1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Kết quả kinh tế nghề nuôi tôm sú giống tại thành phố Nha Trang và huyện Cam Ranh tỉnh Khánh Hòa

7 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 160,42 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết trình bày việc đánh giá kết quả kinh tế nghề nuôi tôm sú giống tại thành phố Nha Trang và huyện Cam Ranh thuộc tỉnh Khánh Hòa. Trên cơ sở đó đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao kết quả kinh tế của nghề này trong thời gian tới.

Trang 1

KẾT QUẢ KINH TẾ NGHỀ NUÔI TÔM SÚ GIỐNG TẠI THÀNH PHỐ NHA TRANG

VÀ HUYỆN CAM RANH TỈNH KHÁNH HÒA

THE ECONOMIC PERFORMANCE INDICATORS FOR HATCHERY OF TIGER SHRIMP (Penaeus

CN Hoàng Thu Thủy, PGS.TS Nguyễn Thị Kim Anh

Khoa Kinh tế - Trường Đại học Nha Trang Tóm tắt

Nghiên c ứu này được nhóm tác giả thực hiện thông qua bộ dữ liệu điều tra 70 trại nuôi tôm sú

gi ống tại thành phố Nha Trang và huyện Cam Ranh tỉnh Khánh Hòa qua hai năm 2005, 2006 Kết quả nghiên c ứu cho thấy, chi phí xây dựng trung bình cho một trại nuôi tôm sú giống là 116,34 triệu đồng, trong đó chi phí xây dựng bể các loại chiếm 62,7% trong tổng vốn đầu tư Năm 2005, năng suất bình quân trên 1m3 b ể ương nuôi ấu trùng tôm sú là 99.200 PL (postlarvae), nhưng sang năm 2006 giảm còn 94.800 PL L ợi nhuận bình quân trên 1m3 b ể ương nuôi ấu trùng năm 2005 là 469.000đ, đến năm

2006 có s ự sụt giảm mạnh còn 259.000 đồng/m3 Thách th ức chủ yếu mà các trại nuôi tôm sú giống

g ặp phải là vấn đề ô nhiễm môi trường nước, không rõ nguồn gốc tôm bố mẹ và đầu ra bấp bênh

Nh ững thách thức trên cho thấy nghề nuôi tôm sú giống hiện nay tại Nha Trang và Cam Ranh chứa đựng nhiều yếu tố rủi ro.Vì vậy, để nâng cao kết quả kinh tế nghề nuôi tôm sú giống tại Nha Trang và Cam Ranh nói riêng và t ỉnh Khánh Hòa nói chung, cần giải quyết bài toán đồng bộ về quản lý nguồn tôm

b ố mẹ, quy trình kỹ thuật nuôi, chất lượng môi trường nước và đặc biệt là công tác quy hoạch hợp lý

T ừ khóa: Trại sản xuất giống, tôm sú giống, doanh thu, chi phí, lợi nhuận

Abstract

This study was carried out by data investigate 70 shrimp hatcheries at Nha Trang city and Cam Ranh district - Khanh Hoa province from 2005 to 2006 The research result show that average contruction cost per one in Khanh Hoa province at 116,34 million VND, is average and small scale, of which 62,7% is tanks contruction cost In 2005, the average yields of post larvae was 99.200 postlarvae/m3 /larvae rearing tank production, in 2006 reduction still 94.800 PL/m3/ larvae rearing tank An average profit of 469.000 VND/m3/ larvae rearing tank in 2005, but next year 2006 reduction event 259.000 VND/m3/larvae rearing tank Major problem for operation of shrimp hatchery was water enviromental pollution, dimness orignation shrimp broodstock and output is border-line These causes and challenges show that shrimp (Penaeus monodon) hatchery industry in Khanh Hoa province contain many risks Therefore,to increase economic efficiency of shrimp hatchery industry in Khanh Hoa province need to resolve synchronism solutions about management broodstock, process technique shimp hatching, the quality water and appropriate planning

Keywords: shrimp hatchery, Tiger shrimp (Penaeus monodon), turnover, costs, profit

I- ĐẶT VẤN ĐỀ

Khánh Hòa là tỉnh ven biển Nam Trung

Bộ, có diện tích tự nhiên 5.197km2, với 385km

chiều dài ven biển bao gồm các đầm phá,

vũng vịnh kín gió [5], tạo điều kiện thuận lợi

cho phát triển nghề nuôi tôm và đã giúp cho

tỉnh Khánh Hòa trở thành một trong những địa

phương sản xuất tôm sú giống mạnh nhất cả

nước Giai đoạn 1995-2000, cả nước có trên 2.500 trại sản xuất giống tôm sú với trên 10 tỷ tôm giống P15 thì riêng tỉnh Khánh Hòa đã có 1.019 trại, sản xuất đạt 3,25 tỷ tôm giống P15, chiếm 40,8% trại sản xuất và 32,5% số lượng tôm sú giống cả nước [1]

Tuy nhiên những năm gần đây, do sự phát triển nghề sản xuất tôm sú giống ở các tỉnh lân

VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Trang 2

cận và các tỉnh Nam bộ khá mạnh, nên đã ảnh

hưởng đến thị trường tiêu thụ tôm sú giống của

tỉnh Khánh Hòa, hiện chỉ còn chiếm tỷ lệ từ 10 –

15% tổng lượng tôm sú giống toàn quốc (Sở

Thủy sản Khánh Hòa, 2005) Đặc biệt năm

2005, 2006 số lượng các trại sản xuất tôm sú giống tỉnh Khánh Hòa giảm đáng kể, ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của bộ phận dân cư trong tỉnh

Bảng 1: Số trại và sản lượng tôm sú giống tại Khánh Hòa giai đoạn 2001-2006

Khánh

Tổng m 3 bể đẻ

và ương tại

S.lượng tôm giống tại K.Hòa (triệu con)

Nguồn: Báo cáo tổng kết 2001- 2006 Sở Thủy sản Khánh Hòa

Qua số liệu ở bảng trên, có thể thấy số

trại tôm giống hoạt động, tổng thể tích bể

ương nuôi ấu trùng cũng như sản lượng tôm

sú giống sản xuất ra ở Khánh Hòa giảm dần

qua các năm, đặc biệt giảm mạnh vào những

năm 2005, 2006 Việc giảm dần số trại, bể

ương ấu trùng cũng như sự sụt giảm sản

lượng tôm giống tại Khánh Hòa là hậu quả của

nhiều vấn đề cần giải quyết, trong đó có vấn

đề đánh giá kết quả kinh tế nghề nuôi tôm sú

giống

Sự phát triển nhanh chóng của nghề nuôi

tôm sú giống nói riêng cũng như nghề nuôi

tôm ven biển nói chung của tỉnh trong thời gian

qua đã và đang làm nảy sinh nhiều vấn đề cần

được giải quyết Đặc biệt là vấn đề môi

trường Từ vấn đề ô nhiễm môi trường nuôi đã

kéo theo dịch bệnh trong nuôi tôm sú giống,

với một số bệnh thường gặp như bệnh phát

sáng, bệnh màng nhầy, bệnh đỏ thân và dính

chân cũng đã ảnh hưởng đến chất lượng và

năng suất tôm nuôi Ngoài ra nguồn tôm bố

mẹ không chủ động và thiếu ổn định cũng ảnh

hưởng không nhỏ đến chất lượng tôm giống,

từ đó ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất của

người nuôi

Trước những thực trạng trên, tìm hiểu về

qua đánh giá kết quả kinh tế nghề nuôi tôm

sú giống tỉnh Khánh Hòa thời gian qua là một nghiên cứu cần thiết, nhằm cung cấp các dữ liệu về kinh tế góp phần cho công tác quy hoạch vùng nuôi tôm sú giống hợp lý, đảm bảo cho sự phát triển nghề nuôi tôm sú giống tỉnh Khánh Hòa ổn định và bền vững

II- ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU II.1- Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là đánh giá kết quả kinh tế nghề nuôi tôm sú giống tại thành phố Nha Trang và huyện Cam Ranh thuộc tỉnh Khánh Hòa Trên cơ sở đó đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao kết quả kinh tế của nghề này trong thời gian tới

II.2- Phương pháp nghiên cứu

Nội dung chủ yếu của nghiên cứu này là

mô tả và đánh giá tình hình hoạt động cũng như kết quả kinh tế của các trại sản xuất tôm

sú giống ở Nha Trang và Cam Ranh Nghiên cứu được thực hiện trong hai năm 2005, 2006

Số liệu thứ cấp được thu thập từ kết quả của các nghiên cứu trước đây và qua các báo cáo của Bộ Thủy sản, Sở Thủy sản Khánh Hòa, Phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Cam Ranh và thành phố Nha Trang, Cục Thống kê tỉnh Khánh Hòa

Trang 3

Nguồn số liệu sơ cấp dựa trên bảng câu

hỏi đã được nhóm tác giả thiết kế nhằm điều

tra về năng lực chủ hộ, hiện trạng nghề nuôi

tôm sú giống, mức độ đầu tư, chi phí, doanh

thu, những khó khăn, phương hướng phát

triển cũng như những ý kiến của các trại nuôi

tôm sú giống tại thành phố Nha Trang và

huyện Cam Ranh tỉnh Khánh Hòa Nguồn số

liệu điều tra trong khuôn khổ của bài báo này

được xử lý bằng phần mềm thống kê SPSS

Dùng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên

đơn giản, dựa trên danh sách các hộ gia đình

nuôi tôm sú giống của Phòng nông nghiệp và

phát triển nông thôn thành phố Nha Trang và

huyện Cam Ranh, sau đó rút thăm ngẫu nhiên

không lặp lại từ danh sách để chọn các trại cần

điều tra mà không quan tâm đến quy mô trại,

cũng như kết quả sản xuất của trại Tác giả lựa

chọn kích thước mẫu tại hai vùng nghiên cứu

là 70 trại sản xuất tương ứng với 33% tổng

thể, số mẫu điều tra này là phù hợp với quy

định của Cục thống kê Việt Nam về xác định

cỡ mẫu theo kinh nghiệm điều tra thực tế

III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

III.1 Thông tin chung về trại sản xuất tôm

sú giống

Qua điều tra tại 70 trại nuôi tôm sú giống

tại Nha Trang và Cam Ranh cho thấy, tuổi

trung bình của các chủ trại là: 44 tuổi, dao

động từ 33 tuổi đến 52 tuổi Với độ tuổi này có

khả năng đáp ứng tốt điều kiện làm việc trong

nghề nuôi tôm sú giống, vì đây là nghề đòi hỏi

phải có sức khỏe tốt, kinh nghiệm dày dạn và

thích ứng nhanh với việc tiếp thu những công

nghệ mới

Các chủ trại nuôi tôm có trình độ văn

hóa cấp 3 là 41 người chiếm 58,6%, trong đó

Nha Trang chiếm tỷ lệ cao hơn với 23/33 chủ

trại có trình độ văn hóa cấp 3, tương ứng tại

Cam Ranh là 18/37 Số chủ trại có trình độ văn

hóa cấp 2 chiếm 35,3% và cá biệt số chủ trại

có trình độ văn hóa cấp 1 là 4 người chiếm 6,1%, số này ở Cam Ranh Trình độ văn hóa

có ảnh hưởng đến khả năng tư duy, nhận thức

và sự tiếp nhận công nghệ mới trong nghề nuôi tôm sú giống Về trình độ chuyên môn chỉ

có 10 chủ trại tốt nghiệp từ ngành nuôi trồng thủy sản chiếm 14,3% Điều đó làm hạn chế nhiều trong việc ứng dụng kỹ thuật vào nuôi tôm Tuy nhiên, bên cạnh hạn chế đó vẫn có những mặt tích cực, do gần các trung tâm nghiên cứu lớn về nuôi trồng thủy sản, trong

đó có nuôi tôm sú giống nên đa số các chủ trại

đã được tập huấn đào tạo các lớp ngắn hạn

về kỹ thuật nuôi tôm sú giống

III.2 Đánh giá kết quả sản xuất trên 1 m 3 bể phục vụ sản xuất tôm sú giống tại Nha Trang và Cam Ranh

Để đánh giá kết quả kinh tế nghề nuôi tôm sú giống tại Nha Trang và Cam Ranh, cần xác định doanh thu, chi phí sản xuất cũng như lợi nhuận thu được bình quân cho 1m3 bể ương nuôi tôm sú giống Bởi vì nếu đánh giá kết quả kinh tế trung bình trên một trại nuôi sẽ không chính xác vì hiện nay quy mô trại sản xuất là không giống nhau, có trại có quy mô rất nhỏ nhưng cũng có trại có quy mô lớn

Căn cứ vào số liệu điều tra, chúng tôi xác định một số chỉ tiêu kinh tế trên 1m3 bể phục

vụ sản xuất tôm sú giống tại Nha Trang và Cam Ranh qua hai năm 2005 và 2006 như sau:

- Thể tích trung bình một bể phục vụ sản xuất tại Nha Trang là 7,26m3, tại Cam Ranh là 6,30 m3 Thể tích trung bình một bể ương nuôi tôm sú giống tại Nha Trang là 5,89m3, Cam Ranh là 5,27 m3

Trang 4

Bảng 2 Một số chỉ tiêu kinh tế trên 1m 3 bể phục vụ sản xuất tôm sú giống

tại Nha Trang và Cam Ranh qua hai năm 2005 và 2006

Nha Trang Cam Ranh Chỉ tiêu ĐVT

2005 2006 2005 2006

1- Thể tích TB 1 bể phục vụ sản xuất m3/bể 7,26 7,26 6,30 6,30 2- Thể tích TB bể ương m3/bể 5,89 5,89 5,27 5,27 3- Doanh thu T.bình /m3 bể ương/năm 1000đ/m3 1.982 1.745 1.692 1.417 4- Chi phí sản xuất TB/m3 bể ương/năm 1000đ/m3 1.549 1.526 1.185 1.116 5- Lợi nhuận T.bình /m3 bể ương/năm 1000đ/m3 433 219 507 301 6- Năng suất bình quân/m3 bể ương/năm 1000 con/m3 109,1 107,2 88,9 88,1 7- Giá thành bình quân Đồng 14,2 14,2 13,3 13,6 8- Giá bán thực tế bình quân Đồng 18,2 16,3 19,0 17,3

Năng suất bình quân cho 1m3 bể ương

nuôi ấu trùng tôm sú năm 2005 ở Nha Trang là

109.100 post/m3, ở Cam Ranh là 88.900

post/m3 Chỉ tiêu này đã giảm trong năm 2006

tại cả hai vùng, ở Nha Trang có năng suất

bình quân là 107.200 post/m3 và Cam Ranh là

88.100 post/m3

Chi phí sản xuất bình quân tính cho 1m3

bể ương nuôi ấu trùng tôm sú năm 2005 ở

Nha Trang là 1.549.000 đồng/m3, ở Cam Ranh

là 1.185.000 đồng/m3 Chi phí sản xuất này

giảm không đáng kể tại cả hai vùng nghiên

cứu, cụ thể năm 2006 ở Nha Trang là

1.526.000 đồng/m3, còn tại Cam Ranh là

1.116.000 đồng/m3

Doanh thu bình quân cho 1m3 bể đẻ và

ương nuôi tôm sú giống năm 2005 ở Nha

Trang là 1.982.000 đồng/m3, ở Cam Ranh là

1.692.000 đồng/m3 Năm 2006 doanh thu ở

Nha Trang giảm còn 1.745.000 đồng/m3 và

Cam Ranh là 1.417.000 đồng/m3

Lợi nhuận thu được bình quân cho 1m3

tổng bể phục vụ nuôi tôm sú giống năm 2005

ở Nha Trang là 433.000 đồng/m3 và Cam

Ranh là 507.000 đồng/m3 Năm 2006 ở Nha

Trang lợi nhuận thu được chỉ còn 219.000

đồng/m3 và Cam Ranh là 301.000 đồng/m3

Giá thành sản xuất có sự khác nhau ở hai

địa bàn điều tra, cũng như có sự biến động

giữa hai năm điều tra Giá thành sản xuất bình

quân năm 2005 ở Nha Trang là 14,2 đồng/con

và Cam Ranh là 13,3 đồng/con Năm 2006 giá

không thay đổi vẫn với giá 14,2 đồng/con và Cam Ranh là 13,6 đồng/con

Giá bán thực tế bình quân tôm sú giống cũng có sự khác nhau qua từng năm và chênh lệch nhiều ở hai địa bàn điều tra, cụ thể giá bán tôm sú giống năm 2005 của các trại tại Nha Trang là 18,2 đồng/con và Cam Ranh là 19,0 đồng/con Năm 2006 giá bán bình quân ở Nha Trang 16,3 đồng/con và Cam Ranh là 17,3 đồng/con

Từ số liệu trên cho thấy mặc dù doanh thu cũng như năng suất thu được trên 1m3 bể ương nuôi ấu trùng tôm sú ở Nha Trang cao hơn so với Cam Ranh, nhưng lợi nhuận thu được trên 1m3 bể ương nuôi ấu trùng tôm sú ở Nha Trang lại thấp hơn so với Cam Ranh Sở

dĩ như vậy là do chi phí sản xuất trên 1 m3 bể

đẻ và ương nuôi ấu trùng tôm sú tại Nha Trang cao hơn so với Cam Ranh Nguyên nhân là do việc đầu tư trang thiết bị cũng như điều kiện trại nuôi ở Nha Trang xuống cấp hơn rất nhiều so với Cam Ranh, vì vậy chi phí sữa chữa lớn tại Nha Trang cao hơn Bên cạnh đó, các khoản chi phí phát sinh trong quá trình nuôi tôm tại Nha Trang thường cao hơn Cam Ranh cũng làm cho lợi nhuận bị giảm sút

Kết quả chi tiết các khoản chi phí trung gian, khấu hao tài sản cố định, tiền công lao động gia đình, tổng chi phí sản xuất và các chỉ tiêu thể hiện kết quả sản xuất của nghề nuôi tôm sú giống tại Nha Trang và Cam Ranh được thể hiện qua bảng sau

Trang 5

Bảng 3 Chi phí và kết quả sản xuất của 1m 3 bể phục vụ sản xuất tôm sú giống tại Khánh Hòa

ĐVT: 1.000 đồng

Năm 2005 Năm 2006 Chỉ tiêu

Nha Trang Cam Ranh Nha Trang Cam Ranh

Giá trị gia tăng tính trên một m3 bể ương

nuôi ấu trùng tôm sú năm 2005 ở Nha Trang là

392.000 đồng, ở Cam Ranh là 421.000 đồng

Tuy nhiên sang năm 2006, giá trị gia tăng giảm

xuống ở cả hai vùng nghiên cứu, ở Nha Trang

còn 271.000/m3 bể ương nuôi ấu trùng, Cam

Ranh giảm còn 314.000 đồng/m3 bể ương

nuôi Tương tự như vậy, thu nhập hỗn hợp

tính trên một m3 bể ương nuôi ấu trùng tôm sú

năm 2005 ở Nha Trang là 327.000 đồng, ở

Cam Ranh là 353.000 đồng, sang năm 2006

thu nhập hỗn hợp giảm ở cả hai vùng nghiên

cứu Sở dĩ có sự giảm xuống này là do giá trị

sản xuất tại hai vùng nghiên cứu năm 2006

giảm mạnh so với năm 2005, trong khi chi phí

trung gian giảm không đáng kể so với giá trị

sản xuất, từ đó làm cho giá trị gia tăng và thu

nhập hỗn hợp năm 2006 ở cả hai vùng nghiên

cứu đều giảm so với năm 2005

Do giá trị gia tăng và thu nhập hỗn hợp

tính trên một m3 bể ương nuôi ấu trùng tôm sú

năm 2006 ở cả hai vùng nghiên cứu đều giảm

so với năm 2005, dẫn tới lợi nhuận tính trên

một m3 bể ương nuôi ấu trùng tôm sú cũng

giảm theo Cụ thể, lợi nhuận trên một m3 bể ương nuôi ấu trùng tôm sú năm 2005 ở Nha Trang là 233.000 đồng, ở Cam Ranh là 262.000 đồng, đến năm 2006 lợi nhuận thu được ở Nha Trang chỉ còn 118.000 đồng, ở Cam Ranh là 153.000 đồng

III.3- Đánh giá các chỉ tiêu kết quả kinh tế trên 1m 3 bể phục vụ sản xuất tôm sú giống tại Nha Trang và Cam Ranh

Để đánh giá hiệu quả của đồng vốn đầu

tư đối với 1m3 bể phục vụ sản xuất ấu trùng tôm sú, chúng tôi so sánh giữa kết quả thu được và chi phí sản xuất của các trại nuôi tôm Với định mức lao động cho nuôi tôm sú giống

là 1 lao động/50m3 bể phục vụ sản xuất, chúng tôi thu được kết quả ở bảng 4

Bảng 4: Kết quả kinh tế trên 1m 3 bể phục vụ sản xuất tôm sú giống

Năm 2005 Năm 2006 Chỉ tiêu Nha Trang Cam Ranh Nha Trang Cam Ranh

1- Giá trị SX/chi phí trung gian 1,58 1,87 1,41 1,71

2- Giá trị gia tăng/chi phí trung gian 0,58 0,87 0,41 0,71

3 Thu nhập hỗn hợp/1 lao động 16.375 17.664 10.307 12.314

4- Lợi nhuận/tổng chi phí SX 0,28 0,41 0,14 0,25

Trang 6

Kết quả trên cho thấy, cùng một đồng chi

phí bỏ ra trên 1m3 bể phục vụ sản xuất tôm sú

giống nhưng giá trị sản xuất thu được năm

2006 có sự giảm sút đáng kể so với năm 2005

ở cả hai vùng nghiên cứu, đặc biệt là ở Nha

Trang Sở dĩ có sự giảm sút này là do tốc độ

giảm chi phí trung gian hay tổng chi phí sản

xuất nhỏ hơn tốc độ giảm của giá trị sản xuất

Mặt khác giá trị gia tăng cũng có hiện

tượng giảm vì tốc độ tăng trưởng của giá trị

sản xuất nhỏ hơn tốc độ tăng của chi phí trung

gian đã làmcho giá trị gia tăng năm 2006 giảm sút so với năm 2005 Từ đó kéo theo lợi nhuận năm 2006 trên 1m3 bể nuôi giảm so với năm

2005

Từ đó có thể khẳng định hiệu quả của đồng vốn đầu tư đối với 1m3 bể phục vụ sản xuất ấu trùng tôm sú năm 2006 là kém hiệu quả hơn so với năm 2005, trên cả hai vùng nghiên cứu

III.4 Một số kiến nghị của các trại nuôi tôm

sú giống và hướng đề xuất giải quyết Bảng 5 Một số yêu cầu của các trại nuôi tôm sú giống

Chỉ tiêu Số trại (n=70) Tỷ lệ (%) Thứ tự

Qua bảng 5 cho thấy yêu cầu hàng đầu là

giải quyết về vấn đề ô nhiễm môi trường nuôi

với 88,6% số trại được hỏi Tuy nhiên điều này

chỉ có thể thực hiện được khi có sự phối hợp

chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng với sự

nhận thức đúng đắn về môi trường của các

chủ trại nuôi tôm

Yêu cầu thứ hai mà các trại nuôi đề nghị

là giúp giải quyết thị trường đầu ra ổn định với

75,7% các trại nuôi tôm sú giống ở Nha Trang

và Cam Ranh trả lời cụ thể là cần có thị

trường tôm bột ổn định, giá cả hợp lý Vì vậy

việc xây dựng thương hiệu tôm sú giống

Khánh Hòa, thiết lập các hiệp hội những người

nuôi tôm cũng có thể giải quyết phần nào khó

khăn này

Yêu cầu thứ ba là chủ động tạo được

nguồn tôm bố mẹ chất lượng cao và quản lý

được nguồn gốc với 68,6%, vì có quản lý

được nguồn tôm sú bố mẹ mới nâng cao được

chất lượng ấu trùng tôm giống, mới chủ động

được trong việc giải quyết nguồn tôm giống

kiểm tra bằng máy tại các trung tâm lớn trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa như: Viện Công nghệ Sinh học và Môi trường - Trường Đại học Nha Trang, Viện Pasteur Nha Trang

Yêu cầu thứ tư mà các trại nuôi tôm sú giống đề nghị là được giúp đỡ về vốn, tạo điều kiện thuận lợi trong việc vay vốn ngân hàng,

có chính sách cho vay với lãi hợp lý nhằm tăng thêm nguồn vốn để đầu tư nâng cấp trại nuôi, mua thêm trang thiết bị

Chỉ có một số ít ý kiến là cần giúp đỡ về

kỹ thuật với 21,4%, điều đó phần nào cho thấy trình độ kỹ thuật cũng như kinh nghiệm sản xuất tôm sú giống của những người sản xuất

ấu trùng tôm sú tại tỉnh Nha Trang và Cam Ranh là khá tốt, đây chính là một thế mạnh của nghề sản xuất tôm sú giống trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa

IV KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

Nghiên cứu thực trạng và các vấn đề liên quan đến sản xuất ấu trùng tôm sú ở Nha Trang và Cam Ranh cho thấy rằng, mặc dù

Trang 7

đây có bước phát triển nhanh chóng, đạt được

nhiều thành tựu kinh tế, xã hội quan trọng,

nhưng chưa quan tâm đầy đủ đến sự phát

triển bền vững Hình thức tổ chức chủ yếu vẫn

là là kinh tế hộ gia đình, có tính chất manh

mún, nhỏ lẻ, chưa hình thành mạng lưới tổ

chức chặt chẽ để nâng cao kết quả sản xuất,

quản lý tốt chất lượng sản phẩm, nâng cao

hiệu qủa cạnh tranh và duy trì thị trường

Để góp phần tổ chức thực hiện có hiệu

quả các mục tiêu chung được đề ra ở trên,

cũng như nâng cao hiệu quả kinh tế nghề nuôi

tôm sú giống tại Nha Trang và Cam Ranh, cần

tăng cường xây dựng và thực hiện tốt công tác

quy hoạch, quản lý phát triển nuôi tôm sú

giống bền vững theo quy hoạch Trong quy

hoạch cần chú ý đến tính quy mô của từng cơ

sở sản xuất trên cơ sở thỏa mãn các yêu cầu

về công nghệ trong quy trình sản xuất như yêu

cầu về cơ sở hạ tầng, trang thiết bị phục vụ

sản xuất, yêu cầu kỹ thuật về tôm bố mẹ, đặc

biệt trong kỹ thuật nuôi ấu trùng tôm sú, về an

toàn vệ sinh môi trường, về chất lượng sản

phẩm Trên cơ sở đó xây dựng thương hiệu

cho sản phẩm tôm giống sạch Khánh Hòa

Thứ hai, quản lý tốt nguồn gốc và chất

lượng tôm bố mẹ, từ đó khôi phục và nâng cao

chất lượng tôm sú giống tỉnh Khánh Hòa Để

thực hiện được, cần kiểm dịch được nguồn

tôm bố mẹ trước khi đưa vào sản xuất giống

Trong kế hoạch lâu dài cần hỗ trợ kinh phí tối

đa cho các đề tài về thuần hóa tôm bố mẹ

nhằm hỗ trợ cho nuôi tôm bền vững Việc

nâng cao chất lượng tôm sú giống cần giải quyết một bài toán đồng bộ về quy hoạch, về chất lượng tôm bố mẹ, về quy trình kỹ thuật nuôi, chất lượng môi trường nước

Mặc dù bài báo đã giải quyết được mục tiêu nghiên cứu đề ra, nhưng vẫn tồn tại một

số hạn chế bao gồm:

- Phương pháp chọn mẫu là phương pháp ngẫu nhiên đơn giản, không quan tâm đến quy

mô trại cũng như kết quả sản xuất của trại nên cũng ảnh hưởng phần nào đến tính chính xác của đề tài nghiên cứu

- Đề tài chỉ mới tập trung điều tra, nghiên cứu chủ yếu tại 2 địa bàn là thành phố Nha Trang và huyện Cam Ranh tỉnh Khánh Hòa, mà chưa mở rộng nghiên cứu đến tất cả các trại sản xuất tôm sú giống trên phạm vi toàn tỉnh Khánh Hòa, đặc biệt tại huyện Ninh Hòa là địa bàn có nghề nuôi tôm sú giống khá phát triển trong những năm gần đây

- Bài báo này chỉ mới dừng lại ở việc sử dụng phương pháp thống kê mô tả để đánh giá kết quả kinh tế nghề nuôi tôm sú giống tại Khánh Hòa mà chưa đi vào phân tích cụ thể các nhân

tố ảnh hưởng đến kết quả kinh tế nghề nuôi tôm

sú giống Vì vậy ở bài báo tiếp theo tiếp theo sẽ

sử dụng mô hình kinh tế lượng để tìm ra các nhân tố tác động đến việc thay đổi sản lượng sản xuất ấu trùng tôm sú, từ đó có hướng để xuất chi tiết và cụ thể hơn

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1- Bộ Thủy sản (2000), “Chương trình khuyến ngư trọng điểm của ngành Thủy sản thời kỳ 2001-2005” 2- Sở Thủy sản Khánh Hòa (2005), “Báo cáo tại Hội nghị đánh giá tình hình sản xuất tôm sú giống

tỉnh Khánh Hòa từ 2001-2005 Biện pháp thực hiện đến năm 2010”

3- Sở Thủy sản Khánh Hòa (2005), “Báo cáo tình hình thực hiện kế hoạch 5 năm (2001-2005) và định

hướng phát triển giai đoạn 2006-2010 ngành thủy sản Khánh Hòa”

4- Sở Thủy sản Khánh Hòa (2006), “Chương trình kinh tế biển tỉnh Khánh Hòa giai đoạn 2006-2010”,

UBND Tỉnh Khánh Hòa

5-http://www.khanhhoa.gov.vn

Ngày đăng: 19/05/2021, 17:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm