1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu một số giải pháp cơ bản góp phần giải quyết việc đền bù đất đai cho người dân khi thực hiện dự án khu đô thị sinh thái và dịch vụ cửu long tại huyện lương sơn, tỉnh hòa bình

101 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 1,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1.1 Tính cấp thiết của đề tài (10)
    • 1.2.1. Mục đích (11)
    • 1.2.2. Yêu cầu (11)
  • CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU (12)
    • 1.1. Bản chất của công tác bồi thường giải phóng mặt bằng (12)
    • 1.2. Chính sách bồi thường thiệt hại và tái định cư trên thế giới (13)
      • 1.2.1 Chính sách bồi thường thiệt hại và tái định cư của các tổ chức tài trợ (WB và ADB) (13)
      • 1.2.2. Chính sách bồi thường thiệt hại và tái định cư ở một số nước (14)
      • 1.2.3. Công tác bồi thường GPMB ở một số địa phương trong nước (18)
    • 1.3. Chính sách bồi thường thiệt hại và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất ở Việt (23)
      • 1.3.1. Những văn bản pháp quy của Nhà nước về đất đai (23)
      • 1.3.2. Một số văn bản về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất vào mục đích an (26)
      • 1.3.3. Thực tiễn bồi thường, giải phóng mặt bằng tại Việt Nam (37)
  • CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (41)
    • 2.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của huyện Lương Sơn (41)
      • 2.1.1. Điều kiện tự nhiên (41)
    • 2.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (53)
    • 2.3. Nội dung nghiên cứu (53)
    • 2.4. Phương pháp nghiên cứu; (54)
      • 2.4.1. Phương pháp thu thập thông tin, số liệu, tài liệu (54)
      • 2.4.2. Phương pháp điều tra thực tế (54)
      • 2.4.3. Phương pháp phân tích, thống kê, tổng hợp, so sánh và xử lý số liệu (54)
  • CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (55)
    • 3.1. Công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn huyện Lương Sơn tỉnh Hòa Bình (55)
      • 3.1.1. Trình tự thực hiện bồi thường, giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn huyện Lương Sơn tỉnh Hòa Bình (55)
      • 3.1.3. Tình hình chung về công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng khi Nhà nước (57)
    • 3.2. Đánh giá việc thực hiện chính sách bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình (57)
      • 3.2.1. Sơ lược thu hồi đất dự án Khu đô thị sinh thái và dịch vụ Cửu Long (57)
      • 3.2.2 Các văn bản pháp lý liên quan đến dự án (58)
      • 3.2.3. Đánh giá việc thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án (63)
      • 3.2.4 Bồi thường thiệt hại, hỗ trợ về tài sản trên đất (70)
      • 3.2.5 Tình hình thực hiện chính sách hỗ trợ, tái định cư (72)
    • 3.3. Những thuận lợi, khó khăn trong công tác giải phóng mặt bằng tại Dự án xây dư ̣ng khu đô thi ̣ sinh thái và di ̣ch vu ̣ Cửu Long (75)
      • 3.3.1 Những thuận lợi trong công tác giải phóng mặt bằng (75)
      • 3.3.2 Những khó khăn trong công tác giải phóng mặt bằng (77)
      • 3.3.3. Nhận xét chung (79)
    • 3.4. Đề xuất một số giải pháp cho công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất để xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng (81)
      • 3.4.1 Hoàn thiện chính sách pháp luật về đất đai (81)
      • 3.4.2. Kiện toàn nội dung chính sách về công tác bồi thường, hỗ trợ và TĐC (82)
      • 3.4.3. Tăng cường vai trò cộng đồng trong việc tham gia công tác GPMB (83)
      • 3.4.4. Nâng cao năng lực cán bộ và hiệu quả làm việc của Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và TĐC. 82 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ (84)
    • 1. Kết luận (86)
    • 2. Kiến nghị (86)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (88)
  • PHỤ LỤC (91)

Nội dung

Trong đó, quyền lợi của người sử dụng đất bị thu hồi được bảo đảm bởi các quy định của pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất.. Theo ngân hàng thế giới WB,

Tính cấp thiết của đề tài

Mục đích

- Tìm hiểu chính sách của Nhà nước liên quan tới công tác bồi thường thiệt hại khi thu hồi đất;

- Phân tích, đánh giá công tác thực hiện chính sách bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất ở một số dự án trên địa bàn huyện Lương Sơn - tỉnh Hòa Bình;

- Đánh giá và rút ra ưu điểm cũng như tồn tại trong việc thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ tái định cư để từ đó đề xuất ý kiến góp phần đẩy nhanh công tác đền bù giải phóng mặt bằng, giúp cho công tác quản lý hành chính Nhà nước về đất đai ngày càng hiệu quả.

Yêu cầu

- Hiểu và nắm vững các chính sách bồi thường, giải phóng mặt bằng, hỗ trợ tái định cư cũng như các văn bản pháp lý có liên quan;

- Các số liệu điều tra, thu thập phải phản ánh đúng, khách quan quá trình thực hiện chính sách bồi thường khi nhà nước thu hồi đất ở một số dự án trên địa bàn huyên Lương Sơn;

- Các số liệu, tài liệu điều tra thu thập phải đáng tin cậy và chính xác;

- Các đề nghị, kiến nghị phải có cơ sở và có tính khả thi.

TỔNG QUAN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Bản chất của công tác bồi thường giải phóng mặt bằng

Khái niệm về mặt bằng: Mặt bằng bao gồm đất đai và tài sản trên đất

Mặt bằng bị thu hồi: Bao gồm thu hồi cả đất đai và tài sản trên đất

Theo từ điển tiếng việt thì “bồi thường” hay “đền bù” có nghĩa là trả lại tương xứng giá trị hoặc công lao động cho một chủ thể nào đó bi thiệt hại vì một hành vi của chủ thể khác “Giải phong mặt bằng” có nghĩa là di dời, dọn dân đi nơi khác để lấy mặt bằng xây dựng công trình Điều này có nghĩa là:

+ Không phải mọi khoản bồi thường đều bằng tiền;

+ Sự mất mát của người bị thu hồi đấy không chỉ là về mặt vật chất mà nhiều trường hợp còn mất mát cả về tinh thần, nhất là khi phải tái định cư:

+ Về mặt hành chính thì đây là một quá trình không tự nguyện, có tính cưỡng chế và vẫn là đòi hỏi sự “hy sinh”, không chỉ là một sự bồi thường ngang giá tuyệt đối;

Việc bồi thường có thể vô hình (xin lỗi) hoặc hữu hình ( bồi thường bằng tiền, bằng vật chất khác), có thể do các quy định của pháp luật điều tiết, do thoả thuận giữa các chủ thể

Trên thực tế, ngoài các khoản bồi thường nói trên thì có một hình thức bồi thường khác gọi là hỗ trợ

Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích an ninh, quốc phòng, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, mục đích phát triển kinh tế được quy định tại điều 36 Nghị định 181/2004/NĐ – CP ngày 29/10/2004 và các văn bản hướng dẫn như Nghị định 197/2004/NĐ – CP ngày 03/12/2004; Nghị định 84/2004/NĐ – CP ngày 25/05/2004 và Nghị định số 69/2009/NĐ – CP ngày 13/08/2009 của Chính Phủ Từ đó có thể hiểu bản chất của công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng trong tình hình hiện nay không đơn thuần là bồi thường về mặt vật chất mà còn phải đảm bảo được lợi ích của người dân phải di chuyển Đó là họ phải có được chỗ ở ổn định, có điều kiện sồng bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ, được hỗ trợ ổn định đời sống sản xuất, hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề nghiệp để tạo điều kiện cho người dân nâng cao thu nhập và mức sống.

Chính sách bồi thường thiệt hại và tái định cư trên thế giới

1.2.1 Chính sách bồi thường thiệt hại và tái định cư của các tổ chức tài trợ (WB và ADB)

Theo ngân hàng thế giới (WB), ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) và các tổ chức phi Chính Phủ khác thì bản chất của việc bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất phục vụ mục đích an ninh quốc phòng, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng phải đảm bảo lợi ích của những người bị ảnh hưởng để họ có một cuộc sống tôt hơn trước về mọi mặt Trên tinh thần giảm thiểu đến mức thấp nhất các tác động của việc thu hồi đất, có chính sách thoả đáng, phù hợp đảm bảo người bị thu hồi đất không gặp bất lợi hay khó khăn cho cuộc sống Khắc phục, cải thiện chất lượng cuộc sống, nguồn sống đối với người bi ảnh hưởng Để thực hiện phương châm đó thì trong công tác bồi thường và tái định cư phải thực hiện chính sách phát triển con người là trung tâm chứ không phải chính sách bồi thường vật chất Từ quan điểm đó chính sách bồi thường công bằng là bồi thường ngang bằng với tình trạng như không có dự án được sử dụng bằng giá thay thế sao cho đời sống của người bị ảnh hưởng sau khi được bồi thường ít nhất phải đạt được ngang mức cũ của họ như trước khi có dự án Tuy vậy các chính sách này cũng có những khác biệt so với chính sách của Nhà nước Việt Nam như:

- Khái niệm hợp pháp hay không hợp pháp trong chính sách bồi thường, tái định cư là một trong những khác biệt có khả năng gây ra những vấn đề xã hội lớn khi áp dụng chính sách tái định cư của ADB Theo ADB và WB thì việc thiếu chứng thư hợp pháp về đất sẽ không ảnh hưởng tới bồi thường cho một số nhóm dân bị ảnh hưởng và được mở rộng đối với cả đối tượng không bị thiệt hại về đất và tài sản mà chỉ bị ảnh hưởng tới mặt tinh thần Ở Việt Nam trước kia chỉ bồi thường cho những người có chứng thư hợp pháp nhưng ở Nghị định 197/2004/NĐ – CP đã mở rộng hơn khái niệm hợp pháp, đồng thời có quy định rõ ràng các trường hợp không được bồi thường về đất, nếu xét thấy cần được hỗ trợ thì UBND Tỉnh ra quyết định đối với từng trường hợp cụ thể

- Theo chính sách của ADB thì việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư bao giờ cũng phải hoàn thành xong trước khi tiến hành công trình xây dựng, trong khi ở Việt Nam chưa có quy định rõ ràng về thời hạn này (rất nhiều dự án vừa giải toả mặt bằng vừa triển khai thi công, chỗ nào giải phong mặt bằng xong thì thi công trước tránh lấn chiếm đất đai), do vậy nhiều gia đình còn chưa kịp sửa chữa, xây dựng lại hoặc xât dựng nhà ở mới ổn định ngay sau khi giải toả dẫn đến việc phải thuê nhà ở tạm

- Quy định của ngân hàng ADB là không những phải thông báo đầy đủ các thông tin về dự án cũng như chính sách bồi thường, tái định cư của dự án cho các hộ nông dân mà còn tham khảo ý kiến và tìm mọi cách thoả mãn các yêu cầu chính đáng của họ trong suốt quá trình kế hoạch hoá cũng như thực hiện công tác tái định cư Ở Việt Nam, thực tế cho thấy việc thực hiện đầy đủ nội dung này là rất khó khăn, vì việc thu hồi đất là quyền của Nhà nước, nhưng việc di chuyển theo kế hoạch như thế nào, tái định cư ra sao hầu như không trả lời ngay được

- Theo quy định của ngân hàng ADB, ngoài giám sát nội bộ, cơ quan thực hiện dự án phải thuê một tổ chức bên ngoài giám sát độc lập phải kiểm tra xem xét các hoạt động tái định cư có được triển khai đúng không? Từ đó có những kiến nghị biện pháp giải quyết sao cho công tác tái định cư đạt được mục tiêu cuối cùng là giải quyết những vướng mắc nảy sinh.[1]

Các chính sách hiện hành tại Việt Nam chưa có quy định về giám sát độc lập về tái định cư cho nên việc giám sát độc lập công tác tái định cư là công tác khá mới mẻ ở Việt Nam và ít cá nhân quen với công việc này

-Phạm vi ảnh hưởng của dự án phải quan tâm theo quy định của ADB là rất rộng còn theo chính sách hiện hành của Việt Nam thì vẫn còn hạn chế.[20]

1.2.2 Chính sách bồi thường thiệt hại và tái định cư ở một số nước

Với những đặc thù về quan hệ đất đai, nhiều nước trên thế giới cố gắng không ngừng trong việc hoàn thiện chính sách pháp luật trong đó có chính sách về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, đặc biệt các nỗ lực trong việc khôi phục cuộc sống và khôi phục nguồn thu nhập cho người bi ảnh hưởng của thu hồi đất Từ kinh nghiệm lý thuyết và thực tế cho thấy các yếu tố đảm bảo cho bồi thường, hỗ trợ tái định cư thành công là nhờ những chính sách phù hợp của Chính phủ, nguồn tài chính đầu tư, khâu tổ chức của chính quyền địa phương, trình độ nhận thức và hiểu biết pháp luật của người dân đồng thời phải có sự kiểm soát, giám sát chặt chẽ của cơ quan quản lý Nhà nước Có thể nói nhờ những thành công và thất bại của các nước mà chúng ta có thể rút ra được những bài học quý giá

- Trung Quốc: Ở Trung Quốc, có thể nói, mục tiêu bao trùm lên chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư là hạn chế đến mức tối đa việc thu hồi đất, giải tỏa mặt bằng, cũng như số lượng người bị ảnh hưởng bởi việc thu hồi đất để thực hiện dự án đầu tư Nếu như việc thu hồi đất là không thể tránh khỏi thì có sự chuẩn bị cẩn thận phương án đền bù, trên cơ sở tính toán đầy đủ lợi ích của nhà nước, tập thể và cá nhân, đảm bảo cho những người bị thu hồi đất có thể khôi phục lại hoặc cải thiện mức sống so với trước khi bị thu hồi đất

Theo quy định của pháp luật Trung Quốc, khi Nhà nước thu hồi đất thì người nào sử dụng đất sau đó sẽ có trách nhiệm bồi thường Người bị thu hồi đất được thanh toán ba loại tiền: tiền bồi thường đất đai, tiền trợ cấp về tái định cư, tiền trợ cấp bồi thường hoa màu trên đất Cách tính tiền bồi thường đất đai và tiền trợ cấp tái định cư căn cứ theo tổng giá trị tổng sản lượng của đất đai những năm trước đây rồi nhân với hệ số Tiền bồi thường cho hoa màu, cho các loại tài sản trên đất được tính theo giá cả hiện tại

Mức bồi thường cho giải tỏa mặt bằng được thực hiện theo nguyên tắc đảm bảo cho người dân có cuộc sống bằng hoặc cao hơn nơi ở cũ Việc quản lý giải phóng mặt bằng được giao cho các cục quản lý tài nguyên đất đai ở địa phương đảm nhiệm Tổ chức, cá nhân được quyền sử dụng thửa đất nào sẽ trả tiền thuê một đơn vị xây dựng giải tỏa mặt bằng Để giải quyết nhà ở cho người dân khi giải phóng mặt bằng, phương thức chủ yếu của Trung Quốc là trả tiền và hỗ trợ bằng cách tính ba khoản sau: Một là, giá cả xây dựng lại, chênh lệch giữa giá xây dựng lại nhà mới và nhà cũ; Hai là, giá đất tiêu chuẩn; Ba là, trợ cấp về giá cả Ba khoản này cộng lại là tiền bồi thường về nhà ở

Việc bồi thường nhà ở cho dân ở thành phố khác với việc bồi thường cho dân ở nông thôn, bởi có sự khác nhau về hình thức sở hữu đất đai ở thành thị và nông thôn Đối với nhà ở của người dân thành phố, nhà nước bồi thường bằng tiền là chính, với mức giá do thị trường bất động sản quyết định qua các tổ chức trung gian để đánh giá, xác định giá Với người dân nông thôn, nhà nước thực hiện theo những cách thức rất linh hoạt, theo đó, mỗi đối tượng khác nhau sẽ có cách bồi thường khác nhau: tiền bồi thường về sử dụng đất đai; tiền bồi thường về hoa màu; bồi thường tài sản tập thể

Theo đánh giá của một số chuyên gia tái định cư, sở dĩ Trung Quốc có những thành công nhất định trong công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư là do thứ nhất, đã xây dựng các chính sách và thủ tục rất chi tiết, ràng buộc đối với các hoạt động tái định cư, đảm bảo mục tiêu tạo cơ hội phát triển cho người dân tái định cư, tạo các nguồn lực sản xuất cho những người tái định cư Thứ hai, năng lực thể chế của các chính quyền địa phương khá mạnh Chính quyền cấp tỉnh chịu trách nhiệm hoàn toàn trong việc thực hiện chương trình bồi thường hỗ trợ tái định cư Thứ ba, quyền sở hữu đất tập thể làm cho việc thực hiện bồi thường hỗ trợ tái định cư có nhiều thuận lợi, đặc biệt là ở nông thôn Tiền đền bù cho đất đai bị mất không trả cho từng hộ gia đình mà được cộng đồng sử dụng để tìm kiếm, phát triển đất mới hoặc mua của các cộng đồng sở tại hay dùng để phát triển kết cấu hạ tầng Chính quyền thôn, xã chịu trách nhiệm phân chia cho các hộ bị ảnh hưởng

Bên cạnh những thành công như vậy, chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của Trung Quốc cũng bộc lộ những tồn tại nhất định mà chủ yếu là vấn đề việc làm; tốc độ tái định cư chậm, thiếu đồng bộ, thực hiện giải phóng mặt bằng trước khi xây xong nhà tái định cư

Pháp luật Thái Lan cho phép hình thức sở hữu cá nhân với đất đai, vì vậy khi Nhà nước hoặc các tổ chức lấy đất thì đều phải có sự thoả thuận về sử dụng đất giữa chủ dự án và chủ sử dụng đất của khu đất đó (chủ sở hữu) trên cơ sở một hợp đồng

Chính sách bồi thường thiệt hại và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất ở Việt

1.3.1 Những văn bản pháp quy của Nhà nước về đất đai

Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, chúng ta đã tiến hành xoá bỏ chế độ chếm hữu ruộng đất của địa chủ, thiết lập quyền sở hữu ruộng đất cho nhân dân Hiến pháp năm 1959, Nhà nước thừa nhận tồn tại ba hình thức sở hữu đất đai ở nước ta, gồm có sở hữu nhà nước, sở hữu tư nhân và sở hữu tập thể Thời kỳ này quan hệ đất đai trong bồi thường chủ yếu là thoả thuận, sau đó thống nhất giá trị bồi thường mà không cần cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt phương án bồi thường hay ban hành giá bồi thường [11]

Nghị định 151/TTg ngày 15 tháng 04 năm 1959 của Thủ tường Chính phủ quy định thể lệ tạm thời về trưng dụng ruộng đất, là văn bản pháp quy đầu tiên liên quan đến bồi thường và tái định cư bắt buộc ở Việt Nam Nghị định này quy định những nguyên tắc cơ bản trong việc xây dựng những công trinhd do Nhà nước quản lý, đó là: “Đảm bảo kịp thời và đủ tiện ích cần thiết cho công trình xây dựng đồng thời chiếu cố đúng mức quyền lợi và đời sống của người có ruộng đất Những người có ruộng đất bị trưng dụng được bồi thường và trong trường hợp cần thiết được giúp giải quyết công ăn việc làm…”[19] Có thể nói những nguyên tắc cơ bản của việc bồi thường thiệt hại trong Nghị định 151/TTg là rất đúng đắn, đáp ứng nhu cầu trưng dụng đất đai trong những năm 1960 Tuy nhiên Nghị định chưa quy định cụ thể mức bồi thường thiệt hại mà chỉ quan tâm đến sự thoả thuận của các bên

Tiếp đó, ngày 06 tháng 07 năm 1959 Chính phủ ban hành Thông tư liên bộ 1424/TTLB hướng dẫn thi hành Nghị định 151/TTg

Ngày 11 tháng 01 năm 1970 Thủ tướng Chính phủ ban hành Thông tư 1972/TTg quy định một số điểm tạm thời về bồi thường nhà cửa, đất đai và cây cối lâu năm, hoa màu cho nhân dân xây dựng vùng kinh tế mới, mở rộng thành phố trên nguyên tắc: “Phải đảm bảo thoả đáng quyền lợi hợp pháp của Hợp tác xã và của nhân dân” Tuy nhiên Thông tư này mới chỉ dựng lại ở việc quy định bồi thường về tài sản trên đất mà chưa đề cập cụ thể đến chính sách bồi thường về đất đai

Hiến pháp 1980 quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý, ngày 01 tháng 07 năm 1980 Hội đồng Chính phủ ra Quyết định số 201/CP quy định về việc “Không được phát canh, thu tô, cho thuê, cầm cố hoặc bán nhượng đất dưới bất cứ hình thức nào ,không được dùng để thu những khoản lợi không do thu nhập mà có, trừ trường hợp do Nhà nước quy định”[12] Quan hệ đất đai thời kỳ này đơn thuần chỉ là quan hệ “giao – thu” giữa Nhà nước với người sử dụng đất

Luật đất đai năm 1988 không nêu cụ thể việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất mà chỉ nêu tại phần nghĩa vụ của người sử dụng đất (điều 48): “Đền bù thiệt hại cho người sử dụng đất để giao cho mình bồi hoàn thành quả lao động và kết quả đầu tư đã làm tăng giá trị của đất đó theo quy định của pháp luật”[15] Các văn bản hướng dẫn thi hành Luật đất đai 1988 không hướng dẫn nội dung về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất mà chỉ tập trung vào việc bồi thường đất nông nghiệp, đất có rừng khi chuyển sang mục đích khác

Nghị định số 186/HĐBT ngày 31 tháng 05 năm 1990 của Hội đồng Bộ trưởng quy định về việc bồi thường đất nông nghiệp, đất có rừng khi chuyển sang mục đích khác Tại Điều 1 của Nghị định này nêu rõ: Mọi tổ chức, cá nhân được giao đất nông nghiệp, đất có rừng để sử dụng vào mục đích khác phải đền bù về đất nông nghiệp, đất có rừng cho Nhà nước Tiền bồi thường tài sản trên mặt đất và tài sản trong lòng đất cho chủ sử dụng hợp pháp không thuộc các khoản tiền thiệt hại về đất Khung mức giá bồi thường để UBND tỉnh, thành phố, đặc khu kinh tế thuộc Trung ương quy định cụ thể, mức bồi thường đối với từng quận, huyện, thị trấn, xã, thành phố thuộc tỉnh sát với giá đất ở địa phương nhưng không được thấp hơn hoặc cao hơn khung định mức bồi thường của Chính phủ

Hiến pháp 1992 đã công nhận và bảo vệ quyền sử dụng đất của các tổ chức, cá nhân và quyến sở hữu cá nhân về tài sản và sản xuất Điều 17 Hiến pháp quy định: “Đất đai , rừng núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi ở vùng biển thềm lục địa và vùng trời…đều thuộc sở hữu toàn dân” Tại Điều

18, Hiến pháp quy định về quuyền quản lý của Nhà nước đối với đất đai theo quy hạch và pháp luật, đảm bảo việc sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả, đồng thời quy định việc giao đất cho các tổ chức, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài và về trách nhiệm, nghĩa vụ của người được nhà nước cho sử dụng đất (tổ chức và cá nhân có trách nhiệm bảo vệ, bồi thường khai thác hớp lý, sử dụng tiết kiệm đất, được chuyển quyền sử dụng đất do Nhà nước giao theo quy định của pháp luật) Tại Điều 23 Hiến pháp quy định: “Tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức không bị quốc hữu hoá, trong trường hợp thật cần thiết vì lý do An ninh Quốc phòng, lợi ích quốc gia mà Nàh nước trương mua hay trưng dụng, có bồi thường tài sản của cá nhân hay tổ chức theo thời giấ của thị trường “.[13]

Trên cơ sở Hiến pháp 1992, kế thừa những điểm tiến bộ của Luật đất đai năm

1988, Luật đất đai năm 1993 ra đời và có những đổi mới quan trọng, đặc biệt với nội dung thu hồi đất phục vụ cho công cộng và bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất Luật đất đai năm 1993 đã thể chế hoá các quy định của Hiến pháp năm 1992 về đất đai thông qua việc giao đất, cho thuê đất, chế độ quản lý, sử dụng các loại đất, quản lý việc sử dụng đất đúng và hợp lý, xác địn thời hạn giao đất, cho thuê đất, thẩm quyền thu hồi và giao, cho thê đất; hạn mức sử dụng các loại đất và quy định cụ thể các quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân sử dụng đất Luật quy định rõ hơn về quyền của ngưới được giao đất gồm có quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, cho thuê, thế chấp, đồng thời Cình phủ quy định khung giá đất cho từng loại đất, từng vùng và theo thời gian

Luật sửa đổi, bổi sung một số điều của Luật đất đai ngày 29 tháng 06 năm 2001 quy định cụ thể hơn về bồi thường, giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất đai đang sử dụng của người sử dụng vào mục đích An ninh, Quốc phòng, lợi ích quốc gia, lợi ích cộng đồng Việc bồi thường, hỗ trợ được thực hiện theo quy định của Chính phủ Nhà nước có chính sách để ổn định đời sống cho người có đất bị thu hồi

Luật đất đai 2003 có ý nghĩa quan trọng, đáp ứng yêu cầu mới đặt ra trong tiến trình phát triển nền kinh tế, ổn định chính trị - xã hội của đất nước, hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế Luật đất đai 2003 quy định thêm về chế tài áp dụng xử lý vi phạm pháp luật trong quản lý và sử dụng đất đai, Quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan nhà nước trong quản lý đất đai, trình tự, thủ tục thực hiện quyền của người sử dụng đất Về thu hồi đất, việc thu hồi đất để sử dụng vào mục đích phát triển kinh tế là một quy định mới của Luật đất đai 2003 Bổ sung trường hợp được Nhà nước giao, cho thuê để thực hiện dự án đầu tư mà không được sử dụng trong thời hạn 12 tháng liền hoặc tiến độ sử dụng đất chậm hơn 24 tháng so với tiến độ ghi trong dự án Quy định thêm về việc thu hồi đất đối với các trường hợp đất bị lấn, chiếm

Về vấn đề bồi thường , tái định cư cho người có đất bị thu hồi được quy định tại Điều 42: “Người bị thu hồi loại đất nào thì được bồi thường bằng việc giao đất mới có cùng mục đích sử dụng, nếu không có đất để bồi thường thì bồi thường bằng giá trị quyền sử dụng đất tại thời điểm có quyết định thu hồi”.[17]

1.3.2 Một số văn bản về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất vào mục đích an ninh quốc phòng, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng

Nghị định số 197/2004/NĐ – CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất Đây là Nghị định thay thế cho Nghị định 22/1998/NĐ – CP ngày 24/04/1998 của Chính phủ trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế, khi mà nhu cầu sử dụng đất cho các mục đích kinh tế, quốc phòng, an ninh, mục đích công cộng ngày càng nhiều Vì vậy, việc bồi thường cho người bị thu hồi đất, giải phóng mặt bằng, hỗ trợ và tái định cư phục vụ cho dự án là công việc thường xuyên, lâu dài trong thời kỳ CNH – HĐH hiện nay Nghị định này đã quy định chi tiết hơn, đầy đủ hơn và toàn diện hơn, tiến bộ hơn và hợp lý hơn Nghị định 22/1998/NĐ – CP ngày 24/04/1998, phù hợp với những nội dung thay đổi của Luật đất đai 2003 thể hiện

- Về phạm vi điều chỉnh:

+ Ngoài trường hợp bồi thường,hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất sự dụng vào mục đích Quốc phòng, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, mục đích kinh tế thì còn nêu thêm trường hợp bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với các dự án sự dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển kinh tế chính thức (OVA)

+ Các trường hợp không thuộc phạm vi áp dụng của Nghị định Cộng đồng dân cư xây dựng, chỉnh trang các công trình phục vụ lợi ích chung của cộng đồng bằng nguồn vốn cho nhân dân đóng góp hoặc Nhà nước hỗ trợ Khi nhà nước thu hồi đất không thuộc phạm vi quy định của Nghị định

- Về đối tượng áp dụng:

NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Ngày đăng: 19/05/2021, 17:06

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w