1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất tăm hương xuất khẩu tại làng nghề quảng phú cầu, huyện ứng hòa, thành phố hà nội

112 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 1,32 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

--- NGUYỄN HỮU NAM GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SẢN XUẤT TĂM HƯƠNG XUẤT KHẨU TẠI LÀNG NGHỀ QUẢNG PHÚ CẦU, HUYỆN ỨNG HÒA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp Mã Số: 6062

Trang 1

-

NGUYỄN HỮU NAM

GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SẢN XUẤT TĂM HƯƠNG XUẤT KHẨU TẠI LÀNG NGHỀ QUẢNG PHÚ CẦU,

HUYỆN ỨNG HÒA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Hà Nội, 2014

Trang 2

-

NGUYỄN HỮU NAM

GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SẢN XUẤT TĂM HƯƠNG XUẤT KHẨU TẠI LÀNG NGHỀ QUẢNG PHÚ CẦU,

HUYỆN ỨNG HÒA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp

Mã Số: 60620115

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS NGUYỄN NGHĨA BIÊN

Hà Nội, 2014

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn này, tác giả đã nhận được sự quan tâm, tạo điều kiện giúp đỡ của Ban giám hiệu, khoa Đào tạo Sau Đại học, Phòng Đào tạo - Trường Đại học Lâm nghiệp; UBND huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội, phòng Kinh tế, phòng Thống kê huyện Ứng Hòa; UBND xã Quảng Phú Cầu Nhân dịp này tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn tới sự quan tâm giúp đỡ quý báu đó

Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Nghĩa Biên với tư cách là người hướng dẫn khoa học đã tận tình giúp đỡ và có những đóng góp quý báu cho luận văn

Được sự hướng dẫn tận tình của Tiến sỹ Nguyễn Nghĩa Biên và các anh, chị trong Văn phòng HĐND&UBND xã Quảng Phú Cầu, cùng với nỗ lực cố gắng của bản thân, tác giả đã hoàn thành luận văn này Song do thời gian nghiên cứu còn hạn hẹp, với trình độ lý luận và thực tiễn của tác giả còn hạn chế, nên luận văn chắc chắn vẫn còn tồn tại những sai sót nhất định Vì vậy, tác giả mong muốn nhận được nhiều ý kiến đóng góp của các nhà nghiên cứu, các nhà khoa học, các thầy giáo, cô giáo, để luận văn ngày càng hoàn thiện hơn./

Tác giả

Nguyễn Hữu Nam

Trang 5

MỤC LỤC

Trang Trang phụ bìa

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục các từ viết tắt vi

Danh mục các bảng vii

Danh mục các hình viii

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ HIỆU QUẢ SẢN XUẤT HÀNG TĂM HƯƠNG XUẤT KHẨU 5

1.1 Cơ sở lý luận về hiệu quả sản xuất làng nghề 5

1.1.1 Khái niệm về làng nghề 5

1.1.2 Vai trò tác động của các làng nghề 8

1.1.3 Khái quát về phát triển làng nghề và nghề truyền thống ở Việt Nam 11

1.1.4 Một số khái niệm về hiệu quả sản xuất làng nghề 14

1.1.5 Nội dung và bản chất về hiệu quả sản xuất làng nghề 15

1.1.6 Phân loại hiệu quả sản xuất 16

1.1.7 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá kết quả và hiệu quả sản xuất 18

1.1.8 Những nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sản xuất làng nghề nông thôn 19

1.1.9 Đặc điểm kinh tế- kỹ thuật của hàng tăm hương xuất khẩu 21

1.2 Thực tiễn phát triển làng nghề trong nước và ngoài nước về hiệu quả sản xuất hàng tăm hương xuất khẩu 23

1.2.1 Kinh nghiệm phát triển làng nghề và nghề truyền thống của một số nước trên thế giới 23

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30

2.1 Giới thiệu về đặc điểm tự nhiên, kinh tế-làng nghề hội của làng nghề Quảng Phú Cầu 30

Trang 6

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 30

2.1.2 Đặc điểm kinh tế- xã hội 31

2.1.3 Kết quả sản xuất kinh doanh ở làng nghề xã Quảng Phú Cầu 37

2.2 Ảnh hưởng của sản xuất tăm hương tới làng nghề Quảng Phú – Huyện Ứng Hòa – Hà Nội 39

2.2.1 Thuận lợi 39

2.2.2 Một số khó khăn 40

2.3 Phương pháp nghiên cứu 40

2.3.1 Phương pháp chọn địa bàn nghiên cứu 40

2.3.2 Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu 40

2.3.3 Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu 41

2.3.4 Phương pháp xử lý số liệu 42

2.3.5 Phương pháp phân tích số liệu 42

2.3.6 Phương pháp chuyên gia 42

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 43

3.1 Thực trạng phát triển nghề tăm hương của làng nghề Quảng Phú Cầu 43

3.1.1 Tình hình phát triển nghề tăm hương làng nghề Quảng Phú Cầu 43

3.1.2 Tổ chức sản xuất tăm hương xuất khẩu của làng nghề Quảng Phú Cầu 43

3.2 Đánh giá hiệu quả sản xuất tăm hương chủ yếu của hộ 65

3.2.1 Chi phí sản xuất một số sản phẩm tăm hương chủ yếu của hộ 65

3.2.2 Thu thập hàng tăm hương chủ yếu của các hộ điều tra 70

3.2.3 Hiệu quả sản xuất của các hộ sản xuất tăm hương điều tra 73

3.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả sản xuất tăm hương tại Làng nghề Quảng Phú Cầu 74

3.3.1 So sánh ảnh hưởng đến phát triển nghề tăm hương hộ điều tra 75

3.4 Đánh giá những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức trong sản xuất tăm hương xuất khẩu ở Làng nghề Quảng Phú Cầu 80

3.4.1 Những điểm mạnh trong phát triển nghề tăm hương xuất khẩu 80

3.4.2 Điểm yếu trong phát triển nghề tăm hương 81

Trang 7

3.4.3 Cơ hội trong phát triển nghề tăm hương 83 3.4.4 Thách thức trong phát triển nghề tăm hương xuất khẩu 84 3.4.5 Những điểm cần rút ra kinh nghiệp trong quá trình sản xuất các tăm hương ở Làng nghề Quảng Phú Cầu 84 3.5 Định hướng và giải pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả sản xuất tăm hương ở Làng nghề Quảng Phú Cầu 86 3.5.1 Định hướng phát triển sản xuất tăm hương xuất khẩu của Làng nghề Quảng Phú Cầu 86 3.5.2 Giải pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả sản xuất đối với tăm hương xuất khẩu ở Làng nghề Quảng Phú Cầu 87 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 92 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH

Trang 11

ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nước ta đang trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước trong đó công nghiệp hóa khu vực nông thôn đóng vai trò quan trọng với khoảng 76% dân số sinh sống và làm việc tại nông thôn Vì vậy việc phát triển kinh tế nông thôn có đóng góp không nhỏ tới sự phát triển của nền kinh tế quốc dân Nông thôn Việt Nam ngày nay đã và đang phát triển với những diện mạo mới với đường lối đúng đắn của Đảng và Nhà nước

Tuy việc phát triển kinh tế có vai trò quan trọng như vậy nhưng nông thôn Việt Nam ngày nay còn gặp nhiều vấn đề khó khăn thách thức cần phải vượt qua như tỷ

lệ thất nghiệp tại các khu vực nông thôn còn cao, trình độ tay nghề của lao động nông thôn còn thấp, tác phong nông nghiệp vẫn còn tồn tại, diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp, mức sống của nông dân còn thấp Vì vậy trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội 10 năm từ 2000 đến năm 2010 Đảng và Nhà nước vẫn tiếp tục xác định nông nghiệp nông thôn là mặt trận hàng đầu, là lĩnh vực cần được

ưu tiên đầu tư Điều này được thể hiện rõ trong các văn kiện trình Đại hội Đảng lần thứ IX Tuy nhiên để nông nghiệp nông thôn phát huy được tiềm năng sẵn có và thực hiện tốt vai trò của mình thì vấn đề quan trọng là phải có định hướng đầu tư hợp lý và hiệu quả Một trong những nội dung quan trọng để phát triển kinh tế nông thôn do Đảng đề ra là: Mở rộng phát triển làng nghề, làng nghề truyền thống, phát triển các điểm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ đưa công nghiệp sơ chế và chế biến về nông thôn và vùng nguyên liệu

Phát triển ngành nghề nông thôn, làng nghề, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ nông thôn để tạo việc làm, tăng thu nhập và chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn Đây là hướng đi chủ yếu và lâu dài để chuyển đổi cơ cấu kinh tế, chuyển một bộ phận lao động nông nghiệp sang làm công nghiệp và dịch vụ, tập trung vào các ngành nghề có nhu cầu về vốn không quá lớn nhưng lại có nhu cầu về sử dụng lao động nhằm giải quyết tình trạng thất nghiệp đang diễn ra ở nông thôn, đặc biệt trong những lúc nông nhàn

Trang 12

Hà Tây cũ là một trong những tỉnh có nhiều làng nghề phát triển của nước ta, các sản phẩm do các làng nghề làm ra đã và đang thu hút được người tiêu dùng trong và ngoài nước như lụa của làng nghề Vạn Phúc, sản phẩm thêu tay ở Thường Tín…Nghề chẻ tăm hương đã hình thành và phát triển lâu đời tại xã Quảng Phú Cầu với nguyên liệu chủ yếu để sản xuât là nứa và gỗ Nó đã và đang tạo ra công ăn việc làm cho người lao động trong xã và thu nhập cao hơn rất nhiều so với trồng lúa Trong những năm gần đây, quy mô sản xuất tăm tại các thôn trong xã ngày càng lớn

Huyện Ứng Hòa Hà Nội vốn nổi tiếng với làng nghề truyền thống có lịch sử hàng trăm năm Trong xu thế phát triển chung, nhiều làng nghề ngày càng năng động trong sản xuất, đóng góp lớn cho nền kinh tế địa phương

Quảng Phú Cầu là một làng nghề thuộc huyện Ứng Hòa – Thành phố Hà Nội với sản phẩm là tăm hương xuất khẩu nổi tiếng, Sản phẩm được làm ra chủ yếu do lao động thủ công, tận dụng nguồn lao động dư thừa nông thôn, chính vì vậy tôi tiến

hành nghiên cứu đề tài: “Giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất hàng tăm hương

xuất khẩu tại làng nghề Quảng Phú Cầu - huyện Ứng Hòa- Thành Phố Hà Nội”

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu tổng quát

Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích hoạt động sản xuất ngành nghề tăm hương tại làng nghề Quảng Phú Cầu, huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội, đề tài sẽ tập trung đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất của ngành nghề tăm hương tại địa phương

Trang 13

- Đề xuất định hướng và giải pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả sản xuất hàng tăm hương xuất khẩu tại làng nghề Quảng Phú Cầu trong thời gian tới

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

- Các hoạt động sản xuất hàng tăm hương xuất khẩu, làng nghề Quảng Phú Cầu

- Hiệu quả sản xuất mặt hàng tăm hương xuất khẩu, làng nghề Quảng Phú Cầu

- Các vấn đề liên quan đến phát triển kinh tế làng nghề nông thôn

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi về nội dung: Đề tài tiến hành nghiên cứu:

Làng nghề, ngành nghề sản xuất tăm hương truyền thống phục vụ xuất khẩu

4 Nội dung nghiên cứu

- Cơ sở lý thuyết và thực tiễn về hiệu quả sản xuất làng nghề

- Chủ trương, chính sách phát triển làng nghề truyền thống

- Điều kiện tự nhiên, kinh tế-làng nghề của địa bàn làng nghề Quảng Phú Cầu, huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội

- Quy trình công nghệ sản xuất mặt hàng tăm hương xuất khẩu, làng nghề Quảng Phú Cầu: sản xuất, nguyên vật liệu, lao động

- Hiệu quả sản xuất tăm hương xuất khẩu

- Yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả sản xuất tăm hương xuất khẩu: Lao động và chất lượng lao động, thị trường, nguyên vật liệu và giá cả

Trang 14

- Giải pháp về: Công nghệ, vốn, thị trường, quy mô phát triển nghề tăm hương xuất khẩu, nguồn nhân lực, mẫu mã sản phẩm-xây dựng thương hiệu sản phẩm, tổ chức

5 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương

Chương 1: Tổng quát về hiệu quả sản xuất tăm hương xuất khẩu

Chương 2: Đặc điển địa bàn nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Trang 15

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ HIỆU QUẢ SẢN XUẤT HÀNG

TĂM HƯƠNG XUẤT KHẨU 1.1 Cơ sở lý luận về hiệu quả sản xuất làng nghề

1.1.1 Khái niệm về làng nghề

“Làng nghề là những làng ở nông thôn có các ngành nghề phi nông nghiệp chiếm ưu thế về số hộ, số lao động và tỷ trọng thu nhập so với nghề nông.” (Mai Thế Hớn.2003)

Làng nghề là một thiết chế gồm hai yếu tố cấu thành “làng nghề” và “nghề” Làng nghề hội nông thôn Việt Nam từ xưa đến nay, làng là một tế bào làng nghề hội người Việt Nó là một tập hợp dân cư chủ yếu theo quan hệ láng giềng Đó là một địa vực, một không gian lãnh thổ nhất định, ở đó được tập hợp những người dân cư quần tụ lại cùng sinh sống và sản xuất Làng được hình thành dựa trên cơ sở những công làng nghề nông thôn Nó là tập hợp những gia đình nhỏ trong một không gian nhất định để sản xuất và sinh hoạt độc lập Sự khai phá chung về ruộng đất, việc xây dựng những công trình trị thủy và thủy lợi nhỏ ở thời kỳ đầu đã gắn bó những người không cùng huyết thống hợp lại với nhau để thành lập làng Làng Việt truyền thống là một không gian làng nghề hội ổn định Trong chồng xếp nhiều mối quan hệ kinh tế-làng nghề hội-nhân văn phong phú, phức tạp như huyết thống, láng giềng, nghề nghiệp, hôn nhân, tín ngưỡng và hợp tác các làng thôn ở nước ta có thể chia thành 4 loại:

- Làng nông nghiệp: Là làng thuần nông ở miền Bắc và làng miệt vườn ở Nam Bộ

- Làng nghề: Là làng làm nghề nông có thêm một hoặc một số nghề thủ công nghiệp

- Làng buôn bán: Là làng làm nghề nông có thêm nghề buôn bán của số thương nhân chuyên nghiệp hoặc bán chuyên nghiệp

- Làng chài (hoặc cái vạn chài): Là làng của các cư dân làm nghề chài lưới đánh cá, sống ở ven sông, ven biển

Trang 16

Theo các nhà sử học Việt Nam hiện nay, thì nghề thủ công truyền thống bao gồm những ngành nghề phi nông nghiệp có từ trước thời Pháp thuộc còn tồn tại cho đến ngày nay Nghề truyền thống còn bao hàm cả những ngành nghề đã được cải tiến hoặc sử dụng những loại máy móc hiện đại để hỗ sản xuất nhưng phải tuân thủ công nghệ truyền thống, thể hiện được những nét văn hóa đặc sắc của dân tộc Việt Nam Ngành nghề truyền thống ở nước ta rất phong phú và đa dạng Nhiều ngành nghề đã tồn tại hàng nghìn năm nay, nhiều mặt hàng truyền thống đã nổi tiếng khắp thế giới từ lâu đời Hiện nay, có nhiều ý kiến thống nhất phân chia các ngành nghề thủ công truyền thống thành các nhóm chính là:

1- Các ngành nghề sản xuất các mặt hàng thủ công mỹ nghệ như: gốm sứ, sơn mài, thêu, ren, khảm, chạm khắc gỗ, chạm khắc đá, thổ cẩm, dệt tơ tằm, tăm hương các loại,

2- Các ngành nghề sản xuất công cụ sản xuất như: rèn sắt, làm cày bừa, nông

Về mặt định lượng tại Thông tư số 116/2006/TT-BNN ngày 18/12/2006 của

Bộ Nông nghiệp và PTNT về việc hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định số 66/2006/NĐ-CP ngày 07/7/2006 của Chính Phủ về phát triển ngành nghề nông thôn có quy định tiêu chí công nhận nghề truyền thống, làng nghề, làng nghề truyền thống, làng nghề như sau:

1- Tiêu chí công nghề nghề truyền thống:

Nghề được công nhận là truyền thống phải đạt được 03 tiêu chí sau:

Trang 17

a) Nghề đã xuất hiện tại địa phương từ trên 50 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận

b) Nghề tạo ra những sản phẩm mang bản sắc văn hóa dân tộc

c) Nghề gắn với tên tuổi của một hay nhiều nghệ nhân hoặc tên tuổi của làng nghề

2- Tiêu chí công nhận làng nghề:

Làng nghề được công nhận phải đạt 3 tiêu chí sau:

a) Có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia hoạt động ngành nghề nông thôn

b) Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm tính đến thời điểm

đề nghị công nhận

c) Chấp hành tốt chính sách, pháp luật của Nhà nước

3- Tiêu chí công nhận làng nghề truyền thống

Làng nghề truyền thống phải đạt tiêu chí làng nghề và có ít nhất một nghề truyền thống theo quy định tại Thông tư này (theo quy định trên)

Khi phân loại làng nghề chúng ta thấy có làng một nghề và có làng nhiều nghề, có làng nghề truyền thống và làng nghề mới, có làng nghề được khôi phục sau nhiều năm bị thất truyền

Làng một nghề là những làng ngoài nghề nông ra chỉ còn thêm một nghề thủ công nghiệp duy nhất chiếm ưu thế tuyệt đối như lụa Vạn Phúc, gốm bát Tràng, chạm bạc Đồng Xâm

Làng nhiều nghề là những làng ngoài nghề nông còn có một số nghề thủ công nghiệp như Ninh Hiệp, Đình Bảng

Làng nghề truyền thống là những làng nghề xuất hiện từ lâu đời trong lịch sử

và còn tồn tại đến ngày nay, là những làng nghề đã tồn tại hàng trăm, thậm chí hàng nghìn năm

Làng nghề mới là những làng nghề xuất hiện do sự phát triển lan tỏa của các làng nghề truyền thống trong những năm gần đây, đặc biệt từ khi bước vào thời kỳ đổi mới, thời kỳ chuyển sang nền kinh tế thị trường

Trang 18

Làng khôi phục nghề truyền thống là những làng trước đây rất lâu đã có nghề truyền thống nhưng vì một lý do nào đó nghề bị thất truyền trong thời gian dài có khi hàng mấy chục năm, hàng trăm năm như chiến tranh, sản phẩm không cạnh tranh được với các làng khác hoặc các sản phẩm công nghiệp thay thế, không tìm kiếm được thị trường tiêu thụ, các nghệ nhân chết đi nhưng chưa truyền nghề được cho con cháu Nay do có điều kiện thuận lợi nghề đã được khôi phục và phát triển

Trong quá trình CNH và chuyển sang nền kinh tế thị trường hiện nay, trong các làng nghề, các công nghệ sản xuất của nhiều nghề không còn hoàn toàn là kỹ thuật thủ công, mà có rất nhiều nghề, nhiều công đoạn sản xuất, công nghệ kỹ thuật

cơ khí hiện đại và bán cơ khí đã được sử dụng Đồng thời, trong các làng nghề đó

đã xuất hiện nhiều hộ, nhiều người, nhiều cơ sở chuyên làm dịch vụ đầu ra và đầu vào cho các cơ sở, các hộ chuyên làm nghề

Vì vậy, khái niệm làng nghề cần được hiểu là những làng ở nông thôn có các ngành nghề phi nông nghiệp chiếm ưu thế về số hộ, số lao động và số thu nhập so với nghề nông

1.1.2 Vai trò tác động của các làng nghề

1.1.2.1 Giải quyết việc làm cho người lao động ở nông thôn

Giải quyết việc làm cho người lao động là vấn đề bức xúc hiện nay đối với cả nước, bởi dân số và lao động tăng nhanh, diện tích đất thường xuyên chiếm khoảng 30%) Đặc biệt khu canh tác trên đầu người ngày càng thu hẹp, khả năng thu hút lao động hiện rất thấp, tỷ lệ thất nghiệp và bán thất nghiệp cao (tỷ lệ thất nghiệp hiện chiếm 6% và tỷ lệ lao động không có việc làm vực nông thôn với gần 80% dân số

và lao động đang sinh sống ở đó, thì vai trò của các làng nghề đóng góp vào giải quyết việc làm cho người lao động là rất quan trọng Trong các ngành nghề thủ công truyền thống, lao động sống thường chiếm tỷ lệ tới 60%- 65% giá thành sản phẩm, việc phát triển các làng nghề sẽ phù hợp với yêu cầu giải quyết việc làm cho người lao động đang ngày càng dư thừa ở nông thôn Không ngừng thu hút lao động

dư thừa ở gia đình mình, làng làng nghề mình, mà còn thu hút nhiều người lao động

từ các địa phương khác đến làm thuê Không những thế, ngành chế biến lương thực,

Trang 19

thực phẩm tạo điều kiện cho ngành chăn nuôi phát triển Ngành sản xuất tái chế các sản phẩm tạo điều kiện cho mạng lưới thu gom nguyên liệu, phế liệu phát triển

1.1.2.2 Tăng giá trị tổng sản phẩm hàng hóa cho nền kinh tế

Tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp nông thôn nói chung và các làng nghề nói riêng, hàng năm luôn sản xuất ra một khối lượng sản phẩm hàng hóa lớn, đóng góp vào tăng trưởng nền kinh tế quốc dân nói chung, cho từng địa phương nói riêng Sản phẩm của các làng nghề là nhân tố quan trọng thúc đẩy phát triển sản xuất hàng hóa

Địa phương nào có nhiều làng nghề và ở các làng nghề phát triển, thường tỷ trọng TTCN, dịch vụ tăng lên nhanh trong tổng giá trị sản xuất và dịch vụ Thu nhập từ các hoạt động phi nông nghiệp ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu nhập từ các hoạt động kinh tế của nông dân

1.1.2.4 Thu hút vốn nhàn rỗi, tận dụng thời gian và lực lượng lao động, nâng cao mức sống và hạn chế di dân tự do

Các cơ sở sản xuất trong các làng nghề chủ yếu ở quy mô hộ gia đình và đang dần hình thành một số DNVVN Đồng thời, hầu hết các cơ sở sản xuất-kinh doanh trong các làng nghề đều dành một phần diện tích nhà ở của gia đình làm nơi sản xuất, kinh doanh Cho nên suất đầu tư cho một lao động và quy mô vốn cho một

cơ sở sản xuất-kinh doanh nghề không nhiều Bình quân suất đầu tư vốn cho 1 lao

Trang 20

động khoảng trên dưới 1 triệu đồng và quy mô vốn bình quân cho mỗi hộ sản xuất- kinh doanh độc lập khoảng vài ba chục triệu đồng Nó cho phép các làng nghề sẽ huy động hết mọi loại vốn nhàn rỗi trong các tầng lớp dân cư ở trong từng làng, làng nghề vào sản xuất kinh doanh

Theo kết quả điều tra của Cục chế biến nông lâm sản và ngành nghề nông thôn (Bộ NN và PTNT) thì bình quân vốn của một DN khoảng trên 1 tỷ đồng; trong khi đó, vốn bình quân của một hộ chuyên ngành nghề phi nông nghiệp khoảng hơn

20 triệu đồng và của một hộ nông nghiệp kiêm ngành nghề khoảng 10 triệu đồng Ngoài vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động chính hàng năm, kinh tế làng nghề còn tận dụng thu hút lực lượng lao động mùa vụ nông nhàn và lực lượng lao động phụ (người già, trẻ em và học sinh) vào tham gia sản xuất-kinh doanh Do sản xuất kinh doanh ở quy mô hộ là chủ yếu và nơi tổ chức SXKD ngay tại nhà, nên các

cơ sở SXKD trong các làng nghề thường tận dụng được lao động phụ (người già còn sức lao động, có kinh nghiệm làm việc lâu năm, tay nghề cao và trẻ em, học sinh tham gia học nghề theo lối kèm cặp, truyền nghề) cùng làm việc

Đồng thời, trong các làng nghề, ngoài những hộ chuyên SXKD ngành nghề phi nông nghiệp, còn có một số hộ kiêm sản xuất nông nghiệp với ngành nghề phi nông nghiệp Các hộ này thường SXKD ngành nghề phi nông nghiệp vào những lúc thời vụ nông nhàn Người lao động ở các làng thuần nông lân cận thường đến các làng nghề để làm thuê cho các cơ sở SXKD Thời kỳ nông nhàn thường là lúc quy

mô SXKD của các làng nghề hoạt động mạnh nhất

1.1.2.5 Bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc

Lịch sử phát triển kinh tế cũng như lịch sử phát triển nền văn hóa Việt Nam luôn gắn liền với lịch sử phát triển các làng nghề Văn hóa làng với các thể chế cộng đồng chứa đựng những quan hệ huyết thống, láng giềng, hôn nhân, nghề nghiệp, với các phong tục tập quán, tín ngưỡng, lễ hội mang đậm những sắc thái riêng, đã tạo nên bản sắc truyền thống văn hóa phong phú sâu đậm của dân tộc Việt Nam Lịch

sử nông thôn Việt Nam đã ghi nhận, sự hình thành và phát triển các làng nghề

Trang 21

truyền thống là một trong những thành tố quan trọng tạo nên những nét đặc sắc của văn hóa làng, hoặc một ông tổ nghề riêng, với những lễ hội, phong tục, tập quán và những luật lệ riêng có Nhiều nghề và làng nghề truyền thống của nước ta đã nổi bật lên trong lịch sử văn hóa, văn minh Việt Nam

Nhiều sản phẩm của các làng nghề sản xuất ra mang tính nghệ thuật cao, mang đặc tính riêng có của làng nghề và những sản phẩm đó đã vượt qua giá trị hàng hóa đơn thuần, trở thành sản phẩm văn hóa, là những bảo vật vô giá, được coi

là biểu tượng đẹp đẽ của truyền thống dân tộc Việt Nam Ngành nghề truyền thống, đặc biệt là các nghề thủ công mỹ nghệ, chính là di sản quy giá mà cha ông chúng ta

đã tạo lập và để lại cho thế hệ sau Làng nghề là cả một môi trường kinh tế, làng nghề hội và văn hóa Nó bảo lưu những tinh hoa nghệ thuật và kỹ thuật truyền từ đời này sang đời khác, hun đúc ở các thế hệ nghệ nhân tài ba và những sản phẩm độc đáo mang bản sắc riêng Nhiều người biết đến Việt Nam chỉ thông qua các mặt hàng thủ công truyền thống đặc sắc Bởi vậy, bảo tồn và phát triển các làng nghề góp phần đắc lực vào việc giữ gìn các giá trị văn hóa của dân tộc Việt Nam trong quá trình CNH-HĐH của đất nước

1.1.3 Khái quát về phát triển làng nghề và nghề truyền thống ở Việt Nam

Quá trình phát triển của các làng nghề Việt Nam có thể chia ra làm nhiều giai đoạn với những sự phát triển khác nhau

*) Thời kỳ trước đổi mới (1975- 1985):

Năm 1975, đất nước thống nhất, sự nghiệp xây dựng kinh tế được triển khai trên phạm vi cả nước, nhưng đây là thời kỳ đất nước vẫn phải đương đầu với những khó khăn , lúc này làng nghề cũng đình đốn, giá trị sản lượng giảm Thời kỳ này xuất hiện nhiều mâu thuẫn và những yếu kém vốn có của làng nghề, đó là mâu thuẫn giữa lợi ích của người thợ với quyền lợi của tập thể, tập trung chủ yếu của người có tay nghề cao, có vốn, có khả năng sản xuất,, nhưng bị gò ép vào HTX, phải chịu sự quản lý kém cỏi của ban quản lý

Trước những khó khăn trên, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng đã nhấn mạnh: “Trước mắt, coi trọng giải quyết tốt việc tăng cường trang

Trang 22

bị kỹ thuật và cải tiến kỹ thuất, sản xuất và cung ứng nguyên liệu, sử dụng các đòn bẩy kinh tế, khuyến khích thích đáng các tập thể và cá nhân người lao động, để phát triển mạnh mẽ tiểu thủ công nghiệp, từ ngành nghề cổ truyền tới ngành nghề mới xuất hiện”

Tóm lại, giai đoạn này là giai đoạn mà ngành nghề thủ công truyền thống có

sự phát triển chậm và khó khăn, nhất là 5 năm đầu sau khi đất nước được thống nhất, nhưng sau đó làng nghề đã được quan tâm phát triển.Từ những khó khăn và thực tiễn trên buộc chúng ta phải đổi mới cách tư duy để phát triển các làng nghề nói riêng và nền kinh tế nói chung

*) Thời kỳ đổi mới(1986-1992):

Đại hội Đảng VI (12-1986) đã quyết định tiến trình đổi mới, đánh dấu bước ngoặt vĩ đại, sâu sắc và toàn diện trong đời sống kinh tế xã hội nước ta Chủ trương phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý và điều tiết của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đây là một điểm tựa cho việc phát triển các làng nghề Đại hội Đảng lần VII(1991) đã khẳng định sự đúng đắn của Đại hội Đảng lần thứ VI và nhấn mạnh: Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần không phân biệt đối xử, không tước đoạt tài sản hợp pháp, không gò ép tập thể hoá tư liệu sản xuất, không áp đặt hình thức kinh doanh, khuyến khích các hoạt động có ích trong kinh tế dân sinh

Trên những cơ sở của chủ trương và chính sách của Đảng, sản xuất kinh doanh trong các làng nghề đã bắt đầu khởi sắc, sản lượng ngày càng lớn, đây là thời

kỳ khá phát triển của tiểu thủ công nghiệp và các làng nghề truyền thống với phong trào thi đua sáng tạo đã làm cho không khí làng nghề sôi động lên

Sau một thời gian hoạt động theo cơ chế kinh tế mới, nhiều hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp đã bộc lộ những thiếu sót về mặt quản lý kinh doanh do yếu kém về mặt quản lý, nên sản xuất bắt đầu giảm sút, chất lượng sản phẩm thấp đời sống nhân dân khó khăn

Từ 1990 trở đi tình hình trong nước và trên thế giới có nhiều biến động, đặc biệt là sự tan rã của hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước

Trang 23

Đông Âu đã tác động trực tiếp tới thủ công nghiệp ở nước ta Thị trường xuất khẩu hầu như không còn nữa, trong đó thị trường mới chưa kịp thiết lập Việc mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại với các nước trên thế giới đã tạo điều kiện cho hàng ngoại tràn vào Việt Nam Mặc dù hàng thủ công mỹ nghệ của nước ta có sự phát triển nhưng do hàng ngoại tràn vào với nhiều kiểu dáng đẹp, chủng loại phong phú, giá rẻ, thêm vào đó cạnh tranh hàng trốn thuế, làm cho các hàng hoá nói chung và hàng thủ công mỹ nghệ nói riêng gặp nhiều khó khăn trong vấn đề tiêu thụ

Có thể nói những năm 1990-1992 là những năm phát triển khó khăn nhất của ngành thủ công mỹ nghệ, nhiều hợp tác xã đã phải giải thể chuyển sang hình thức

sở hữu tư nhân và do tư nhân điều hành.Ngay ở Hà Nội là nơi hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp phát triển, nhưng thời kỳ này không khó tránh khỏi sự giảm sút về số lượng hợp tác xã và giá trị sản xuất công nghiệp Tóm lại, thời kỳ này là thời kỳ có nhiều biến động với nền kinh tế nói chung và tiểu thủ công nghiệp nói riêng

*) Thời kỳ 1993 tới nay:

Sau một thời gian giảm sút, nhiều địa phương đã vươn lên tìm kiếm thị trường để tiêu thụ sản phẩm của mình Thị trường quốc tế và các nước trong khu vực dần được thiết lập Các hình thức sản xuất kinh doanh ngày càng phong phú và

đa dạng, sản xuất tại các làng nghề dần được khôi phục Nhiều làng nghề làm ăn mới đã và đang được hình thành với cách làm ăn mới và nắm bắt được thông tin thị trường, biết áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất Các sản phẩm sản xuất ra phù hợp với nhu cầu thị hiếu của người tiêu dùng Từ đó, các làng nghề có điều kiện sản xuất kinh doanh, thị trường từng bước được mở rộng, các công ty tìm được nhiều bạn hàng Các sản phẩm của làng nghề xuất hiện ở nhiều nước trong khu vực và trên thế giới như: Pháp, Đài Loan, Đan Mạch…

Sản phẩm của các làng nghề đã tăng lên, kim ngạch xuất khẩu hàng triệu USD/năm Trong những năm gần đây đời sống dân cư được nâng dần lên, nhu cầu các mặt hàng chế biến lương thực thực phẩm cũng tăng lên tương ứng.Do đó, các làng nghề thủ công liên quan đến chế biến sản phẩm được phát triển Sự phát triển

Trang 24

này đã dẫn đến sự tăng thu nhập của các làng nghề, thu nhập của các làng nghề ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu nhập của người dân

Tóm lại, trong tình hình hiện nay các làng nghề có điều kiện phát triển với thị trường tiêu thụ khá ổn định bao gồm cả thị trường trong nước và thị trường ngoài nước có tác dụng kích thích sản xuất và tiêu thụ tại các làng nghề

Qua các giai đoạn phát triển trên ta thấy các làng nghề thủ công mỹ nghệ của Việt Nam đã có những bước thăng trầm tuy nhiên nó vẫn tồn tại và phát triển với những phong thái riêng và mang bản sắc của từng địa phương Sự phát triển của các làng nghề đã và đang được đầu tư, mang lại những hiệu quả kinh tế xã hội không nhỏ cho các làng nghề

1.1.4 Một số khái niệm về hiệu quả sản xuất làng nghề

1.1.4.1 Khái niệm sản xuất

- Sản xuất là một quá trình tạo ra của cải vật chất cho làng nghề hội, rất cần thiết cho phát triển kinh tế

- Sản xuất là một quá trình phối hợp và điều hòa các yếu tố đầu vào (tài nguyên, các yếu tố sản xuất) để tạo ra hàng hóa dịch vụ (đầu ra)

- Sản xuất kinh doanh là quá trình sử dụng các nguồn lực đầu vào như: Lao động, vốn, trang thiết bị kỹ thuật… để tạo ra sản phẩm hàng hóa đáp ứng nhu cầu của con người, nhằm mục tiêu sinh lợi và các mục tiêu khác

1.1.4.2 Khái niệm về hiệu quả sản xuất

Hiệu quả sản xuất là sản xuất ra sản phẩm và sản xuất phải xác định 3 vấn đề

cơ bản: Sản xuất cái gì? Sản xuất như thế nào và sản xuất cho ai? Và hiệu quả kinh

tế mà sản phẩm sản xuất thu được nên nói đến hiệu quả sản xuất là nói đến hiệu quả kinh tế của sản phẩm

Hiệu quả kinh tế của sản phẩm là một phạm trù phản ánh về mặt chất lượng của các hoạt động kinh tế, là so sánh kết quả thu được và chi phí bỏ ra Tuy nhiên, khái niệm HQKT của nhà kinh tế ở nhiều nước và nhiều lĩnh vực có quan điểm nhìn nhận rất khác nhau

Trang 25

1.1.4.3 Hiệu quả sản xuất làng nghề

Là một phạm trù phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (lao động, thiết

bị máy móc, nguyên vật liệu, tiền vốn) sản xuất ra các sản phẩm thủ công mỹ nghệ đem bán để đạt được mục tiêu xác định cho các hộ sản xuất tăm hương trong làng nghề

1.1.5 Nội dung và bản chất về hiệu quả sản xuất làng nghề

1.1.5.1 Nội dung của hiệu quả sản xuất làng nghề

Trong môi trường cạnh tranh của nền kinh tế thị trường muốn tồn tại và phát triển đòi hỏi các đơn vị kinh tế phải không ngừng áp dụng chúng vào trong sản xuất Bản thân những tiến bộ KHKT đã chứa đựng tính ưu việt, nhưng nó chỉ phát huy được hiệu quả cao khi áp dụng chúng vào trong điều kiện SX thích hợp Việc vận dụng một cách sáng tạo các thành tựu KHKT hiện đại vào sản xuất và phấn đấu để đạt HQKT cao trong ứng dụng tiến bộ KHKT là một tất yếu, điều đó lại càng có ý nghĩa quan trọng và bức thiết hơn đối với sản xuất ở nước ta

Với một lượng dự trữ tài nguyên nhất định muốn tạo ra được khối lượng sản phẩm lớn nhất đó là mục tiêu của những nhà sản xuất và những nhà quản lý Nói một cách khác là ở một mức sản xuất nhất định cần phải làm thế nào để có chi phí tài nguyên và chi phí lao động thấp nhất

Điều đó cho thấy quá trình SX là sự liên kết mật thiết giữa các yếu tố đầu vào

và đầu ra là biểu hiện kết quả của các mối quan hệ thể hiện tính hiệu quả SX

HQKT được biểu hiện là mối tương quan so sánh giữa kết quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra Khi xác định HQKT nhiều nhà kinh tế thường ít nhấn mạnh quan hệ so sánh tương đối (phép chia) và chưa xem xét đầy đủ mối quan hệ kết hợp chặt chẽ giữa đại lượng tương đối và đại lượng tuyệt đối

HQKT ở đây được biểu hiện bằng giá trị tổng sản phẩm, tổng thu nhập, lợi nhuận và tỷ số lợi nhuận Chúng ta cũng cần phải phân biệt rõ HQKT và hiệu quả làng nghề hội Nếu như hiệu quả kinh tế là mối tương quan so sánh giữa lượng kết quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra thì hiệu quả làng nghề hội là mối tương quan so

Trang 26

sánh giữa kết quả làng nghề hội (kết quả này xét về mặt làng nghề hội) và lượng chi phí bỏ ra

Giữa HQKT và hiệu quả làng nghề hội có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, chúng là tiền đề của nhau và là phạm trù thống nhất

1.1.5.2 Bản chất của hiệu quả sản xuất

Bản chất của hiệu quả sản xuất xuất phát từ mục đích của sản xuất và phát triểm kinh tế làng nghề hội Đó là đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về đời sống vật chất và tinh thần của các thành viên trong làng nghề hội Muốn vậy sản xuất phải không ngừng phát triển cả về chiều sâu và chiều rộng Sự phát triển của nền sản xuất làng nghề hội luôn chứa đựng trong nó mâu thuẫn giữa hai khả năng hữu hạn

về nguồn tài nguyên với nhu cầu ngày càng tăng của con người Vì vậy, ta không những phải đạt được mục tiêu sản xuất là ngày càng nhiều sản phẩm cho làng nghề hội mà còn phải xem xét mức độ chi phí để tạo ra nó bao nhiêu ? Tức là phải xem xét về mặt chất lượng của các hoạt động để tạo ra sản phẩm đó nó cũng đồng nghĩa với việc xem xét đánh giá HQKT, tiêu chuẩn của HQKT là tối đa hóa kết quả hữu ích và tối thiểu hóa chi phí

Nhưng để làm rõ được bản chất của HQKT cần phải phân định sự khác nhau

về mối liên hệ giữa kết quả và hiệu quả Kết quả là một đại lượng để phản ánh về quy

mô số lượng của sản xuất Còn hiệu quả là đại lượng để xem xét kết quả đạt được tạo

ra như thế nào, nguồn chi phí vật chất bỏ ra bao nhiêu để đạt được kết quả đó

Như vậy, hoạt động SXKD ngoài mục đích, yêu cầu đặt ra đều quan tâm đến HQKT, nó có vai trò trong việc đánh giá, so sánh, phân tích kinh tế nhằm tìm ra giải pháp có lợi cho sản xuất Nhưng giải quyết được vấn đề này rất khó khăn và chỉ mang tính tương đối, đòi hỏi phải có thời gian

1.1.6 Phân loại hiệu quả sản xuất

1.1.6.1 Phân loại hiệu quả sản xuất theo nội dung và bản chất

- HQKT: Phản ánh mối quan hệ giữa kết quả đạt được về mặt kinh tế và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó

Trang 27

- Hiệu quả làng nghề hội: Phản ánh mối quan hệ kết quả sản xuất và các lợi ích do sản xuất mang lại, được thông quan các chỉ tiêu về giải quyết việc làm, bảo

về môi trường, an ninh làng nghề hội

- Hiệu quả kinh tế-làng nghề hội phản ánh mối quan hệ giữa các kết quả đạt được tổng hợp ở các lĩnh vực kinh tế và làng nghề hội với các chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó

- Hiệu quả phát triển thể hiện sự phát triển của các doanh nghiệp, các vùng Đây là kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố như: Tình hình đời sống vật chất, trình độ dân trí, vấn đề phát triển cơ sở hạ tầng do kết quả của phát triển sản xuất và nâng cao HQKT

Trong các hiệu quả trên thì HQKT quan trọng nhất và quyết định Nhưng hiệu quả kinh tế đánh giá đầy đủ toàn diện nhất khi có sự liên kết hài hòa với hiệu quả phát triển

1.1.6.2 Phân loại HQKT theo phạm vi đối tượng

Phạm trù này được đề cập đến mọi nền sản xuất làng nghề hội như: Các địa phương, các ngành sản xuất, từng cơ sở, đơn vị sản xuất hay một quyết định quản lý có thể phân loại phạm trù này như sau:

- Hiệu quả kinh tế quốc dân: Là HQKT tính chung trong nền SX làng nghề hội

- Hiệu quả kinh tế ngành: Là hiệu quả tính riêng từng ngành sản xuất vật chất như ở ngành sản xuất vật chất nông nghiệp, công nghiệp dịch vụ

- Hiệu quả kinh tế theo vùng, lãnh thổ là tính riêng đối với từng vùng, khu vực điạ phương

- Hiệu quả kinh tế theo quy mô sản xuất, kinh doanh như: Hộ gia đình, hợp tác làng nghề, nông trường quốc doanh, công ty tập đoàn sản xuất

- Hiệu quả kinh tế của từng biện pháp kỹ thuật, từng yếu tố chi phí đầu tư vào sản xuất như biện pháp về giống phân bón, chi phí bảo vệ thực vật, chi phí về tài nguyên

1.1.6.3 Phân loại hiệu quả sản xuất theo các yếu tố tham gia quá trình sản xuất

- Hiệu quả sử dụng đất đai

Trang 28

- Hiệu quả sử dụng lao động

- Hiệu quả sử dụng vốn

- Hiệu quả sử dụng cụng nghệ - kỹ thuật mới

1.1.7 Hệ thống chỉ tiờu đỏnh giỏ kết quả và hiệu quả sản xuất

Nghiờn cứu phỏt triển ngành nghề nụng thụn là vấn đề phức tạp liờn quan đến nhiều lĩnh vực kinh tế, làng nghề hội, mụi trường Do vậy, hệ thống chỉ tiờu nghiờn cứu rất phong phỳ, cú thể phõn thành cỏc chỉ tiờu sau:

- Hệ thống chỉ tiêu chung về thực trạng phát triển ngành nghề nông thôn nh-: Quy mô số l-ợng, chất l-ợng, tốc độ phát triển của các hộ, cơ sở

- Hệ thống các chỉ tiêu về tình hình đầu t- và trang bị các yếu tố đầu vào cho sản xuất nh-: Lao động, vốn, đất đai nhà x-ởng, máy móc, nguyên liệu

- Hệ thống các chỉ tiêu về kết quả sản xuất kinh doanh nh-: Giá trị sản xuất, doanh thu, chi phí, thu nhập

- Hệ thống về hiệu quả sản xuất kinh doanh nh-: Thu nhập trên chi phí, hệ số

sử dụng đất đai, thời gian lao động thực tế trên thời gian lao động có khả năng

Hệ thống các chỉ tiêu về tình hình xuống cấp của môi tr-ờng, thành phần không khí, nguồn n-ớc

* Các chỉ tiêu cụ thể và cách tính:

+ Giá trị sản xuất (GO): là toàn bộ giá trị của cải vật chất và dịch vụ trong một chu kỳ sản xuất trong thời gian nhất định th-ờng là một năm

GO = ∑Pi * Qi

Qi là khối lượng sản phẩm loại i

+ Chi phớ trung gian (IC) là toàn bộ cỏc khoản chi phớ vật chất thường xuyờn

và dịch vụ sử dụng trong quỏ trỡnh sản xuất

IC = ∑ Cj Trong đú: Cj là cỏc chi phớ thứ j trong một chu kỳ sản xuất hoặc một năm Giỏ trị gia tăng (VA): Là hiệu số giữa giỏ trị sản xuất và chi phớ trung gian, là phần tăng thờm do người lao động tạo ra trong một chu kỳ sản xuất

VA = GO – IC

Trang 29

+ Thu nhập hỗn hợp (M): Là thu nhập thuần tuý của hộ, cơ sở sản xuất, bao gồm thu nhập của công lao động gia đình và lợi nhuận khi sản xuất một đơn vị sản phẩm MI gồm cả phần khấu hao tài sản và thuế

MI = VA – A + T + W Trong đú: A: Khấu hao tài sản cố định và cỏc chi phớ phõn bổ

T: Thuế

W: Lao động thuờ tớnh bằng tiền (nếu cú)

+ Chỉ tiêu quy mô phát triển đ-ợc phản ánh qua quy mô số l-ợng các cơ sở, các nhóm hộ qua các năm 2010 – 2012

+ Chỉ tiêu tính toán đầu t- sản xuất, giá trị sản xuất, doanh thu, thu nhập bình quân trên tháng, năm của mỗi lao động, các nhóm hộ đ-ợc tính bình quân qua xử lý

số liệu điều tra các hộ, cơ sở

+ Chỉ tiờu phản ỏnh tỡnh hỡnh cơ bản của địa phương được tổng hợp qua cỏc bỏo cỏo thống kờ của cỏc phũng ban của huyện; Đảng ủy, UBND và cỏc ban ngành tại xó

1.1.8 Những nhõn tố ảnh hưởng tới hiệu quả sản xuất làng nghề nụng thụn

Trong SXKD cỏc ngành kinh tế núi chung cũng như cỏc ngành TTCN núi riờng để đạt hiệu quả sản xuất chỳng ta quan tõm đến nhiều yếu tố tỏc động đến SXKD như điều kiện kinh tế, làng nghề hội, sản xuất, trỡnh độ kỹ thuật, lực lượng lao động làng nghề hội Đú là những yếu tố tỏc động trực tiếp và giỏn tiếp vào quỏ trỡnh sản xuất Hiệu quả sản xuất của cỏc ngành kinh tế phi nụng nghiệp, đặc biệt là cỏc ngành nghề TTCN chịu tỏc động của nhiều yếu tố, nhưng nú chịu ảnh hưởng chủ yếu của cỏc yếu tố sau :

- Yếu tố con người: Con người là yếu tố quan trọng và cú ảnh hưởng lớn nhất tới quỏ trỡnh sản xuất Con người cú vai trũ quan trọng trong việc bố trớ sản xuất và chuyển giao cụng nghệ KHKT ỏp dụng vào sản xuất để đem lại HQKT cũng như hiệu quả làng nghề hội cao nhất Bờn cạnh đú, con người cũn trực tiếp tạo ra tiờu dựng sản phẩm, biết cỏch sử dụng cỏc đầu vào hợp lý nhằm tạo ra và tiờu dựng sản phẩm, biết cỏch sử dụng đầu vào hợp lý nhằm tạo ra kết quả cuối cựng với khối

Trang 30

lượng sản phẩm hàng hóa càng nhiều, chất lượng cao, phù hợp với thị trường sản phẩm hàng hóa ngày càng nhiều, chất lượng cao, phù hợp với thị trường và đạt được hiệu quả sản xuất cao nhất

- Yếu tố thị trường: Thị trường là khâu quan trọng nhất quyết định đến mọi hoạt động SXKD, do đó nó quyết định đến sự tồn tại và phát triển của người sản xuất Khi đề cập đến thị trường chính là nghiên cứu mức cung cầu sản phẩm hàng hóa trong một khoảng thời gian và không gian nhất định Nếu đứng trên góc độ nền kinh tế thì sản xuất ra càng nhiều sản phẩm cho làng nghề hội thì càng tốt

Thị trường là đối tượng của mọi nền sản xuất kinh doanh nghiên cứu nhằm định ra phương hướng SXKD, lập kế hoạch chọn nguyên vật liệu đầu vào phù hợp với thị trường nhằm tạo ra nhiều sản phẩm hàng hóa nhiều nhất, có chất lượng tốt nhất đáp ứng nhu cầu của thị trường

Trong những năm qua, việc chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế từ kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước đã mở ra cho thị trường hàng hóa TTCN những bước khởi sắc Mặt khác, trong nền kinh tế thị trường sản xuất không có quyền định giá, nhiều khi giá cả chỉ bằng hoặc thấp hơn giá thành làm cho giá trị sản phẩm không cao dẫn đến HQKT thấp

- Chính sách của Nhà nước: Trong những năm gần đây, Nhà nước ban hành rất nhiều những chính sách phát triển sản xuất TTCN nhằm tăng cường khuyến khích đầu tư sản xuất TTCN Điều này đã khuyến khích được các tổ chức kinh tế trong và ngoài nước, các hộ nông dân tích cực đầu tư vào sản xuất Tạo ra nhiều sản phẩm hàng hóa cung cấp cho làng nghề hội Chính sách mở cửa thị trường phát triển, nền kinh tế nước ta với khu vực và thế giới làm cho nhiều sản phẩm làng nghề

có cơ hội phát triển và mở rộng thị trường nhất là hàng TCMN

Nhìn chung, trong quá trình SXKD, các doanh nghiệp, hộ nông dân chịu tác động bởi nhiều yếu tố khách quan và chủ quan Vấn đề quan trọng ở đây là mỗi doanh nghiệp, hộ nông dân phải nhận thức đúng các nhân tố này Lợi dụng mặt tích cực và hạn chế tác dụng tiêu cực làm chủ thời cơ kinh doanh sẽ đạt được kết quả và hiệu quả sản xuất cao

Trang 31

1.1.9 Đặc điểm kinh tế- kỹ thuật của hàng tăm hương xuất khẩu

1.1.9.1 Đặc điểm kỹ thuật của hàng tăm hương

Nghề sản xuất tăm hương đã hình thành và phát triển tại làng nghề Quảng Phú Cầu, huyện Ứng Hoà, thành phố Hà Nội từ rất lâu rồi, hiện nay còn lan ra một

số làng lân cận Tuy nhiên chất lượng tăm của các làng nghề mới vẫn còn kém chưa đáp ứng được yêu cầu của người tiêu dùng đó là các hộ, cơ sở sản xuất hương que Tăm hương chưa phải là sản phẩm tiêu dùng cuối cùng mà đây là một sản phẩm trung gian đóng vai trò là nguyên liệu đầu vào cho ngành sản xuất hương trong nước cũng như trên thế giới Tăm hương bao gồm hai loại là tăm tròn và tăm vuông ( Tăm truyền thống) Tăm có hình dạng que được làm từ nứa với nhiều kích thước khác nhau có thể là 35cm, 43cm hoặc là 60cm tuỳ theo yêu cầu của khách hàng Sản phẩm Tăm vuông hoàn toàn được chẻ bằng tay, sau đó phải được phơi để khô nước

và nhuộm màu phần không quét bột hương Còn tăm tròn lại hoàn toàn làm bằng máy, các sản phẩm phân biệt bởi đường kính của tăm thành tăm tròn to, tăm tròn vừa và tăm tròn nhỏ

1.1.9.2 Yêu cầu của tăm hương

Để chẻ được tăm hương đòi hỏi người làm tăm phải trải qua nhiều giai đoạn Trước tiên nhập nguyên liệu là nứa về Sau đó phải gia công nứa cắt nửa đầu, cắt cỗ tuỳ theo yêu cầu của đơn đặt hàng Sau đó tiến hành sản xuất Nếu như là tăm vuông thì ta phải ngâm nứa trước khi chẻ, còn tăm tròn thì ta tiến hành sản xuất bằng máy Cuối cùng ta tiến hành phơi tăm để cho khô nước khi tiến hành nhuộm phẩm Tăm hương phải khô đều có mùi thơm của tre, đặc biệt là không bị lẹm Tuỳ vào từng thị trường mà có yêu cầu khác nhau, nếu xuất đi miền Nam người làm sẽ phải chú ý chẻ tăm đều nhỏ và vuông

1.1.9.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình tiêu thụ sản phẩm

Như trên đã nói tiêu thụ nó phụ thuộc rất nhiều yếu tố nên nó cũng ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác như:

+ Thị trường tiêu thụ

+ Chất lượng sản phẩm

Trang 32

+ Giá bán sản phẩm

+ Thị hiếu và thu nhập của người tiêu dùng

+ Nhân tố thiết bị công nghệ kỹ thuật

+ Nhân tố chính sách

1.1.9.4 Nội dung của hiệu quả sản xuất tăm hương

Trong môi trường cạnh tranh của nền kinh tế thị trường muốn tồn tại và phát triển đòi hỏi các đơn vị kinh tế phải không ngừng áp dụng KHKT vào trong sản xuất Bản thân những tiến bộ KHKT đã chứa đựng tính ưu việt, nhưng nó chỉ phát huy được hiệu quả cao khi áp dụng chúng vào trong điều kiện SX thích hợp Việc vận dụng một cách sáng tạo các thành tựu KHKT hiện đại vào sản xuất và phấn đấu

để đạt HQKT cao trong ứng dụng tiến bộ KHKT là một tất yếu, điều đó lại càng có

ý nghĩa quan trọng và bức thiết hơn đối với sản xuất ở nước ta

Với một lượng dự trữ tài nguyên nhất định muốn tạo ra được khối lượng sản phẩm lớn nhất đó là mục tiêu của những nhà sản xuất và những nhà quản lý Nói một cách khác là ở một mức sản xuất nhất định cần phải làm thế nào để có chi phí tài nguyên và chi phí lao động thấp nhất

Điều đó cho thấy quá trình SX là sự liên kết mật thiết giữa các yếu tố đầu vào

và đầu ra là biểu hiện kết quả của các mối quan hệ thể hiện tính hiệu quả SX

HQKT được biểu hiện là mối tương quan so sánh giữa kết quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra Khi xác định HQKT nhiều nhà kinh tế thường ít nhấn mạnh quan hệ so sánh tương đối và chưa xem xét đầy đủ mối quan hệ kết hợp chặt chẽ giữa đại lượng tương đối và đại lượng tuyệt đối

HQKT ở đây được biểu hiện bằng giá trị tổng sản phẩm, tổng thu nhập, lợi nhuận và tỷ số lợi nhuận Chúng ta cũng cần phải phân biệt rõ HQKT và hiệu quả

xã hội Nếu như hiệu quả kinh tế là mối tương quan so sánh giữa lượng kết quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra thì hiệu quả xã hội là mối tương quan so sánh giữa kết quả xã hội (kết quả này xét về mặt xã hội) và lượng chi phí bỏ ra

Giữa HQKT và hiệu quả xã hội có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, chúng là tiền đề của nhau và là phạm trù thống nhất

Trang 33

1.2 Thực tiễn phát triển làng nghề trong nước và ngoài nước về hiệu quả sản xuất hàng tăm hương xuất khẩu

1.2.1 Kinh nghiệm phát triển làng nghề và nghề truyền thống của một số nước trên thế giới

Nhiều nước trên thế giới và trong khu vực đã thành công và đạt được những kết quả rất tốt trong việc phát triển ngành nghề TTCN ở nông thôn Do đó, để hiểu sâu hơn về làng nghề truyền thống ở Việt Nam, sự xem xét tìm hiểu làng nghề ở các quốc gia trên thế giới là việc làm có ý nghĩa và thực sự cần thiết Sau đây là kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới trong quá trình phát triển làng nghề và

1.2.1.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc

Trung Quốc là nước có nhiều nghề truyền thống phát triển, từ xa xưa nó đã khá nổi tiếng với các sản phẩm của nghề dệt, nghề gốm, nghề giấy…Trải qua thời

kỳ lịch sử, các nghề truyền thống ở Trung Quốc vẫn được bảo tồn và phát triển

Đầu thế kỷ XX, Trung Quốc có khoảng 10 triệu thợ thủ công, làm việc trong các hộ gia đình, trong phường nghề, làng nghề Đến năm 1954, số người làm nghề thủ công truyền thống được tổ chức vào hợp tác xã Sau này phát triển thành xí nghiệp Hương Trấn tồn tại và phát triển đến ngày nay ở một số địa phương

Xí nghiệp Hương Trấn là tên gọi chung của các xí nghiệp công thương, xây dựng…hoạt động tại các khu vực nông thôn, hoàn thành được chủ trương đúng đắn của chính phủ TQ là “ ly nông bất ly hương” Nó bắt đầu xuất hiện vào năm 1978 khi TQ thực hiện chính sách mở cửa Xí nghiệp Hương Trấn phát triển mạnh mẽ và góp phần đáng kể vào việc thay đổi bộ mặt nông thôn Những năm 1980 các xí nghiệp cá thể và làng nghề phát triển nhanh, đóng góp tích cực trong việc tạo ra 68% giá trị sản lượng công nghiệp nông thôn và trong số 32% sản lượng công nghiệp nông thôn do các xí nghiệp cá thể tạo ra có phần đóng góp đáng kể từ các làng nghề

Trong các hàng thủ công xuất khẩu, hàng thảm có vị trí đáng kể ( chiếm khoảng 75% số lượng thảm của thị trường Nhật) Tóm lại, TQ là nước có nền kinh

Trang 34

tế khá phát triển và có những thành tựu đáng kể từ việc phát triển các làng nghề, với

tư tưởng tiến bộ “ly nông bất ly hương”, thành lập các xí nghiệp nhỏ và năng động

đã tạo điều kiện cho nền kinh tế TQ từng bước đi lên có mức tăng nhất nhì Châu Á

1.2.1.2 Kinh nghiệm của Ấn Độ

Ấn Độ là một nước có nền văn minh, văn hoá dân tộc lâu đời được thể hiện rất rõ trong các sản phẩm thủ công truyền thống Đồng thời cũng là nơi có nhiều ngành nghề và làng nghề truyền thống Bên cạnh nghề nông, hàng triệu người dân sinh sống bằng nghề tiểu thủ công nghiệp với doanh thu hàng năm gần 1000 tỷ RU-

pi Có những ngành nghề sản xuất hàng tiêu dùng cao cấp như kim hoàn vàng, bạc, ngọc ngà…

Trong số 0,03% sản lượng kim cương của thế giới mà Ấn Độ khai thác do 75 vạn thợ chế tác kim cương, lại chủ yếu là các hộ gia đình cá thể sống ở làng nghề thực hiện Kim ngạch xuất khẩu kim cương đạt được 3 tỷ USD Ở Ấn Độ ngành chế tác kim cương đứng vào hàng những quốc gia chế tác kim cương lớn nhất thế giới Trên thực tế, kim cương Ấn Độ không nhiều, nhưng họ đã nhập kim cương của Nga

về chế tác để cạnh tranh với Ixraen và Hà Lan

Ở nông thôn Ấn Độ trong thời kỳ công nghiệp hoá, nhiều cơ sở sản xuất công nghiệp mới, sản xuất công cụ cải tiến, công nghiệp cơ khí chế tạo và công nghiệp chế biến đã được phát triển Đồng thời Chính phủ còn khuyến khích công nghiệp cổ truyền và tiểu thủ công nghiệp cùng phát triển Các mạng lưới cơ sở cơ khí chế tạo công cụ cổ truyền rải rác ở nông thôn với 10000 hộ gia đình quy mô vừa

và nhỏ, được trang bị thêm những công cụ sản xuất mới, nửa cơ khí và cơ khí và lò

bễ cải tiến, máy gia công kim loại… nhằm nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm, những cơ sở này đã sản xuất ra hàng triệu công cụ thủ công và nửa

cơ khí, đã đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của nông dân

Viện thủ công mỹ nghệ của Ấn Độ là cơ quan nghiên cứu kỹ thuật phục vụ yêu cầu phát triển làng nghề cổ truyền Trong thời gian qua, ngoài việc nghiên cứu

kỹ thuật, công nghệ mẫu mã, mặt hàng, còn tổ chức 165 cuộc triển lãm, hàng thủ

Trang 35

công mỹ nghệ trong nước và nước ngoài nước để giới thiệu các mặt hàng đặc sản của Ấn Độ nghiên cứu và tìm hiểu thị trường xuất khẩu ra nước ngoài

1.2.1.3 Một số kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam từ sự phát triển làng nghề, ngành nghề của các nước Trung Quốc và Ấn Độ

Từ sự phát triển ngành nghề, làng nghề truyền thống của các nước nêu trên được rút ra những kinh nghiệm cần chú ý để có thể áp dụng vào sự phát triển làng nghề của nước ta:

* Kinh nghiệm của Trung Quốc và Ấn Độ

- Phát triển làng nghề, ngành nghề truyền thống gắn với quá trình CNH nông thôn Quá trình CNH, đô thị hóa, thương mại hóa ở Trung Quốc và Ấn Độ đã

có lúc làm cho yếu tố độc đáo, tinh xảo của làng nghề bị phai nhạt, lu mờ Nhưng với cách nhìn nhận mới, các nước đã chú trọng và coi làng nghề là một bộ phận của quá trình CNH nông thôn Do vậy khi tiến hành CNH, họ thường kết hợp thủ công với kỹ thuật cơ khí hiện đại, đồng thời bố trí các cơ sở sản xuất gần vùng nguyên liệu và đặt làng làng nghề có nghề truyền thống để tiệc cho việc phát triển giao lưu hàng hóa

- Chú trọng đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực ở nông thôn

Việc đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực ở nông thôn có vai trò quan trọng đối với sự nghiệp phát triển làng nghề truyền thống Vì thế Trung Quốc và Ấn Độ đều chú ý đầu tư cho giáo dục và đào tạo tay nghề cho người lao động để họ tiếp thu được kỹ thuật tiên tiến Bởi vì việc hình thành một đội ngũ lao động có tay nghề cao

là rất quan trọng Nếu thiếu yếu tố này thì tiếp thu KHKT sẽ không thành công như mong đợi Nhìn chung các nước đều triệt để sử dụng hình thức đào tạo nâng cao tay nghề cho người lao động như: Bồi dưỡng tại chỗ, bồi dưỡng tập trung, bồi dưỡng ngắn hạn, theo phương châm thiếu gì huấn luyện nấy Xúc tiến thành lập các trung tâm, các viện nghiên cứu để đào tạo nhân lực một cách có hệ thống, bài bản đáp ứng với nhu cầu sản xuất của cơ sở hoặc các địa phương Hầu hết các nước nói trên đều rất chú trọng kinh nghiệm thực tiễn, mời những nhà kinh doanh, những nhà quản lý

Trang 36

có kinh nghiệm trong CNH nông thôn để báo cáo một số chuyên đề, hoặc mang sản phẩm đi triển lãm, trao đổi họ rất chú ý hình thức tiến hành có hoạt động công nghiệp cộng đồng (gia đình, làng xóm, hương trấn, phường hội) để phổ biến kỹ thuật

1.2.1.4 Kinh nghiệm của Huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên

Trong quá trình công nghiệp hoá hiện đại hóa của Huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên đã xây dựng các cơ sở lớn tại trung tâm huyện và các cơ sở nhỏ tại các

xã nông thôn Huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên quan niệm rằng muốn đẩy mạnh công nghiệp nông thôn trước hết phải chú ý tới ngành nghề và làng nghề truyền thống Từ đó tạo ra thị trường nông thôn rộng lớn cho sản phẩm phi nông nghiệp và dịch vụ góp phần thúc đẩy việc phát triển làng nghề theo hướng công nghiệp hoá

Huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên khuyến khích người nông tập trung đầu tư

mở mang các ngành nghề cổ truyền cho nông dân Do vậy, các làng nghề tại các xã trong huyện được phát triển đã sản xuất ra những sản phẩm thủ công mỹ nghệ phục

vụ du lịch và xuất khẩu Một khối lượng lớn hàng tiêu dùng được sản xuất ra trong làng nghề thông qua hợp đồng gia công cho các xí nghiệp lớn tại trung tâm huyện

Do công nghiệp hoá nông thôn và các ngành nghề truyền thống phát triển Tuy Huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên là một huyện nhỏ về diện tích với việc đề ra các chính sách đúng đắn cho việc phát triển các làng nghề thì kinh tế huyện đã có những bước phát triển đáng kể để các huyện khác trong cả nước phải học tập kinh nghiệm

1.2.1.5 Kinh nghiệm của làng Lụa Vạn Phúc, Hà Đông, Hà Nội

Mấy trăm năm nay, nghề dệt lụa đã trở thành nghề truyền thống của làng lụa Vạn Phúc, Hà Đông, Hà Nội Tương truyền rằng người Tổ của làng nghề Vạn Phúc

là người con gái họ Lã Người đã có công mang những bí quyết dệt lụa của Trung Quốc về truyền dạy cho người dân nơi đây, trước đây lụa Vạn Phúc dùng để cho cống tiến vua chúa triều đình Ngày nay lụa Vạn Phúc đã được xuất khẩu sang các nước như: Nhật, pháp, Thái Lan…Sản phẩm lụa Vạn Phúc khá đa dạng như: vân, the, nhiễu, lụa hoa văn các loại

Trang 37

Bảng 1.1: Tổng hợp về lao động và giá trị sản xuất của làng Lụa Vạn Phúc

(Nguồn: Phòng Kinh tế Hà Đông năm 2010)

Số hộ sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp của làng lụa Vạn Phúc chiếm 59% trong tổng số hộ của làng Như vậy theo quy định một số tiêu chí của làng nghề thì làng lụa Vạn Phúc – Hà Đông đã có số hộ tham gia sản xuất tương đối lớn (>40%) Điều này cũng dễ hiểu do làng lụa Vạn Phúc có truyền thống phát triển lâu đời, mặt khác quá trình sản xuất sản phẩm tạo ra những sản phẩm có giá trị kinh

tế, do đó đã thu hút được số hộ trong làng tham gia vào hoạt động của làng nghề

Lực lượng lao đọng tham gia vào hoạt động sản xuất của làng nghề đạt 1321 người chiếm 52% trong tổng số lao động của làng nghề Các hoạt động sản xuất của làng nghề đã thu hút được một lượng lớn lao động tham gia, góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Tăng tỷ lệ lực lượng lao động trong công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, giảm tỷ lệ lao động trong nông nghiệp

1.2.1.6 Một số kinh nghiệm rút ra từ sự phát triển làng nghề, ngành nghề của Huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên và làng lụa Vạn Phúc – Hà Đông

- Đề cao vai trò của Nhà nước trong việc giúp đỡ hỗ trợ về tài chính cho làng nghề truyền thống

Trong quá trình SXKD của làng nghề truyền thống vài thập kỷ gần đây Nhà nước rất quan tâm và có nhiều chủ trương chính sách phát triển ngành nghề thủ công truyền thống Trong đó có sự hỗ trợ về tài chính, tín dụng có vai trò rất quan trọng Nhờ có sự hỗ trợ này mà các làng nghề có sự lựa chọn kỹ thuật và gắn với

Trang 38

lựa chọn hướng sản xuất Nhà nước đã tạo điều kiện cho ngành nghề thủ công truyền thống đổi mới công nghệ, mẫu mã nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hóa, nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường

- Nhà nước có chính sách thuế và thị trường phù hợp để thúc đẩy làng nghề truyền thống phát triển

Đi đôi với việc hỗ trợ tài chính, tín dụng là chính sách thuế và thị trường của Nhà nước để khuyến khích làng nghề truyền thống phát triển Bởi chính sách thuế được coi như phương tiện để kích thích sự phát triển của làng nghề truyền thống và đóng vai trò thúc đẩy sự tiến bộ làng nghề hội Còn thị trường là điều kiện tốt nhất cho sự tồn tại của mỗi xí nghiệp trong mỗi làng nghề Thị trường không chỉ là nơi mua bán vật tư, nguyên liệu và sản phẩm của làng nghề truyền thống mà còn là nơi cung cấp những thông tin phản hồi về vấn đề kỹ thuật, các dịch vụ và nhiều lĩnh vực quý giá khác

- Khuyến khích sự kết hợp giữa đại công nghiệp với làng nghề truyền thống

Sự kết hợp giữa đại công nghiệp với TTCN và trung tâm công nghiệp với các làng nghề truyền thống là thể hiện sự phân công hợp tác lao động thông qua sự hỗ trợ giúp đỡ lẫn nhau, nhất là các vấn đề lựa chọn hướng sản xuất Để tạo dựng mối quan hệ này, hầu hết các nước thiết lập chương trình kết hợp giữa trung tâm công nghiệp với làng nghề truyền thống

* Kinh nghiệm rút ra từ sự phát triển làng nghề lụa Vạn Phúc – Hà Đông

Để có những kết quả khả quan như hiện tại, làng nghề Vạn Phúc – Hà Đông

đã có những bước chuyển quan trọng trong những thời kỳ và những kinh nghiệm cần phải học hỏi:

Trước thời kỳ giải phóng Miền Nam, làng lụa Vạn Phúc có một hợp tác xã làm nghề dệt Hợp tác xã này chủ yếu làm gia công cho Nhà nước theo kế hoạch, cả

xã có khoảng 150 máy dệt thủ công và một máy dệt chạy điện, sản lượng trung bình khoảng 450.000m/năm Sau giải phóng, HTX mua thêm 120 máy dệt nữa Thời kỳ biến động chính trị Đông Âu, sản phẩm của làng nghề khó tiêu thụ Sau năm 1991, khi cơ chế thay đổi, hơn 100 máy dệt chuyển cho xã viên Từ đó hoạt động làng

Trang 39

nghề quy mô hộ HTX chỉ là đơn vị kinh doanh dịch vụ, cung ứng kỹ thuật, làng nghề lúc này mới thực sự phát triển từ chỗ chỉ có 150 máy dệt đến năm 1992 tăng lên 750 máy năm 2010 đến nay là hơn 1750 máy Trung bình 1 hộ có 2-6 máy, sản lượng dệt tăng gấp 7-8 lần so với thời kỳ trước đổi mới

Như vậy, qua quá trình phát triển của làng lụa Vạn Phúc chúng ta cũng nhận thấy rằng trong mỗi giai đoạn phát triển của làng nghề cần có những chính sách hợp lý

Trang 40

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Giới thiệu về đặc điểm tự nhiên, kinh tế-làng nghề hội của làng nghề Quảng Phú Cầu

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên

2.1.1.1 Vị trí địa lý

Xã Quảng Phú Cầu nằm ở phía Đông Bắc huyện Ứng Hoà, có vị trí địa lý thuận lợi, cách trung tâm thành phố Hà Nội 30 km, có quốc lộ và tỉnh lộ chạy dài 5,5 km l, quốc lộ 21B và tỉnh lộ 429 rất thuận tiện cho việc giao thông trao đổi hàng hoá cung cấp và tiêu thụ sản phẩm trên thị trường trong và ngoài nước

Quảng Phú Cầu là một xã lớn của huyện Ứng Hòa, xã hiện có hơn một vạn nhân khẩu Quảng Phú Cầu có 6 thôn: Xà Cầu, Quảng Nguyên, Phú Lương Thượng, Phú Lương Hạ, Cầu Bầu, Đạo Tú

- Phía đông giáp xã Phú Túc, huyện Phú Xuyên

- Phía tây giáp xã Truờng Thịnh, huyện Ứng Hoà

- Phía Bắc giáp xã Hồng Dương, huyện Thanh Oai

- Phía Nam giáp xã Liên Bạt, huyện Ứng Hoà

2.1.1.2 Đặc điểm khí hậu thời tiết

Do nằm trong đồng bằng Bắc Bộ nên thời tiết, khí hậu làng nghề Quảng Phú Cầu chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa Với bốn mùa trong năm nhưng biến đổi mạnh nhất vào mùa hạ và mùa đông

Khí hậu Xã Quảng Phú Cầu nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, một năm gồm có 4 mùa rõ rệt:

- Mùa xuân từ tháng 1 đến tháng 3 âm lịch

- Mùa hạ từ tháng 4 đến tháng 6 âm lịch

- Mùa thu từ tháng 7 đến tháng 9 âm lịch

- Mùa đông từ tháng 10 đến tháng 12 âm lịch

Ngày đăng: 19/05/2021, 17:00

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w