1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Thành phần loài và thử nghiệm trị bệnh do ký sinh trùng gây ra trên cá Chẽm (Lates calcarifer Bloch, 1790) nuôi tại Khánh Hoà

6 25 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 1,78 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

375 mẫu cá chẽm (Lates calcarifer), chiều dài < 15cm, được thu từ 32 đàn cá nuôi trong khu vực Khánh Hòa đã được kiểm tra và phát hiện 14 loài ký sinh trùng, trong đó có 9 loài ngoại ký sinh và 5 loài nội ký sinh. Bệnh do trùng bánh xe (giống Trichodina) và do sán lá đơn chủ (Monogenea) thường xuyên xuất hiện và gây tác hại ở cá chẽm nuôi. Formalin với các nồng độ từ 150-250 ppm và chiết xuất từ củ tỏi với nồng độ 700-900ppm đã được sử dụng để trị hai bệnh này ở cá chẽm. Kết quả trị bệnh đã xác định rằng, formalin 250ppm hoặc chiết xuất từ tỏi 900ppm đã đạt hiệu quả cao trong trị bệnh do trùng bánh xe hoặc sán lá đơn chủ ký sinh ở cá chẽm.

Trang 1

THÀNH PHẦN LỒI VÀ THỬ NGHIỆM TRỊ BỆNH DO KÝ SINH TRÙNG

GÂY RA TRÊN CÁ CHẼM (Lates calcarifer Bloch 1790)

NUƠI TẠI KHÁNH HỊA

PARASITE SPECIES COMPOSITION AND THE TREATMENT TRIALS FOR PARASITIC

DISEASES OF SEABASS (Lates calcarifer Bloch 1790)

CULTURED IN KHANH HOA

Phan Văn Út1

Ngày nhận bài: 21/6/2012; Ngày phản biện thơng qua: 03/6/2013; Ngày duyệt đăng: 10/12/2013

TĨM TẮT

375 mẫu cá chẽm (Lates calcarifer), chiều dài < 15cm, được thu từ 32 đàn cá nuơi trong khu vực Khánh Hịa đã được kiểm tra và phát hiện 14 lồi ký sinh trùng, trong đĩ cĩ 9 lồi ngoại ký sinh và 5 lồi nội ký sinh Bệnh do trùng bánh

xe (giống Trichodina) và do sán lá đơn chủ (Monogenea) thường xuyên xuất hiện và gây tác hại ở cá chẽm nuơi Formalin với các nồng độ từ 150-250 ppm và chiết xuất từ củ tỏi với nồng độ 700-900ppm đã được sử dụng để trị hai bệnh này ở

cá chẽm Kết quả trị bệnh đã xác định rằng, formalin 250ppm hoặc chiết xuất từ tỏi 900ppm đã đạt hiệu quả cao trong trị bệnh do trùng bánh xe hoặc sán lá đơn chủ ký sinh ở cá chẽm

Từ khĩa: cá chẽm, ký sinh trùng, trùng bánh xe, sán lá đơn chủ, Formalin

ABSTRACT

Three hundred seventy fi ve seabass (Lates calcarifer), < 15cm in length, sampled from 32 fi sh farms in Khanh Hoa province were used to examine the infestation of parasites The result revealed the presence of 14 species, including

9 ecto- and 5 endo-parasites Trichodinosis and Monogeneasis were found frequently, causing serious impacts on the fi shes Trials for the control of two diseases were conducted by using formalin at 150-250 ppm and garlic extract at 700-900ppm Treatments used formalin at 250ppm and garlic extract at 900ppm showed highly effective against diseases caused by Trichodina and Monogenean on the fi sh.

Keywords: Seabass, parasite, trichodinidae, monogenean, Formalin

1 ThS Phan Văn Út: Viện Nuơi trồng thủy sản - Trường Đại học Nha Trang

THÔNG BÁO KHOA HỌC

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Cá chẽm (Lates calcarifer) là đối tượng nuơi cĩ

giá trị kinh tế cao, tốc độ tăng trưởng nhanh, được

nuơi chủ yếu ở một số nước thuộc khu vực châu Á -

Thái Bình Dương Tuy nhiên, đi đơi với sự phát triển

nghề nuơi cá chẽm là nguy cơ bùng phát dịch bệnh,

đã cĩ rất nhiều báo cáo trên thế giới về ký sinh trùng

gây bệnh trên đối tượng này

Leong Tak Seng và Wong See Young đã cĩ

một thời gian dài nghiên cứu ký sinh trùng trên cá

chẽm tại nhiều nước Đơng Nam Á Năm 1986, đã

kiểm tra 149 con cá chẽm tại Thái Lan và 43 con tại

Malaysia, tìm thấy 17 lồi ký sinh trùng Năm 1990, đã

kiểm tra 642 con cá chẽm từ Thái Lan và Malaysia,

xác định 16 lồi ký sinh trùng, trong đĩ cá ở Thái Lan

bị cảm nhiễm nặng bởi Trichodina sp., Cryptocaryon

Diplectanum sp Năm 1992, Leong và Wong kiểm

tra 141 con cá chẽm tại Malaysia đã phát hiện được

6 lồi ký sinh trùng thuộc 4 lớp gồm: 2-Monogenea, 2-Trematoda, 1-Nematoda và 1-Acanthocephala

Năm 1994 Leong Tak Seng đã chỉ ra rằng cĩ nhất 4 lồi

sán lá đơn chủ ký sinh trên da cá Lates calcarifer gồm

Pseudorhabdosynochus latesi; P monosquamodiscus

và 2 lồi thuộc giống Diplectanium Năm 2008,

Rückert và ctv đã nghiên cứu khu hệ ký sinh trùng trên

cá chẽm tại La pung (Indonesia), kết quả xác định 19

lồi ký sinh trùng, bao gồm: 1-Protozoa, 1-Myxozoan, 3-Digenea, 5-Monogenea, 3-Cestoda, 5-Nematoda và 1-Acanthocephala.

Trang 2

Do vậy nghiên cứu về ký sinh trùng và bệnh

do chúng gây ra sẽ là cơ sở khoa học cho các biện

pháp phòng và trị bệnh trong thực tiễn sản xuất

II VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

375 mẫu thuộc 32 đàn cá chẽm từ các ao, lồng

nuôi tại Khánh Hòa đã được thu và kiểm tra, chiều dài

trung bình của cá là 7-12cm Cá được vận chuyển hở

từ vùng nuôi về phòng thí nghiệm có sục khí

Phương pháp nghiên cứu ký sinh trùng trên cá

của Dogiel 1929 và được mô tả lại bởi Hà Ký (1993)

đã được sử dụng trong nghiên cứu này với các bước

chính: Các cơ quan bên ngoài và bên trong của cá

đều được kiểm tra và phát hiện ký sinh trùng bằng

kính lúp tay và kính hiển vi; Ký sinh trùng được thu

và cố định, đồng thời xác định mức độ cảm nhiễm

trên cá; Phương pháp làm các tiêu bản lưu giữ và

xác định kích thước ký sinh trùng theo Margolis et

al (1982); Ký sinh trùng được định danh dựa vào

các tài liệu Kabata (1992); Lom và Dykova (1992);

Williams và Jones (1994) và nhiều tài liệu khác

Trong quá trình nghiên cứu, một số bệnh do ký

sinh trùng gây ra ở cá chẽm nuôi đã được phát hiện,

các bệnh này đã gây tác hại đáng kể cho người nuôi

cá chẽm ở Khánh Hòa, đặc biệt là giai đoạn cá nhỏ

Do vậy, một số thí nghiệm trị bệnh bằng hóa chất hoặc

dịch chiết rút từ tỏi đã được thực hiện Thí nghiệm

được thực hiện trong các xô nhựa 60 lít, cá thí nghiệm

được bắt từ ao hoặc lồng đang có hiện tượng chết và

bị nhiễm ký sinh trùng ngoại ký sinh như sán lá đơn

chủ (Monogenea) hoặc trùng bánh xe (Trichodinidae)

với mức độ cảm nhiễm cao (tỷ lệ nhiễm 100%;

cường độ nhiễm 18.8 trùng/cá đối với sán lá đơn chủ

ở da và 47.5 trùng/TTK 10X đối với trùng bánh xe),

15 con cá/1 xô Formalin ở các nồng độ 150ppm, 200ppm, 250ppm và dịch chiết rút từ củ tỏi trong cồn etylic (tỷ lệ là 100g tỏi tươi trong 100ml cồn etylic, sau

đó làm bay hơi hoàn toàn cồn) với nồng độ 700ppm, 800ppm, 900ppm (chỉ dùng sau khi dung môi đã bay hết) đã được dùng để trị hai bệnh nêu trên Mỗi thí nghiệm có 1 nghiệm thức đối chứng, trong đó cá bệnh không được chữa trị bằng formalin hoặc dịch chiết rút

từ tỏi Tất cả các loại hóa dược đều được xác định liều gây chết 50% (LC50) theo công thức của Reed và Muench (1983) Cá đã được xác định cường độ nhiễm

ký sinh trùng trước mỗi thí nghiệm (tỷ lệ nhiễm 100%), tắm 1 lần duy nhất trong 30 phút với formalin hoặc dịch chiết xuất từ tỏi, sau đó tiếp tục nuôi trong xô nhựa 24h

để theo dõi, xác định mức độ cảm nhiễm sau khi tắm hóa dược, thí nghiệm được lặp lại cùng thời điểm 2 lần Một số yếu tố môi trường trong thí nghiệm trị bệnh được ghi nhận là nhiệt độ, độ mặn và pH

Mức độ nhiễm ký sinh trùng trên cá thí nghiệm được xác định theo hai chỉ tiêu: Tỷ lệ nhiễm (%)

= số cá bị nhiễm/số cá kiểm tra x 100; Cường độ nhiễm, đối với sán lá đơn chủ được xác định bằng

số trùng/1 con cá, với trùng bánh xe được xác định bằng số trùng/thị trường kính 10X

III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

1 Thành phần loài ký sinh trùng ký sinh ở cá chẽ m

Trên 375 con cá chẽm được kiểm tra, có 14 loà i, thuộ c 10 giố ng ký sinh trù ng đã đượ c phá t hiệ n ký sinh

ở cá chẽ m nuôi tạ i Khá nh Hò a và trong đó có 8 loà i

đã đượ c đị nh danh Tên loài ký sinh trùng, cơ quan ký sinh và mức độ nhiễm được trình bày ở bảng 1

Bảng 1 Thành phần loài ký sinh trùng trên cá chẽm nuôi tại Khánh Hòa (n=375)

STT Loài ký sinh trùng Cơ quan ký sinh Tỷ lệ nhiễm (%) Số lượngCường độ nhiễm trung bìnhĐơn vị

Protozoa

Metazoa

Lớp Monogenea

6 Diplectanum latesi

Mang 59,84 35,76 Trùng/cá

7 Diplectanum papaverensis

9 Diplectanum querni

10 Neobenedenia melleni Da 47,45 8,50 Trùng/cá

Lớp Digenea

11 Lecithochirium neopacifi cum Dạ dày, ruột 4,50 6,50 Trùng/cá

Lớp Cestoida

12 Proteocephalus sp. Ruột 4,68 1,50 Trùng/cá

Lớp Hirudinea

13 Piscicola sp. Da, mang 37,87 25,63 Trùng/cá

Lớp Crustacea

14 Caligus epidemicus Da 39,52 7,56 Trùng/cá

(TTK 10X: Thị trường kính 10X)

Trang 3

Ký sinh trùng tìm thấy đa phần là thuộc nhóm

ngoại ký sinh trùng (Ectoparasite), chỉ có 5 loài nội ký

sinh (Endoparasite) là Lecithochirium neopacifi cum;

Proteocephalus sp.; Ceratomyxa sp.; Goussia sp

và Henneguya cerebralis Ký sinh trùng nội ký sinh

ở cá chẽm có thành phần loài và mức độ cảm nhiễm

thấp do các mẫu cá này được thu từ các ao lồng

nuôi bằ ng thức ăn viên Tuy nhiên, hầu hết các đàn

cá nuôi điều bị nhiễm ngoại ký sinh trùng với mức

độ cao, đặc biệt là trùng bánh xe (Trichodinidae)

và sán lá đơn chủ (Monogenea), đây là 2 ký sinh trùng thường gặp với tỷ lệ và cường độ cao ở cá chẽm, đã gây chết trực tiếp hoặc gián tiếp cho cá chẽm nuôi

Hình 1 Động vật đơn bào ký sinh trên cá chẽm nuôi tại Khánh Hòa

(1) Henneguya cerebralis ký sinh dạng bào nang ở mang (Mẫu tươi, độ phóng đại 400 lần) (2) Ceratomyxa sp Ký sinh ở mật (Mẫu tươi, 400 lần)

(3) Trichodina rostrata ký sinh ở mang (Hình vẽ) (4) Cryptocaryon sp Ký sinh ở mang (Mẫu tươi, 100 lần)

(5) Goussia sp Ký sinh dạ dày (Mẫu tươi, 100 lần)

Hình 2 Sá n lá song chủ (Digenea), sán dây (Cestoda), giá p xá c (Copepoda) và đỉa ký sinh trên cá chẽm nuôi tại Khánh Hòa

(1) Lecithochirium neopacifi cum ký sinh trong dạ dày (2) Proteocephalus sp ký sinh trong ruột

(3) Caligus epidemicus ký sinh trên da, mang và khoang miệng (4) Piscicola sp ký sinh trên da, mang và khoang miệng

Trang 4

Trùng bánh xe (Trichodinidae) đã đượ c phá t

hiệ n nhiễ m cao và phổ biến ở da, mang và vây

củ a cá chẽ m nhỏ (< 12 cm) nuôi trong ao đìa ở

Cam Lâm, Cam Ranh và Ninh Hòa, trong khi đó

sán lá đơn chủ lại thường xuyên xuất hiện trong

các đàn cá chẽ m nuôi lồng ở Ninh Hòa và Vịnh

Nha Trang Chính các tác nhân này đã gây chết

nhiều loài cá biển ở giai đoạn nhỏ khi chất lượng

nước nuôi kém và độ mặn tăng cao (Yaowanit

Danayadol, 1994) Ngoài ra, các loài ký sinh

trù ng thuộc giáp xác như Caligus epidemicus và

đỉa như Piscicola sp có thể gây thương tổn ở bề

mặ t cơ thể cá nuôi, là m cá mấ t má u và mẫ n cả m

vớ i cá c tá c nhân thứ cấ p, tuy nhiên cá c tá c nhân

nà y thườ ng xuấ t hiệ n vớ i tỷ lệ và cườ ng độ cao

theo mùa vụ

Kết quả thử nghiệm LC50 của 2 loại hóa dược đối với cá chẽm có chiều dài 10 – 15 cm, tắm 30 phút, theo dõi trong 24h là formalin 894 ppm và chiết xuất tỏi 2531 ppm

2 Kết quả trị một số bệnh ký sinh trùng ở cá chẽm

2.1 Trị bệnh trùng bánh xe

Cá bị bệnh do trùng bánh xe ký sinh đã được tiến hành trị với formalin (150ppm; 200ppm; 250ppm) và dịch chiết xuất từ tỏi (700ppm; 800ppm; 900ppm) trong điều kiện môi trường nước có nhiệt độ

28 – 30oC; pH = 7.6; S‰ = 32‰ Sau 30 phút tắm bằng hóa chất, cá bệnh được nuôi trong môi trường nước bình thường và kiểm tra mức độ nhiễm ký sinh trùng sau 2 ngày Tỷ lệ (%) ký sinh trùng giảm sau trị bệnh được trình bày ở hình 4

Hình 3 Sán lá đơn chủ ký sinh trên cá chẽm nuôi tại Khánh Hòa

(1) Neobenedenia melleni ký sinh trên da (Mẫu tươi) (2) Diplectanium latesi ký sinh trên mang: (2a) Móc giữa; (2b) giác bám kitin

(3) Diplectanium papaverensis ký sinh ở mang: (3a) Móc giữa (Vẽ: Thanh Nga) (2c) gai giao cấu (Vẽ: Thanh Nga)

(4) Diplectanium querni: (4a) Móc giữa; (4b) Giác bám kitin (Vẽ: Thanh Nga) (5) Diplectanium nenue: (5a) Móc giữa (Vẽ: Thanh Nga)

Hình 4 Phầ n trăm (%) trù ng bá nh xe giả m đi so vớ i trướ c khi trị bằ ng formalin và dị ch tỏ i

ở cá c nồ ng độ khá c nhau

Sau khi tắm, hai loại hóa dược đã dùng đều

có khả năng tiêu diệt >80% trùng bánh xe ký

sinh trên da, vây và mang của cá chẽm, cá hoàn

toàn khỏe và không có dấu hiệu bị sốc Mức độ

nhiễm trùng bánh xe ở nghiệm thức đối chứng

đã không giảm mà còn tăng cao hơn so với trước

khi thí nghiệm Tuy nhiên với các nồng độ sử dụng trong thí nghiệm này chưa tiêu diệt được 100% trùng bánh xe ký sinh Do vậy, có thể tăng nồng độ hoặc tăng thời gian tắm cho cá chẽm bằng dịch chiết xuất từ củ tỏi để hiệu quả trị bệnh triệt để hơn

Trang 5

Trên thế giới, đã có nghiên cứu dùng chiết xuất

tỏi để trị bệnh trung bánh xe (Trichodina) Chanagun

Chitmanat et al, 2005 thử nghiệm trên cá rô phi

trong 2 tuần với nồng độ 800ppm ở điều kiện nhiệt

độ là 260C và pH là 7-7.2 đã tiêu diệt triệt để ký sinh

trùng này

2.2 Kết quả trị bệnh sán lá đơn chủ ký sinh trên da

Cá chẽm bị bệnh và chết rãi rác do sán lá đơn

chủ Neobenedenia melleni ký sinh ở da gây ra

(với tỷ lệ nhiễm 100%, cường độ nhiễm 18.8 trùng/cá)

đã được chữa trị bằng formalin (150ppm; 200ppm; 250ppm) và chất chiết xuất từ tỏi (700ppm; 800ppm; 900ppm), ở điều kiện nhiệt độ nước 29-300C,

pH = 7,9-8,1, độ mặn 32‰ Sau 30 phút tắm hóa chất, cá thí nghiệm được nuôi trong môi trường nước sạch, kiểm tra mức độ nhiễm sán lá đơn chủ sau 48h Tỷ lệ % ký sinh trùng giảm sau thí nghiệm được trình bày ở hình 5

Hình 5 Phần trăm (%) sá n đơn chủ giả m so vớ i trướ c khi tắ m cho cá chẽ m bằ ng formalin

và dị ch tỏ i ở cá c nồ ng độ khá c nhau

Sau khi tắm formalin, ở nồng độ 250 ppm,

100% Neobenedenia melleni ký sinh ở cá thí

nghiệm đã bị tiêu diệt, trong khi đó dịch chiết xuất

từ củ tỏi ở nồng độ cao nhất trong thí nghiệm

(900ppm) chỉ tiêu diệt được 86,3% loài sán này

Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu trước

đây của nhiều tác giả (Yaowanit Danayadol, 1994;

Do Thi Hoa et al, 2007) khi dùng Formalin để trị

sán lá đơn chủ ký sinh trên các loài cá biển Do

đó có thể khẳng định rằng, formalin rất hiệu quả

khi dùng để trị sán lá đơn chủ ký sinh trên da của

cá biển

Trong kết quả thử nghiệm này đã chứng tỏ rằng

dịch tỏi có thể dùng để trị sán lá đơn chủ N melleni,

nhưng để có hiệu quả hơn thì cần phải nâng cao

nồng độ tắm, vì LC50 của cá chẽm đối với thảo

dược này là rất cao (2531ppm), do đó có thể dùng

nồng độ cao hơn mà vẫn an toàn cho cá Mặt khác,

theo nhiều nghiên cứu trước đây thì tỏi còn có thể

phòng được các bệnh do vi khuẩn, nấm và virus, nên dùng dịch tỏi có thể kiểm soát được sự cảm nhiễm của các tác nhân thứ cấp

IV KẾT LUẬN

14 loài ký sinh trùng đã được phát hiện ký sinh trên cá chẽm nuôi (7-12cm), đa phần là ký sinh trùng ngoại ký sinh Ngoài ra, có 4 bệnh do ký sinh trùng gây ra đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến cá chẽm nuôi, đó là: bệnh do trùng bánh xe, bệnh do sán lá đơn chủ, bệnh do đỉa cá và bệnh do giáp xác

ký sinh

Dù ng formalin 250ppm hoặc dịch chiết từ tỏi nồng độ 900ppm để tắm cho cá bị bệnh do trùng

bánh xe Trichodina sp hoặc bệnh sán lá đơn chủ ký

sinh ở da của cá chẽm bằng cách tắm trong 30 phút

đã tiêu diệt được từ 86 - 100% hai loại ký sinh trùng này trong điều kiện nhiệt độ 28 – 30oC; pH = 7.6-8.1; S‰ = 32‰ mà vẫn an toàn cho cá

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tiếng Việt

1 Hà Ký, 1992 Phương pháp nghiên cứu tác nhân gây bệnh ký sinh trùng ở cá Bộ Thủy sản, 112 trang

Tiếng Anh

2 Ankri, S and Mirelman, D., 1999 Antimicrobial properties of allicin from garlic Microbes Infect 1: 125-129

3 Balasuriya, L K.S.W & Leong, T.S., 1995 Pseudorhabdosynochus monosquamodiscus n sp (Monogenea: Diplectanidae) from Lates calcarifer cultured in fl oating cages in Malaysia Journal of Bioscience 6(1): 30-34.

Trang 6

4 Chanagum Chitimanat, Kitiwan Tongdonmuan and Wichan Nunsong, 2005 The use of crude extracts from traditional

medicinal plants to eliminate Trichodina sp in tilapia (Oreochromis niloticus) fi ngerlings Songklanakarin J Sci Technol.,

2005: 359 – 364

5 Do Thi Hoa, Phan Van Ut, 2007 Monogenea disease in cultured grouper (Epinephelus spp.) and snapper (Lutjanus

argentimaculatus) in Khanh Hoa province, Vietnam Aquaculture Asia, volume XII, No 4, October – December 2007.

6 Kabata Z., 1992 Copepods parasitic on Fishes Synopses of the British Fauna Universal book service No.47 262 pp

7 Leong T S and Wong S Y., 1986 Parasite Fauna of Seabass, Lates calcerifer, Bloch culture in ponds and fl oating cage

culture in Penang, Malaysia The First Asia Fisheries Forum: 251-254

8 Leong Tak Seng and Wong See Yong, 1990a Parasites of Seabass, Lates calcarifer Bloch cultured in ponds and fl oating net cages in Thailand The second Asia Fisheries Forum: 705-707

9 Leong Tak Seng and Wong See Yong, 1990b Parasites of healthy and Diseased juvenile Grouper (Epinephelus malabaricus, Bloch) and Sebass (Lates calcarifer, Bloch) in fl oating cages in Penang, Malaysia School of Biological sciences, University Sains Malyasia

10 Leong Tak Seng and Wong See Yong, 1992 The Parasites fauna of cultured Seabass, Lates calcarifer Bloch from Kelantan and Penang, Malaysia Journal of Bioscience Vol.3 Issue 1&2: 27-29

11 Leong Tak Seng, 1994 Parasites and diseases of cultured marine fi nfi shes in South East Asia School of Biologycal Science, Unversiti Sain Malaysia, 1180 Minden Pulau Pinang, Malaysia: 1-25

12 Leong, T.S., 1997 Control of parasites in cultured marine fi nfi shes in Southeast Asia - an overview International Journal for Parasitology 27(10): 1177-1184

13 Lom & Dykova, 1992 Protozoan parasites of Fishes Elsevier 315pp

14 Marty R Deveney, Leslie A Chisholm, Ian D, 2001 Fish published record of the pathogenic Monogenean parasite

Neobenedenia melleni (Capsalidea) from Australia.

15 Margolis L et al, 1982 The use of ecological terms inparasitology Journal of parasitology, 68: 131-133

16 Reed, L.J and H.A Muench, 1983 A simple method of estimating fi fty percent end points American J Hygiene., 27: 493-497

17 Rückert S., H W Palm and S Klimpel, 2008 Parasites fauna of seabass (Lates calcarifer Bloch) under mariculture

conditions in Lampung Bay, Indonesia J Appl Ichthyol 24: 321 – 327

18 Stefano Cecchini, 1994 Infl uence of temperature on the hatching of eggs of Diplectanum aequans, a parasite of seabass

Aquaculture International 2:249-253

19 Yaowanit Danayadol, 1994 Culture Grouper Diseases in Thailand National Institute of Coastal Aquaculture, Kaoseng, Songkhla 90000, Thailand

20 William H.H & Jones A., 1994 Parasitic worms of Fish Taylor & Francis Ltd 593pp

Ngày đăng: 19/05/2021, 17:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm