Bài viết trình bày các biện pháp kỹ thuật nuôi lồng, đánh giá sơ bộ hiệu quả kinh tế của hoạt động nuôi lồng và đánh giá xu hướng và khả năng phát triển nghề nuôi bè tại vùng biển Tân Thành.
Trang 1THÔNG BÁO KHOA HỌC
HIỆN TRẠNG NUƠI BÈ TẠI VÙNG BIỂN THƠN TÂN THÀNH,
XÃ NINH ÍCH, HUYỆN NINH HỊA, TỈNH KHÁNH HỊA
CURRENT SITUATION OF RAFT CULTURE AT THE SEA AREA OF TAN THANH VILLAGE, NINH ICH COMMUNE, NINH HOA DISTRICT, KHANH HOA PROVINCE
Nguyễn Minh Đức, Nguyễn Văn Quỳnh Bơi
Khoa Nuơi trồng Thủy sản - Trường Đại học Nha Trang
TĨM TẮT
Nghiên cứu được tiến hành tại thơn Tân Thành, xã Ninh Ích, huyện Ninh Hịa, tỉnh Khánh Hịa từ tháng 3/2010 đến tháng 8/2010 theo phương pháp đánh giá nơng thơn cĩ sự tham gia (Participatory Rural Appraisal-PRA) Kết quả nghiên cứu cho thấy bè nuơi gồm các lồng nổi cĩ diện tích trung bình 12.5m 2 với kí ch
thướ c mắ t lướ i giai đoạn ương giống 2a = 0,5 - 1,0cm, giai đoạn nuơi thương phẩm 2a = 2,0 - 4,0cm Tổng số
lồng nuơi hiện cĩ ở vùng biển là 403 lồng, trung bình số lồng nuơi/bè là 23 lồng Tơm hùm (phổ biến là tơm
hùm bơng) và cá giị là các đối tượng được nuơi chính với hình thức nuơi đơn Nguồn thức ăn sử dụng chủ yếu
là cá tạp Bệnh xuất hiện nhiều trên tơm hùm từ năm 2007 trở lại đây Bệnh tơm sữa được xem là bệnh nguy hiểm nhất xảy ra tại đây cho đến nay (tỷ lệ tử vong 80 - 90%) Sản lượng tơm hùm năm 2009 đạt khoảng 23.6kg (năng suất bình quân trên lồng đạt 66.5kg) Lợi nhuận trung bình/lồng/vụ đạt 10.9 triệu VNĐ
Từ khĩa: tơm hùm, cá giị, cá tạp, bệnh tơm sữa, sản lượng tơm hùm.
ABSTRACT
The study is conducted at Tan Thanh village, Ninh Ich commune, Ninh Hoa district, Khanh Hoa province from 3/2010 to 8/2010 appling method of Participatory Rural Appraisal (PRA) Result of the study shows that farming raft consists of fl oating cases with average case area of 12.5m 2 and mesh-size of 2a = 0,5 - 1,0 cm for nursing period and 2a= 2,0 - 4,0 cm for fattening period Total case amount is 403 cages
at the sea area now with average of 23 cages per raft Spiny lobster (mainly Ornate spiny lobster) and cobia are main cultured species with type of monoculture Trash fi sh is major feed for cage culture Disease occurs mainly on lobster from 2007 till now Milky disease is considered to be the most serious until now (mortality rate of 80-90%) Yield of lobster was approximately 23,6 kg in 2009 (average of productivity per cage was 66,5 kg) The average profi t was 10.9 millions VNĐ/cage/crop
Keywords: Spiny lobster, cobia, trashfi sh, milky disease, yield of lobster farming.
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Tân Thành là một thơn ven biển thuộc xã
Ninh Ích, huyện Ninh Hịa nằm sát với cửa đầm
Nha Phu nên phần lớn sinh kế của người dân
dựa vào nuơi trồng và đánh bắt thủy sản Do
cĩ lợi thế của vùng cửa đầm như diện tích mặt
nước rộng, trao đổi nước đảm bảo và độ sâu
phù hợp nên nghề nuơi bè tại vùng biển thơn Tân Thành ngày càng phát triển Hoạt động nuơi lồng đã bắt đầu phát triển tại vùng này từ năm
1996 và đang gia tăng trong khoảng 5 năm trở lại đây (trung bình 16.6%/năm) Tuy nhiên, hiện tại vẫn chưa cĩ nghiên cứu nào được tiến hành nhằm đánh giá hiện trạng hoạt động này Xuất
Trang 2phát từ thực tế trên, nghiên cứu được thực hiện
nhằm đánh giá “Hiện trạng nuôi bè tại vùng biển
thôn Tân Thành, xã Ninh Ích, huyện Ninh Hòa,
tỉnh Khánh Hòa” với các mục tiêu sau:
Tìm hiểu thông tin chung về người nuôi
Thu thập thông tin về các biện pháp kỹ thuật
nuôi lồng
Đánh giá sơ bộ hiệu quả kinh tế của hoạt
động nuôi lồng
Đánh giá xu hướng và khả năng phát triển
nghề nuôi bè tại địa phương
Cấp xã: làm việc với phó chủ tịch Ủy ban Nhân dân và trưởng ban kinh tế xã Ninh Ích Cấp thôn: làm việc với trưởng thôn và chủ tịch hội nông dân thôn Tân Thành
Việc tiếp cận tình hình hoạt động nuôi biển tại thôn Tân Thành được tiến hành bằng cách phỏng vấn trực tiếp người nuôi Tỷ lệ số bè nuôi được phỏng vấn trên 70%
Số liệu nghiên cứu được phân tích theo phương pháp thống kế sử dụng phần mềm MS.Excel
III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
1 Thông tin chung về người nuôi
Trình độ học vấn của người nuôi được xem
là yếu tố ảnh hưởng đến năng suất sản lượng nuôi Trình độ học vấn trực tiếp tác động đến khả năng tiếp thu và ứng dụng các kỹ thuật nuôi Do
đó, nó ảnh hưởng gián tiếp đến năng suất cũng như hiệu quả kinh tế của hoạt động nuôi bè Kết quả phỏng vấn 15 hộ nuôi bè cho thấy tuổi trung bình của các chủ hộ nuôi là 43 dao động từ
28 - 61 Ở lứa tuổi này người nuôi đã tích lũy được một số vốn nhất định để đầu tư và vẫn còn
đủ sức để thực hiện hoạt động sản xuất Nghiên cứu cũng cho thấy trình độ học vấn của người nuôi không cao Số chủ hộ có trình độ văn hóa cấp I là 6 người (chiếm 40%), trình độ văn hóa cấp cấp II là 6 người (chiếm 40%) và trình độ văn hóa cấp III là 3 người (chiếm 20%) Kết quả này phản ánh đúng với thực tế trình độ học vấn của người nuôi tôm hùm tại các tỉnh ven biển miền Trung khi đa phần các người nuôi có trình
độ học vấn dưới cấp III (chiếm 98%) theo khảo sát của Ly (2009)
Về trình độ chuyên môn, đa số các chủ hộ không được đào tạo kiến thức về nuôi trồng thủy sản (chiếm 97%), chỉ có 1 chủ hộ đã từng tham gia khóa sơ cấp 3 tháng về sản xuất tôm giống
Do vậy, kỹ thuật nuôi áp dụng hiện tại chủ yếu
Hình 1 Sơ đồ vùng nghiên cứu
(Nguồn:
http://edoc.hu-berlin.de/dissertationen/strehlow-harry-vincent-2006-07-14/HTML/chapter5.html#N115D0.
Accessed 15/10/2010)
II PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu được thực hiện tại thôn Tân
Thành, xã Ninh Ích, huyện Ninh Hòa từ tháng
03/2010 đến tháng 08/2010 theo phương pháp
đánh giá nông thôn có sự tham gia (Participatory
Rural Appraisal-PRA)
Thông tin ban đầu về hoạt động nuôi bè
tại vùng biển thôn Tân Thành được thu thập ở
nhiều mức độ khác nhau:
Cấp huyện: làm việc với các cán bộ phòng
Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện
Ninh Hòa
Trang 3Bảng 1 Các đối tượng nuôi bè tại vùng biển Tân Thành (n = 15)
7 Cá chim vây vàng (Trachinotus blochii )* 13.3
Ghi chú: * : Nuôi thử nghiệm từ năm 2010
2.2 Địa điểm nuôi
Vị trí đặt bè nuôi có ý nghĩa lớn đến năng
suất và sản lượng nuôi Các bè nuôi ở đây tập
trung tại một khu vực cách hòn Lăng, hòn Rớ
khoảng 50m Bè được đặt ở vùng biển có độ sâu
lớn hơn 6m Theo đánh giá của người nuôi, đây
là vùng biển có độ sâu và dòng chảy phù hợp
cho hoạt động nuôi bè Được chắn bởi hòn Thị
nên ảnh hưởng đến vùng này vào mùa mưa bão
không quá lớn (Hình 2)
2.3 Con giống
Nguồn giống tôm hùm và cá biển chủ yếu
được lấy từ nguồn đánh bắt tại địa phương Riêng giống cá biển có thể được lấy từ địa phương khác như Lương Sơn, Ba Làng hay Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản III Trong năm 2010, nguồn giống tôm hùm khan hiếm và giá cao nên một số hộ chuyển sang nuôi cá giò Theo đánh giá cảm quan của người nuôi, chất lượng giống tôm hùm tương đối tốt (màu sắc tươi sáng, không bị xây xát, đầy đủ các phần phụ) do giống được thu trực tiếp tại địa phương nên không trải qua quá trình vận chuyển Ngược lại, chất lượng và số lượng giống cá biển (cá mú, cá giò) thường không ổn định do nguồn cung cấp giống không đồng bộ (được mua rải rác từ nhiều nguồn khác nhau)
từ việc học hỏi lẫn nhau và từ kinh nghiệm của
các người nuôi tại các vùng nuôi khác Thời gian
tham gia nuôi bè trung bình của người nuôi là 5
năm dao động từ 1 - 15 năm So với thời gian
trung bình tham gia nuôi bè tại các vùng nuôi
khác tại các tỉnh ven biển miền Trung (8.33 năm)
và tại Khánh Hòa (10 năm) thì kinh nghiệm trong
nghề nuôi bè của các hộ tại Tân Thành là thấp
hơn đáng kể (Ly, 2009)
2 Các biện pháp kỹ thuật nuôi lồng
2.1 Đối tượng nuôi
Đối tượng nuôi bè chủ yếu là cá giò (80%)
và tôm hùm bông (60%) bên cạnh các đối tượng khác như: tôm hùm tre, tôm hùm xanh, tôm hùm
đỏ, cá mú và cá chim vây vàng (Bảng 1)
Hình 2 Vị trí đặt bè nuôi
Trang 4Việc chọn giống chủ yếu dựa theo kinh nghiệm không qua bất kỳ hình thức kiểm dịch nào nên người nuôi không kiểm soát được nguy cơ lây nhiễm dịch bệnh từ con giống vào đối tượng nuôi tạo
cơ hội cho dịch bệnh xảy ra
Trên thực tế, các hộ có nuôi tôm hùm chọn nuôi từ giai đoạn giống (trọng lượng > 100g) đến
kích thước thương phẩm (> 700g), rất ít hộ ương tôm từ giai đoạn hậu ấu trùng (Puerulus) đến giai
đoạn giống Đối với các hộ nuôi cá, kích thước thả giống từ 10 - 12cm
2.4 Lồng nuôi
Lồng nuôi gồm các lồng nổi Lưới lồng thường được chống đỡ bằng khung và phao Khung lồng được làm bằng gỗ chịu mặn Số lồng nuôi toàn vùng là 403 Số lồng nuôi/bè từ 9 - 77 lồng (trung bình 23 lồng/bè) Số hộ nuôi có từ 30 - 40 lồng chiếm đa số (66,4%) (Bảng 2) Diện tích lồng dao động từ 9 - 16m2 (trung bình 12.5m2) Nhìn chung, quy mô nuôi tại đây lớn hơn so với mặt bằng chung ở những vùng nuôi khác tại các tỉnh ven biển miền Trung là 16 lồng/bè với diện tích trung bình 11.4m2 (Ly, 2009)
Bảng 2 Thông tin bè nuôi của các hộ phỏng vấn (n=15)
Số lồng/bè Tổng số bè Diện tích trung bình/lồng (m 2 ) Tỷ lệ (%)
Có thể phân chia hoạt động nuôi tại khu vực
nghiên cứu thành 2 giai đoạn chính Giai đoạn
“ương” từ con non đến giai đoạn giống với kích
thước mắt lưới 2a = 0,5 - 1,0cm, giai đoạn nuôi
thương phẩm với kích thước 2a = 2,0 - 4,0 cm
Trên thực tế, phụ thuộc nhiều yếu tố, đặc biệt là
năng lực quản lý, mỗi hộ thực hiện một tiến trình
nuôi khác nhau qua nhiều giai đoạn đòi hỏi sự
thay đổi mật độ thả nuôi, kích thước lưới và kích
thước mắt lưới
2.5 Thời gian nuôi
Thông thường mùa vụ thả giống tôm bắt
đầu từ tháng 12 Thời gian nuôi tôm hùm (chỉ
tính cho tôm hùm bông) đến kích cỡ thương
phẩm trung bình là 19 tháng kéo dài hơn so với
các vùng nuôi khác tại các tỉnh miền Trung là 16
tháng (Ly, 2009) Đối với cá, thả giống rải rác
quanh năm với thời gian nuôi cá mú 12 tháng và
cá giò là 10 tháng
2.6 Thức ăn
Tương tự các vùng nuôi tôm hùm khác tại Việt Nam, thức ăn sử dụng trong nuôi bè chủ yếu tại vùng biển Tân Thành là cá tạp, giáp xác
và nhuyễn thể (Tuấn, 2004; Tuan & Mao, 2004;
Nha, 2006; Hung và cộng sự, 2008, Ly, 2009)
Cá tạp bao gồm cá liệt (ponyfi sh), cá sơn (red big-eye), cá mối (lizardfi sh), cá hố (hairtail) và
cá cơm (anchovy), kết hợp với các loài giáp xác như cua (crabs), ghẹ (swimming crab), và một lượng ít nhuyễn thể như sò (cockles), hàu (oyster), vẹm xanh (green mussel) Từ năm
2010, một số hộ đã sử dụng thức ăn viên trong nuôi cá giò giai đoạn giống tuy nhiên số lượng này chiếm tỷ lệ không cao (6.7%) Thức ăn được cho ăn nguyên con hay băm nhỏ tùy theo giai đoạn phát triển của đối tượng nuôi và kích cỡ thức ăn
Trang 5Nguồn cung cấp thức ăn chủ yếu dựa vào khai thác tại địa phương và các vùng biển lân cận Tuy nhiên với số lượng bè gia tăng hiện nay, một số hộ phải hợp đồng mua phế liệu từ các nhà máy đông lạnh để đáp ứng nhu cầu Theo đánh giá của người nuôi, chất lượng thức ăn tương đối tốt tuy nhiên nguồn cung cấp thức ăn không ổn định dẫn đến việc giá tăng cao khi số lượng không đủ đáp ứng, đặc biệt vào mùa mưa bão
Tôm hùm và cá biển được cho ăn 2 lần/ngày (lần 1: 7 - 8h sáng, lần 2: 3 - 4h chiều) Lượng thức ăn lần 1 chiếm 30% và lần 2 chiếm 70% tổng lượng thức ăn Khi cho ăn thức ăn được rải đều quanh lồng hay vào một vị trí nhất định
Trong nuôi lồng biển sử dụng cá tạp với FCR cao (20 - 30) là nguyên nhân gây ra một số vấn
đề về chất lượng nước như tổng hàm lượng nitơ trong nước biển đã vượt quá tiêu chuẩn cho phép trong nuôi trồng thủy sản (0.5mg/L) tại một vài khu vực nuôi tôm hùm lồng thuộc vùng biển Xuân Tự, Khánh Hòa (Tuấn, 2004; Hung và cộng sự, 2008) Đồng thời sử dụng cá tạp cũng là nguyên nhân tạo cơ hội tốt cho các tác nhân gây bệnh phát triển mà điển hình là dịch bệnh “tôm sữa” xảy ra cuối năm 2006 đầu năm 2007 gây thiệt hại lớn cho các hộ nuôi tại các tỉnh ven biển miền Trung (Hung và
cộng sự, 2008) Các vấn đề này cho thấy việc sử dụng cá tạp là nguồn thức ăn chủ yếu sẽ gây ảnh hưởng bất lợi đến môi trường nước tạo cơ hội xảy ra dịch bệnh Điều này sẽ không đảm bảo nghề nuôi bè phát triển lâu dài
Hình 3 Khu vực bè nuôi Hình 4 Chuẩn bị cá tạp làm thức ăn
2.7 Tình hình dịch bệnh của các đối tượng
nuôi
Qua điều tra cho thấy bệnh chủ yếu xuất
hiện trên tôm hùm, cá biển ít xuất hiện bệnh
Bệnh tôm hùm bắt đầu xảy ra nhiều từ năm
2007 trở lại đây Các bệnh thường gặp là bệnh
tôm sữa, bệnh đen mang, bệnh đỏ thân, bệnh
mòn đuôi và bệnh long đầu (Bảng 3) Trong đó
bệnh tôm sữa là bệnh nguy hiểm nhất xảy ra
tại đây (tỷ lệ gây chết 80 - 90%) Theo Hung và
cộng sự (2008) bệnh này được xem là loại bệnh
nghiêm trọng nhất gặp phải đối với nghề nuôi tôm hùm lồng và là nguyên nhân làm giảm đáng
kể sản lượng tôm hùm từ 1.900 tấn năm 2006 xuống còn 1.400 tấn năm 2007 tại các tỉnh ven biển miền Trung Mặc dù, đã có pháp đồ điều trị
từ năm 2007 nhưng thực tế tại vùng biển Tân Thành các hộ nuôi không áp dụng phương pháp
Trang 6này để phòng và trị bệnh tôm sữa mà nguyên nhân do đa phần người nuôi chủ yếu dựa theo kinh nghiệm để xử lý bệnh Đối với các bệnh tôm hùm hầu hết người nuôi đều chưa có phương pháp trị riêng cho từng loại bệnh Khi tôm bị một trong các loại bệnh trên người nuôi thường sử dụng thuốc đường ruột kết hợp thuốc bổ của người (Oxytetracylin, B-Enro, Cotrim, Tetracylin) cùng với vitamin C để trị bệnh Theo kết quả phỏng vấn, phương pháp trị bệnh này chỉ có hiệu quả phòng bệnh cho những cá thể chưa bị bệnh (hiệu quả phòng bệnh 70 - 90%) còn các cá thể bị bệnh thì không có hiệu quả (tỷ lệ chết 100%)
Bảng 3: Một số bệnh thường gặp trên tôm hùm nuôi tại vùng biển Tân Thành (n=15)
Loại bệnh Giai đoạn tôm bị bệnh Dấu hiệu bệnh lý trên tôm nuôi Mức độ ảnh hưởng nhiễm bệnh (%) Tỷ lệ bè nuôi
Tôm sữa Tôm con, tôm
trưởng thành Bụng tôm có màu trắng sữa, tách bầy, tôm phản xạ chậm Gây chết rải rác đến hàng loạt 100 Đen mang Tôm con, tôm
trưởng thành Mang tôm thối rữa và có màu nâu ở vùng bị tổn thương Gây chết rải rác đến hàng loạt 20.0
Đỏ thân Tôm con, tôm
trưởng thành vùng bụng sau đó màu đỏ lan Đỏ vùng giáp đầu ngực hay
dần toàn thân tôm
Gây chết rải rác
Long đầu Tôm con, tôm
trưởng thành thân long ra, có chất dịch bên Phần giáp đầu ngực và phần
trong khu vực này
Gây chết rải rác
Mòn đuôi Tôm con, tôm
trưởng thành Đuôi tôm bị ăn mòn, bệnh nặng đuôi có thể bị cụt Gây chết rải rác 13.3
Ghi chú: - Tôm con: kích thước từ 3 - 7cm (theo cách xác định của người nuôi).
- Tôm trưởng thành: khối lượng > 0,5kg (theo cách xác định của người nuôi).
Tương tự như ở các vùng nuôi khác, việc
gia tăng bệnh trên tôm hùm vùng biển Tân Thành
có thể do sự gia tăng số lượng lồng nuôi, mật
độ lồng nuôi quá cao dẫn đến môi trường nước
kém chất lượng tạo cơ hội cho dịch bệnh xảy
ra (Hung và cộng sự, 2008) Điều này cho thấy,
do chưa có quy hoạch vùng nuôi cũng như hình
thức quản lý phù hợp nên người nuôi không thể
kiểm soát được dịch bệnh xảy ra
3 Đánh giá sơ bộ hiệu quả kinh tế của hoạt
động nuôi lồng
Qua điều tra cho thấy, đa số người nuôi chỉ
thống kê kinh tế cho nuôi tôm hùm Ngược lại,
họ không thống kê số liệu đối với cá biển do cá biển được thu hoạch theo từng đợt rải rác Chỉ tính riêng năm 2009, sản lượng tôm hùm của các hộ nuôi đạt được khoảng 23.600kg (năng suất bình quân 66.5 kg/lồng) với giá bán tại bè 780.000 VNĐ/kg So với giá thành sản xuất là 630.000 VNĐ/kg thì đa số các hộ nuôi đều có lãi với mức lợi nhuận đạt 10.9 triệu VNĐ/lồng (Bảng 4) Như vậy, hoạt động nuôi bè đã đem lại mức lợi nhuận không nhỏ cho các hộ nuôi Kết quả nghiên cứu cho thấy tất cả các hộ nuôi đều có lãi và không có trường hợp nào bị thua lỗ
Trang 74 Đánh giá xu hướng và khả năng phát triển
nghề nuôi bè tại vùng biển Tân Thành
Do nguồn giống tôm hùm khan hiếm, giá
cao cộng với tình hình dịch bệnh gia tăng như
hiện nay nên một số hộ đang có xu hướng
chuyển sang nuôi cá giò với chi phí thấp, thời
gian nuôi ngắn (10 tháng), tốc độ sinh trưởng
nhanh cũng như khả năng chống chịu với điều
kiện môi trường tốt hơn so với tôm hùm
So với các hoạt động thủy sản khác như
nuôi tôm sú bán thâm canh hay khai thác thủy
sản thì nghề nuôi bè (tôm hùm, cá giò) có lợi
thế hơn về sức hấp dẫn tài chính và kinh tế - xã
hội (Hambrey và cộng sự, 2001) Thực tế cho
thấy, lợi nhuận đem lại từ nghề nuôi bè tại đây là
không nhỏ nên hoạt động này tại vùng biển Tân
Thành đã và đang gia tăng nhanh chóng, trung
bình 16.6%/năm trong 5 năm trở lại đây Kết quả
nghiên cứu cho thấy, sự gia tăng này mang tính
tự phát không theo quy hoạch Bên cạnh đó, cơ
chế quản lý không rõ ràng và không có cơ quan
chịu trách nhiệm quản lý cụ thể hoạt động này
Vì vậy, điều cần thiết hiện nay là cần có các biện
pháp quản lý hoạt động nuôi bè thích hợp
Như đã đề cập ở trên, với hiện trạng phát
triển nghề nuôi bè hiện nay tại vùng biển thôn
Tân Thành, cần thiết phải có các đánh giá chi
tiết hơn về hiện trạng nuôi tại đây để duy trì hoạt động này phát triển lâu dài Đồng thời, cần đánh giá sức tải môi trường của vùng biển để xác định khả năng phát triển nghề nuôi bè trong giới hạn cho phép
IV KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
Các kết quả nghiên cứu ban đầu cho phép đưa đến một số kết luận và đề xuất về hiện trạng nuôi bè tại vùng biển thôn Tân Thành, xã Ninh Ích, huyện Ninh Hòa như sau:
1 Kết luận
- Trình độ học vấn của người nuôi không cao và hầu như không có trình độ chuyên môn
Kỹ thuật nuôi áp dụng hiện tại chủ yếu từ việc học hỏi lẫn nhau và từ kinh nghiệm của các vùng nuôi khác
- Cá giò và tôm hùm bông là hai đối tượng được nuôi nhiều nhất (với tỷ lệ tương ứng 80%
và 60%) bên cạnh các đối tượng khác như: tôm hùm tre, tôm hùm xanh, tôm hùm đỏ, cá mú và
cá chim vây vàng Hình thức nuôi chủ yếu tại đây là nuôi đơn từng đối tượng
- Lồng nuôi bao gồm các lồng nổi có kích cỡ trung bình 12.5m2 Số lồng nuôi toàn vùng là 403 với số lồng nuôi/bè trung bình là 23
- Nguồn giống tôm hùm được lấy tại địa
Bảng 4 Một số chỉ tiêu kinh tế tính trên 12.5m 2 lồng nuôi tôm hùm (n=15)
Chi phí đầu tư trung bình/lồng triệu VNĐ 6.00
Chi phí sản xuất trung bình/lồng/vụ triệu VNĐ 44.40
Trang 8phương, giống cá biển được cung cấp từ các
địa ph ương khác Kích cỡ thả giống tôm hùm
từ 100g trở lên, kích thước thả giống cá biển từ
10 - 12cm Người nuôi chỉ đánh giá chất lượng
con giống theo kinh nghiệm của bản thân và
không thực hiện bất kỳ hình thức kiểm dịch nào
- Mùa vụ thả giống tôm hùm bắt đầu từ
tháng 12 với thời gian nuôi kéo dài 19 tháng Đối
với cá biển, giống được thả nuôi rải rác quanh
năm với thời gian nuôi cá mú 12 tháng và cá giò
là 10 tháng
- Thức ăn được sử dụng chủ yếu là cá tạp,
được cho ăn 2 lần/ngày Khi cho ăn thức ăn được
rải đều quanh lồng hay vào một vị trí nhất định
- Bệnh xuất hiện chủ yếu trên tôm hùm từ
năm 2007, cá biển ít xuất hiện bệnh Người nuôi
chủ yếu trị bệnh dựa trên kinh nghiệm của bản
thân
- Sản lượng tôm hùm của các hộ nuôi đạt
được trong năm 2009 khoảng 23.600kg (năng suất trung bình 66.5 kg/lồng) Đa số các hộ nuôi đều có lãi với mức lợi nhuận bình quân đạt 10.9 triệu VNĐ/lồng
2 Khuyến nghị
- Cần có các lớp tập huấn về kỹ thuật nuôi lồng cho người nuôi đặc biệt là kỹ thuật phòng trị bệnh trên tôm hùm
- Cần có các nghiên cứu chi tiết hơn về đánh giá tác động của hoạt động nuôi lồng đến khía cạnh kinh tế, xã hội và môi trường nhằm đảm bảo việc phát triển lâu dài hoạt động nuôi lồng tại đây
- Cần thiết đánh giá sức tải môi trường của vùng biển nhằm xác định giới hạn cho phép việc phát triển nuôi bè
- Để bảo đảm nghề nuôi bè phát triển lâu dài cần quy hoạch vùng nuôi đồng thời cần có hình thức quản lý thích hợp đối với hoạt động này
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Lê Anh Tuấn, 2004 Các nguồn dinh dưỡng và vấn đề môi trường liên quan đến hoạt động nuôi tôm hùm lồng ở Xuân Tự, Vạn Ninh, Khánh Hòa Tuyển tập Hội thảo toàn quốc về nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ trong nuôi trồng thủy sản 22 - 23/12/2004 tại Vũng Tàu, tr 643-653
2 Võ Văn Nha, 2006 Kỹ thuật nuôi tôm hùm lồng và các biện pháp phòng trị bệnh NXB Nông Nghiệp,
Hà Nội
3 Hambrey, J.B., Le, A.T., and Ta, K.T., 2001 Aquaculture and poverty alleviation II Cage culture in coastal waters of Vietnam [Accessed 20/10/2010]
4 Hung, L.V and Tuan, L.A., 2008 Lobster seacage culture in Vietnam In “Spiny lobster aquaculture
in the Asia-Pacifi c region: Proceedings of an international symposium held at Nha Trang, Vietnam,
9 - 10 December 2008”, ed by K.C Williams ACIAR Proceedings No 132 Australian Centre for International Agricultural Research: Canberra 162 pp
5 Ly, N.T.Y., 2009 Economic analysis of the environmental impact on marine cage lobster aquaculture
in Vietnam Master Thesis in Fisheries and Aquaculture Management and Economics The Norwegian College of Fishery Science University of Tromso, Norway & Nha Trang University, Vietnam
6 Tuan, L.A and Mao, N.D., 2004 Present status of lobster cage culture in Vietnam Proceeding of the ACIAR lobster ecology workshop, p24-30 Institute of Oceanography, Nha Trang, Vietnam