63 3.9 Tổng hợp số thuế tài nguyên, phí BVMT năm 2012 đơn vị đã kê khai so với số kiểm tra 67 3.10 Đối chiếu chính sách thuế tài nguyên và chính sách khai thác khoáng sản gắn với bảo vệ
Trang 1
NGUYỄN GIA HOAN
GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI THU THUẾ TÀI NGUYÊN, PHÍ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG ĐỐI
VỚI KHAI THÁC KHOÁNG SẢN TRÊN ĐỊA BÀN
THỊ XÃ TAM ĐIỆP, TỈNH NINH BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Hà Nội, 2014
Trang 2NGUYỄN GIA HOAN
GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI THU THUẾ TÀI NGUYÊN, PHÍ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG ĐỐI
VỚI KHAI THÁC KHOÁNG SẢN TRÊN ĐỊA BÀN
THỊ XÃ TAM ĐIỆP, TỈNH NINH BÌNH
Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp
Mã Số: 60620115
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS TS TRẦN ĐÌNH THAO
Hà Nội, 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự giúp đỡ của nhiều tập thể và cá nhân Tôi xin được bày tỏ sự cám ơn sâu sắc nhất tới tất cả các tập thể và cá nhân đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Trước hết, với tình cảm chân thành và lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm
ơn tới thầy giáo PGS TS Trần Đình Thao đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cám ơn các thầy giáo, cô giáo Khoa Kinh tế và Quản trị kinh doanh và các thầy giáo, cô giáo trường Đại học Lâm nghiệp đã tạo điều kiện giúp
đỡ tôi mọi mặt trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cám ơn các cơ quan quản lý thuế, cám ơn Lãnh đạo Cục Thuế tỉnh Ninh Bình, Lãnh đạo Chi cục Thuế thị xã Tam Điệp, Lãnh đạo phòng Thống kê thị xã Tam Điệp, các doanh nghiệp trên địa bàn thị xã Tam Điệp đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong thu thập tài liệu và quá trình nghiên cứu đề tài luận văn thạc sĩ
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ sự biết ơn chân thành tới gia đình, đồng nghiệp và bạn
bè - những người đã luôn bên tôi, động viên, giúp đỡ tôi về vật chất cũng như tinh thần trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này./
Hà Nội, tháng 02 năm 2014
TÁC GIẢ
Nguyễn Gia Hoan
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các từ viết tắt v
Danh mục các bảng vi
Danh mục các hình vii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI THU THUẾ TÀI NGUYÊN, PHÍ BVMT 6
1.1 Cơ sở lý luận về vấn đề nghiên cứu 6
1.1.1 Các khái niệm cơ bản 6
1.1.2 Nội dung cơ bản của Quản lý nhà nước đối với thuế tài nguyên, phí BVMT 19 1.2 Cơ sở thực tiễn 26
1.2.1 Việc quản lý thuế tài nguyên, phí BVMT trong tỉnh và thị xã Tam Điệp hiện nay 26
1.2.2 Chính sách quản lý thuế, phí: 28
1.2.3 Kinh nghiệm quản lý thuế, phí: 29
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35
2.1 Đặc điểm cơ bản của Thị xã Tam Điệp 35
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 35
2.1.2 Tình hình kinh tế - xã hội 37
2.2 Phương pháp nghiên cứu 41
2.2.1 Phương pháp thu thập tài liệu 41
2.2.2 Phương pháp tổng hợp và xử lý dữ liệu 42
2.2.3 Phương pháp phân tích 42
Trang 62.2.4 Hệ thống chỉ tiêu sử dụng trong nghiên cứu 43 Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 44 3.1 Thực trạng quản lý nhà nước về thuế tài nguyên, phí BVMT trong lĩnh vực khai thác tài nguyên khoáng sản trên địa bàn thị xã Tam Điệp 44 3.1.1 Bộ máy tổ chức quản lý thuế 44 3.1.2 Tình hình quản lý thuế tài nguyên, phí BVMT 46 3.1.3 Khái quát tình hình quản lý thuế tài nguyên, phí BVMT trên địa bàn thị xã Tam Điệp 51 3.1.4 Kế hoạch thu thuế và cơ sở xây dựng kế hoạch thu thuế 53 3.2 Tình hình thất thu thuế tài nguyên, phí BVMT trên địa bàn thị xã Tam Điệp 54 3.2.1 Tình hình thực hiện kế hoạch thu thuế tài nguyên, phí BVMT 54 3.2.2 Tình hình thực hiện dự toán thu thuế tài nguyên và phí bảo vệ môi trường 56 3.3 Thất thu thuế tài nguyên, phí BVMT 59 3.3.1 Nguyên nhân thất thu thuế tài nguyên, phí BVMT trên địa bàn thị xã Tam Điệp 61 3.3.2 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý thuế tài nguyên và phí BVMT 71 3.3.3 Các yếu tố chủ quan 79 3.4 Giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với thu thuế tài nguyên, phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản trên địa bàn thị xã Tam Điệp 85 3.4.1 Căn cứ 85 3.4.2 Định hướng 86 3.4.3 Giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với thu thuế tài nguyên và phí bảo
vệ môi trường 89 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 100 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
PHÍ BVMT Phí bảo vệ môi trường đối với khai thác
khoáng sản
Trang 83.3 Tình hình thực hiện dự toán thuế TN, phí BVMT trên địa bàn thị xã
Tam Điệp qua các năm
54
3.4 Tỷ trọng số thu thuế TN, phí BVMT trên địa bàn thị xã Tam Điệp 55 3.5 Số thu thuế TN, phí BVMT trên địa bàn TX Tam Điệp qua các năm 57 3.6 Tổng hợp số lượng tài nguyên đất san lấp, đất đá cấp phối của
một số các doanh nghiệp khai thác ở thị xã Tam Điệp
3.8 Thuế tài nguyên phải nộp của một số doanh nghiệp sản xuất xi
măng khi áp dụng giá tính thuế tại thị xã Tam Điệp và Nghệ An
63
3.9 Tổng hợp số thuế tài nguyên, phí BVMT năm 2012 đơn vị đã
kê khai so với số kiểm tra
67
3.10 Đối chiếu chính sách thuế tài nguyên và chính sách khai thác
khoáng sản gắn với bảo vệ môi trường
3.15 Kết quả tổng hợp và đánh giá kênh tiếp nhận thông tin về các chính
sách thuế của doanh nghiệp khai thác khoáng sản
94 3.16 Đóng góp của ngành công nghiệp khai khoáng vào NSNN 96
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
2.1 Bản đồ hành chính Thị xã Tam Điệp 36 3.1 Mô hình các hoạt động của cơ quan quản lý thu thuế 45 3.2 Cơ cấu thuế tài nguyên của thị xã Tam Điệp Ninh Bình (2009-2012) 55 3.3 Mức tăng tỷ trọng thuế tài nguyên và phí bảo vệ môi trường so với
tổng thu từ thuế, phí qua các năm ở thị xã Tam Điệp
58
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tài nguyên thiên nhiên là tài sản quý giá do thiên nhiên ban tặng, có vai trò quan trọng đối với con người Phần lớn các sản phẩm để phục vụ đời sống sinh hoạt của con người được sản xuất từ tài nguyên thiên nhiên Là một trong những nguồn lực quan trọng, tài nguyên thiên nhiên góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt với các nước đang phát triển như nước ta Tài nguyên là hữu hạn và hầu hết không tái tạo nên phải được quản lý, khai thác, sử dụng một cách hợp lý, tiết kiệm
và có hiệu quả để phục vụ lợi ích trước mắt cũng như lâu dài cho sự nghiệp phát triển của đất nước Đảng và Nhà nước đã có nhiều công cụ để bảo vệ, quản lý khai thác, sử dụng tiết kiệm hiệu quả nguồn lực tài nguyên Trong đó có chính sách thuế tài nguyên, phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản (phí BVMT) là một trong những công cụ tài chính quan trọng để Nhà nước quản lý việc khai thác sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên
Thuế tài nguyên đã đạt được những kết quả nhất định và đã góp phần bảo đảm nguồn thu cho ngân sách Nhà nước Số thu thuế tài nguyên trên địa bàn cả nước bình quân từ năm 2010-2012 là 35.542 tỷ đồng/năm, chiếm 5,54% tổng thu ngân sách, trong đó số thu thuế tài nguyên (trừ dầu khí) bình quân 3 năm (2010-2012) là 5.701 tỷ đồng, chiếm 16% tổng số thu thuế tài nguyên và chiếm 1,43% tổng thu thuế nội địa, đây là khoản thu điều tiết 100% cho ngân sách địa phương để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, cải tạo môi trường nơi khai thác và góp phần đảm bảo an sinh xã hội địa phương
Pháp lệnh thuế tài nguyên được ban hành từ năm 1998 qua nhiều lần sửa đổi
bổ sung song vẫn còn nhiều hạn chế, ảnh hưởng tới việc quản lý, khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên của đất nước Ngày 25/11/2009 tại kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa XII đã thông qua Luật thuế tài nguyên số 45/2009/QH12 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2010 Luật thuế tài nguyên ra đời thay thế Pháp lệnh thuế tài nguyên năm 1998 và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung Điều 6 pháp lệnh thuế tài nguyên năm 2008
Trang 11Việc chuyển nền kinh tế kế hoạch hóa, quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN cùng với việc hội nhập sâu rộng vào kinh tế khu vực và thế giới, phát triển nhiều thành phần kinh tế đã bung ra hàng loạt các loại hình doanh nghiệp Trong đó có rất nhiều doanh nghiệp ngoài Nhà nước tham gia hoạt động khai thác tài nguyên Các doanh nghiệp (DN) được cấp phép hoạt động khai thác tài nguyên, song việc thực thi pháp luật, nhất là Luật thuế tài nguyên và phí BVMT của các DN khai thác còn nhiều yếu kém Các tổ chức, cá nhân khai thác tài nguyên bừa bãi, chạy đua vì mục đích lợi nhuận mà không nghĩ tới việc bảo vệ môi trường, khai thác, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả nguồn tài nguyên và thực hiện nghĩa
vụ với ngân sách Nhà nước Việc chấp hành chính sách thuế tài nguyên, phí BVMT còn nhiều hạn chế, nhiều DN do chưa hiểu hết chính sách, nhưng cũng có nhiều DN trốn tránh nghĩa vụ thuế để mưu lợi cho riêng DN mình gây thất thu cho ngân sách Nhà nước hàng chục tỷ đồng tiền thuế, phí mỗi năm
Những năm qua để thực hiện chính sách thuế tài nguyên, phí BVMT, Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Bình đã chỉ đạo các cấp, các ngành phối hợp cùng ngành Thuế, Tài nguyên và Môi trường đồng thời ban hành nhiều văn bản chỉ đạo triển khai thực hiện chính sách thuế tài nguyên, phí BVMT nhằm quản lý các hoạt động khai thác,
sử dụng hiệu quả tài nguyên UBND tỉnh đã cấp 125 giấy phép cho 99 DN được khai thác tài nguyên khoáng sản trên địa bàn, trong đó tại địa bàn thị xã Tam Điệp
là 37 giấy phép/29 DN khai thác Số thu thuế tài nguyên, phí BVMT của tỉnh hàng năm đều tăng trưởng cao so với năm trước Đặc biệt những năm gần đây ở một số địa bàn, các nhà máy xi măng đi vào hoạt động như thị xã Tam Điệp thì số thu thuế tài nguyên năm 2012 tăng gấp 1,5 lần so với năm 2009, huyện Gia Viễn số thu này năm 2012 tăng 3 lần so với năm 2009 Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực và những thành quả đã đạt được thì việc áp dụng, thực thi luật thuế tài nguyên, phí BVMT vẫn còn nhiều bất cập, số vụ vi phạm luật thuế tài nguyên, phí BVMT ngày càng tăng với số tiền chiếm dụng ngày càng lớn Năm 2012 số thuế tài nguyên, phí BVMT thất thu tới hơn 10 tỷ đồng (trong đó địa bàn thị xã Tam Điệp thất thu trên 4
tỷ đồng), ngoài ra mức độ thất thu về chính sách không thể tính được bằng số liệu
Trang 12thực tế, như thất thu do đối tượng nộp thuế, chính sách miễn, giảm, thất thu do giá tính thuế
Thị xã Tam Điệp là đô thị miền núi phía nam của tỉnh Ninh Bình, công nghiệp Tam Điệp nổi bật với ngành sản xuất vật liệu xây dựng Với lợi thế so sánh
về tài nguyên khoáng sản như đá vôi, đôlômit, đất sét, đất san lấp và năng lực sản xuất của các chủ thể kinh tế hiện tại như các nhà máy xi măng Hướng Dương, Tam Điệp, nhà máy gạch Vườn Chanh, Nhà máy gạch Tam Điệp Tam Điệp có lợi thế khá lớn về sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng với các sản phẩm như: xi măng, gạch, ngói, bê tông đúc sẵn thị xã Tam Điệp thuộc miền núi, nơi có trữ lượng đá vôi lớn rất tốt cho công nghiệp xi măng và vật liệu xây dựng
Xuất phát từ các vấn đề đã được nêu ở trên thì sự cần thiết trong việc nghiên cứu về quản lý thu và sử dụng có hiệu quả nguồn thuế tài nguyên, phí BVMT là một trong những chính sách phát triển kinh tế-xã hội của thị xã Tam Điệp tỉnh Ninh
Bình Với những lý do nêu trên, tôi thực hiện đề tài: “Giải pháp hoàn thiện quản
lý nhà nước đối với thu thuế tài nguyên, phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản trên địa bàn thị xã Tam Điệp tỉnh Ninh Bình” đáp ứng yêu cầu
phát triển kinh tế - xã hội của thị xã giai đoạn hết năm 2015
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu tổng quát
Đánh giá thực trạng quản lý thu thuế tài nguyên và phí BVMT, tình hình quản
lý thuế tài nguyên và phí BVMT, đề xuất giải pháp góp phần hoàn thiện quản lý nhà nước đối với thu thuế tài nguyên và phí BVMT đối với khai thác khoáng sản trên địa bàn thị xã Tam Điệp tỉnh Ninh Bình (sau đây gọi là trên địa bàn thị xã Tam Điệp)
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa, phân tích các vấn đề lý luận và thực tiễn về thuế tài nguyên
và phí BVMT, về thu thuế và thất thu thuế tài nguyên và phí BVMT;
- Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về thuế tài nguyên, phí BVMT trên địa bàn thị xã Tam Điệp;
- Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu lực quản lý chống thất thu thuế tài nguyên và phí BVMT
Trang 132.3 Câu hỏi nghiên cứu
1) Thuế tài nguyên và phí BVMT bao gồm những loại nào?
2) Tình hình quản lý thu thuế tài nguyên và phí BVMT như thế nào?
3) Thuế tài nguyên và phí BVMT có thất thu không? thất thu như thế nào? 4) Thị xã Tam Điệp đã có chính sách nào để quản lý nguồn thu?
5) Hiệu lực quản lý thuế tài nguyên và phí BVMT như thế nào?
6) Giải pháp nào nâng cao hiệu lực quản lý thuế tài nguyên và phí BVMT?
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quản lý thuế tài nguyên, phí BVMT đối với loại tài nguyên khoáng sản trên địa bàn thị xã Tam Điệp (chủ yếu là đá vôi làm vật liệu xây dựng, sản xuất xi măng, đất sản xuất gạch và san lấp công trình) và hiệu lực quản lý thuế tài nguyên và phí BVMT
Đối tượng điều tra là các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân (Người nộp thuế tài nguyên, phí BVMT) và công chức thuế, cơ quan Thuế (Đơn vị quản lý thuế)
3.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
+ Phạm vi về nội dung
Đề tài tập trung nghiên cứu những nội dung cơ bản về quản lý nhà nước đối với thu thuế tài nguyên, phí BVMT; về các loại tài nguyên khoáng sản thuộc đối tượng chịu thuế, các khoản mục thuế và phí đối với khai thác tài nguyên khoáng sản, công tác quản lý thuế tài nguyên, phí BVMT, tình hình thu thuế, phí BVMT và các nguyên nhân dẫn đến thất thu thuế tài nguyên, phí BVMT, các chính sách thuế tài nguyên, phí BVMT, các giải pháp thực thi công tác thu và chống thất thu thuế tài nguyên, phí BVMT trên địa bàn thị xã Tam Điệp (các loại khoáng sản gồm: đất san lấp, đất làm gạch, đá vôi làm vật liệu xây dựng, sản xuất xi măng)
+ Phạm vi về không gian
Tiến hành khảo sát thực trạng thu thuế tài nguyên, phí BVMT trên địa bàn thị
xã Tam Điệp
Trang 14+ Phạm vi về thời gian
Nghiên cứu chính sách thuế tài nguyên, xuất phát từ chính sách thuế tài nguyên áp dụng từ năm 1990 và Luật thuế tài nguyên được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành ngày 25/11/2009 Thu thập tài liệu trong những năm gần đây (2010-2012) về tình hình triển khai chính sách thuế tài nguyên
và phí BVMT trên địa bàn thị xã Tam Điệp tỉnh Ninh Bình Thời gian thực hiện Đề tài từ tháng 8/2013 đến tháng 12/2013
Trang 15Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI
THU THUẾ TÀI NGUYÊN, PHÍ BVMT
1.1 Cơ sở lý luận về vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Các khái niệm cơ bản
a Khái niệm quản lý nhà nước
- Khái niệm quản lý nhà nước về thu thuế tài nguyên
Quản lý thu thuế tài nguyên là một quá trình thực thi chính sách thuế tài nguyên, thông qua quá trình tác động của cơ quan thuế đến NNT, đảm bảo sự tuân thủ nghĩa vụ thuế theo luật định nhằm sử dụng có hiệu quả các nguồn lực sẵn có của
cơ quan quản lý và tạo điều kiện thu đúng, thu đủ số thuế vào NSNN một cách thuận tiện, đúng pháp luật
Quản lý thu thuế tài nguyên có các đặc điểm cơ bản sau:
- Quản lý thu thuế mang tính quyền lực Nhà nước và được đảm bảo bằng pháp luật Hoạt động quản lý của cơ quan thuế cũng như việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế của các doanh nghiệp đều phải dựa trên cơ sở qui định của các luật thuế với đặc trưng có tính bắt buộc cao
- Quản lý thu thuế tài nguyên, phí BVMT là việc thực hiện quyền hành pháp và
tư pháp về thuế tài nguyên, phí BVMT
- Quản lý thuế tài nguyên, phí BVMT gắn liền với cơ quan thuế – một tổ chức nhà nước có tư cách pháp nhân công quyền
- Quản lý thuế tài nguyên, phí BVMT được thực hiện chủ yếu bằng phương pháp hành chính
- Quản lý thuế tài nguyên, phí BVMT là hoạt động mang tính nghiệp vụ chặt chẽ
Như vậy, quản lý thuế tài nguyên, phí BVMT là hoạt động nhằm đảm bảo thực thi nghiêm chỉnh pháp luật về thuế thông qua sự tự giác cao của chính doanh nghiệp nộp thuế và sự hỗ trợ của cơ quan thuế các cấp và cơ quan nhà nước có liên quan
Trang 16b Khái niệm về thuế và phí
* Khái niệm về thuế
Thuế ra đời, phát triển gắn liền với sự hình thành và phát triển của Nhà nước Thuế là một đòi hỏi khách quan đối với sự tồn tại và phát triển của Nhà nước Hệ thống và chính sách thuế của Nhà nước được xây dựng trên cơ sở những điều kiện kinh tế- chính trị- xã hội cụ thể trong mỗi giai đoạn lịch sử nhất định
Ngày nay trong tiến trình hội nhập, thuế lại đang có vị thế lớn trong chiến lược toàn cầu hoá Do vậy, việc quản lý thuế của các Nhà nước là rất cần thiết, dù cho Nhà nước đó là Nhà nước phát triển hay đang phát triển Những tri thức về thuế và quản lý thuế đang là nhu cầu thường trực không chỉ với các nhà quản lý, với các doanh nhân mà còn cần phổ cập tới tất cả mọi công dân
Ở nước ta, đến nay cũng chưa có một khái niệm thống nhất về thuế Theo từ điển tiếng Việt, trung tâm từ điển học (1998) thì: thuế là khoản tiền hay hiện vật mà người dân hoặc các tổ chức kinh doanh, tuỳ theo tài sản, thu nhập, nghề nghiệp v.v buộc phải nộp cho Nhà nước theo mức quy định
Dù trải qua nhiều giai đoạn và được nhận định trên nhiều giác độ khác nhau, nhưng hiện nay một định nghĩa về thuế theo xu hướng cổ điển vẫn còn đang được
áp dụng phổ biến, đặc biệt trong cơ chế kinh tế thị trường, điển hình là khái niệm về thuế của Gaston Jèze đưa ra trong Giáo trình Tài chính công Dựa vào định nghĩa này và các yêu cầu nêu trên, có thể đưa ra một khái niệm tổng quát về thuế phù hợp với giai đoạn hiện nay như sau:
Thuế là một khoản nộp bằng tiền mà các thể nhân và pháp nhân có nghĩa vụ bắt buộc phải thực hiện theo Luật đối với Nhà nước; không mang tính chất đối khoản, không hoàn trả trực tiếp cho người nộp thuế và dùng để trang trải cho các nhu cầu chi tiêu công cộng
* Khái niệm về phí
Khái niệm phí nhà nước được đưa ra trong Pháp lệnh Phí và lệ phí số
38/2001/PL-UBTVQH10 ngày 28/8/2001 theo đó: “phí là khoản tiền mà tổ chức, cá nhân phải trả khi được tổ chức, cá nhân khác cung cấp dịch vụ theo quy định trong
Trang 17danh mục phí được ban hành kèm theo Pháp lệnh” Hiện hành có 73 loại phí khác
nhau thuộc nhiều lĩnh vực như nông nghiệp, giao thông, tư pháp, tài chính ngân hàng, khoa học công nghệ và môi trường
Như vậy, khác với thuế Nhà nước đã cung cấp dịch vụ, nên cần thu hồi vốn đầu tư và chi phí quản lý, Phí liên quan trực tiếp đến lợi ích của người nộp, cơ sở để thu phí là việc chủ thể được nhận phí đã cung cấp cho chủ thể nộp phí một lợi ích nhất định thông qua dịch vụ của mình Ví dụ: hưởng lợi từ dịch vụ thuỷ nông thì phải nộp thuỷ lợi phí, hưởng lợi từ việc sử dụng cây cầu để qua sông thì phải nộp phí cầu, v.v
* Khái niệm về thuế tài nguyên và chính sách thuế tài nguyên
Tài nguyên thiên nhiên bao gồm tất cả các nguồn năng lượng, nguyên liệu, vật liệu tự nhiên có trên trái đất, trong không gian mà con người có thể khai thác, sử dụng phục vụ cuộc sống, sự phát triển của mình và của xã hội
Tài nguyên thiên nhiên là nguồn tài sản của quốc gia, thuộc quyền sở hữu của Nhà nước, do Nhà nước thống nhất quản lý Đối với các quốc gia có nguồn TNTN phong phú nếu quản lý khai thác, sử dụng hiệu quả thì nó là nguồn lợi lớn và lâu dài cho sự phát triển của quốc gia đó Ngược lại, nếu việc quản lý khai thác, sử dụng tài nguyên bừa bãi, lãng phí, sẽ gây ra hậu quả xấu không chỉ cho sự phát triển kinh tế
mà còn ảnh hưởng xấu đến môi trường sống của quốc gia đó Để bảo đảm việc bảo
vệ khai thác, sử dụng TNTN đạt hiệu quả, tránh việc khai thác, sử dụng bừa bãi, lãng phí, gây ảnh hưởng xấu đến môi trường sống, các quốc gia thường sử sụng nhiều công cụ và biện pháp quản lý khác nhau Công cụ tài chính là một trong những công cụ quan trọng để quản lý tài nguyên, trong đó có việc thu thuế đối với hoạt động khai thác TNTN, đó chính là thuế tài nguyên Ngoài thuế tài nguyên ra, hiện nay còn có một khoản thu nữa thu vào từ việc khai thác TNTN đó là phí BVMT, ở các nước trên thế giới gọi là thuế BVMT
Thuế tài nguyên là loại thuế gián thu, thu vào hoạt động khai thác tài nguyên của các tổ chức, cá nhân, nhằm khuyến khích các tổ chức, cá nhân khai thác sử dụng tài nguyên hợp lý, tiết kiệm, có hiệu quả góp phần bảo vệ tài nguyên đất nước, bảo đảm nguồn thu cho ngân sách Nhà nước để bảo vệ, tái tạo, tìm kiếm, thăm dò tài nguyên
Trang 18Xét về mặt bản chất, thuế tài nguyên là loại thuế gián thu, thu vào người tiêu dùng, vì thuế tài nguyên đã được tính trong giá thành sản phẩm tài nguyên Người khai thác chỉ là người nộp hộ cho người tiêu dùng Tuy nhiên, xét ở góc độ quan hệ
sở hữu, nó mang tính chất là một khoản thu về từ việc chuyển nhượng TNTN giữa một bên là Nhà nước, một bên là các tổ chức, cá nhân khai thác tài nguyên Bản chất của vấn đề này tương tự như việc các tổ chức, cá nhân trả tiền để mua tài nguyên từ các quốc gia khác về để sản xuất, kinh doanh
Để thực hiện được mức thu thuế tài nguyên theo mục tiêu đề ra người ta phải
sử dụng công cụ để thực hiện đó chính là chính sách thuế tài nguyên
Chính sách thuế tài nguyên là hệ thống các biện pháp, cách thức của Nhà nước tác động vào việc sử dụng tài nguyên nhằm mục đích khai thác sử dụng mọi nguồn tài nguyên của đất nước một cách có hiệu quả và tiết kiệm, phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước
Chính sách thuế tài nguyên là một trong những công cụ về tài chính, thể hiện vai trò sở hữu Nhà nước đối với tài nguyên quốc gia và thực hiện chức năng quản lý Nhà nước đối với hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên của các tổ chức, cá nhân
* Khái niệm về phí BVMT
Phí BVMT là khoản thu ngân sách địa phương hưởng 100% để hỗ trợ cho công tác bảo vệ và đầu tư cho môi trường phòng ngừa và hạn chế các tác động xấu đối với môi trường tại địa phương nơi có hoạt động khai thác khoáng sản, khắc phục suy thoái, ô nhiễm môi trường do hoạt động khai thác khoáng sản gây ra, giữ gìn vệ sinh, bảo vệ và tái tạo cảnh quan môi trường tại địa phương nơi có hoạt động khai thác khoáng sản
c Khái niệm về các căn cứ thu thuế và thất thu thuế
Căn cứ tính thuế tài nguyên là cơ sở để xác định số thuế tài nguyên phải nộp Xác định đúng căn cứ tính thuế không những đảm bảo thu đúng, thu đủ thuế tài nguyên vào NSNN, mà còn có ý nghĩa quan trọng trong việc nắm bắt tình hình khai thác, nhu cầu sử dụng tài nguyên, trữ lượng, sự biến động của các nguồn tài nguyên
Trang 19Trên cơ sở đó Nhà nước đưa ra các chính sách, chiến lược, giải pháp quản lý đồng
bộ, thích hợp đối với từng loại tài nguyên trong ngắn hạn, trung hạn và dài hạn Căn cứ tính thuế tài nguyên là sản lượng tài nguyên tính thuế, giá tính thuế đơn vị tài nguyên và thuế suất thuế tài nguyên
Việc xác định số thuế tài nguyên phải nộp được tính như sau:
x
Giá tính thuế đơn
vị tài nguyên
x Thuế
suất -
Số thuế tài nguyên được miễn, giảm (nếu có)
- Sản lượng tính thuế, phí
Sản lượng tài nguyên tính thuế là sản lượng tài nguyên thực tế khai thác có thể bán ra được trên thị trường Tuỳ theo tính chất lý, hoá của loại tài nguyên để xác định theo số lượng, trọng lượng hay khối lượng tài nguyên khai thác trong kỳ làm căn cứ tính thuế Sản lượng tài nguyên làm căn cứ tính thuế là sản lượng tài nguyên khai thác trong kỳ, không phụ thuộc vào hiện trạng và mục đích khai thác tài nguyên (để bán ngay, đem trao đổi, tiêu dùng nội bộ, dự trữ đưa vào sản xuất tiếp theo ) Với quy định này đảm bảo người khai thác tài nguyên phải kê khai, nộp thuế tài nguyên đầy đủ, kịp thời vào NSNN, đảm bảo bình đẳng trong việc khai thác
sử dụng tài nguyên
Sản lượng tài nguyên làm căn cứ tính thuế được xác định như sau:
Đối với tài nguyên khai thác xác định được số lượng, trọng lượng hoặc khối lượng thì sản lượng tài nguyên tính thuế là số lượng, trọng lượng hoặc khối lượng của tài nguyên thực tế khai thác trong kỳ tính thuế
Đối với loại tài nguyên khai thác chưa xác định được số lượng, trọng lượng, hoặc khối lượng thực tế khai thác do chứa nhiều tạp chất khác nhau thì sản lượng tài nguyên tính thuế xác định theo số lượng, khối lượng, trọng lượng của từng chất Trường hợp không xác định được số lượng, khối lượng, trọng lượng của từng chất thì sản lượng tài nguyên tính thuế của từng chất được xác định theo sản lượng tài nguyên khai thác và tỷ lệ của từng chất có trong tài nguyên đã được kiểm định
Trang 20Đối với tài nguyên khai thác không bán ra mà đưa vào sản xuất sản phẩm khác nếu không trực tiếp xác định được số lượng, trọng lượng hoặc khối lượng thực tế khai thác thì sản lượng tài nguyên tính thuế được xác định căn cứ vào sản lượng sản phẩm sản xuất trong kỳ tính thuế và định mức sử dụng tài nguyên tính trên một đơn
vị sản phẩm
Đối với nước thiên nhiên dùng cho sản xuất thuỷ điện thì sản lượng tài nguyên tính thuế là sản lượng điện của cơ sở sản xuất điện bán cho bên mua điện theo hợp đồng mua bán điện hoặc sản lượng điện giao nhận trong trường hợp không
có hợp đồng mua bán điện được xác định theo hệ thống đo đếm đạt tiêu chuẩn đo lường chất lượng Việt Nam, có xác nhận của bên mua, bên bán hoặc bên giao, bên nhận
Đối với nước khoáng thiên nhiên, nước nóng thiên nhiên, nước thiên nhiên dùng cho mục đích công nghiệp thì sản lượng tài nguyên tính thuế được xác định bằng mét khối (m3) hoặc lít (l) theo hệ thống đo đếm đạt tiêu chuẩn đo lường chất lượng Việt Nam
Nhưng theo quy định của pháp Luật thì tài nguyên khai thác trong tháng phải được kê khai thuế nộp thuế vào tháng tiếp theo, không phụ thuộc vào việc tài nguyên khai thác đã được bán ra, còn để trong kho, hay đưa vào quy trình sản xuất tiếp theo Đối với loại tài nguyên khai thác và bán ra ngay thì giá tính thuế tài nguyên được xác định theo giá bán Vấn đề đặt ra là loại tài nguyên khai thác lên, nhưng chưa bán ra mà đưa vào quy trình sản xuất sản phẩm khác, hoặc phải qua chế biến, hoặc do năng lực quản lý của người khai thác không hạch toán, xác định được giá tính thuế tài nguyên, nên không có căn cứ để xác định giá tính thuế tài nguyên thì việc quản lý thu thuế tài nguyên thực hiện như thế nào Để giải quyết vấn đề này, đảm bảo việc kê khai, nộp thuế vào NSNN phải được kịp thời, đúng thời hạn, Pháp Luật Thuế tài nguyên đã có những quy định đối với từng trường hợp cụ thể như sau: Trường hợp xác định được giá bán đơn vị sản phẩm tài nguyên: Giá tính thuế tài nguyên là giá bán đơn vị sản phẩm tài nguyên khai thác chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng không phân biệt địa bàn tiêu thụ và được áp dụng làm giá tính thuế cho
Trang 21toàn bộ sản lượng tài nguyên khai thác trong tháng có cùng phẩm cấp, chất lượng, không phân biệt một phần vận chuyển đi nơi khác tiêu thụ hoặc đưa vào sản xuất, chế biến, sàng tuyển, phân loại; Giá bán của một đơn vị tài nguyên được tính bằng tổng doanh thu chưa có thuế giá trị gia tăng của loại tài nguyên bán ra chia cho tổng sản lượng loại tài nguyên tương ứng bán ra trong tháng
Trường hợp trong tháng có phát sinh sản lượng tài nguyên khai thác, nhưng không phát sinh doanh thu bán tài nguyên thì giá tính thuế đơn vị tài nguyên được xác định theo giá tính thuế đơn vị tài nguyên bình quân gia quyền của tháng trước liền kề, nhưng nếu tính thuế bình quân gia quyền của tháng trước liền kề thấp hơn giá tính thuế tài nguyên do UBND cấp tỉnh quy định thì tính thuế tài nguyên theo giá UBND cấp tỉnh quy định
Trường hợp tài nguyên khai thác có chứa nhiều chất khác nhau thì giá tính thuế xác định theo giá bán đơn vị của từng chất và hàm lượng của từng chất trong tài nguyên khai thác, nhưng không thấp hơn giá tính thuế do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy định
Trường hợp tài nguyên khai thác đưa vào chế biến, sản xuất sản phẩm và thu được sản phẩm tài nguyên đồng hành thì áp dụng giá tính thuế đơn vị tài nguyên theo giá UBND tỉnh quy định
- Giá tính thuế
Giá tính thuế: Giá tính thuế tài nguyên là căn cứ đặc biệt quan trọng để xác định số thuế phải nộp, ngoài ra còn thể hiện bản chất đặc trưng công tác quản lý thuế tài nguyên của nước ta hiện nay là giá tính thuế được căn cứ vào giá thị trường, nên phụ thuộc vào quan hệ cung cầu của thị trường Có nghĩa là số thuế tài nguyên thu được tăng hay giảm phụ thuộc chặt chẽ vào giá bán của loại tài nguyên đó trên thị trường được người mua chấp nhận thanh toán Vì vậy, công tác quản lý thuế cũng phải áp dụng một cách linh hoạt theo sự biến động của thị trường trong từng thời kỳ để xác định đúng giá tính thuế Giá tính thuế tài nguyên là giá bán của một đơn vị tài nguyên tại nơi khai thác, theo nguyên tắc giá thị trường, không bao gồm thuế giá trị gia tăng
Trang 22- Thuế suất
Bảng 1.1: Thuế suất thuế tài nguyên năm 2010
12 Cô-ban (coban), mô-lip-đen (molipden), thuỷ ngân, ma-nhê
(magie), va-na-đi (vanadi)
10
1 Đất khai thác để san lấp, xây dựng công trình 4
Trang 239 Đô-lô-mít (dolomite), quắc-zít (quartzite) 12
11 Mi-ca (mica), thạch anh kỹ thuật 10
12 Pi-rít (pirite), phốt-pho-rít (phosphorite) 7
13 A-pa-tít (apatit), séc-păng-tin (secpentin) 3
14 Than an-tra-xít (antraxit) hầm lò 5
15 Than an-tra-xít (antraxit) lộ thiên 7
18 Kim cương, ru-bi (rubi), sa-phia (sapphire) 22
19 E-mô-rốt (emerald), a-lếch-xan-đờ-rít (alexandrite), ô-pan (opan)
quý màu đen
20
20 A-dít, rô-đô-lít (rodolite), py-rốp (pyrope), bê-rin (berin),
sờ-pi-nen (spisờ-pi-nen), tô-paz (topaz)
15
21
Thạch anh tinh thể màu tím xanh, vàng lục, da cam; cờ-ri-ô-lít
(cryolite); ô-pan (opan) quý màu trắng, đỏ lửa; phen-sờ-phát
(fenspat); birusa; nê-phờ-rít (nefrite)
15
(Nguồn: Theo Nghị quyết số 928/2010/UBTVQH12 ngày 19/04/2010 của
Uỷ Ban thường vụ Quốc Hội)
Thuế suất thuế tài nguyên: Thuế suất thuế tài nguyên là căn cứ rất quan trọng,
thể hiện quyền quản lý, điều tiết của Nhà nước đối với tài nguyên quốc gia, là tỷ lệ huy động của Nhà nước đối với người khai thác tài nguyên, đảm bảo thực hiện mục tiêu quản lý các nguồn tài nguyên, tạo lập nguồn tài chính duy trì, nuôi dưỡng, tái tạo, phát triển các nguồn tài nguyên đảm bảo cho sự phát triển của nền kinh tế một cách ổn định, bền vững
Nhà nước căn cứ vào yêu cầu quản lý Nhà nước, căn cứ tính chất, đặc điểm, giá trị sử dụng, mục đích sử dụng của loại tài nguyên, nhu cầu, tập quán sinh sống
Trang 24của dân cư để quy định các mức thuế suất thuế tài nguyên phù hợp, đảm bảo đời sống kinh tế xã hội ổn định và phát triển
Thuế suất thuế tài nguyên đối với từng loại tài nguyên quy định tại Biểu thuế suất thuế tài nguyên ban hành kèm theo Nghị quyết 928/2010/UBTVQH12 ngày 19/04/2010 của Uỷ Ban thường vụ Quốc hội
- Mức thu phí
Theo quy định tại Thông tư số 67/2008/TT- BTC ngày 21/7/2008 của Bộ Tài
chính Phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản phải nộp trong kỳ nộp
phí được tính như sau:
Phí bảo vệ môi trường đối
với khai thác khoáng sản
phải nộp trong kỳ (đồng)
=
Số lượng từng loại khoáng sản khai thác (tấn hoặc m3)
x Mức thu tương ứng (đồng/tấn hoặc m3)
Số lượng khoáng sản khai thác để xác định số phí bảo vệ môi trường phải nộp là số lượng khoáng sản nguyên khai khai thác thực tế trong kỳ nộp phí, không phân biệt mục đích khai thác (để bán ngay, đem trao đổi, tiêu dùng nội bộ, dự trữ đưa vào sản xuất tiếp theo ) và công nghệ khai thác (thủ công, cơ giới) hoặc vùng, miền, điều kiện khai thác (vùng núi, trung du, đồng bằng, điều kiện khai thác khó khăn, phức tạp ) Trường hợp khoáng sản khai thác phải qua sàng tuyển, chế biến trước khi bán ra, căn cứ điều kiện thực tế khai thác và công nghệ chế biến khoáng sản trên địa bàn để quy định tỷ lệ quy đổi từ số lượng khoáng sản thành phẩm tiêu thụ ra số lượng khoáng sản nguyên khai làm căn cứ tính phí bảo vệ môi trường đối với từng loại khoáng sản cho phù hợp
Mức thu phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản do HĐND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định cụ thể mức thu phí bảo vệ môi trường đối với từng loại khoáng sản khai thác cho phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương nhưng không vượt quá mức thu tối đa được quy định tại Điều 4 Nghị định 63/2008/NĐ-CP ngày 15/3/2008 của Chính phủ Phí BVMT đối với khai thác khoáng sản được thu bằng đồng Việt Nam Trường hợp đối tượng nộp phí đề nghị
Trang 25nộp bằng ngoại tệ thì được thu bằng ngoại tệ trên cơ sở quy đổi ngoại tệ ra đồng Việt Nam theo tỷ giá trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng do Ngân hàng nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm thu phí
- Thất thu thuế, phí
Thất thu thuế được hiểu là hiện tượng trong đó những khoản tiền từ các cá nhân, tổ chức có tiến hành các hoạt động sản xuất, kinh doanh hay có những điều kiện cơ sở vật chất nhất định so với khả năng của họ cần phải động viên vào NSNN, song vì những lý do xuất phát từ phía nhà nước hay người nộp thuế mà những khoản tiền đó không được nộp vào NSNN
Như vậy có thể hiểu thất thu thuế có hai hình thức đó là:
- Thất thu thuế thực: Được hiểu là những khoản tiền phải thu vào NSNN đã được quy đinh trong luật nhưng thực tế vì lý do nào đó không được nộp vào NSNN
- Thất thu thuế tiềm năng: Được hiểu là những khoản tiền thuộc khả năng tiềm tàng trong nền kinh tế đáng lẽ phải được khai thác động viên vào NSNN nhưng không được quy định trong các luật thuế
d Khái niệm về quản lý nhà nước và hiệu lực quản lý thuế và phí
- Khái niệm về quản lý
+ Theo Từ điển tiếng Viê ̣t, quản lý là “Tổ chức và điều khiển các hoa ̣t đô ̣ng theo những yêu cầu nhất đi ̣nh”
+ Theo các tác giả Giáo trình Khoa ho ̣c quản lý của Ho ̣c viê ̣n Chính tri ̣ Quốc gia thì “Quản lý là các hoa ̣t đô ̣ng do mô ̣t hoă ̣c nhiều người điều phối hành đô ̣ng của những người khác nhằm thu được kết quả mong muốn”
+ Là một phạm trù gắn liền với sự xuất hiện của Nhà nước, quản lý nhà nước ra đời với tính chất là loại hoạt động quản lý xã hội Quản lý nhà nước, hiểu theo nghĩa rộng, được thực hiện bởi tất cả các cơ quan nhà nước Theo nghĩa hẹp, quản lý nhà nước là hoạt động chấp hành và điều hành được đặc trưng bởi các yếu
tố có tính tổ chức; được thực hiện trên cơ sở và để thi hành pháp luật; được bảo đảm thực hiện chủ yếu bởi hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước (hoặc một số tổ chức xã hội trong trường hợp được giao nhiệm vụ quản lý nhà nước) Quản lý nhà
Trang 26nước cũng là sản phẩm của việc phân công lao động nhằm liên kết và phối hợp các đối tượng bị quản lý
- Quản lý thuế và phí
Quản lý thuế là mô ̣t lĩnh vực quản lý chuyên ngành thuô ̣c quản lý hành chính Nhà nước Quản lý hành chính là sự tác đô ̣ng của cơ quan hành chính Nhà nước và con người hoă ̣c các mối quan hê ̣ xã hô ̣i để đa ̣t được các mu ̣c tiêu của Chính phủ Tiếp câ ̣n dưới góc đô ̣ thực thi quyền lực Nhà nước thì quản lý hành chính là thực thi quyền hành pháp của Nhà nước Tiếp câ ̣n dưới góc đô ̣ công viê ̣c cu ̣ thể thì quản lý
hành chính là điều chỉnh hành vi con người, hành vi xã hô ̣i và tổ chức thi hành pháp luật đã ban hành
Tổng cục Thuế Latvia cho rằng “Tax administration is a set of interrelated processes with the purose of ensuring a complete, timely and fair collection of revenus from taxes and duties pursuant to the tax law compristing recording of taxpayers, accounting for tax revenue, claiming of outstamding tax payments and oprivision of advice to taxpayers” Nghĩa là “Quản lý thuế là mô ̣t hê ̣ thống những quá trình có quan hê ̣ chă ̣t chẽ với nhau nhằm mu ̣c tiêu đảm bảo thu thuế đúng, đủ và công bằng trên cơ sở quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t thuế, bao gồm các hoa ̣t đô ̣ng thu nhâ ̣n
hồ sơ khai thuế, tính toán số thuế phải nô ̣p, đôn đốc thu nô ̣p thuế và cung cấp di ̣ch
vụ tư vấn cho NNT”
Từ những cách hiểu như trên về quản lý hành chính thì quản lý thuế có thể được hiểu là viê ̣c tô chức thực thi pháp luâ ̣t thuế của Nhà nước, tức là, quản lý thuế được hiểu là hoa ̣t đô ̣ng tác đô ̣ng và điều hành ho ̣at đô ̣ng đóng thuế của người nô ̣p thuế
Hoạt đô ̣ng tác đô ̣ng nói trên của Nhà nước được hiểu dưới ba góc đô ̣ sau: (i)
Là quá trình vâ ̣n du ̣ng bản chất, chức năng của thuế để ha ̣ch đi ̣nh chính sách, bao
gồ m cả chính sách điều tiết qua thuế và chính sách quản lý; (ii) Là quá trình xây
dựng tổ chức bô ̣ máy ngành Thuế và đào ta ̣o nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu quản
lý thuế; (iii) Là viê ̣c vâ ̣n du ̣ng các phương pháp thích hợp tác đô ̣ng đến quá trình thực hiê ̣n nghĩa vu ̣ thuế của NNT phù hợp với quy luâ ̣t khách quan, bao gồm các
Trang 27hoạt đô ̣ng tuyên truyền, hướng dẫn, hỗ trợ, thanh tra, kiểm tra thuế Đây chính là
cách hiểu về quản lý thuế theo nghĩa rô ̣ng Theo đó, quản lý thuế bao gồm cả hoa ̣t
đô ̣ng xây dựng chính sách thuế, ban hành pháp luâ ̣t thuế và hoa ̣t đô ̣ng tổ chức hành thu
Khái niê ̣m quản lý thuế nêu trên cho thấy quản lý thuế bao gồm các khía
cạnh chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, chủ thể của quản lý thuế là Nhà nước, bao gồm cơ quan lâ ̣p pháp
vớ i vai trò là người nghiên cứu, xây dựng hê ̣ thống pháp luâ ̣t thuế; cơ quan hành pháp với tư cách là người điều hành trực tiếp công tác thu và nô ̣p thuế; hê ̣ thống các
cơ quan chuyên môn giúp cho cơ quan hành pháp (cơ quan thuế, cơ quan hải quan) thay mặt cho Nhà nước tổ chức và thực hiê ̣n thu thuế
Thứ hai, đối tượng quản lý thuế là các tổ chức và cá nhân có nghĩa vụ nô ̣p thuế vào NSNN (người nô ̣p thuế)
Thứ ba, mu ̣c tiêu của quản lý thuế là huy đô ̣ng nguồn lực tài chính từ các tổ chứ c và cá nhân trong xã hô ̣i cho Nhà nước thông qua viê ̣c ban hành và tổ chức thi
hành pháp luâ ̣t thuế
Thứ tư, quản lý thuế là mô ̣t hê ̣ thống nhất giữa các cơ quan quản lý Nhà nước với nhau và giữa xây dựng chính sách thuế với tổ chức hành thu Thứ năm, quá trình tác đô ̣ng, điều hành thu thuế gắn với quá trình thực hiê ̣n
các chức năng quản lý của Nhà nước và quá trình này phải tuan thủ các quy luâ ̣t khách quan
- Hiệu lực, hiệu quả của nền hành chính nhà nước
+ Hiệu lực của nền hành chính nhà nước là sự thực hiện đúng, kịp thời, có kết quả chức năng, nhiệm vụ được giao và tuân thủ pháp luật của bộ máy hành chính nhằm đạt được các mục tiêu đề ra Ở khía cạnh thực tiễn, hiệu lực của nền hành chính còn biểu hiện ở sự nghiêm túc, khẩn trương, triệt để của tổ chức và công dân trong việc thực thi chính sách, pháp luật của Nhà nước trên phạm vi toàn xã hội
Hiệu lực của nền hành chính nhà nước phụ thuộc vào các yếu tố sau:
Trang 28Thứ nhất, năng lực, chất lượng của nền hành chính (tổng hợp các yếu tố thể
chế, tổ chức bộ máy, đội ngũ công chức)
Thứ hai, sự ủng hộ của nhân dân, sự tin tưởng của dân càng lớn thì kết quả
hoạt động quản lý của bộ máy hành chính càng cao
Thứ ba, đặc điểm tổ chức, vận hành của hệ thống chính trị Hiệu lực quản lý
của bộ máy hành chính phụ thuộc vào nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng,
sự phân công rành mạch giữa các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp
+ Hiệu quả của nền hành chính nhà nước là kết quả quản lý đạt được của bộ máy hành chính trong sự tương quan với mức độ chi phí các nguồn lực, trong mối quan hệ giữa hiệu quả kinh tế với hiệu quả xã hội Hiệu quả của nền hành chính được thể hiện trên các phương diện sau:
++ Đạt mục tiêu quản lý hành chính tối đa với mức độ chi phí các nguồn lực nhất định
++ Đạt mục tiêu nhất định với mức độ chi phí các nguồn lực tối thiểu
++ Đạt được mục tiêu không chỉ trong quan hệ với chi phí nguồn lực (tài chính, nhân lực ) mà còn trong quan hệ với hiệu quả xã hội
+ Quan hệ giữa năng lực, hiệu lực, hiệu quả của nền hành chính
- Hiệu lực quản lý thuế, phí
Hiệu lực quản lý thuế, phí cũng chính là hiệu lực quản lý hành chính nhà nước trong việc tổ chức thực thi các chính sách pháp luật thuế, phí nhằm thu đúng, thu đủ, thu kịp thời các khoản thuế, phí phát sinh vào ngân sách nhà nước
1.1.2 Nội dung cơ bản của Quản lý nhà nước đối với thuế tài nguyên, phí BVMT
a Nội dung của quản lý thuế tài nguyên và phí BVMT
Điều 3 Luật quản lý thuế quy định 8 nội dung quản lý thuế, được phân làm 3 nhóm như sau:
Nhóm 1- các thủ tục hành chính thuế, bảo đảm các điều kiện cho người nộp thuế thực hiện nghĩa vụ kê khai, nộp thuế đầy đủ, đúng hạn, bao gồm các nội dung: đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, ấn định thuế; thủ tục hoàn thuế, miễn giảm thuế, xóa nợ tiền thuế, tiền phạt
Trang 29Nhóm 2- giám sát việc tuân thủ luật thuế của cơ quan quản lý thuế đối với người nộp thuế, bao gồm các nội dung: quản lý thông tin về người nộp thuế, kiểm tra thuế, thanh tra thuế
Nhóm 3- Các chế tài bảo đảm các chính sách thuế được thực thi có hiệu lực, hiệu quả, bao gồm các nội dung: Cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế,
xử lý vi phạm pháp luật về thuế, giải quyết khiếu nại, tố cáo về thuế
Các nội dung chủ yếu của công tác quản lý thuế tài nguyên và phí BVMT:
- Xây dựng kế hoạch, dự toán thu thuế:
Dự toán thu NSNN hàng năm của địa phương được thực hiện theo Quyết định của Bộ Tài chính, Nghị quyết của HĐND các cấp Dự toán thu ngân sách địa phương, bao gồm các khoản thu ngân sách địa phương hưởng 100%, phần ngân sách địa phương được hưởng từ các khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm (%), thu bổ sung từ ngân sách cấp trên
HĐND các cấp căn cứ vào nhiệm vụ thu, chi ngân sách được cấp trên giao và tình hình thực tế tại địa phương, quyết định dự toán thu trên địa bàn
- Quản lý thu thuế:
hiện nghĩa vụ của mình đối với Nhà nước Quản lý tốt các đối tượng nộp thuế là yếu
tố quan trọng đầu tiên dẫn đến sự thành công trong việc áp dụng pháp luật thuế Ðể thực hiện tốt các công tác này đòi hỏi cơ quan thuế phải quản lý đầy đủ các đối tượng nộp thuế về số lượng, quy mô, cách thức tổ chức, phương tiện khai thác, địa bàn khai thác và loại tài nguyên khai thác, Công việc này được thực hiện thông qua việc đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế, cũng như kiểm tra tình hình thực tế hoạt động sản xuất kinh doanh của đối tượng nộp thuế
+ Quản lý nội dung căn cứ tính thuế: Ðây là công tác quan trọng liên quan đến việc xác định số thuế tài nguyên phải nộp của các đối tượng nộp thuế Quản lý nội dung căn cứ tính thuế bao gồm quản lý số lượng tài nguyên thương phẩm thực
tế khai thác trong kỳ tính thuế; quản lý, xác định đúng đắn giá tính thuế của từng
Trang 30loại tài nguyên; áp dụng thuế suất cho từng loại tài nguyên đúng theo quy định của biểu thuế hiện hành; Xác định chính xác số thuế tài nguyên phát sinh trong kỳ tính thuế đảm bảo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước cũng như quyền lợi và nghĩa vụ của các đối tượng nộp thuế
+ Quản lý công tác thu nộp thuế tài nguyên: Việc thu thuế tài nguyên được đầy đủ, chính xác, kịp thời là yêu cầu đặt ra cho công tác quản lý thu nộp thuế Công tác này đòi hỏi cơ quan Thuế phải có những biện pháp hữu hiệu để các đối tượng nộp thuế thực hiện nghĩa vụ nộp thuế tài nguyên vào ngân sách Nhà nước đầy
+ Xác định ưu điểm, tồn tại trong công tác quản lý thuế nhằm phát huy những mặt tích cực và chấn chỉnh các sai phạm
+ Góp phần đưa công tác quản lý thuế, quản lý nội bộ ngành Thuế theo đúng quy định của pháp luật
- Đánh giá, thực hiện chính sách thuế: khi triển khai thực hiện chính sách thuế, việc đánh giá chính sách thuế là nội dung quan trọng nhằm phát hiện, khắc phục những mặt hạn chế của chính sách thuế hiện hành liên quan đến tài nguyên; nâng cao hiệu lực của chính sách thuế tài nguyên hiện hành; khuyến khích địa phương tăng cường công tác quản lý và thu thuế tài nguyên; hạn chế hoạt động khai thác tràn lan, khai thác không phép; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý thuế
Ðể thực hiện tốt các nội dung công tác kể trên, đảm bảo thực hiện luật thuế tài nguyên đạt hiệu qủa cao nhất, yêu cầu cơ bản nhất là các cơ quan, tổ chức, cá
Trang 31nhân phải thực hiện tốt các chức năng, nhiệm vụ của mình theo đúng quy định của luật thuế tài nguyên, phí BVMT
b Các chỉ tiêu đánh giá hiệu lực quản lý thuế, phí
Hiện nay ở nước ta vẫn chưa xây dựng hệ thống các chỉ tiêu để đánh giá hiệu lực quản lý thuế, phí nói chung và thuế tài nguyên, phí BVMT nói riêng Việc đánh giá hiệu lực quản lý thuế, phớ không chỉ dựa trên số thu được bao nhiêu trong tổng
số thu hay tỷ trọng thu thuế trên tổng số thu mà còn phải đánh giá dựa trên các tiêu thức chất lượng như tác động của công tác thu thuế tới việc quản lý thuế trên địa bàn, tình trạng nợ thuế tốt hay xấu,… để đánh giá hiệu quả của nguồn thu đó Đối với thuế thuế thuế tài nguyên, phí BVMT, để đánh giá hiệu lực quản lý, có thể dựa trên một số chỉ tiêu sau:
- Tỷ lệ % Quản lý người nộp thuế
Người nộp thuế tài nguyên là tổ chức, cá nhân khai thác tài nguyên thuộc đối tượng chịu thuế tài nguyên theo bao gồm: Công ty Nhà nước, Công ty cổ phần, Công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh, Hợp tác xã, Doanh nghiệp tư nhân, Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hay Bên nước ngoài tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh, các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân khác, không phân biệt ngành nghề, quy mô, hình thức hoạt động, có khai thác tài nguyên thiên nhiên theo quy định của pháp luật Việt Nam là đối tượng nộp thuế tài nguyên theo quy định tại Điều 3 Luật Thuế tài nguyên
Người nộp phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản là các tổ chức, cá nhân khai thác các loại khoáng sản quy định tại Điều 2 Nghị định 74/2011/NĐ-CP
Tỷ lệ % Quản lý người nộp thuế được xác định trên cơ sở số NNT được quản lý/số thực tế Tỷ lệ này phản ánh phạm vi đối tượng nộp thuế tài nguyên, phí BVMT rộng hay hẹp Tỷ lệ này càng cao chứng tỏ hiệu quả, mức độ quản lý đối với NNT
- Tỷ lệ % hoàn thành kế hoạch thu NSNN
Tỷ lệ % hoàn thành kế hoạch thu NSNN hàng năm là chỉ tiêu xác định mức
độ hoàn thành dự toán thu được tính bằng số thực tế/số dự toán Đây là chỉ tiêu pháp lệnh đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ thu NSNN của cơ quan thuế
Trang 32- Tỷ lệ % tờ khai thuế, phí được kiểm tra tại trụ sở cơ quan Thuế
Khai thuế là việc người nộp thuế tự xác định số thuế phải nộp phát sinh trong
kỳ kê khai thuế theo quy định của từng luật thuế, phát luật thuế Người nộp thuế sử dụng hồ sơ khai thuế của từng loại thuế theo quy định của Luật quản lý thuế để kê khai số thuế phải nộp với cơ quan thuế và tự chịu trách nhiệm về tính chính xác của các số liệu trong hồ sơ khai thuế
Tỷ lệ % tờ khai thuế, phí được kiểm tra tại trụ sở cơ quan Thuế là chỉ tiêu đánh giá việc thực hiện các quy định của pháp luật, quy trình kiểm tra thuế của cơ quan thuế
- Tỷ lệ % hoàn thành kế hoạch thanh tra, kiểm tra thuế
Kế hoạch thanh tra, kiểm tra thuế hàng năm được lập và phê duyệt, giao cho từng đơn vị
+ Tổng cục Thuế phê duyệt kế hoạch thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp thuộc Văn phòng Cục Thuế quản lý
+ Cục Thuế phê duyệt kế hoạch kiểm tra tại trụ sở NNT doanh nghiệp thuộc Chi cục Thuế quản lý
Kế hoạch thanh tra hàng năm phải đạt tối thiểu 1.65%, nhiệm vụ kiểm tra tại trụ sở NNT phải đạt tối thiểu 13% (tính trên số doanh nghiệp đang hoạt động thuộc địa bàn quản lý thuế)
Tỷ lệ % hoàn thành kế hoạch thanh tra, kiểm tra được xác định bằng số cuộc thanh tra, kiểm tra thực tế thực hiện/số kế hoạch được giao năm kế hoạch
Trang 33- Tỷ lệ % số tờ khai nộp thuế, phí đúng hạn
+ Kê khai thuế: là việc người nộp thuế trình bày các số liệu, hồ sơ liên quan đến nghĩa vụ thuế của người nộp thuế cho cơ quan quản lý thuế Người nộp thuế phải khai chính xác, trung thực, đầy đủ các nội dung trong tờ khai thuế theo mẫu do Bộ Tài chính quy đ ịnh và nộp đủ các loại chứng từ, tài liệu quy định trong hồ sơ khai thuế với cơ quan quản lý thuế trực tiếp
+ Người khai thuế có trách nhiệm nộp đầy đủ, đúng hạn hồ sơ khai thuế cho cơ quan thuế quản lý trực tiếp
+ Tỷ lệ % số tờ khai thuế nộp đúng hạn được xác định là số tờ khai thực tế nộp đúng hạn/số tờ khai phải nộp Tỷ lệ này đánh giá hiệu lực quản lý thuế trong việc chấp hành kê khai thuế, nếu tỷ lệ càng cao thì hiệu quả quản lý cao và ngược lại
- Công tác tuyên truyền và Hỗ trợ NNT
Là việc cơ quan Thuế tổ chức thực hiện công tác tuyên truyền về chính sách, pháp luật thuế, hỗ trợ người nộp thuế trong phạm vi quản lý Cụ thể:
+ Xây dựng chương trình, kế hoạch và tổ chức thực hiện công tác tuyên truyền - hỗ trợ, phổ biến chính sách pháp luật về thuế cho người nộp thuế, người dân và các cơ quan, tổ chức khác trên địa bàn
+ Hỗ trợ người nộp thuế trong việc thực hiện chính sách, pháp luật thuế và các thủ tục hành chính thuế
+Tổng hợp các vướng mắc của người nộp thuế về chính sách thuế và các thủ tục về thuế; phối hợp với các đơn vị chức năng liên quan đề xuất, giải quyết hoặc trình cấp có thẩm quyền xem xét, giải quyết theo quy định
+ Tiếp nhận, hướng dẫn, giải đáp các vướng mắc về chính sách pháp luật thuế và giải quyết một số thủ tục hành chính thuế theo quy định
+ Cung cấp các thông tin cảnh báo và các thông tin hỗ trợ khác trên cơ sở hệ thống thông tin do ngành thuế quản lý cho người nộp thuế theo quy định của pháp luật và của ngành
+ Chủ trì, phối hợp với các tổ chức khác có liên quan trên địa bàn tổ chức hội nghị đối thoại với người nộp thuế
Trang 34C Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước đối với thu thuế tài nguyên, phí BVMT
- Nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật của Người nộp thuế: Đây là một yếu
tố quan trọng trong việc thực thi pháp luật thuế, phí của cơ quan thuế
Trong nền kinh tế thị trường, mục tiêu phấn đấu của các nhà kinh doanh là lợi nhuận tối đa Do vậy, họ luôn tìm cách để tăng lợi nhuận và giảm thiểu chi phí trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình Với việc cho rằng nộp thuế cho Nhà nước đã làm giảm đi quyền lợi vật chất mà lẽ ra họ được hưởng Cho nên vì lợi ích trước mắt và riêng của mình họ luôn có tư tưởng và hành động không tuân thủ pháp luật về thuế, tìm mọi cách để không phải nộp thuế hoặc nộp thuế với mức thấp nhất
so với nghĩa vụ phải nộp theo quy định trong các luật thuế Hiện nay nhiều cơ sở khai thác kinh doanh khoáng sản kê khai thiếu về số lượng các loại tài nguyên khoáng sản, việc áp giá tính thuế còn chưa đầy đủ
- Nhóm các yếu tố phản ánh cơ quan quản lý thuế:
+ Bộ máy tổ chức của cơ quan quản lý thuế chưa khoa học Nhiều bộ phận trong cơ quan quản lý thuế chưa đồng bộ, chỗ thiếu, chỗ thừa, v.v…;
+ Thủ tục thu thuế còn rườm rà, phức tạp;
+ Hệ thống sổ sách, chứng từ kế toán, chứng từ kê khai nộp thuế còn nhiều bất cập;
+ Nguồn nhân lực của cơ quan quản lý thuế tuy nhiều nhưng trình độ quản lý, năng lực chuyên môn còn hạn chế Đặc biệt, một số cán bộ bị tha hóa biến chất đã móc nối với đối tượng nộp thuế và tạo điều kiện để họ thực hiện hành vi trốn thuế
+ Cơ chế quản lý thu chưa đủ mạnh, sự chỉ đạo phối kết hợp giữa các cơ quan, giữa các ngành chưa được thường xuyên dẫn đến thất thu ngân sách nhà nước trong lĩnh vực khai thác khoáng sản, việc quản lý số lượng tài nguyên khai thác sẽ gặp rất nhiều khó khăn
- Chính sách pháp luật về thuế, phí
+ Hệ thống chính sách về thuế, phí BVMT thường xuyên sửa đổi, bổ sung gây hạn chế về nhận thức, trách nhiệm của người nộp thuế Quy trình quản lý và chế
Trang 35tài xử lý các vi phạm về chậm nộp thuế đối với các đối tượng ngoài tỉnh chưa rõ ràng, chặt chẽ;
+ Thất thu do trong chính sách chế độ còn nhiều kẽ hở, chưa bao quát được hết các nguồn thu, một số qui định chưa cụ thể, rõ ràng có thể hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau;
+ Thuế suất xác định phức tạp, chưa tính đúng, chưa tính đủ và thuế suất đối với một số loại tài nguyên là tương đối cao;
+ Miễn, giảm thuế tài nguyên trong một số trường hợp chưa phù hợp;
+ Một số chính sách thu hiện hành ảnh hưởng đến chính sách thuế tài nguyên, phí BVMT;
+ Chế tài về thuế chưa mạnh, đây là yếu tố ảnh hưởng đến việc chống thất thu thuế nói chung và thuế tài nguyên khoáng sản nói riêng;
Ngoài ra trong nền kinh tế thị trường hết sức sôi động, thay đổi từng giờ, từng phút, trong khi đó chính sách lại phụ thuộc hoàn toàn vào ý chí chủ quan của Nhà nước và tương đối ổn định Do vậy, luôn có sự lệch pha giữa chính sách thuế, phí và các hoạt động kinh tế
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Việc quản lý thuế tài nguyên, phí BVMT trong tỉnh và thị xã Tam Điệp hiện nay
Thực hiện chính sách thuế tài nguyên, những năm qua UBND tỉnh đã cấp
125 giấy phép cho 99 doanh nghiệp được khai thác tài nguyên khoáng sản trên địa bàn Trong đó trên địa bàn thị xã Tam Điệp là 37 giấy phép cho 29 doanh nghiệp khai thác Số thu từ thuế tài nguyên, phí bảo vệ môi trường của thị xã hàng năm đều tăng trưởng cao so với năm trước Đặc biệt những năm gần đây các nhà máy xi măng đi vào hoạt động thì số thu thuế tài nguyên năm 2011 tăng 97% so với năm
2010 Tuy vậy, theo đánh giá của UBND tỉnh, thời gian qua một số doanh nghiệp có khai thác tài nguyên nhưng không kê khai đầy đủ, nộp không kịp thời số thuế tài nguyên và phí bảo vệ môi trường phát sinh, dẫn đến thất thu cho ngân sách Nhà nước Nhằm quản lý, khai thác, sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên, đồng thời chấp
Trang 36hành tốt chính sách thuế tài nguyên, UBND tỉnh yêu cầu: Cục Thuế tỉnh chịu trách nhiệm chỉ đạo và tổ chức thực hiện thu các loại thuế, phí theo quy định của pháp luật; kiểm soát chặt chẽ việc kê khai, khấu trừ thuế, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, đôn đốc thu thuế nợ đọng Chủ trì, phối hợp với các sở, ngành, UBND các huyện, thành phố, thị xã tổ chức triển khai thực hiện đề án, định kỳ hàng quý tổng hợp kết quả thực hiện báo cáo UBND tỉnh
Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Xây dựng, Sở Tài chính và UBND các huyện, thành phố, thị xã phối hợp chặt chẽ với ngành Thuế thực hiện nghiêm Quyết định số 202/QĐ-UBND ngày 24-3-2011 của UBND tỉnh phê duyệt đề án tăng cường công tác quản lý, chống thất thu thuế trong lĩnh vực xây dựng cơ bản và khai thác tài nguyên khoáng sản trên địa bàn
Chủ đầu tư, Ban quản lý dự án có trách nhiệm cung cấp cho cơ quan thuế số liệu về khối lượng, chủng loại tài nguyên, khoáng sản sử dụng cho dự án đầu tư theo dự toán được duyệt để cơ quan thuế theo dõi, quản lý thuế Đối với các dự án
có sử dụng tài nguyên khoáng sản, sau khi nhận và thẩm định hồ sơ đề nghị nghiệm thu thanh toán vốn của nhà thầu, chủ đầu tư, Ban quản lý dự án lập và gửi cho cơ quan thuế phiếu xác nhận thông tin về thuế, phí (theo mẫu do cơ quan thuế cung cấp); cơ quan thuế đối chiếu với hồ sơ khai thuế, phí của doanh nghiệp để thông báo lại cho chủ đầu tư, Ban quản lý dự án Chủ đầu tư, Ban quản lý dự án chỉ ký xác nhận hồ sơ đã nghiệm thu thanh toán vốn khi cơ quan thuế xác nhận đơn vị đã kê khai đầy đủ thuế tài nguyên, phí bảo vệ môi trường
Kho bạc Nhà nước, các ngân hàng, các tổ chức tín dụng chỉ giải ngân, thanh toán vốn cho các dự án có sử dụng tài nguyên khoáng sản khi trong hồ sơ có xác nhận của cơ quan thuế về việc đơn vị đã kê khai đầy đủ thuế tài nguyên, phí bảo vệ môi trường theo khối lượng tài nguyên khoáng sản trong hồ sơ đề nghị thanh toán
để nộp ngân sách Nhà nước trước khi giải ngân, thanh toán vốn, đồng thời thông báo cho Cục Thuế để tổng hợp báo cáo UBND tỉnh
Cục Thuế tỉnh hướng dẫn cụ thể việc tính toán xác định số thuế tài nguyên, phí bảo vệ môi trường phải nộp đối với các trường hợp trên Các tổ chức, cá nhân
Trang 37khi thu mua tài nguyên khoáng sản để sản xuất, kinh doanh phải có hóa đơn của người bán Nếu không có hóa đơn thì người mua chịu trách nhiệm kê khai, nộp thay thuế tài nguyên, phí bảo vệ môi trường
+ Các văn bản chỉ đạo của UBND tỉnh Ninh Bình, Cục Thuế tỉnh Ninh Bình, UBND thị xã Tam Điệp, Chi cục Thuế thị xã Tam Điệp theo từng thời điểm
- Văn bản về chính sách:
+ Luật thuế tài nguyên số 45/2009/QH12 ngày 25/11/2009 (có hiệu lực từ 01/7/2010); Nghị định số 50/2010/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2010 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Luật Thuế tài nguyên; Thông tư
số 105/2010/TT-BTC ngày 23/7/2010 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế tài nguyên và hướng dẫn thi hành Nghị định số 50/2010/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2010 của Chính phủ
+ Quyết định số 1689/QĐ-UBND ngày 16/9/2008; Quyết định số UBND ngày 23/3/2011; Quyết định số 10/2012/QĐ-UBND ngày 20/4/2012 của UBND tỉnh Ninh Bình quy định về giá tính thuế tài nguyên trên địa bàn tỉnh
192/QĐ-+ Nghị định số 63/2008/NĐ-CP ngày 13/5/2008 của Chính phủ về phí BVMT đối với khai thác khoáng sản; Thông tư số 67/2008/TT-BTC ngày 21/7/2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 63/2008/NĐ-CP ngày
Trang 3813/5/2008 của Chính phủ về phí BVMT đối với khai thác khoáng sản; Nghị định số 74/2011/NĐ-CP ngày 25/8/2011 của Chính phủ về phí BVMT đối với khai thác khoáng sản; Thông tư số 158/2011/TT-BTC ngày 16/11/2011 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 74/2011/NĐ-CP ngày 25/8/2011 của Chính phủ
về phí BVMT đối với khai thác khoáng sản Nghị quyết số 22/2011/NQ-HĐND ngày 15/12/2011 của Hội đồng nhân dân tỉnh Ninh Bình quy định danh mục về mức thu và quản lý, sử dụng các khoản phí, lệ phí trên địa bàn tỉnh Ninh Bình Quyết định số 226/QĐ-UBND ngày 05/4/2012 của UBND tỉnh Ninh Bình phê duyệt hệ số quy đổi đối với khoáng sản nguyên khai và sản phẩm đá xây dựng từ “m3” ra “tấn”
để làm căn cứ tính phí BVMT đối với khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh Ninh Bình Công văn số 1784/BXD-VP ngày 16/8/2007 của Bộ Xây dựng về việc công
bố Định mức vật tư trong xây dựng
1.2.3 Kinh nghiệm quản lý thuế, phí:
Kinh nghiệm của địa phương một số tỉnh về quản lý thuế tài nguyên, phí BVMT
* Tại tỉnh Nghệ An
Thu thuế trong lĩnh vực thuê đất, tài nguyên và phí bảo vệ môi trường trong khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh luôn là lĩnh vực gặp nhiều khó khăn, phức tạp Theo số liệu thống kê năm 2010 của Sở Tài nguyên & Môi trường, toàn tỉnh hiện có trên 330 đơn vị khai thác đất, đá, cát, sỏi, trong đó có 57 doanh nghiệp nhà nước,
261 doanh nghiệp thuộc lĩnh vực kinh tế dân doanh, 16 hợp tác xã, 12 đơn vị được
Bộ tài nguyên môi trường cấp giấy phép khai thác, 281 đơn vị được UBND tỉnh cấp giấy phép hoạt động còn hiệu lực
Thời gian qua, mặc dù UBND tỉnh đã chỉ đạo các ngành, các cấp tăng cường công tác quản lý, ngăn chặn tình trạng khai thác trái phép, trốn thuế, phá huỷ môi trường nhưng việc quản lý thu thuế tài nguyên, phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản hiện nay chỉ thực hiện được đối với các cơ sở có địa điểm cố định
Theo số liệu qua một đợt kiểm tra của phòng cảnh sát giao thông đường thuỷ, trong số 55 điểm bến bãi khai thác đá nguyên liệu đến nay chỉ có 05 đơn vị
Trang 39được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy khai thác mỏ Các bến còn lại chủ yếu do chính quyền phường, xã hợp đồng cho thuê bến, bãi và hàng tháng, quí hoặc năm tiến hành thu một khoản phí "lệ làng" Ngoài việc thất thu thế tài nguyên, phí bảo vệ môi trường còn thất thu thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp (Ước tính giá trị lượng tài nguyên khai thác phục vụ cho các công trình xây dựng gần 500
tỷ đồng/năm)
Trước thực trạng trên, Cục Thuế Nghệ An đã xây dựng Đề án và tham mưu cho UBND tỉnh ban hành các qui định chặt chẽ về "quản lý thu thuế tài nguyên, phí bảo vệ môi trường đối với hoạt động khai thác và thu mua tài nguyên khoáng sản trên địa bàn" Trọng tâm là tăng cường tính tự giác, gắn trách nhiệm có tính bắt buộc về thuế đối với các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân khi khai thác, mua bán khoáng sản
Giải pháp đầu tiên được đưa ra là tiến hành khảo sát tình hình khai thác, thu mua tài nguyên khoáng sản trên địa bàn Từ đó, có văn bản đề nghị các tổ chức, cá nhân có hoạt động khai thác tài nguyên khoáng sản trên địa bàn phải kê khai, nộp thuế tài nguyên, phí bảo vệ môi trường đối với hoạt động khai thác khoáng sản theo quy định
Các tổ chức, cá nhân khi thu mua tài nguyên khoáng sản để sản xuất, kinh doanh phải có hoá đơn của người bán Trường hợp không có hoá đơn thì người mua phải có trách nhiệm kê khai, nộp thay thuế tài nguyên, phí bảo vệ môi trường cho người khai thác đối với lượng tài nguyên mua vào không có hoá đơn Song song với
đó, tỉnh thành lập các đoàn kiểm tra liên ngành gồm Cục Thuế, Sở Tài nguyên Môi trường, Công an và Quản lý thị trường để kiểm tra việc vận chuyển tài nguyên, khoáng sản trên địa bàn
Việc thực hiện các giải pháp trên đã góp phần nâng cao tính tự giác và gắn trách nhiệm có tính bắt buộc trong khai thuế tài nguyên và phí bảo vệ môi trường đối với các doanh nghiệp, hộ cá nhân khi khai thác, khi mua bán tài nguyên khoáng sản
Nhờ đó, thu thuế tài nguyên và phí bảo vệ môi trường đối với hoạt động khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh Nghệ An 6 tháng đầu năm 2009 tăng 18 tỷ đồng, 9
Trang 40tháng năm 2010 tăng 25 tỷ đồng, đến cuối tháng 4/2011 đạt 48 tỷ đồng, tăng lên 30
tỷ đồng, dự kiến các năm tiếp theo trung bình sẽ tăng khoảng 35-40 tỷ đồng
* Tại tỉnh Hải Dương
Thu thuế trong lĩnh vực thuê đất, tài nguyên và phí bảo vệ môi trường trong khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh Hải Dương luôn là lĩnh vực gặp nhiều khó khăn, phức tạp Vì đối tượng phải nộp thuế lĩnh vực này luôn tìm cách trốn tránh, đối phó các cơ quan chức năng Hải Dương có các nguồn tài nguyên, khoáng sản như đất đai, đá vôi, đất sét, cát Tuy nhiên, việc đưa vào quản lý và khai thác nguồn tài nguyên, khoáng sản này còn nhiều hạn chế Theo phản ánh của nhân dân, tình trạng khai thác trái phép cát, đất sét trắng, than trên địa bàn tỉnh diễn ra trong nhiều năm, nhưng việc kiểm soát, ngăn chặn còn chưa kịp thời Hiện nhu cầu cát tại Hải Dương đáp ứng việc thi công đường cao tốc Hà Nội-Hải Phòng, san lấp mặt bằng các dự án khác rất cao Theo báo cáo của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Hải Dương, tình trạng khai thác cát trái phép tập trung tại các xã Liên Hòa, Bình Dân, Việt Hưng (Kim Thành), Hồng Phong, Văn Giang (Ninh Giang), Đại Đồng (Tứ Kỳ), An Lạc, Đồng Lạc (Chí Linh), Trùng Khánh (Gia Lộc), phường Ngọc Châu (TP Hải Dương) Khối lượng cát khai thác trái phép được tập kết tại 146 bến bãi; trong đó, chỉ có 58 bến bãi có giấy phép Mỗi năm các điểm khai thác cát trái phép cung ứng cho thị trường gần 200.000 m3 cát
Lợi dụng vào nguồn tài nguyên khai thác trái phép này, nhiều "doanh nghiệp ma" được thành lập Các doanh nghiệp này sử dụng hóa đơn giá trị gia tăng (GTGT)
để hợp pháp hóa "đầu vào" cho các doanh nghiệp từ địa phương khác Các "doanh nghiệp ma" này được thành lập thông qua một đường dây từ TP Hải Phòng, với thủ đoạn lợi dụng sự nhẹ dạ, cả tin của một số người dân thiếu hiểu biết như thuê nông dân ở một số huyện Kim Thành, Chí Linh làm "giám đốc" để đến cơ quan chức năng của tỉnh làm thủ tục đăng ký kinh doanh, mã số thuế, con dấu Trước thực trạng này, ngày 15-9-2008, UBND tỉnh Hải Dương phê duyệt đề án "Tăng cường quản lý, chống thất thu thuế trong lĩnh vực thuê đất, thu thuế tài nguyên và phí bảo
vệ môi trường trong khai thác khoáng sản" Theo đó, từ tỉnh đến các huyện, ban chỉ