1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Ứng dụng phương pháp phân tích thành phần chính, giản đồ yêu thích và cata trong đánh giá cảm quan sản phẩm hành tím chiên chân không

5 26 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 226,82 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong nghiên cứu này sử dụng phương pháp phân tích thành phần chính (PCA - Pricipal Components Analysis), lập giản đồ yêu thích của người tiêu dùng, kết hợp với phương pháp xử lý số liệu CATA (check-all-that-apply) để mô tả các thuộc tính cảm quan của sản phẩm hành tím chiên chân không. Lát hành được chiên ở nhiệt độ 110 - 130°C trong thời gian từ 6 - 10 phút (áp suất 620 mmHg).

Trang 1

Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng, 1998

TCVN 6427-2:1998 Tiêu chuẩn Việt Nam về Rau

quả và các sản phẩm rau quả-xác định hàm lượng

axit ascorbic, phần 2: Phương pháp thông thường

Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng, 2007

TCVN 5483:2007 Tiêu chuẩn Việt Nam về Sản

phẩm rau, quả - xác định độ axit chuẩn độ được

AOAC, 1984 Official methods of analysis Association of

Official Analytical Chemist 13th edition Washington,

D.C., USA

Bioversity International and CHERLA, 2008

Descriptors for Cherimoya (Annona cherimola

Mill.) Bioversity International, Rome, Italy:

CHERLA project, Malaga, Spain

Morton, J., 1987 Sugar Apple In: Fruits of warm

climates Julia F Morton, Miami, FL, p 69 - 72

Pinto, A.C.Q de, M.C.R Cordeiro, S.R.M de Andrade, F.R Ferreira, H.A de C Filgueiras, R.E Alves and

D.I Kinpara, 2005 Annona species International

Centre for Underutilised Crops University of

Southampton, Southampton, UK 135 pages

Rajsekhar, S., 2011 Pharmacognosy and pharmacology

of Annona squamosa: A review International Journal

of Pharmacy & Life Sciences (IJPLS), 2 (10): 1183-1189.

Wester, P.J., 1912 Annonaceous fruits and their

propagation Philippines Agriculture Review, (5):

298-304

Survey, collection and conservation of sugar apple genetic resources

in Ba Ria - Vung Tau province

Nguyen Tuan Vu, Le Thi Huyen, Pham Thi Muoi,

Do Van Thinh, Huynh Ky and Mai Van Tri

Abstract

Sugar apple (Annona squamosa L.) is a major fruit crop and has been widely grown for a long time in Ba Ria - Vung

Tau (BRVT) province However, the growing areas has been narrowing and the local varieties has been being replaced

by commercial varieties which are the major factors responsible to genetic erosion of this crop in the province A survey was conducted in major growing areas in the province for collection and conservation of genetic resources

of sugar apple during 2015 - 2016 Eight varietal groups were recorded and 40 plants with phenotypic differences (fruit rind and its color, shape and appearance) were selected, collected for conservation purpose These forty plants

were preserved in situ in the original orchards from May 2016 A germplasm collection of 200 plantlets grafted from budwoods collected from the above 40 selected plants (5 grafted plantlets per each) were grown and preserved ex situ

at the Southeast Horticultural Research Center in BRVT Some characteristics including yield and fruit quality of the

40 selected plants were also recorded and featured in this report

Keywords: Sugar apple, genetic resources, collection, conservation, Ba Ria - Vung Tau

ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH THÀNH PHẦN CHÍNH,

GIẢN ĐỒ YÊU THÍCH VÀ CATA TRONG ĐÁNH GIÁ CẢM QUAN

SẢN PHẨM HÀNH TÍM CHIÊN CHÂN KHÔNG

Ngô Văn Tài1 và Nguyễn Minh Thủy1

TÓM TẮT

Trong nghiên cứu này sử dụng phương pháp phân tích thành phần chính (PCA - Pricipal Components Analysis), lập giản đồ yêu thích của người tiêu dùng, kết hợp với phương pháp xử lý số liệu CATA (check-all-that-apply) để mô

tả các thuộc tính cảm quan của sản phẩm hành tím chiên chân không Lát hành được chiên ở nhiệt độ 110 - 130°C trong thời gian từ 6 - 10 phút (áp suất 620 mmHg) Chín sản phẩm chiên ở các điều kiện khác nhau được đánh giá bởi 50 người tiêu dùng với 8 thuộc tính cảm quan về màu, mùi và vị Dữ liệu được phân tích bằng phương pháp PCA

đã xác định tám thành phần chính quan trọng chiếm hơn 90% tích lũy phương sai Hành tím chiên ở 120°C trong

10 phút được đánh giá cảm quan tốt hơn các mẫu khác Các câu hỏi trong phương pháp CATA bao gồm các hiểu biết về đặc tính cảm quan và độ yêu thích sản phẩm Kết quả đã cho thấy tiện ích của các phương pháp phân tích

để xác định các thuộc tính cảm quan của sản phẩm là rất quan trọng cho sự chấp nhận của người tiêu dùng và xác định nhóm khách hàng tiềm năng

Từ khóa: Cảm quan, giản đồ yêu thích, hành tím chiên chân không, phân tích thành phần chính (PCA)

1 Bộ môn Công nghệ thực phẩm, Khoa Nông nghiệp và Sinh học ứng dụng, Trường Đại học Cần Thơ

Ngày nhận bài: 15/3/2018

Ngày phản biện: 20/3/2018 Người phản biện: TS Huỳnh Ngọc HàiNgày duyệt đăng: 16/4/2018

Trang 2

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Hành tím (Allium ascolanicum) có giá trị dinh

dưỡng cao, chứa nhiều hợp chất có hoạt tính sinh học

như polyphenol, flavonoid, quercetin, kaempferol và

anthocyanin (Prakash et al., 2007) Tuy nhiên việc

tiêu thụ hành tím trong nước chủ yếu là xuất khẩu

dạng thô hoặc tươi trong các hộ gia đình Áp dụng

công nghệ tiên tiến để duy trì chất lượng nguyên

liệu trong quá trình chế biến để đáp ứng nhu cầu

“lành mạnh, dinh dưỡng và tự nhiên” của người

tiêu dùng là điều cần thiết Công nghệ chiên chân

không sử dụng điều kiện áp suất dưới áp suất khí

quyển để hạ nhiệt độ sôi của dầu, do hàm lượng oxy

còn lại rất ít và nhiệt độ thấp nên giúp ổn định chất

lượng của dầu chiên, bảo vệ được màu tự nhiên và

các chất dinh dưỡng có trong thực phẩm (Garayo và

Moreira, 2002) Phân tích mô tả định lượng (QDA

- Quantitative Descriptive Analysis) là một kỹ thuật

phân tích hiệu quả để đánh giá và mô tả các đặc tính

cảm quan của thực phẩm Theo phương pháp QDA,

các thuộc tính sản phẩm được mô tả với cường độ

cụ thể cho sản phẩm và được xác định bằng cách

sử dụng cảm giác của các giác quan bởi các cảm

quan viên (Murray et al., 2001) Phân tích thành

phần chính (PCA) là một trong những phương

pháp phân tích dữ liệu đa biến đơn giản nhất và là

một công cụ được sử dụng rộng rãi trong đánh giá

cảm quan (Borgognone et al., 2001) QDA và PCA

đã được sử dụng để mô tả các thuộc tính cảm quan

với mức độ thành công lớn trong nhiều sản phẩm

thực phẩm Áp dụng CATA để đánh giá việc chấp

nhận sản phẩm, xác định các thuộc tính cảm quan

liên quan đến sở thích chung của người tiêu dùng

với mô hình biến phụ thuộc là biến nhị phân (chấp

nhận hoặc không được chấp nhận) Nghiên cứu đã

áp dụng PCA, CATA cho việc phân tích giá trị cảm

quan quan trọng và các sở thích của người tiêu dùng

đối với sản phẩm hướng đến phát triển công thức tối

ưu và sự hài lòng của khách hàng

II VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Vật liệu nghiên cứu

Hành tím được thu mua từ thị xã Vĩnh Châu,

tỉnh Sóc Trăng

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Chuẩn bị mẫu hành tím chiên chân không

Hành tím được bóc vỏ và xử lý ozone trong thời

gian 5 phút (Nguyễn Thị Trúc Ly và Nguyễn Minh

Thủy, 2017); sau đó được xắt lát 2 mm và chần 1 phút

trong nước 85°C Xử lý hành tím trong dung dịch

có 45% maltodextrin và 0,15% acid citric trong 45 phút Chiên hành tím được thực hiện trong thiết bị chiên chân không (MF 904 - Nhật Bản) chứa 5 lít shortening Dầu chiên được làm nóng trong 30 phút trước khi cho hành tím đã xử lý vào Mẫu được đặt vào lồng chiên và nhúng trong dầu với nhiệt độ cố định 110, 120 hoặc 130oC trong 6, 8, 10 phút Mẫu đạt thời gian yêu cầu được lấy ra khỏi máy chiên và

ly tâm loại dầu ngay lập tức Sản phẩm được chứa trong bao bì PA ở nhiệt độ phòng trước khi sử dụng cho đánh giá cảm quan

2.2.2 Đánh giá cảm quan sản phẩm hành tím chiên chân không

Các cảm quan viên được tuyển chọn ngẫu nhiên

và huấn luyện để đánh giá sản phẩm hành tím chiên chân không với mức độ ưa thích theo cường độ mô

tả về mùi, vị, màu sắc và trạng thái (điểm từ 1 đến 5 theo thang điểm QDA được thiết lập)

2.2.3 Phương pháp phân tích thống kê

Phân tích thành phần chính (PCA) là một kỹ thuật thống kê phân tích đa biến được sử dụng rộng rãi mà có thể áp dụng cho dữ liệu QDA (chuẩn bị thuộc tính với các điểm mô tả thuộc tính) để giảm tập hợp các biến phụ thuộc (gọi là thuộc tính) đến một tập hợp dữ liệu nhỏ hơn của các biến cơ bản (gọi là yếu tố) dựa trên mô hình của tương quan giữa các biến ban đầu Dữ liệu được thu thập từ các cảm quan viên, sau khi cho điểm theo cường độ thuộc tính (QDA) Các dữ liệu của các thuộc tính khác nhau đã nêu ở trên được sắp xếp theo thứ tự tăng hoặc giảm dần và xử lý bằng phần mềm thống kê XLSTAT 2017.01.41150 Sau đó dữ liệu được giảm bằng cách phân tính dữ liệu, các biến độc lập và phụ thuộc được lựa chọn và đồ thị 2 trục của các mẫu được thu nhận Phân tích và trích xuất các thành phần chính quan trọng nhất,các thành phần chính chiếm tối thiểu 70% phương sai trong tập dữ liệu được áp dụng (Lawless and Heymann, 1998)

2.3 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 2 đến tháng 5/2017 tại phòng thí nghiệm Bộ môn Công nghệ thực phẩm, Khoa Nông nghiệp và Sinh học Ứng dụng, Đại học Cần Thơ

III KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1 Phân tích thuộc tính cảm quan sản phẩm theo phương pháp PCA

Sản phẩm hành tím chiên chân không được đánh giá các thuộc tính như màu trắng, màu tím, màu vàng, độ giòn, mùi hăng cay, mùi thơm hành

Trang 3

0 20 40 60 80 100

0

0.51

1.52

2.53

3.54

4.55

Thành phần chính

Scree plot

chiên, vị ngọt và vị đắng nhằm mô tả chất lượng của

sản phẩm Sản phẩm được đánh giá theo phương

pháp mô tả định lượng (QDA), và được phân tích

theo phương pháp phân tích thành phần chính

(PCA) PCA xác định số lượng thành phần chính

cần thiết để biểu diễn dữ liệu (Bảng 1) Từ kết quả

phân tích cho thấy sản phẩm có thể được biểu diễn

qua 8 thành phần chính (từ F1 đến F8) Tuy nhiên,

biểu đồ “Sree plot” thể hiện thứ tự giảm dần về độ

lớn của các giá trị riêng (Eigenvalue) và giá trị phần

trăm tích lũy của phương sai Các thành phần cần

phải mô tả được ít nhất 80% phần trăm tích lũy của

phương sai (Shi et al., 2002) Trong trường hợp này,

hai thành phần 1 và 2 có giá trị riêng lớn hơn 1 và

chiếm 80,71% tích lũy phương sai (Hình 1) Thành

phần thứ 3 và 4 có tương tác rất nhỏ so với biến có

thể nhận biết qua đường cong tích lũy phương sai

không có sự thay đổi nhiều Bên cạnh đó, có sự giảm

mạnh độ lớn của giá trị riêng thành phần thứ 3 và

thành phần thứ 4 Độ lớn của thành phần thứ 3 đến

thành phần thứ 8 rất nhỏ so với thành phần thứ 1

và thành phần thứ 2, do đó không cần sử dụng các

thành phần từ thành phần thứ 3 trở đi để trình bày

tập hợp số liệu cảm quan đã thu thập Từ kết quả thu được, thành phần chính thứ 1 (F1) và thứ 2 (F2) được xây dựng trên tương tác với các thuộc tính cảm quan và thể hiện ở phương trình 1 và 2

F1 = –0,043 Độ giòn – 0,439 Màu tím – 0,434 Màu trắng + 0,429 Màu vàng – 0,229 Mùi hăng cay + 0,330 Mùi thơm hành chiên + 0,447 Vị đắng – 0,268;

Vị ngọt (1) F2= = –0,675 Độ giòn – 0,075 Màu tím – 0,106 Màu trắng – 0,172 Màu vàng + 0,516 Mùi hăng cay – 0,131 Mùi thơm hành chiên + 0,007 Vị đắng – 0,463 Vị ngọt (2)

Mối liên hệ giữa các thuộc tính và các thành phần các thuộc tính cảm quan được thể hiện ở Hình 2 Dựa vào sự phân bố các thuộc tính cảm quan, có thể chia các thuộc tính này thành 3 vùng riêng biệt.Vùng

1 có thuộc tính mùi hăng cay và vị ngọt nằm xa trục

X (thành phần chính thứ nhất) nên thuộc tính này ít

có ảnh hưởng đến thành phần chính thứ nhất Vùng

2 có thuộc tính độ giòn nằn cạnh trục Y (thành phần chính thứ 2) nên thành phần chính thứ 2 phụ thuộc nhiều vào thuộc tính độ giòn

Hình 1 Giá trị riêng và phần trăm tích lũy của

phương sai của sản phẩm hành tím chiên chân không

Vùng 2 bao gồm các thuộc tính vị đắng, mùi thơm

hành chiên, màu tím, màu trắng và màu vàng gần

trục X Trong đó, trạng thái màu tím và màu trắng có

giá trị nhỏ hơn so với thuộc tính vị đắng, mùi thơm

hành chiên và màu vàng Như vậy, thành phần chính

thứ 1 chịu ảnh hưởng nhiều nhất bởi thuộc tính màu

vàng, vị đắng và mùi thơm hành chiên Bên cạnh đó,

các thuộc tính nằm gần nhau có mối liên hệ thuận với nhau (như thuộc tính mùi thơm hành chiên và màu vàng), nhóm thuộc tính nằm khác phía nhau (180°) có mối liên hệ nghịch đảo với nhau và các thuộc tính nằm cách nhau 90° thì không có liên hệ

với nhau (Cañequeet al., 2015) Khi thể hiện các mẫu

hành tím chiên chân không và các thuộc tính cảm quan trên đồ thị, các mẫu hành tím chiên có vị trí gần nhau thì có thuộc tính cảm quan tương tự nhau

Sự phân tán mẫu trên đồ thị Hình 3 cho thấy các chế

độ chiên với các mức thời gian chiên khác nhau có ảnh hưởng rất lớn đối với tính chất cảm quan của sản phẩm Nhóm mẫu 15 và 16 được đánh giá là có màu vàng nâu, có vị hơi đắng có mùi thơm của hành chiên và sản phẩm có độ giòn Đây là nhóm mẫu có thời gian chiên dài và có nhiệt độ chiên cao Mẫu 6 (chiên ở nhiệt độ thấp hơn và thời gian ngắn) gần với thuộc tính có mùi hăng cay, cho thấy mẫu này vẫn còn mùi hăng cay của hành đây là thuộc tính không mong muốn

Bảng 1 Phân tích các thành phần chính (Pricipal Components Analysis)

theo 8 chỉ tiêu cảm quan được rút gọn

Ghi chú: F i là thành phần thứ I; Variability (%) là phần trăm của phương sai và Cumulative (%) là phần trăm tích lũy của phương sai.

Variability (%) 53,994 26,712 8,384 6,116 2,622 1,795 0,318 0,060 Cumulative % 53,994 80,705 89,089 95,205 97,827 99,622 99,940 100,000

Trang 4

-1.5 -1 -0.5 0

Vị đắng

Ảnh hưởng tiêu cực

Màu tím

Độ giòn

Vị ngọt

Ảnh hưởng tích cực

Hình 2 Phân bố thuộc tính cảm quan

theo kết quả đánh giá của hội đồng Hình 3 Phân bố mẫu sản phẩm và các

thuộc tính cảm quan trên cùng mặt phẳng

Nhóm mẫu 7, 8, 10, 11, 12 và 14 là mẫu được

đánh giá vẫn còn màu sắc tự nhiên màu tím và

màu trắng và có vị ngọt cũng như độ giòn Đây

là nhóm sản phẩm được các thành viên trong hội

đồng ưa thích

Hơn nữa, kết quả phân tích dữ liệu theo phương

pháp CATA ở Hình 4 cho thấy, các thuộc tính cảm

quan như vị ngọt, độ giòn và màu tím là những thuộc tính ảnh hưởng tích cực đến chất lượng sản phẩm, khi sản phẩm được yêu thích khi được đánh giá có sự xuất hiện các thuộc tính này Tuy nhiên,

vị đắng là thuộc tính ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng sản phẩm, vị đắng càng nhiều sản phẩm càng không được sự chấp nhận của người tiêu dùng

Hình 4 Ảnh hưởng của các thuộc tính cảm quan đến giá trị cảm quan sản phẩm

(đánh giá theo phương pháp CATA)

Bảng 2 Phân tích ảnh hưởng các thuộc tính cảm quan

theo phương pháp CATA đến chất lượng sản phẩm

Bảng 2 lại khẳng định về ảnh hưởng tiêu cực của

vị đắng (không nên xuất hiện) Kết quả cũng cho

thấy sản phẩm yêu thích bởi độ giòn và khả năng

giữ màu

3.2 Giản đồ sở thích của người tiêu dùng đối với các mẫu sản phẩm hành tím

Các mẫu sản phẩm hành tím chiên chân không được đánh giá theo điểm sở thích (Hình 5) Kết quả cho thấy, nhóm mẫu M3, M4, M5, M6, M7 được người tiêu dùng yêu thích nhiều nhất (80 - 100%), đây là nhóm mẫu có độ giòn đạt yêu cầu và vẫn duy trì được màu sắc tự nhiên của hành tím Hơn nữa, sản phẩm có độ ngọt vừa, có sự xuất hiện mùi thơm của hành tím chiên do đó kích thích được vị giác của người tiêu dùng Trong khi đó, mẫu M1, M8, M9 không được người tiêu dùng chấp nhận

Nên có Không ảnh hưởng gây hại Không Không nên có

Màu tím và độ giòn

Mùi hành chiên Màu vàng Vị đắng

Ghi chú:

Mẫu Thời gian (phút)- Nhiệt độ (°C) Mẫu Thời gian (phút)- Nhiệt độ (°C) Mẫu Thời gian (phút)- Nhiệt độ (°C)

Trang 5

Hình 5 Giản đồ yêu thích của người tiêu dùng

đối với sản phẩm hành tím chiên chân không

Mẫu M1 được đánh giá có độ hăng cay cao do thời

gian chiên quá ngắn, cùng với đó nhiệt độ chiên thấp

(110°C), do đó mẫu vẫn còn độ hăng cay ban đầu của

nguyên liệu hành Tuy nhiên, đối với mẫu M8 và M9,

nhiệt độ chiên cao hơn (130°C) vời thời gian chiên

dài hơn (8 - 10 phút), do đó các phản ứng màu xảy

ra mạnh mẽ làm cho sản phẩm xuất hiện của vị đắng

nên làm giảm sự yêu thích của người tiêu dùng

IV KẾT LUẬN

Sử dụng kết hợp các phương pháp thống kê PCA,

CATA, giản đồ yêu thích và hồi quy logistic cho thấy

tiện ích của chúng trong xác định các thuộc tính

cảm quan quan trọng của sản phẩm hành tím chiên

chân không và sự chấp nhận của người tiêu dùng

Sản phẩm hành tím chiên chân không ở 120°C trong

10 phút cho giá trị cảm quan cao nhất và được sự yêu

thích của đa số người tiêu dùng Kết quả đạt được

có thể giúp xây dựng công thức chế biến sản phẩm

hành tím chiên chân không tốt hơn ở các giai đoạn

nghiên cứu kế tiếp

TÀI LIỆU THAM KHẢO Nguyễn Thị Trúc Ly và Nguyễn Minh Thủy, 2017 Ảnh

hưởng của phương pháp chế biến giảm thiểu đến chất lượng, an toàn và khả năng tồn trữ hành tím

tươi (Alliun ascalonicum) Kỷ yếu Hội thảo khoa học toàn quốc “Hóa học với sự phát triển bền vững: khai thác nguồn lợi tài nguyên thiên nhiên, sản xuất thực phẩm và Dược phẩm”, tháng 9/2017, pp: 96-102.

Borgognone M.G., Bussi J & Hough G., 2001

Principal component analysis in sensory analysis:

covariance or correlation matrix? Food quality and preference, 12(5), 323-326.

Cañeque V., Pérez C., Velasco S., Diaz M.T., Lauzurica S., Álvarez I & De la Fuente J., 2004 Carcass

and meat quality of light lambs using principal

component analysis Meat Science, 67(4): 595-605.

Garayo J., & Moreira R., 2002 Vacuum frying of potato

chips Journal of Food Engineering, 55(2), 181-191.

Lawless H.T and Heymann H., 1998 Sensory

Evaluation of Food: Principles and Practices New

York: Chapman & Hall, p 608

Murray J.M and Delahunty C.M., 2001 Mapping

consumer preference for the sensory and packaging

attributes of Cheddar cheese Food Qual Prefer

11:419-435

Prakash D., Singh, B.N & Upadhyay G., 2007

Antioxidant and free radical scavenging activities of

phenols from onion (Allium cepa) Food Chemistry

102, 1389-1393

Shi H., Vigneau-Callahan K.E., Shestopalov A.I., Milbury P.E., Matson W.R & Kristal B.S., 2002

Characterization of diet-dependent metabolic serotypes: Proof of principle in female and male rats

The Journal of Nutrition, 132(5), 1031-1038

Application of pricipal component analysis (PCA), preference map

and check-all-that-apply (CATA) as sensory assessment tools for vacuum fried shallot

Abstract

In this study, the method of Principle Component Analysis (PCA), Preference Map Analysis, Check-all-that-apply (CATA) analysis were used to describe the sensory attributes of the vacuum frying shallot Shallot slices were fried

at different temperatures ranging from 110 to 130°C for 6 to 10 min at pressure of 620 mmHg Nine products were evaluated by 50 consumers with 8 sensory attributes such as colour, flavour and taste PCA identified eight significant principal components, accounting for more than 90% of the variance in the sensory attribute data The shallot was vacuum fried at 120°C for 10 minutes presenting better sensory quality than other samples Check-all-that-apply (CATA) question consisted of valuable tools for understanding their perception of the sensory and hedonic characteristics of the products These findings described the utility of quantitative descriptive analysis for identifying and measuring the vacuum fried shallot attributes that are important for consumer acceptability

Keywords: Preference map, principle component analysis (PCA), sensory, vacuum fried shallot

Ngày nhận bài: 18/3/2018

Ngày phản biện: 22/3/2018 Người phản biện: PGS TS Nguyễn Văn ThànhNgày duyệt đăng: 16/4/2018

Ngày đăng: 19/05/2021, 18:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm