưa có sự liên kết và lôgic…Đôi khi các em còn viết câu không rõ ý, từ lặp lại nhiều…Là một giáo viên giảng dạy ở lớp 2, tôi rất băn khoăn và trăn trở: Làm thế nào để giúp các em thực hiện được mục tiêu đã đề
ra? Đây là lí do tôi chọn và viết Sáng kiến kinh nghiệm với nội dung: “Một số kinh nghiệm nâng cao chất lượng viết đoạn văn ngắn cho học sinh lớp 2”
nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy - học phân môn Tập làm văn lớp 2
1.2 Mục đích nghiên cứu:
- Đề tài góp phần khắc phục được hạn chế về cách viết một đoạn văn ngắn với câu văn cộc lốc, không đúng ngữ pháp, hay câu văn không rõ ràng, sự sắp xếp các câu văn không lôgíc Qua đó bồi dưỡng lòng say mê yêu thích con người, cảnh vật xung quanh các em
- Góp phần vào đổi mới cách dạy tiếng Việt, giúp học sinh có kĩ năng viết đoạn văn ngắn trong phân môn Tập làm văn lớp 2 theo hướng phát huy tính cực, chủ động, sáng tạo của học sinh
- Từ cách đổi mới phương pháp dạy của thầy góp phần đổi mới cách học của trò Phát huy hết khả năng tự phát hiện của học sinh thông qua cách tổ chức câu, ý sao cho lôgíc, cách sử dụng từ chính xác và hay khi viết
1.3 Đối tượng nghiên cứu:
- Nội dung, chương trình, Sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 2, đặc biệt là phân môn Tập làm văn lớp 2 và một số tài liệu tham khảo
- Một số biện pháp nhằm giúp học sinh lớp 2 viết đoạn văn ngắn trong giờ Tập làm văn
1.4 Phương pháp nghiên cứu:
1.4.1 Phương pháp vận dụng:
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp thực hành giao tiếp
- Phương pháp dạy học phát huy tính tích cực của học sinh
1.4.2 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
1.4.3 Phương pháp điều tra thực trạng
Trang 32 NỘI DUNG 2.1 Cơ sở lí luận:
2.1.1 Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh lớp 2:
Học sinh Tiểu học, đặc biệt là học sinh lớp 2, các em vừa chuyển hoạt động chủ đạo từ vui chơi sang học tập Các em hiếu động, ham chơi, sự tập trung cho học tập và chú ý chưa cao Tư duy của các em nặng về trực quan cụ thể, tư duy trừu tượng chưa phát triển Do đó, khi tổ chức dạy học, giáo viên phải linh hoạt sáng tạo thì mới có hiệu quả
2.1.2 Đặc điểm về chương trình, sách giáo khoa:
Như chúng ta đã biết, ở lớp 1 học sinh mới chỉ dừng lại ở mức độ tập nói hoặc viết câu có nội dung theo chủ đề bài học hoặc tìm tiếng nói có âm vần vừa học Các em được ghép tiếng và nói những câu đơn giản, riêng lẻ có nội dung gần gũi với cuộc sống của các em hoặc ở các bài tập đọc Đến lớp 2 các em đã phải viết đoạn từ 1 đến 3 câu rồi cao hơn từ 4 đến 5 câu kể về một sự việc đơn giản mình cũng chứng kiến (tham gia) hoặc tả sơ lược về người, vật xung quanh các em Ở học kỳ I, chủ yếu các em được viết đoạn từ 3 đến 5 câu kể về người thân như: Cô giáo, ông, bà, anh, chị, em và rộng hơn là toàn thể gia đình Song đến học kỳ II các em được viết đoạn tả con vật (chim ), tả cảnh (biển), tả cây cối, tả người (ảnh Bác Hồ) Tuần 34 và 35 học sinh được kể về những việc làm
mà bản thân chứng kiến hoặc tham gia …
- Xen kẽ giữa các bài tập có yêu cầu kể (tả) nói trên có 2 dạng bài kể (tả) con vật được viết đầy đủ song xáo trộn trật tự câu nhằm mục đích củng cố về liên kết câu, gắn kết ý …
- Mở đầu ngay ở tuần 1, sách giáo khoa đã giới thiệu cách kể theo nội dung tranh sau đó viết thành đoạn Đây chính là hình thức giúp học sinh vận dụng linh hoạt kỹ năng, vốn hiểu biết khi học phân môn kể chuyện vào viết đoạn văn ngắn
2.1.3 Vị trí, nhiệm vụ, nội dung của phân môn tập làm văn lớp 2: a.Vị trí :
Ở tiểu học nhất là lớp 2, Tập làm văn là một trong những phân môn có tầm quan trong đặc biệt (ở lớp 1 các em chưa được học, lên lớp 2 học sinh mới bắt đầu được học, được làm quen)
Môn tập làm văn giúp học sinh có kỹ năng sử dụng Tiếng Việt được phát triển từ thấp đến cao, từ luyện đọc cho đến luyện nói, luyện viết thành bài văn theo suy nghĩ của từng cá nhân Tập cho các em ngay từ nhỏ có những hiểu biết
sơ đẳng đó cũng là rèn cho các em tính tự lập, tự trọng Con người văn hóa sẽ hình thành từ các em từ những việc nhỏ nhặt, tưởng như không quan trọng đó
b Nhiệm vụ :
Làm văn có nghĩa là tạo lập văn bản Nhiệm vụ chính của phân môn Tập làm văn là rèn luyện cho học sinh kỹ năng tạo lập văn bản Ở đây thuật ngữ “văn bản” được dùng để chỉ sản phẩm hoàn chỉnh của lời nói trong một hoàn cảnh giao tiếp cụ thể Đó không nhất thiết là một bài văn gồm nhiều câu; nhiều đoạn; cũng không nhất thiết phải ở dạng viết; càng không phải chỉ là loại văn kể chuyện hay miêu tả theo phong cách nghệ thuật Trong hoàn cảnh giao tiếp cụ thể, sản phẩm lời nói mà một người tạo lập được có thể chỉ là một câu chào, một
Trang 4lời cảm ơn hay một vài dòng thăm hỏi, chúc mừng trên tấm thiếp…Đối với lớp
2, dạy Tập làm văn là trước hết là rèn luyện cho học sinh kỹ năng phục vụ học tập và giao tiếp hàng ngày, cụ thể là:
* Dạy các nghi thức lời nói tối thiểu, như: chào hỏi, tự giới thiệu, cảm ơn, xin lỗi, yêu cầu, khẳng định, phủ định, tán thành…
* Dạy một số kỹ năng phục vụ học tập và đời sống, như :khai bản tự thuật ngắn, viết những bức thư ngắn, nhận và gọi điện thoại, đọc và lập danh sanh sách học sinh…
Cuối cùng cũng như các phân môn và môn học khác, phân môn Tập làm văn, thông qua nội dung dạy học của mình, có nhiệm vụ trao dồi cho học sinh thái độ ứng xử có văn hóa, tinh thần trách nhiệm trong công việc, bồi dưỡng những tình cảm lành mạnh cho các em
c Nội dung:
Nội dung các bài học về Tập làm văn ở lớp 2 giúp các em thực hành rèn luyện các kỹ năng nói, viết, nghe phục vụ cho học tập và giao tiếp hàng ngày, cụ thể:
Thực hành về các nghi thức lời nói tối thiểu: chào hỏi, tự giới thiệu, cảm
ơn, xin lỗi…
Thực hành về kỹ năng phục vụ học tập và đời sống hàng ngày, như: viết bản tự thuật ngắn, lặp danh sách học sinh, tra mục lục sách, …
Thực hành rèn kỹ năng diễn đạt (nói, viết), như: kể về người thân, tả biển,
tả cây cối, ……
Thực hành rèn kỹ năng nghe :
Với cách biên soạn này, giờ dạy Tập làm văn trở nên linh hoạt hơn, gắn với cuộc sống đời thường hơn và giúp học sinh hứng thú trong học tập
2 2 Thực trạng việc dạy học sinh lớp 2 viết đoạn văn ngắn trong giờ Tập làm văn ở Trường Tiểu học Hàm Rồng.
2.2.1 Ưu điểm
a Vài nét về tình hình địa phương và nhà trường:
Trường Tiểu học Hàm Rồng nằm trên địa bàn phường Hàm Rồng là phường có phong trào học tập và truyền thống hiếu học Đó là niềm tự hào và là niềm động lực luôn luôn động viên giáo viên và học sinh phát huy truyền thống
ấy để thi đua dạy tốt học tốt, góp phần vào sự nghiệp giáo dục của đất nước Hiện nay, trường đang vững bước đi lên nhờ đội ngũ cán bộ quản lí có năng lực, giàu kinh nghiệm, nhiệt tình; đội ngũ giáo viên yêu nghề mến trẻ, hết lòng vì học sinh thân yêu Trường nhiều năm liền đạt danh hiệu là trường tiên tiến xuất sắc, có nhiều thành tích đáng kể Trường có 16/16 lớp được học 9 buổi/ tuần nên giáo viên có điều kiện rèn cho các em học tập được tốt hơn Khối 2 có 149
em, chia làm 4 lớp Các em học sinh rất ham tìm tòi hiểu biết, ưa tham dự vào các hoạt động Đội - Sao nhi đồng Hầu các em đều được gia đình, nhà trường quan tâm, giáo dục các em ngay từ nhỏ nên các em đều ngoan và có ý thức tốt
b Về kiến thức trong sách giáo khoa:
Nói chung kiến thức trong sách giáo khoa được sắp xếp một cách hợp lí, lôgic đi từ đơn giản đến phức tạp, từ cách nhìn thực tế đến sự vận dụng vốn sống, vốn hiểu biết để viết đoạn văn Học sinh được dạy các kĩ năng kể (tả) đơn
Trang 5giản Song không phải kể lại hoặc tả lại câu chuyện cảnh vật theo nội dung bài tập đọc dựa vào lời kể (tả) của tác giả mà các em được kể (tả) những gì có và diễn ra trong cuộc sống xung quanh Điều này đã phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong kĩ năng viết đoạn Do đó, ta có thể khẳng định rằng: Sách giáo khoa Tiếng Việt 2 đặc biệt chú trọng tới rèn kĩ năng viết đoạn văn cho học sinh
2.2.2 Những khó khăn hạn chế khi dạy học sinh lớp 2 viết đoạn văn ngắn
a Về phía giáo viên:
- Một số giáo viên chưa coi trọng việc rèn viết đoạn văn cho học sinh; cách dạy của giáo viên còn đơn điệu, lệ thuộc một cách máy móc vào sách giáo viên, hầu như rất ít sáng tạo, chưa linh hoạt, chưa cuốn hút được học sinh Cách dạy của giáo viên có phần khuôn mẫu
Ví dụ: Khi dạy học sinh bài Tập làm văn tuần 20 “Tả ngắn về bốn mùa" Giáo viên đã hướng dẫn gợi mở các câu hỏi theo sách giáo khoa:
+ Mùa hè bắt đầu từ tháng nào trong năm?
(Mùa hè bắt đầu từ tháng tư trong năm)
+ Mặt trời mùa hè như thế nào ?
(Mặt trời mùa hè rất chói chang)
+ Cây trái trong vườn như thế nào ?
(Cây trong vườn có rất nhiều hoa quả )
+ Học sinh thường làm gì trong dịp nghỉ hè ?
(Học sinh thường được vui chơi trong dịp nghỉ hè)
- Giáo viên chưa vận dụng kỹ năng tả “Mùa Xuân" của bài tập 1 vào hướng dẫn bài tập 2 Sự dập khuôn máy móc như vậy dẫn đến bài viết của học sinh là bốn câu thiếu lôgíc và sáng tạo, không phát huy được tính tích cực của học sinh
- Khi trao đổi với giáo viên dạy lớp 2 về cách hướng dẫn học sinh làm bài tập "Viết đoạn văn ngắn", đa số giáo viên đều trả lời rằng:
Bước 1: Học sinh đọc yêu cầu bài
Bước 2: Giáo viên nêu yêu cầu của bài: Viết đoạn văn từ 3 đến 5 câu, các câu phải liên kết với nhau
Bước 3 : Học sinh viết vào vở
Bước 4 : Chấm chữa lỗi
+ Gọi 1 hoặc 2 học sinh đọc bài viết
+ Giáo viên chấm bài, chữa một số lỗi sai về câu từ
- Với cách hướng dẫn như trên học sinh khó có thể nhận ra nội dung đoạn viết cần có những gì? Liên kết câu như thế nào? Cách diễn đạt làm sao cho thoát ý… Đến bước 4 chấm lỗi như vậy chưa có kết quả thiết thực đối với học sinh vì đối tượng học sinh lớp 2 các em dễ nhớ nhưng nhanh quên Do đó, cái sai của học sinh vẫn được lặp lại trong bài
b Về phía học sinh
- Các em học sinh lớp 2 vốn sống còn ít, vốn hiểu biết về Tiếng Việt còn rất
sơ sài, chưa định rõ trong giao tiếp, viết văn câu còn cụt lủn Hoặc câu có thể có
đủ ý nhưng chưa có hình ảnh Các từ ngữ được dùng về nghĩa còn chưa rõ ràng
Trang 6Việc trình bày, diễn đạt ý của các em có mức độ rất sơ lược, đặc biệt là khả năng miêu tả
- Học sinh có hứng thú trong giờ Tập làm văn song chủ yếu tập trung vào các bài tập làm miệng với các yêu cầu nói lời cảm ơn, xin lỗi, đáp lại lời khẳng định, phủ định… Học sinh thích thú nói về các con vật, người, quang cảnh và những gì diễn ra xung quanh Song vốn từ các em còn chưa nhiều, kỹ năng diễn đạt bằng ngôn ngữ viết của học sinh còn hạn chế nên đôi khi các em chưa nhận
ra được sự khác biệt giữa các ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết
Ví dụ: Khi học bài tập làm văn tuần 10: Dựa theo lời kể bài 1 hãy viết một đoạn văn ngắn (từ 3 đến 5 câu) kể về ông, bà hoặc người thân của em
Bài viết của học sinh: " Bà em đã lên 65 tuổi rồi Da mịn màng Tóc dài óng ả Bà cho em ăn bánh Bà rủ em đi chợ sau đó hai bà cháu lại đi chơi"
- Học sinh thường viết theo ý hiểu bằng ngôn ngữ của mình cho nên câu văn chưa giàu hình ảnh, dùng từ chưa phù hợp
Ví dụ: Cũng viết đoạn văn ngắn kể về ông, bà hoặc người thân ở bài tập làm văn nói trên có một học sinh viết: "Ông đã già, 70 tuổi Nghề là thợ xây Hôm nào ông cũng đi tập thể dục vào sáng sớm."
- Một số bài viết của học sinh còn lộn xộn về câu, ý, dùng từ chưa đúng vào văn cảnh, câu rời rạc thiếu sự liên kết
Ví dụ: Đây là đoạn văn của một học sinh khi viết đoạn văn tả về một loài chim mà em thích ( Tập làm văn tuần 21) như sau:
"Những ngày đi học về em cảm thấy rất nhớ nó Mỏ nó mượt và nó hót rất hay Em rất thương nó và nó đẹp Bộ lông nó mượt Hình dáng của con bồ câu rất thích thú"
- Đôi khi học sinh viết câu dùng cụm từ so sánh để diễn tả nội dung song
sự so sánh ấy rất khập khiễng
Ví dụ: Khi viết đoạn văn kể về bà có em viết: "Da mặt bà em nhăn nheo như quả bưởi héo"
Có em lại viết “Mỗi khi bà cười để lộ vài chiếc răng sữa trông rất duyên”
- Một lỗi nữa mà học sinh hay mắc là trả lời theo kiểu nắp đuôi cho nên câu văn thiếu sự hấp dẫn, sinh động
Ví dụ : Khi dạy bài Tập làm văn tuần 8 để viết đoạn văn kể về cô giáo (thầy giáo) cũ của em sách giáo khoa có mấy câu hỏi gợi ý trong đó có câu hỏi:
+ Tình cảm của cô đối với học sinh như thế nào?
+ Em nhớ nhất điều gì ở cô (thầy)?
+ Tình cảm của em đối với thầy (cô) như thế nào?
Có em viết như sau: Tình cảm của cô đối với em rất tốt Em nhớ nhất điều
là cô giáo rất dịu dàng và viết chữ rất đẹp Tình cảm của em đối với cô rất kính trọng
2.2.3 Nguyên nhân của thực trạng
- Thứ nhất: Do học sinh chưa có kỹ năng quan sát
Do tâm lý lứa tuổi, do chưa được rèn luyện thường xuyên nên các em chưa có cách quan sát cụ thể chi tiết Các em chỉ quan sát thoáng qua, hời hợt, thậm chí có em còn không để ý đến đối tượng cần quan sát Thêm vào đó khả
Trang 7năng tưởng tượng còn hạn chế, thiếu vốn sống thực tế Do vậy khi viết đoạn văn còn có những câu văn lạc lõng không sát thực với yêu cầu của đề bài
- Thứ hai: Chưa biết dùng từ, đặt câu,
Vốn từ của học sinh lớp 2 còn nghèo nàn, chưa hiểu hết nghĩa của từ , chưa hiểu nhiều về cấu tạo của câu nên khi viết đoạn văn các em còn nhiều hạn chế Các em không biết viết thế nào, viết từ đâu để thành một đoạn văn
- Thứ ba: Chưa có kỹ năng sắp xếp câu thành đoạn
Từ chỗ nói chưa thành câu, nói câu cộc lốc nên khi viết các em bị chi phối nhiều Hơn nữa các em còn không biết viết câu nào trước, câu nào sau, viết chưa thành câu đã chấm hết câu, viết xuống dòng tùy tiện do vậy nhiều bài văn của các em viết không thành đoạn theo dung yêu cầu
- Thứ tư: Giáo viên dạy phần lý thuyết chưa tốt
Nhiều giáo viên chưa chuẩn bị kĩ nội dung bài trước khi lên lớp, chưa thực sự đổi mới phương pháp, chưa tự giác tự nghiên cứu trau dồi thêm chuyên môn nghiệp vụ để phục vụ công tác giảng dạy
2.2.4 Tiến hành khảo sát
- Sau khi dạy xong bài tập làm văn tuần 8 tôi khảo sát 2 lớp: lớp 2A4 với
đề bài như sau :
Đề bài: Em hãy viết một đoạn văn ngắn từ 3 đến 5 câu kể về cô giáo lớp 1 của em
Thời gian: 15 phút
Kết quả đạt được như sau:
Khối
lớp
Tổng số học
sinh
Hoàn thành tốt Hoàn thành Chưa hoàn thành
- Nhìn vào bảng số liệu ta nhận thấy ngay rằng tỉ lệ bài viết chưa đạt yêu cầu và đạt trung bình khá cao
- Trước thực trạng đó tôi đã tìm tòi, tham khảo nghiên cứu và đưa ra một
số giải pháp cụ thể
2.3 Một số giải pháp để hướng dẫn học sinh lớp 2 viết đoạn văn ngắn trong phân môn Tập làm văn
Bi
ện pháp 1: Tạo cho học sinh có thói quen quan sát tranh ảnh.
Giáo viên cần chú trọng việc rèn viết đoạn văn ngắn cho học sinh Cần coi đây là công việc có vị trí quan trọng trong chương trình Tiếng Việt lớp 2 Vì có viết đoạn văn tốt thì học sinh mới có nền tảng vững chắc để học văn sau này
Giáo viên yêu cầu học sinh có thói quen quan sát những sự vật hiện tượng xung quanh để ghi nhận lại và sử dụng khi thật cần thiết Vì qua thực tế đôi khi tôi cho các em một bài tập tả về cảnh biển, có em bảo là con chưa bao giờ nhìn thấy biển Quả đúng như vậy, vì các em được sinh ra và lớn lên ở nông thôn nên các em không nhìn thấy biển là đúng Bởi thế giáo viên cũng cần sưu tầm những
Trang 8phim ảnh để có thể trình chiếu cho các em, cho các em quan sát về cảnh biển,… hoặc vào dịp nghỉ hè các em hay được bố mẹ cho đi tham quan tắm biển, nhân
đó, giáo viên có thể yêu cầu học sinh quan sát kỹ để có ý tưởng cho tập làm văn
tả cảnh biển
Tranh vẽ cảnh biển Ảnh chụp cảnh biển
Bi
ện pháp 2: Cung cấp vốn từ ngữ cho học sinh.
Để các em có thể làm được một bài văn tốt, các em phải có vốn từ ngữ phong phú Mà vốn từ đó, có em tích lũy khá nhiều nhưng chưa biết vận dụng
Trang 9Có em thì có rất ít hoặc chưa hề có Bởi vậy, giáo viên chính là người cung cấp.
Mà cung cấp ở đâu? Tôi nghĩ trong các bài tập đọc có khá nhiều Mỗi chủ đề của môn Tiếng Việt thì môn tập đọc đều có những bài văn, bài thơ nói về chủ để đó Trong các tiết dạy, giáo viên nên tập cho học sinh trả lời thành câu đủ ý và chú ý đến những bài tập đọc có liên quan đến tiết tập làm văn Từ đó học sinh có thể rút ra những câu văn hay, từ ngữ đẹp và ghi nhớ sau này vận dụng
Ví dụ: Qua bài Tôm Càng và Cá Con học sinh rút ra được đoạn văn tả về chú Cá Con trong bài “Con vật thân dẹt, trên đầu có đôi mắt tròn xoe, toàn thân phủ một lớp vẩy bạc óng ánh”
Ảnh trong bài: Tôm Càng và Cá Con – SGK trang …
Vốn từ còn có trong phân môn luyện từ và câu Giáo viên có thể cho các
em chơi trò chơi, thi đua tìm từ ngữ tả về chú cá Các em sẽ rất hứng thú và tìm được rất nhiều từ
Để hỗ trợ cho học sinh, giáo viên cần cung cấp cho học sinh: Nhiều từ ngữ gợi tả, từ láy, từ tượng thanh, tượng hình…Ví dụ: Mặt biển xanh và rộng thành mặt biển xanh ngắt và rộng mênh mông Nối các câu văn lại thành những
từ ngữ liên kết như: và, thì, nếu, vậy là…
Lưu ý học sinh trong đoạn văn tránh lặp lại từ nhiều lần mà phải thay những từ ngữ lặp lại bằng từ có ý nghĩa tương tự, ví dụ: Bác Hồ thành Bác, Người…thay những từ ngữ thông thường thành những từ ngữ trau chuốt hơn Ví dụ: buổi sáng thành buổi sớm mai, buổi bình minh
Giáo viên có thể sưu tầm những bài văn hay và đọc cho học sinh nghe để học sinh học hỏi Trưng bày những bài văn hay của các bạn trong lớp để các em noi gương Tập ghi chép những từ hay, ý đẹp khi bắt gặp ở đâu đó vào một quyển
vở của riêng của mình Từ đó, vốn từ của các em sẽ ngày càng nhiều, càng phong phú
Mỗi đoạn văn là cả một thực tế sinh động diễn ra xung quanh các em Song có được đoạn văn theo yêu cầu của bài là cả một quá trình học sinh phải tư duy, phân tích, tổng hợp, sắp xếp…
Trang 10Một số bài văn mẫu của học sinh
Một số bài văn mẫu của học sinh
* Giáo viên cần trang bị cho học sinh một số từ thuộc chủ đề hoặc phù hợp với văn cảnh
Ví dụ:
- Tả nắng của mùa hè: nắng chói chang, nắng gắt gỏng, nắng như thiêu như đốt…
- Tả về tiếng hót của chim: hót líu lo, hót véo von, hót vang lừng …
- Tả về hình dáng người
+ Thân hình : mảnh khảnh, gầy gò, béo tròn, thon thả …
+ Nước da: đen sạm, trắng hồng, bánh mật, xanh xao, đỏ đắn, ngăm đen,
…
+ Mái tóc: đen bóng, óng mượt, bồng bềnh, loăn xoăn…
+ Khuôn mặt: Trái xoan, đầy đặn, tròn trịa, xương xương, vuông vức