1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Thành phần ong ký sinh ruồi đục lá họ Agromyzidae và một số đặc điểm sinh học của loài ong Neochrysocharis formosa Westwood vụ Xuân 2006 tại Hà Nội và vùng phụ cận

7 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 255,68 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết tiến hành điều tra thành phần ruồi đục lá họ Agromyzidae, thành phần cây ký chủ và thành phần ong ký sinh của chúng được tiến hành theo phương pháp điều tra ngẫu nhiên, lấy mẫu bổ sung ở các ruộng trồng rau và khu vực có cây dại tại khu vực Hà nội và phụ cận. Mẫu lá có đường đục bị nghi là có ong ký sinh được đem về nuôi để thu ký sinh trong phòng thí nghiệm tại Bộ môn Côn trùng, Trường Đại học Nông nghiệp I.

Trang 1

THÀNH PHẦN ONG KÝ SINH RUỒI ĐỤC LÁ HỌ Agromyzidae VÀ

MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA LOÀI ONG Neochrysocharis formosa Westwood

VỤ XUÂN 2006 TẠI HÀ NỘI VÀ VÙNG PHỤ CẬN SPECIES COMPOSITION OF LEAFMINER PARASITOID AND SOME BIO -ECOLOGICAL

CHARACTERISTICS OF TOMATO LEAFMINER PARASITOID Neochrysocharis formosa Westwood

(Eulophidae, Hymenoptera)

IN HANOI, VIETNAM

Lê Ngọc Anh và Đặng Thị Dung

Trường Đại học Nông nghiệp I

Abstract

Recent years, the leafminer (Diptera: Agromyzidae) is a serious pest in Vietnam and caused extensive

damage in many kind of crops This study shows the host plants of the leafminer, species composition of leafminer parasitoids and some bio-ecological characteristics of the most common parasitoid

Neochrysocharis formosa of the leafminer under laboratory conditions In general, the results showed a life

cycle of N.formosa was 12.0  0.4 days The effects of additional foods on the wap’s longevity and the rate

of parasitoid also were concerned With water, syrup, 20% honey and 100% honey; the longevity of these waps were 3.0 0.4, 5.8 0.3, 6.9 0.5 and 15.5 0.5 days; the rate of parasitoid were 30.0 2.45, 39.0

3.1, 42.0 2.9 and 58.5 3.9 %, respectively Parasitic capacity of N.formosa adults was highest at 24-48

hours after hatching (3.6 0.5 larvae) and lowest at 96 hours and more (1.0 0.6 larvae) and 11.80.6 larvae per couple One day instar larvae, two day instar larvae, three day instar larvae were recorded with high effect on parasitization rate, pupal rate and hatching rate of the waps

1 ĐẶT VẤN ĐỀ Trong những năm gần đây ruồi đục lá họ

Agromyzidae (bộ Diptera) đã trở thành dịch hại

quan trọng trên nhiều loại cây trồng như dưa

chuột, cà chua, khoai tây, các loại rau cải và đậu

đũa Trong đó, cà chua và dưa chuột là hai loại

cây trồng bị tấn công nghiêm trọng nhất Nếu

không tiến hành phòng chống kịp thời thì năng

suất có thể bị giảm tới 50%, thậm chí bị mất

trắng

Phòng chống ruồi đục lá vẫn dựa chủ yếu

vào biện pháp hoá học Bình quân trong một

vụ rau người nông dân ở Hà Nội và vùng phụ

cận thường phun thuốc 2-7 lần, đặc biệt có

nông dân phun đến 18 lần

Việc phòng chống sâu hại nói chung, ruồi đục

lá nói riêng không thể dựa mãi vào biện pháp hoá

học Biện pháp tốt nhất trong phòng chống ruồi

đục lá là biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp

(IPM), trong đó biện pháp sinh học là cốt lõi Rất

nhiều công trình nghiên cứu về thiên địch của

ruồi đục lá đã được công bố (Trần Thị Thiên An,

2003; Chen et al., 2003; Trần Đăng Hòa, Masami

Takagi , 2005; Hà Quang Hùng, 2002; Parella,

1987;) Bài viết này chúng tôi đề cập tới thành

phần ruồi đục lá và ong ký sinh của chúng ở khu vực Hà nội & phụ cận cũng như một số đặc điểm

sinh -thái học của loài ong Neochrysocharis formosa Westwood

2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Điều tra thành phần ruồi đục lá họ Agromyzidae, thành phần cây ký chủ và thành phần ong ký sinh của chúng được tiến hành theo phương pháp điều tra ngẫu nhiên, lấy mẫu bổ sung ở các ruộng trồng rau và khu vực có cây dại tại khu vực Hà nội và phụ cận Mẫu lá có đường đục bị nghi là có ong ký sinh được đem về nuôi

để thu ký sinh trong phòng thí nghiệm tại Bộ môn Côn trùng, Trường Đại học Nông nghiệp I Nghiên cứu sinh học ong ký sinh

Neochrysocharis formosa được thực hiện trong

điều kiện phòng thí nghiệm Thả 10 cặp ong vào mỗi chậu trồng cà chua có từ 20-30 giòi đục lá Cho ong ký sinh tiếp xúc với ký chủ trong vòng 24h, sau đó loại bỏ ong Hàng ngày theo giõi số lượng giòi bị đen Mỗi ngày mổ 2 lần 4-5 giòi bị đen cho đến khi hết, soi dưới kính hiển vi để xác định thời điểm trứng nở, sâu non, nhộng và trưởng thành, từ đó xác định vòng đời của ong ký

Trang 2

sinh

Thí nghiệm theo dõi ảnh hưởng của thức ăn

thêm đến tuổi thọ và tỷ lệ ký sinh được tiến thành

với 4 công thức (CTTN1: nước lã, CTTN 2: nước

đường 20%, CTTN 3: mật ong 20% và CTTN 4:

mật ong nguyên chất) Mỗi công thức lặp lại 4

lần 4 chậu trồng cà chua, mỗi chậu có 40 giòi

tuổi 1, đặt trong lồng mica có sẵn thức ăn Thả

vào mỗi lồng mica 2 cặp ong đã vũ hoá 1 ngày

Theo dõi 2 lần 1 ngày để xác định tuổi thọ của

ong và tỷ lệ ký sinh trên giòi

Để xác định ảnh hưởng của tuổi trưởng thành

ong ký sinh Neochrysocharis formosa đến khả

năng kí sinh trên giòi, đã tiến hành thí nghiệm

với 15 cặp ong vừa vũ hoá cho ăn thêm bằng

nước lã Từ 0-24h sau khi vũ hoá, thả 1 cặp ong

ký sinh vào chậu cà chua thứ nhất Sau 24h tiếp

xúc lại chuyển sang chậu cà chua thứ hai Cứ tiếp

tục chuyển ong sang các chậu cà chua khác sau

mỗi 24h tiếp xúc, đếm số giòi bị ký sinh trong

mỗi chậu Sau 96h vũ hoá, ong ký sinh đã được

tiếp xúc với chậu cà chua thứ năm có giòi Tiếp

tục lặp lại với 14 cặp ong còn lại

Thí nghiệm theo dõi ảnh hưởng của tuổi giòi

đến tỷ lệ ký sinh, tỷ lệ hoá nhộng và tỷ lệ hoá

nhộng của ong ký sinh N formosa được tiến hành

với 3 công thức 2 lần nhắc lại Mỗi công thức có

40 giòi ở các ngày tuổi khác nhau CTTN1: giòi

tuổi 1, CTTN 2: giòi 2 ngày tuổi và CTTN 3: giòi

3 ngày tuổi Mỗi CTTN thả 5 cặp ong đã vũ hoá

được 24h, có cho ăn thêm mật ong nguyên chất

Thả ong ký sinh vào chậu có giòi ở các ngày tuổi

khác nhau, sau 24h thì thả ong ra Theo dõi ngày

2 lần để xác định tổng số giòi bị ký sinh Soi dưới

kính để xác định tổng số ấu trùng hoá nhộng, sau

đó cắt những mẩu lá có nhộng ong ký sinh cho

vào ống nghiệm để thu bắt trưởng thành, từ đó

xác định được số ong vũ hoá ở các công thức thí

nghiệm

3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN Điều tra thu thập tại khu vực Hà nội và phụ cận

vụ xuân 2006 đã thu bắt được 7 loài ruồi đục lá thuộc họ Agromyzidae bộ Diptera Loài ruồi vàng

và ruồi đen 2 vằn bụng chưa giám định được tên khoa học (bảng 1) Trong số 7 loài ruồi thu được

thì L.sativae là loài phổ biến nhất gây hại trên tất

cả các cây trồng điều tra Liriomyza sp gây hại

trên 12 loại cây trồng khác nhau, sau đó đến loài

C.horticola 4 loài ruồi còn lại gây hại ít và mức

độ phổ biến không lớn

Bảng 1 Thành phần ruồi đục lá họ Agromyzidae

vụ xuân 2006 tại Hà Nội và phụ cận

phổ biến

1 Liriomyza sativae Blanchard +++

3 Liriomyza bryoniae

Kaltenbach

+

4 Chromatomyia horticola

Goureau

++

Ghi chú: (?)=Đang giám định tên khoa học

Các loài ruồi đục lá này gây hại trên 34 loài cây ký chủ khác nhau thuộc 11 họ thực vật Trong số 34 loài cây ký chủ thuộc 11 họ thực vật thì cà chua và đậu trạch là cây ký chủ của 4 loài

ruồi đục lá L.sativae, Liriomyza sp., L.bryonidae

và C.horticola; cải cúc, ngải cứu, đơn buốt là cây

ký chủ của 3 loài ruồi L.sativae, Liriomyza sp., Phytomyza sp và 2 loài ruồi mới (bảng 2)

Bảng 2 Thành phần cây ký chủ của ruồi đục lá vụ Xuân năm (Hà Nội và phụ cận, 2006)

Cây ký chủ Loài ruồi đục lá

TT Tên Việt

Nam Tên khoa học LS L.sp LB CH P.sp

Ruồi vàng

Ruồi đen

1 Bí ngô Cucurbita moschata Duch + +

Trang 3

Cây ký chủ Loài ruồi đục lá

TT Tên Việt

Nam Tên khoa học LS L.sp LB CH P.sp

Ruồi vàng

Ruồi đen

2 Mướp Luffa cylindrical L +

3 Gấc Momodica cochinchinensis L + +

4 Dưa bở Melo sinensis L +

5 Dưa chuột Cucumis sativus L + +

7 Cải ngọt Brassica chinensis L +

8 Su hào Brassica oleracea L +

9 Cải canh Brassica cernua Forbes +

10 Cải xoong Nastutium officinale R Br +

11 Su hào Brassica caulorapa Pasq +

12 Cà chua Lycopersicum esculentum Mill + + + +

13 Cà pháo Solanum sp + +

14 Cải dại Solanum indicum L +

15 Tầm bóp Physalis ungulata L +

16 Khoai tây Solanum tuberosum L +

17 Lu lu cái Physalis angulata L +

18 Đậu cô ve Phaseolus vulgarus L + +

19 Đậu trạch Phaseolus vulgaris L + + + +

20 Lạc Arachis hypogae L +

21 Đậu ván trắng Lablab purpureus L +

22 Đậu đũa Vignus esquipedalis W + +

23 Cúc vạn thọ Tagetes erecta L +

25 Cải cúc Chrysanthenum coronarium L + + +

26 Ngải cứu Artemytia vulgaris L + + +

27 Rau xà lách Luctuca sativa L + +

28 Kinh giới Elshorzia ciliata Thunb +

29 Húng quế Ocimum basilicum L +

30 Thầu dầu Ricinus communis L + +

31 Rau dền Amaranthus tricolor L +

32 Mùng tơi Basella rubra L +

33 Thiên lý Telosma cordata (Burm f.) Merr +

Trang 4

Cây ký chủ Loài ruồi đục lá

TT Tên Việt

Nam Tên khoa học LS L.sp LB CH P.sp

Ruồi vàng

Ruồi đen

34 Rau muống Ipomoea aquatica Forssk +

Ghi chú: LS: Liriomyza sativae; L.sp:Liriomyza sp.; LB: Liriomyza bryonidae;

CH: Chromatomyia horticola; P.sp: Phytomyza sp

Trên thế giới, số lượng loài ký sinh của ruồi

đục lá đã phát hiện được khá phong phú, tới 40

loài (Parella, 1987) Kết quả điều tra của chúng

tôi mới chỉ phát hiện 10 loài ong ký sinh trên các

loài ruồi đục lá, thuộc 5 họ của bộ cánh màng

Trong đó phổ biến nhất là họ Eulophidae với 5

loài ong, họ Braconidae với 2 loài Số lượng loài

chúng tôi phát hiện được nhiều hơn so với ở vùng

ngoại ô Tp Hồ Chí Minh (Trần Thị Thiên An,

2003) Các họ khác có số loài thu được ít hơn

Neochrysocharis formosa và Neochrysocharis sp

là 2 loài ong ký sinh có mức độ phổ biến nhất, bắt gặp hầu hết trên các mẫu mà chúng tôi tiến hành điều tra (bảng 3) Kết quả này khá phù hợp với các kết quả điều tra của tác giả Trần Đăng Hoà và ctv (2005) ở miền Trung và miền Nam Việt Nam

Bảng 3 Thành phần ong ký sinh ruồi đục lá vụ Xuân 2006 tại Hà nội và phụ cận

ký sinh

Mức độ phổ biến

1 Neochrysocharis formosa

(Westwood)

Ghi chú: +++: Xuất hiện nhiều >75%

++: Xuất hiện nhiều từ 25 - 75%

+: Xuất hiện ít từ 0 - 25%

Như trình bày ở trên, ong Neochrysocharis

formosa là loài ký sinh phổ biến hơn cả Do đó

chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu sinh học, sinh thái

của loài này

Kết quả thí nghiệm cho thấy ở điều kiện nhiệt

độ là 28,50C, ẩm độ 78,5% thời gian vòng đời trung

bình của loài ong ký sinh N formosa là 13, 1 ngày;

thời gian vòng đời dài nhất là 15, 5 ngày và ngắn

nhất là 12, 2 ngày

Khi cho ăn thêm mật ong nguyên chất thì tuổi

thọ và tỷ lệ ký sinh của loài K.formosa là cao

nhất: tuổi thọ trung bình đạt 15, 5 ngày và tỷ lệ

ký sinh là 58,5% Đối với các thức ăn khác như nước lã, nước đường 20% và mật ong pha loãng 20% thì tuổi thọ của ong thấp, tương ứng chỉ đạt 3,0; 5, 8 và 6, 9 ngày Tương tự, tỷ lệ ký sinh cũng chỉ đạt 30,0%; 39,0% và 42,0% tương ứng đối với các loại thức ăn thêm nêu trên

Trang 5

Bảng 4 Vũng đời của ong ký sinh

Neochrysocharis formosa Westwood

Thời gian phỏt dục (ngày) Pha phỏt dục Tối

đa

Tối thiểu

Trung bỡnh Trứng 2,5 1,8 2,1  0,2

Ong non 4,5 2,9 3,6  0,4 Nhộng 7,0 5,7 6,3  0,3 Tiền đẻ trứng 1,5 0,8 1,1  0,2 Vũng đời 15.5 12.2 13,1  0,4

Ghi chỳ: Thớ nghiệm ở nhiệt độ trung bỡnh 28,5 0 C và ẩm độ trung bỡnh 78,5%

Bảng 5 Ảnh hưởng của thức ăn thờm đến tuổi thọ

và tỷ lệ ký sinh của ong N formosa

Thức ăn thờm

Tối đa Tối thiểu Trung bỡnh Tối đa Tối thiểu Trung bỡnh

Ghi chỳ: Thớ nghiệm ở nhiệt độ trung bỡnh 28,50 C và ẩm độ trung bỡnh 78,5%

Nhịp điệu đẻ trứng ký sinh của ong ký sinh N

formosa tăng dần qua cỏc ngày sau vũ hoỏ, đạt

cao nhất vào khoảng thời gian 24-48h sau khi vũ

hoỏ với số cỏ thể bị ký sinh là 3,6 con/cặp ký sinh

và giảm dần cho đến khi ong chết Tổng số giũi

bị ký sinh trung bỡnh trờn một cặp ong là 11,9 con (hỡnh 1)

0.0

1.0

2.0

3.0

4.0

Tuổi trưởng thành

Hỡnh 1 Nhịp điệu đẻ trứng ký sinh của ong Neochrysocharis formosa

qua cỏc ngày sau vũ hoỏ Kết quả thớ nghiệm cho thấy tỷ lệ ký sinh đạt

cao nhất khi giũi 2 ngày tuổi, tỷ lệ hoỏ nhộng đạt

cao nhất khi giũi 3 ngày tuổi và tỷ lệ vũ hoỏ của

ong đạt cao nhất khi ký sinh trờn giũi 3 ngày tuổi (bảng 6)

Bảng 6 Ảnh hưởng của tuổi vật chủ đến tỷ lệ ký sinh, tỷ lệ hoỏ nhộng,

tỷ lệ vũ hoỏ của ong N formosa

Trang 6

Chỉ tiêu theo dõi Tuổi giòi

Ghi chú: Thí nghiệm ở nhiệt độ trung bình 28,5 0 C và ẩm độ trung bình 78,5%

4 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

- Tại khu vực trồng rau ở Hà Nội và phụ cận

đã thu bắt được 7 loài ruồi đục lá thuộc họ

Agromyzidae bộ Diptera, bao gồm Liriomyza

sativae Blanchard, Liriomyza sp., Liriomyza

bryonidae, Chromatomyia horticola Goureau,

Phytomyza sp và 2 loài ruồi vàng và ruồi đen 2

vằn bụng Đây là 2 loài ruồi mới thu bắt còn chưa

giám định được tên khoa học

- Các loài ruồi đục lá này gây hại trên 34 loài

cây ký chủ khác nhau thuộc 11 họ thực vật

- 10 loài ong ký sinh trên các loài ruồi đục lá đã

được ghi nhận, thuộc 5 họ của bộ Hymenoptera,

trong đó phổ biến nhất là họ Eulophidae và họ

Braconidae Trong số các loài ong ký sinh thu bắt

được thì 2 loài ong ký sinh Neochrysocharis formosa

và Neochrysocharis sp có mức độ phổ biến nhất

- Ở điều kiện nhiệt độ là 28,50C, ẩm độ 78,5%

thời gian vòng đời trung bình của loài ong

N.formosa là 13, 1 ngày

- Trong 4 loại thức ăn thêm là nước lã, nước đường 20%, mật ong pha loãng 20% và mật ong nguyên chất thì tuổi thọ và tỷ lệ ký sinh của loài

N.formosa là cao nhất khi thức ăn thêm là mật

ong nguyên chất, đạt trung bình là 15, 5 ngày và

58 5%

- Nhịp điệu đẻ trứng ký sinh của ong ký sinh

N formosa tăng dần qua các ngày sau vũ hoá và

đạt cao nhất là 3,6 con/cặp ong ký sinh vào khoảng thời gian 24-48h sau khi vũ hoá Tổng số giòi bị ký sinh trung bình trên một cặp ong là 11,

9 con Tỷ lệ ký sinh của ong N.formosa đạt cao

nhất khi giòi 2 ngày tuổi, tỷ lệ hoá nhộng đạt cao nhất khi giòi 3 ngày tuổi và tỷ lệ vũ hoá của ong đạt cao nhất khi ký sinh trên giòi 3 ngày tuổi

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Trần Thị Thiên An (2003), “Tình hình gây hại

của ruồi đục lá rau Liriomyza sativae B

(Agromyzidae: Diptera) ở Thành phố Hồ Chí Minh

năm 2002”, Tạp chí Khoa học kỹ thuật Nông–Lâm

nghiệpL số2/2003 Tr26

2 Le Ngoc Anh (2003), The leafminer Liriomyza

sativae Branchard (Agromyzidae: Diptera): Some

aspects of the biology and chemical control in

Northern Vietnam, Master thesis, Agricultural

University of Norway

3 Trond Hofsvang, Berit Snoan, Heidi Heggen,

Adril Andersen and Le Ngoc Anh (2005), Liriomyza

sativae Branchard (Diptera: Agromyzidae), an invasive

species in South-East Asia: Studies on its biologies in

Northern Vietnam; International Journal of Pest

Management, January-March 2005, 51(1): 71-80

4 Tran Dang Hoa, Tran Thi Thien An, and

Masami Takagi (2006), Agromyzid leafminers in

central and southern Vietnam: Surveys of host crops,

species composition and parasitoids, Bulletin of the

Institute of Tropical Agriculture Kyushu Univ., 28(1),

35 -41

5 Tran Dang Hoa, Tran Thi Thien An, Kazuhiko KONISHI and Masami TAKAGI (2006), “Abun dance of the parasitoid complex Associated with

Liriomyza spp (Diptera: Agromydae) on vegetable

Crops in Central and Southern Viet Nam”, J.Fac Agr

Kyushu Univ., 51(1), 115 -120 (2006)

6 Hà Quang Hùng (2002), Nghiên cứu đặc điểm

hình thái, sinh học, sinh thái học của ong Dacnusa

sibirica Telenga (Hym: Braconidae) kí sinh ruồi Liriomyza sativae Blanchard (Dip: Agromyzidae) hại

rau, đậu vùng Hà Nội và phụ cận, Báo cáo Hội nghị

khoa học Côn trùng toàn quốc (lần thứ 4), tháng 4

-2002, Nxb Nông nghiệp -2002, tr 203 - 209

7 Parella, M.P & V P Jones (1987),

“Development of integrated pest management strategies in floricultural crops”, Bull Entomol Soc Am 33: 28 -34

8 Spencer, K.A.(1973), Agromyzidae (Diptera)

Trang 7

of economic importance Ser Entomol 9.Dr W

Junk, B.V., The Hague, Netheriands 418 pp

9 Xue -xin CHEN, Fa - yong LANG, Zhi -

hong XU, Jun - hua HE and Yun MA (2003), “The

occurrence of leafminers and their parasitoids

on vegetable and weeds in Huangzhou area,

Southeast China”, Biocontrol 48: 515 - 527,

2003

Ngày đăng: 19/05/2021, 18:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w