b Khái niệm về chuyển dịch cơ cấu lao động Chuyển dịch CCLĐ là sự thay đổi qua thời gian về tỷ trọng của từng bộ phận trong tổng số lao động theo một không gian, thời gian nào đó và diễ
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA CHUYỂN DỊCH CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU LAO ĐỘNG
Cơ sở lý luận về chuyển dịch cơ cấu lao động
1.1.1 Một số khái niệm, nội dung, định hướng chuyển dịch CCLĐ theo hướng CNH-HĐH
1.1.1.1 Khái niệm về lao động, thị trường lao động a) Khái niệm lao động
Có rất nhiều khái niệm khác nhau về lao động, Ănghen nhận định “Lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống loài người và như thế đến một mức mà trên một ý nghĩa nào đó chúng ta phải nói đến lao động đã sáng tạo ra bản thân con người”
Theo Mác: “Lao động trước hết là một quá trình diễn ra đối với con người và tự nhiên, một quá trình trong đó bằng hoạt động của mình con người làm trung gian điều tiết và kiểm tra sự trao đổi chất giữa họ với tự nhiên”
Chủ tịch Hồ Chí Minh coi lao động là vinh quang, Người cho rằng chức năng lao động sản xuất là chức năng để đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của một cấu trúc xã hội (trong đó, người lao động được đặt ở vị trí trung tâm Đây chính là nguồn lực quan trọng nhất quyết định cho yêu cầu của sản xuất)
Như vậy, lao động là hoạt động quan trọng tạo ra của cải vật chất và các giá trị tinh thần của xã hội Lao động có năng suất, chất lượng và hiệu quả cao là nhân tố quyết định sự phát triển của đất nước
Nguồn lao động: Là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động theo quy định của pháp luật có khả năng lao động, có nguyện vọng tham gia lao động và những người ngoài độ tuổi lao động làm việc
Việc quy định về độ tuổi lao động là khác nhau ở các nước, thậm chí khác nhau ở các giai đoạn phát triển của mỗi nước Theo Điều 145 Bộ Luật Lao động ngày 23 tháng 6 năm 1994 và điều 50 khoản 1 điểm a luật Bảo hiểm xã hội quy định về độ tuổi lao động: Nam từ 15 đến 60; Nữ từ 15 đến 55 tuổi Điều 6 Luật Lao động quy định người lao động là người ít nhất đủ 15 tuổi, có khả năng lao động và có ký kết hợp đồng lao động
Lao động đang làm việc: Là những người đang có việc làm để tạo ra thu nhập, thời gian làm việc chiếm nhiều thời gian nhất trong các công việc mà người đó tham gia Lao động đang làm việc bao gồm cả lao động trong độ tuổi và những người ngoài độ tuổi đang tham gia lao động
Lao động trong độ tuổi: Là những lao động trong độ tuổi theo quy định có nghĩa vụ và quyền lợi đem sức lao động của mình làm việc cho xã hội Theo Điều 145 Bộ Luật Lao động ngày 23 tháng 6 năm 1994 và điều 50 khoản 1 điểm a luật Bảo hiểm xã hội quy định về độ tuổi lao động, thì độ tuổi lao động tính từ 15 đến hết 60 tuổi đối với nam và từ 15 đến hết 55 tuổi đối với nữ
Lao động ngoài độ tuổi: Là những lao động chưa đến hoặc quá tuổi lao động quy định, bao gồm nam trên 60 tuổi; nữ trên 55 tuổi; thiếu niên dưới 15 tuổi b) Khái niệm thị trường lao động
Có rất nhiều quan điểm khác nhau về thị trường lao động, nhưng tựu chung lại thị trường lao động là nơi gặp gỡ, trao đổi, mua bán sức lao động giữa người có nhu cầu mua và người có nhu cầu bán, dựa trên môi trường kinh tế - xã hội và môi trường pháp lý hiện hành của từng quốc gia
Việt Nam là quốc gia có xuất phát điểm từ một nước nông nghiệp lạc hậu, lao động nông nghiệp, nông thôn chiếm tỷ trọng lớn Thị trường lao động nông nghiệp, nông thôn nước ta có nhu cầu lao động không nhiều, đặc điểm của thị trường lao động là thị trường cung ứng lao động là chính Số lượng lao động cung ứng trên thị trường chủ yếu là lao động phổ thông, chưa qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật Thị trường lao động nông thôn nước ta có sự phân bố và phát triển không đồng đều giữa các vùng, phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, sự phân bố dân cư, sự phân bố và phát triển của hoạt động công nghiệp, hoạt động dịch vụ… Giá cả sức lao động hay tiền công, tiền lương của lao động nông nghiệp, nông thôn ở nước ta tương đối thấp và tính ổn định chưa cao
1.1.1.2 Khái niệm về cơ cấu lao động, chuyển dịch cơ cấu lao động a) Khái niệm về cơ cấu lao động
Cơ cấu lao động là một phạm trù kinh tế, thể hiện tỷ trọng của từng yếu tố lao động theo các tiêu thức khác nhau trong tổng thể hoặc tỷ lệ của từng yếu tố so với một yếu tố khác được tính bằng phần trăm Cơ cấu lao động mang những đặc tính như sau:
- Tính khách quan: CCLĐ bắt nguồn từ dân số và cơ cấu kinh tế, quá trình vận động của dân số và cơ cấu kinh tế có tính khách quan vì thế nó quy định tính khách quan của CCLĐ
- Tính lịch sử: Quá trình phát triển của loài người là quá trình phát triển của các phương thức sản xuất, mỗi phương thức sản xuất có một cơ cấu kinh tế đặc trưng nên cơ cấu kinh tế có tính lịch sử Vì vậy cơ cấu lao động cũng mang tính lịch sử
- Tính xã hội: CCLĐ phản ánh sự phân công lao động xã hội, quá trình phân công lao động xã hội thể hiện trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, thể hiện quá trình phát triển của con người Mỗi hình thức phân công lao động sẽ tạo nên một CCLĐ mới Xét trên phương diện sản xuất, CCLĐ không những phản ánh các giai tầng của xã hội trong nền sản xuất mà còn phản ánh các hoạt động kinh tế của các giai tầng xã hội trong mỗi giai đoạn phát triển
Vì vậy cơ cấu lao động mang tính xã hội
Thì tùy theo các giác độ nghiên cứu người ta có thể phân loại cơ cấu lao động như nhau:
+ CCLĐ theo thành thị, nông thôn: Thể hiện tỷ trọng lao động ở khu vực thành thị và lao động ở khu vực nông thôn trong tổng số lao động
+ CCLĐ chia theo giới tính, độ tuổi: Cho biết tỷ trọng lao động theo giới tính hoặc độ tuổi trong tổng số lao động
+ CCLĐ chia theo vùng kinh tế: Cho biết tỷ trọng của lao động tại các vùng kinh tế trong tổng số lao động cả nước
Kinh nghiệm chuyển dịch CCLĐ ở một số nước trên thế giới và tình hình chuyển dịch CCLĐ nước ta
1.2.1 Kinh nghiệm chuyển dịch CCLĐ ở một số nước trên thế giới a Trung Quốc
Trung Quốc bắt đầu tiến hành công cuộc cải cách, mở cửa nền kinh tế từ năm 1978 với chiến lược công nghiệp hóa toàn diện Trong thập kỷ 19, Trung Quốc lựa chọn mô hình phát triển phi cân đối, đặt trọng tâm phát triển là khu vực công nghiệp, đặc biệt là các ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng nhằm đáp ứng nhu cầu trong nước với quy mô dân số lớn nhất thế giới, phục vụ xuất khẩu và giải quyết việc làm cho lực lượng lao động trong độ tuổi hàng năm tăng thêm hàng chục triệu người Trung Quốc đã tập trung phát triển công nghiệp và đô thị ở các vùng ven biển phía Đông để thu hút lao động từ khu vực nông nghiệp, nông thôn ở các vùng trong nội địa
Nhờ thực hiện mô hình này, Trung Quốc đã đạt được tốc độ tăng trưởng rất cao 9%-10% trong nhiều năm, tỷ lệ dân số đô thị từ 18% (1978) tăng lên hơn 44% (2007), tỷ lệ lao động nông nghiệp từ chỗ chiếm hơn 65%
(1980) giảm xuống còn khoảng 47% (2007), tỷ trọng khu vực nông nghiệp trong cơ cấu GDP hiện nay chỉ còn khoảng 10% Tuy nhiên, do phát triển tập trung vào khu vực công nghiệp và đô thị nên Trung Quốc phải đối mặt với tình trạng khoảng cách chênh lệch về mức sống giữa khu vực nông thôn và đô thị, giữa các vùng phía Tây và phía Đông trong nước tăng lên nhanh chóng Các vùng phía Tây phần lớn chậm phát triển, tỷ lệ hộ nghèo cao trong khi một số vùng ven biển phía Đông phát triển quá nóng, ô nhiễm môi trường kể cả ô nhiễm môi trường đô thị do sản xuất công nghiệp tập trung ngày càng gia tăng làm quá trình phát triển và chuyển dịch cơ cấu lao động thiếu tính bền vững b Thái Lan
Thái Lan là nước đi lên từ nông nghiệp, điều kiện phát triển tương đối tương đồng với Việt Nam Trong vòng 20 năm trở lại đây, Thái Lan phát triển theo mô hình có tính bền vững, quan tâm phát triển cả hai khu vực nông nghiệp và phi nông nghiệp, không thúc đẩy quá nhanh quá trình chuyển dịch lao động từ nông thôn ra thành thị, từ khu vực nông nghiệp sang khu vực phi nông nghiệp để phát triển đô thị hiện đại và các ngành công nghiệp sử dụng lao động có trình độ CMKT Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 5,5 – 6,5%, tỷ trọng khu vực nông nghiệp trong cơ cấu GDP luôn chiếm ở mức 9 – 10%, cơ cấu lao động chuyển dịch từ chỗ tỷ lệ lao động nông nghiệp chiếm 62,1% (1990) giảm xuống còn 39,4% (2007)
Những năm gần đây, Thái Lan rất chú trọng phát triển các ngành nghề phi nông nghiệp ở nông thôn để tạo việc làm tại chỗ, thu hút lao động từ khu vực nông nghiệp sang khu vực phi nông nghiệp qua đó hạn chế lao động di cư tự do từ nông thôn ra thành thị, giảm sức ép dân số vào các khu vực đô thị lớn như thủ đô Bankok hiện quy mô dân số đã lên tới gần 15 triệu dân c Nhật Bản
Nhật Bản là nước đầu tiên thực hiện công nghiệp hóa ở châu Á, bắt đầu từ cuối thế kỷ XIX và được đẩy mạnh trong nửa đầu của thế kỷ XX Nhật Bản tiến hành CNH-HĐH từ một nền nông nghiệp cổ truyền, tự túc, tự cấp, sản xuất manh mún với những hộ nông dân sản xuất quy mô nhỏ (bình quân 0,5ha) và nhanh chóng trở thành cường quốc kinh tế lớn thứ 2 trên thế giới với một nền nông nghiệp và công nghiệp tiên tiến, kinh tế thành thị và nông thôn phát triển Đến nay, tỷ trọng khu vực nông nghiệp trong cơ cấu GDP của Nhật Bản chiếm chưa đến 1,5%, tỷ lệ lao động nông nghiệp còn khoảng 3% Để tạo việc làm, thu hút lao động từ khu vực nông nghiệp sang khu vực phi nông nghiệp, Nhật Bản đẩy mạnh phát triển khu vực công nghiệp, bắt đầu từ phát triển công nghiệp cơ khí để phục vụ sản xuất nông nghiệp Từ ngành cơ khí chế tạo các loại máy nông nghiệp có công suất 4 - 10 sức ngựa, Nhật Bản mở rộng ra phát triển các ngành công nghiệp cơ khí khác, nổi bật là các ngành công nghiệp phục vụ sản xuất ô tô, máy kéo thu hút nhiều lao động từ khu vực nông nghiệp, nông thôn
1.2.2 Tình hình chuyển dịch CCLĐ ở nước ta
1.2.2.1 Những thành tựu đã đạt được và những hạn chế, tồn tại
* Những thành tựu đã đạt được
Cơ cấu lao động nông nghiệp, nông thôn tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực, bảo đảm an ninh lương thực và góp phần thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Chuyển dịch cơ cấu lao động nông nghiệp, nông thôn được thực hiện dưới nhiều hình thức đa dạng theo xu hướng tiến bộ (nông nghiệp truyền thống năng suất thấp sang nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp-phi nông nghiệp, nông thôn-thành thị, xuất khẩu lao động), tiến bộ kỹ thuật được áp dụng rộng rãi, ngành nghề nông thôn phát triển đã góp phần làm tăng năng suất lao động và tăng thu nhập
Các hình thức tổ chức sản xuất tiếp tục được đổi mới, nâng cao hiệu quả sản xuất nông thôn và thu hút thêm nhiều lao động, góp phần giảm nghèo nhanh chóng
Các chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn đầu tư xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế-xã hội làm thay đổi bộ mặt nông thôn, góp phần tích cực cho chuyển dịch cơ cấu lao động và hỗ trợ kịp thời cho nông dân trong quá trình chuyển dịch sang những ngành nghề có năng suất lao động cao hơn
* Những hạn chế, tồn tại cần giải quyết trong quá trình chuyển dịch
Tăng trưởng kinh tế nói chung và tăng trưởng khu vực nông nghiệp, nông thôn không thúc đẩy tăng trưởng tương ứng việc làm ở nông thôn; lao động tiếp tục bị dồn nén trong sản xuất nông nghiệp năng suất thấp (năng suất lao động nông nghiệp chỉ bằng khoảng 1/3 so với công nghiệp và dịch vụ) Hệ số co giãn việc làm trong nền kinh tế nói chung và khu vực nông nghiệp nông thôn còn thấp chưa đảm bảo thu hút hết lao động dư thừa trong nông nghiệp để tạo ra ”điểm cất cánh” phát triển sản xuất hàng hoá và tăng sức cạnh tranh của sản phẩm nông nghiệp, nông thôn; mức độ thiếu việc làm còn cao (6,51% người thiếu việc làm và khoảng 25% thời gian lao động ở nông thôn chưa được sử dụng), thu nhập lao động nông thôn miền núi vẫn còn rất thấp
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế chưa thúc đẩy và tạo điều kiện để có kết quả chuyển dịch cơ cấu lao động nông nghiệp, nông thôn tương ứng (công nghiệp và dịch vụ đã tạo ra 79% GDP cả nước, nhưng mới thu hút 49% lao động xã hội), chuyển dịch không đồng đều giữa các vùng (các vùng Đông Nam bộ, Đồng bằng sông Hồng chuyển dịch nhanh, các vùng Tây Bắc, Tây Nguyên chuyển dịch chậm rất chậm) và chưa tạo được sự liên kết di chuyển lao động phục vụ cho sự nghiệp CNH-HĐH chung trong cả nước, chưa phát huy được thế mạnh của từng vùng về nguồn nhân lực, tài nguyên thiên nhiên và đặc điểm sinh thái; các vùng kinh tế trọng điểm chưa được quy hoạch phát triển đồng bộ để tạo động lực tác động lan toả mạnh đến những vùng khó khăn khác; thị trường lao động vẫn mất cân đối nghiêm trọng về cung cầu lao động; quy hoạch các khu cụm công nghiệp không hợp lý dẫn đến thừa - thiếu lao động hầu hết mang tính cục bộ và làm lãng phí nguồn nhân lực của đất nước Đời sống vật chất tinh thần của nông dân còn thấp, chênh lệch giàu nghèo có xu hướng gia tăng (GDP bình quân đầu người ngay trong vùng có nhịp độ tăng trưởng cao nhất nước như: Đông Nam Bộ cũng có sự chênh lệch lớn giữa các tỉnh, Bình Phước, Tây Ninh chỉ bằng 1/3 so với thành phố Hồ Chí Minh và Bà Rịa - Vũng Tàu; tỷ lệ hộ nghèo giữa vùng Tây Bắc và vùng Đông Nam Bộ lên tới 9,8 lần), ô nhiễm môi trường ngày càng nặng nề
1.2.2.2 Những bài học kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn
Chuyển dịch CCLĐ nông thôn một cách nhanh chóng, hiệu quả, một mặt cần thúc đẩy tích tụ ruộng đất và đảm bảo tính lâu dài trong sử dụng đất của nông dân, mặt khác cần thay đổi chiến lược từ sản xuất hỗn hợp sang sản xuất chuyên môn hoá và tập trung vào những sản phẩm nông nghiệp tạo giá trị kinh tế cao (chăn nuôi, trồng cây cảnh và các loại rau củ quả sạch…) Đồng thời phát triển mạnh công nghiệp chế biến sản phẩm nông nghiệp, để nâng cao được thu nhập cho người lao động
Nhà nước có vai trò đặc biệt quan trọng thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn, đóng vai trò then chốt trong quá trình chuyển dịch CCLĐ nông thôn theo đúng định hướng của Đảng và nhà nước đã đặt mục tiêu nâng cao trình độ tay nghề của người lao động góp phần tạo ra nhiều cơ hội tìm kiếm việc làm để nâng cao thu nhập cho người dân
Nhà nước cần đặc biệt quan tâm đến các chính sách: Chính sách đất đai, đầu tư phát triển nguồn nhân lực nông thôn, nông nghiệp và nông thôn, tín dụng, phát triển cơ sở hạ tầng, ứng dụng công nghệ mới vào sản xuất tại khu vực nông thôn nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất cho quá trình chuyển dịch CCLĐ được diễn ra thuận lợi nhất, tạo môi trường đầu tư tốt nhất, giảm tối đa các thủ tục hành chính rườm rà chưa phù hợp để thu hút nguồn đầu tư của thành phần kinh tế tư nhân tại các địa phương
1.2.2.3 Bài học kinh nghiệm về chuyển dịch CCLĐ theo định hướng CNH- HĐH của TP.Hà Nội
Một số công trình nghiên cứu đã công bố về nội dung chuyển dịch cơ cấu
Vấn đề chuyển dịch CCLĐ là tất yếu của mọi quốc gia trên thế giới nhằm mục đích sắp xếp lại lực lượng lao động sao cho phù hợp với điều kiện tự nhiên của từng vùng, địa phương, quốc gia Ở nước ta đã có một số công trình được thực hiện và đã đưa ra được các kết luận mang tính thực tiễn cao Sau đây là một số công trình nghiên cứu liên quan tới vấn đề nghiên cứu:
- Tác giả Lê Xuân Bá, “Các yếu tố tác động đến quá trình chuyển dịch CCLĐ nông thôn Việt Nam” Đề tài nghiên cứu đánh giá thực trạng và xu thế chuyển dịch CCLĐ nông thôn từ giữa thập kỷ 1990 đến nay; với mô hình PROBIT tác giả đã phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình chuyển dịch lao động từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp Từ đó đề xuất một số chính sách nhằm tác động tích cực tới quá trình chuyển dịch CCLĐ nông thôn Việt Nam; đồng thời rút ra một số kết luận: (1) Mặc dù không cùng tốc độ với chuyển dịch cơ cấu GTSX, chuyển dịch về CCLĐ nông thôn diễn ra nhanh hơn trong khoảng một thập kỷ qua; (2) Có nhiều yếu tố tác động tới chuyển dịch CCLĐ nông thôn và không xác định được mô hình chung cho tất cả các loại hình chuyển dịch CCLĐ như yếu tố đất đai, độ tuổi, trình độ học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động
- Trong vấn đề giải quyết việc làm, đề tài cấp Bộ (2000) “Những biện pháp chủ yếu giải quyết lao động thiếu việc làm ở vùng thuần nông” do Trung tâm Nghiên cứu Dân số và Nguồn lao động - Viện Khoa học Lao động và Xã hội thực hiện, đã đưa ra nhận định: Khả năng tạo việc làm ở khu vực nông thôn hiện nay rất phong phú và đa dạng, tạo việc làm phi nông nghiệp ngay tại địa phương, tăng cường dạy nghề cho lao động nông thôn, ưu tiên các dự án quốc gia và quốc tế cho việc giải quyết việc làm, dạy nghề và nâng cao dân trí
- Tác giả Nguyễn Hữu Dũng (2003), chỉ ra rằng sự chuyển dịch CCLĐ diễn ra chậm hơn chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cần phải tiếp tục đổi mới chính sách và giải pháp chuyển dịch CCLĐ nông thôn Xu hướng chuyển dịch CCLĐ nông nghiệp, nông thôn diễn ra nhanh hay chậm phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khách quan và chủ quan, nhất là chính sách, thể chế vĩ mô của nhà nước; cơ cấu đầu tư của toàn xã hội; sự lựa chọn và áp dụng công nghệ mới, chuyển giao công nghệ, nhất là công nghệ sinh học vào nông thôn; sự năng động, sáng tạo của các chủ thể kinh tế ở nông thôn Vấn đề đặt ra là phải tạo ra các điều kiện cần và đủ tác động vào các yếu tố khách quan và chủ quan đó để đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn Đó cũng chính là cụ thể hoá con đường, bước đi và giải pháp thực hiện chủ trương công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn của Đảng ta
- Trường Đại học Kinh tế quốc dân trong đề tài độc lập cấp Nhà nước KX.01-2005 đã đề cập đến vấn đề việc làm và thu nhập cho lao động bị thu hồi đất trong quá trình CNH-HĐH và ĐTH Về mặt lý luận nghiên cứu đã đề cập đến sự cần thiết phải thu hồi đất, CNH-HĐH và ĐTH tất yếu sẽ dẫn đến thu hồi đất nông nghiệp và do đó một bộ phận dân cư sẽ mất việc làm trong nông nghiệp Đây vừa là cơ hội, vừa là thách thức đối với nước ta trong quá trình phát triển Về mặt thực tiễn nghiên cứu chỉ ra những bất cập về vấn đề đảm bảo thu nhập, đời sống, việc làm của người có đất bị thu hồi Việc thu hồi đất là điều kiện chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng tiến bộ, nhưng kế hoạch thu hồi đất không gắn với kế hoạch đào tạo nghề nên người dân mất đất không có việc làm và thu nhập, đời sống người dân tiềm ẩn sự bất ổn bên trong Nghiên cứu dự báo nhu cầu thu hồi đất và đưa ra khung chính sách đồng bộ bao gồm: Chính sách đền bù, bồi thường thiệt hại; chính sách tạo việc làm; chính sách tái định cư; chính sách về trách nhiệm và nghĩa vụ của các đơn vị được nhận đất thu hồi sử dụng vào các mục đích phát triển các khu công nghiệp, khu đô thị và các chính sách xã hội liên quan để đảm bảo việc làm và thu nhập cho đối tượng bị thu hồi đất
- Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương (2005) trong khuôn khổ dự án IAE- MISPA đã nghiên cứu về các yếu tố tác động đến chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn Việt Nam Đây là nghiên cứu khá bài bản về cả phương pháp luận và phương pháp sử dụng trong quá trình nghiên cứu Nghiên cứu đã đưa ra khung lý thuyết của mô hình chuyển dịch lao động từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp dựa trên mô hình liên giữa hai khu vực nông nghiệp và phi nông nghiệp, yếu tố "kéo" và "đẩy" và mô hình kinh tế hộ của Chayanov và các mô hình kinh tế hộ cải tiến Nghiên cứu này sử dụng bộ số liệu điều tra mức sống dân cư của Tổng cục Thống kê và sử dụng mô hình kinh tế lượng (mô hình hồi quy bội) để đo lường các yếu tố ảnh hưởng đến chuyển dịch lao động từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp, từ tự làm kinh tế hộ sang làm công ăn lương
- Tác giả Trần Hồi Sinh và nhóm nghiên cứu (2006), Chuyển dịch lao động 05 huyện ngoại thành TP.HCM trong quá trình đô thị hoá - Thực trạng và giải pháp Phân tích thực trạng bằng phương pháp thống kê mô tả, kết quả cho thấy: (1) Cơ cấu kinh tế cũng dịch chuyển sang khu vực CN-XD và TM-DV; (2) Chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã có tác động trực tiếp đến quá trình chuyển dịch CCLĐ, CCLĐ có xu hướng dịch chuyển từ khu vực nông nghiệp sang khu vực CN-XD và TM-DV; (3) Chất lượng lao động cũng đã có những chuyển biến tích cực, trình độ văn hóa cũng như trình độ chuyên môn của người lao động được nâng dần lên nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của 05 huyện Bên cạnh đó, việc chuyển dịch CCLĐ sang các ngành công nghiệp chuyên sâu về kỹ thuật cũng như các ngành dịch vụ cao cấp rất chậm do trình độ lao động thấp Việc chuyển dịch CCLĐ từ lao động phổ thông sang lao động có trình độ chuyên môn vẫn còn chậm, chưa theo kịp tiến độ phát triển kinh tế - xã hội của các thành phố ngoại thành
Như vậy, đã có nhiều nghiên cứu đề cập đến chuyển dịch CCLĐ nông thôn Có thể thấy rằng các nghiên cứu trên đã làm rõ một số vấn đề sau:
- Về lý luận: Làm rõ những nhận thức cơ bản về chuyển dịch CCLĐ, giải quyết việc làm trong thời kỳ kinh tế thị trường; Làm rõ cơ sở lý luận và phương pháp luận về mối quan hệ biện chứng giữa CNH-HĐH và ĐTH, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu lao động
- Về mặt thực tiễn: Chỉ ra được xu thế và định hướng quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển dịch CCLĐ; chỉ ra những tác động tích cực và tiêu cực của quá trình CNH-HĐH và ĐTH tới biến đổi kinh tế xã hội Trên cơ sở đó xác định những yếu tố tác động tới quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển dịch cơ cấu lao động Thực trạng và những cơ hội, thách thức của nước ta đối với quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế, chuyển dịch cơ cấu lao động Đưa ra những kết luận, kiến nghị làm cơ sở cho việc hoạch định các chương trình, chính sách và giải pháp nhằm hạn chế những tác động tiêu cực và đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng CNH-HĐH.
Đặc điểm cơ bản của TP.Hoà Bình
2.1.1.1 Vị trí địa lý và địa hình
Thị xã Hòa Bình được thành lập năm 1896 theo Sắc lệnh của toàn quyền Đông Dương, khi mới thành lập thị xã Hòa Bình nằm ở hai bên bờ sông Đà, bao gồm: bên bờ trái có phố Đúng, là nơi tập trung các công sở của chính quyền phong kiến và bên bờ phải có các phố An Hòa, Đồng Nhân, Trang Nghiêm, Xóm Vạn Các phố bên bờ phải là nơi tập trung dân cư, nơi diễn ra các hoạt động kinh tế phục vụ khu vực hành chính và quân lính thực dân Thị xã Hòa Bình được Chính phủ công nhận là Thành phố trực thuộc tỉnh và được công nhận là đô thị loại 3, vào ngày 27 tháng 10 năm 2006
Thành phố Hòa Bình là trung tâm kinh tế chính trị của tỉnh Hòa Bình, cách thủ đô Hà Nội 76 km về phía đông; với tổng diện tích tự nhiên là 148,2 km2 (chiếm 2,9% diện tích toàn tỉnh) Về mặt địa giới hành chính thì thành phố có vị trí địa lý tiếp giáp như sau:
- Phía Đông giáp huyện Kỳ Sơn và huyện Kim Bôi;
- Phía Tây giáp huyện Cao Phong và huyện Đà Bắc;
- Phía Nam giáp huyện Cao Phong;
- Phía Bắc giáp huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ
Thành phố Hòa Bình có địa hình đồi núi chiếm ưu thế (chiếm 75% diện tích tự nhiên), được phân bố bao quanh và ôm trọn khu vực trung tâm Phần chuyển tiếp là kiểu địa hình đồi có độ cao trung bình 100-150m so với mặt nước biển Tiếp đến là phần trung tâm Thành phố, có địa hình tương đối bằng phẳng, thuận lợi cho việc xây dựng và phát triển đô thị Trên bản đồ hành chính, thì sông Đà chia TP.Hòa Bình thành hai vùng:
- Vùng bờ phải sông Đà (vùng I) có 04 phường là Đồng Tiến, Phương Lâm, Chăm Mát, Thái Bình và 04 xã là Sủ Ngòi, Dân Chủ và Thống Nhất và Trung Minh
- Vùng bờ trái sông Đà (vùng II) có 04 phường là Tân Hòa, Hữu Nghị, Tân Thịnh, Thịnh Lang và 03 xã là Yên Mông, Hòa Bình và Thái Thịnh
Xét về tính chất của đất thì: đất đai của TP.Hòa Bình có độ mùn cao, độ
PH trung bình từ 4,5-5,5 phù hợp với nhiều loại cây trồng
Xét theo mục đích sử dụng, thì đất đai của TP.Hòa Bình được phân bổ như sau:
Bảng 2.1 Thực trạng sử dụng đất của TP.Hòa Bình năm 2012
STT Loại đất Diện tích (ha) Tỷ lệ (%) Ghi chú
Tổng diện tích tự nhiên 14.442,98 100
1.3 Đất nuôi trồng thủy sản 234,79 2,2
(Nguồn: Phòng TN&MT TP.Hòa Bình)
Qua bảng 2.1 thực trạng sử dụng đất của TP.Hòa Bình năm 2012 cho thấy: Đất nông nghiệp chiếm 74,10% tương ứng với 10.696,29 ha, đất phi nông nghiệp chiếm 22,70% (đất này bao gồm: đất ở, đất chuyên dùng, đất phi nông nghiệp khác) tương ứng với 3.276,12 ha Diện tích đất chưa được sử dụng của TP.Hòa Bình chỉ chiếm khoảng 3,20%, tương đương với 470,57ha, diện tích này chủ yếu là đất đồi và núi đá Trong diện tích đất nông nghiệp thì đất sản xuất lâm nghiệp chiếm 78,01%, đất sản xuất nông nghiệp chiếm 19,77%, đất nuôi trồng Thủy sản chiếm 2,2% và chủ yếu tập trung tại các hồ, sông suối, và vùng lòng hồ Sông Đà, đất nông nghiệp khác chỉ chiếm 0,02% 2.1.1.3 Khí hậu, thuỷ văn
- Khí hậu: Thành phố Hòa Bình có khí hậu nhiệt đới gió mùa, mùa đông lạnh ít mưa, mùa hè nóng mưa nhiều; nhiệt độ trung bình hàng năm trên 23 °C Tháng 7 có nhiệt độ cao nhất trong năm, trung bình 27-38°C, ngược lại tháng 1 có nhiệt độ thấp nhất, trung bình 8-15°C Mùa đông bắt đầu từ tháng 11 năm trước đến tháng 2 năm sau, mùa hè từ tháng 3 đến tháng 10 Mưa tập trung chủ yếu ở các tháng 7, 8, 9, lượng mưa trung bình năm đạt khoảng 1.846 mm
- Thủy văn: Thành phố Hòa Bình có dòng sông Đà chảy qua và đập thủy điện sông Đà vừa phục vụ phát điện, vừa góp phần điều tiết nước cho sản xuất nông nghiệp của các tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng Đây là con sông lớn có vai trò quan trọng không những chỉ đối với tỉnh Hòa Bình mà còn đối với cả miền bắc nói chung Sông có lưu lượng nước lớn, cung cấp khoảng 31% lượng nước cho sông Hồng và là một nguồn tài nguyên thủy điện lớn cho ngành công nghiệp điện Việt Nam Với sự giúp đỡ của Liên
Xô, năm 1994 nhà máy Thủy điện Hoà Bình được khánh thành có công suất 1.920 MW với 08 tổ máy
2.1.2 Các nguồn tài nguyên chủ yếu
Tài nguyên nước của thành phố được cung cấp bởi 3 nguồn chính:
- Nước mặt: Hồ đập thủy điện sông Đà là nguồn chính được chảy vào hệ thống sông và suối nhỏ Đây không những chỉ là nguồn cung cấp nước quan trọng cho sản xuất và đời sống của nhân dân địa phương, mà còn cấp nước cho nhà máy lọc nước Vinaconex (nguồn cung cấp nước xạch chính cho thành phố Hà Nội) Mà nó còn cung cấp nước cho vùng hạ du và vùng đồng bằng thông qua thệ thống sông Hồng và sông Thái Bình
- Nước mưa: Lượng nước mưa trung bình hàng năm đạt 1.846 mm, đây là nguồn cung cấp nước bổ sung dự trữ cho các ao, hồ, đập và cho sinh hoạt khác của nhân dân
- Nước ngầm: Mực nước ngầm trung bình là âm 10m, lượng nước ngầm này đảm bảo chất lượng và đủ số lượng cấp cho sinh hoạt của nhân dân tại các xã chưa có nước máy
Mang đặc trưng của Thành phố miền núi, TP.Hòa Bình vẫn còn một phần diện tích rừng là 8.345,20 ha bao quanh; trong đó có 1.764,69 ha rừng tự nhiên và 6.580,510ha rừng trồng Với diện tích rừng này giúp cho bầu không khí tại đây khá trong lành, và chống được nguy cơ xói mòn đất Diện tích rừng trồng chiếm 78,8% tổng diện tích đất rừng, đây chính là điều kiện để bà con phát triển sản xuất cung cấp gỗ cho ngành sản xuất giấy, ngành mộc góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động
Thành Phố Hòa Bình là một trong những cái nôi của nền văn hóa Đông Sơn rực rỡ, Thành phố còn hấp dẫn bởi nét văn hóa đặc sắc của dân tộc
Mường Đây là lợi thế rất lớn để khai thác, phát triển kinh tế du lịch
Một trong những tâm điểm phát triển du lịch của Thành phố là Công viên văn hoá đồi Ba Vành - suối Trì với diện tích khoảng 100ha Đây được coi là một làng bảo tàng văn hoá, bao gồm có 06 làng văn hoá của các dân tộc Mường,
Kinh, Thái, Tày, Dao và Mông Tại đây người dân đã được đào tạo cơ bản về du lịch nhằm bảo tồn những nét văn hoá đặc trưng của dân tộc mình
Tiếp đó là đập thủy điện, và khu du lịch lòng hồ sông Đà hàng năm thu hút rất nhiều du khách thăm quan du lịch, đặc biệt mỗi dịp xuân về và mỗi dịp nghỉ hè thì lượng khách thăm quan thường tăng đột biến
2.1.3 Yếu tố kinh tế - xã hội
2.1.3.1 Cơ cấu dân số TP.Hoà Bình
Thành phố Hòa Bình có 08 phường và 07 xã, dân số năm 2012 là 90.920 người, trong đó dân số thành thị là 66.741người và nông thôn là
Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu
- Thảo luận với các chuyên gia, lãnh đạo và chuyên viên các phòng ban của UBND TP.Hòa Bình có liên quan đến chính sách lao động việc làm Kết quả thu được là những vấn đề liên quan tới lao động việc làm, đào tạo nghề cho lao động, những chính sách của Đảng và Nhà nước liên quan tới lao động việc làm, xu hướng chuyển dịch cơ cấu lao động ngành, vùng theo hướng CNH-HĐH tại TP.Hòa Bình
- Điều tra, phỏng vấn 120 hộ sản xuất kinh doanh trên địa bàn TP.Hòa Bình, theo phương pháp chọn mẫu để phỏng vấn với phiếu câu hỏi được soạn sẵn Thông tin được thu thập tại hai thời điểm năm 2007 và 2012
- Số liệu thu thập của các bộ ngành ở Trung ương
- Số liệu thu thập ở tỉnh: Sở Nông nghiệp và PTNT; Cục Thống kê,…
- Số liệu thu thập ở Thành phố: Chi cục thống kê, Phòng Lao động- TB&XH; Phòng kinh tế; Phòng Tài nguyên và Môi trường, Phòng Tài chính- kế hoạch, UBND các xã phường thuộc TP.Hòa Bình
- Thực hiện kế thừa những nội dung qua sách báo, tạp chí, niên giám thống kê, báo cáo tổng kết, quy hoạch phát triển kinh tế xã hội địa phương, tài liệu khoa học đã nghiên cứu và công bố có liên quan đến vấn đề nghiên cứu
Kế thừa các đề tài khoa học liên quan đến chuyển dịch CCLĐ đã công bố
2.2.2 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu, khảo sát Đề tài chọn 120 hộ sản xuất, kinh doanh của Thành phố để điều tra, gồm các hộ phân theo ngành: Nông nghiệp, CN-XD, TM-DV trên cả hai vùng bờ phải sông Đà và bờ trái sông Đà, để đánh giá thực trạng chuyển dịch trình độ học vấn, trình chuyên môn kỹ thuật, đặc biệt là xu hướng chuyển dịch CCLĐ và cơ cấu giá trị sản xuất tại các hộ được điều tra Qua phân tích thực trạng chuyển dịch CCLĐ của các hộ điều tra để rút ra kết luận và đưa ra các giải pháp nhằm đẩy mạnh chuyển dịch CCLĐ của TP.Hòa Bình theo hướng CNH-HĐH
Nội dung điều tra gồm các lĩnh vực chính:
- Tình hình cơ bản của nhóm hộ (nhân khẩu, lao động, đất đai,……)
- Tình hình chuyển dịch ngành nghề của nhân khẩu trong hộ
- Lĩnh vực nông nghiệp: Các loại cây trồng, vật nuôi chính của hộ; năng suất, sản lượng cây, con; chuyển dịch cơ cấu sản xuất của nhóm hộ nông nghiệp; giá trị sản phẩm ngành trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp và thủy sản
- Lĩnh vực Công nghiệp - Xây dựng: Mặt hàng sản xuất; giá trị sản xuất, lợi nhuận, thu nhập
- Lĩnh vực Thương mại - Dịch vụ: Mặt hàng kinh doanh; giá trị doanh thu, lợi nhuận, thu nhập
- Tỷ trọng giá trị sản xuất, thu nhập và tỷ lệ thu nhập từ ngành nông nghiệp, phi nông nghiệp
Phương pháp này, áp dụng nhằm mục đích tham khảo ý kiến các chuyên gia, các nhà khoa học, các nhà quản lý trong việc xác định các yếu tố ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu lao động giữa các ngành và đề ra các giải pháp nhằm đẩy mạnh quá trình chuyển dịch CCLĐ của địa phương theo hướng CNH-HĐH
2.2.4 Phương pháp phân tích, xử lý số liệu
- Các chỉ tiêu tổng hợp bao gồm: Số tuyệt đối, số tương đối, số bình quân, tốc độ phát triển,
- Công cụ sử dụng trong việc xử lý số liệu sau khi thu thập, đó là bảng tính điện tử Excel Khi phân tích và xử lý số liệu đề tài, tác giả sẽ kết hợp sử dụng các phương pháp tiếp cận hệ thống, phương pháp phân tích, phương pháp so sánh, phương pháp thống kê…
+ Phương pháp tiếp cận hệ thống: Mục tiêu của phương pháp tiếp cận hệ thống nhằm đưa ra được các chính sách về thúc đẩy chuyển dịch CCLĐhợp lý với điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội của đơn vị nghiên cứu Dựa trên việc phân tích các mối quan hệ về điều kiện tự nhiên, trình độ chuyên môn và tay nghề của người lao động, chính sách của trung ương và địa phương về chuyển dịch CCLĐ theo hướng CNH-HĐH Tiếp cận hệ thống có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng được chính sách hiệu quả đối với chuyển dịch CCLĐ Việc phân tích chính sách lao động việc làm theo quan điểm hệ thống bao gồm tiếp cận mục tiêu và đánh giá kết quả dựa trên mục tiêu đề ra và tiếp cận quá trình Tiếp cận hệ thống phải xác định mục tiêu của chuyển dịch CCLĐ theo hướng CNH-HĐH là giảm dần lao động hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, tăng dần lao động hoạt động trong lĩnh vực phi nông nghiệp
+ Phương pháp thống kê mô tả: được sử dụng trong nghiên cứu nhằm mô tả thực trạng lao động việc làm của người lao động tại vùng nghiên cứu Thống kê mô tả là tổng hợp các phương pháp đo lường, mô tả và trình bày số liệu thông qua các chỉ số thống kê như số bình quân, độ lệch, phân phối, tần suất Biểu thống kê là hình thức trình bày số liệu thống kê và thông tin đã thu thập làm cơ sở để phân tích và kết luận, cũng là biểu trình bày kết quả nghiên cứu
+ Phân tích so sánh: Phương pháp này để thấy được sự chuyển dịch CCLĐ theo hướng nào, như việc tăng tỷ trọng lao động ngành này, giảm tỷ trọng lao động ngành khác nhằm mục đích đề ra các giải pháp chuyển dịch
CC LĐ theo hướng CNH-HĐH
+ Phương pháp toán kinh tế: Phương pháp toán kinh tế được áp dụng trong quá trình tính toán các số liệu đánh giá chuyển dịch CCLĐ trên địa bàn TP.Hòa Bình
2.2.5 Phương pháp phân tích SWOT (điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức)
Phương pháp này được thực hiện với mục đích tổng hợp các yếu tố từ bên trong và các yếu tố bên ngoài của đối tượng nghiên cứu, từ đó có thể nhìn nhận vấn đề chuyển dịch cơ cấu lao động một cách toàn diện trên nhiều khía cạnh Từ đó có cơ sở đề ra các chiến lược phát triển cho địa bàn nghiên cứu
Mô hình phân tích SWOT được mô phỏng như sau:
Yếu tố bên trong Liệt kê các điểm mạnh
Liệt kê các điểm yếu (W)
Wn: yếu tố bên ngoài
Liệt kê các cơ hội (O)
Sn + O2 Phát triển, đầu tư
Wn + O2 Tận dụng, khắc phục Liệt kê các đe doạ (T)
Sn + T2 Duy trì, khống chế
Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu về chuyển dịch CCLĐ giữa các ngành 51 1 Hệ thống chỉ tiêu sử dụng để đánh giá quá trình chuyển dịch CCLĐ
2.3.1 Hệ thống chỉ tiêu sử dụng để đánh giá quá trình chuyển dịch CCLĐ
- Cơ cấu lao động ngành, vùng = Lao động của ngành, vùng/tổng số lao động x 100%
- Cơ cấu giá trị sản xuất ngành, vùng = giá trị sản xuất của ngành, vùng/tổng giá trị sản xuất x 100%
- Tốc độ phát triển bình quân, được tính theo công thức
: tốc độ phát triển bình quân y1, yn: mức độ tuyệt đối ở thời gian đầu và thời gian n
- So sánh các cơ cấu lao động, cơ cấu giá trị sản xuất, tốc độ phát triển của các ngành kinh tế qua các năm
2.3.2 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá kết quả, hiệu quả của quá trình chuyển dịch CCLĐ
- Chuyển dịch cơ cấu lao động, cơ cấu giá trị sản xuất theo ngành, vùng
- Chuyển dịch cơ cấu lao động, cơ cấu giá trị sản xuất nội bộ các ngành
- Đánh giá hiệu quả của quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động (theo chỉ tiêu GTSX/lao động của các ngành, vùng)
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Thực trạng của chuyển dịch cơ cấu lao động của TP Hòa Bình
3.1.1 Thực trạng chuyển dịch cơ cấu lao động của TP Hòa Bình
3.1.1.1 Cơ cấu lao động và chuyển dịch cơ cấu lao động giữa các ngành của TP.Hoà Bình
Số lượng lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế được thể hiện trong bảng 3.1 cho thấy, tổng số lao động đang làm việc tại ngành nông nghiệp của Thành phố có xu hướng giảm dần qua các năm Năm 2007 số lao động ngành nông nghiệp là 14.540 người, đến năm 2012 giảm còn 13.485 người với tốc độ tăng trưởng bình quân của ngành nông nghiệp giai đoạn 2007-2012 là âm 1,50%/năm
Trong khi đó số lao động ngành CN-XD và ngành TM-DV có xu hướng tăng nhanh qua các năm Với số lao động đang làm việc tại ngành CN-
XD năm 2007 là 12.760 người, đến năm 2012 tăng lên 15.528 người, tốc độ tăng trưởng bình quân trong giai đoạn 2007-2012 là 4,0%/năm Năm 2007 số lao động làm việc ở ngành TM-DV là 16.700 người, đến năm 2012 tăng lên 22.163 người, tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2007-2012 của lao động ở ngành TM-DV là 5,82%/năm
Bảng 3.1: Lao động và cơ cấu lao động làm việc trong các ngành giai đoạn (2007 - 2012) ĐVT: người
2007 2008 2009 2010 2011 2012 Tốc độ tăng BQ/năm (%)
(Nguồn: Chi cục Thống kê TP.Hòa Bình)
Qua hình 3.1 cho thấy thời gian qua có sự chuyển dịch CCLĐ từ ngành nông nghiệp sang ngành TM-DV và ngành CN-XD Thể hiện năm 2007 lao động làm việc ở ngành nông nghiệp giảm từ 33,05% còn 26,35% (năm 2012); trong khi đó ngành TM-DV có mức tăng từ 37,95 % (năm 2007) lên 43,31% (năm 2012); tiếp đó là ngành CN-XD cũng có mức tăng từ 29,00% (năm
2007) lên 30,34% (năm 2012) Qua phân tích cho thấy xu hướng chuyển dịch CCLĐ của Thành phố là phù hợp định hướng CNH-HĐH
Tỷ trọng lao động trong các ngành kinh tế
Ngành NN Ngành CN-XD NgànhTM-DV
Hình 3.1: Biểu đồ tỷ trọng lao động làm việc trong các ngành (2007-2012)
Hòa Bình là một tỉnh miền núi thuộc vùng Tây bắc, tốc độ phát triển kinh tế 2005-2010 đạt khoảng 12%, trong thời gian qua cơ cấu kinh tế của tỉnh có xu hướng chuyển dịch giảm tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng phi nông nghiệp Theo nguồn tin từ Website Sở Công Thương tỉnh Hòa Bình thì:
“Cơ cấu kinh tế năm 2010 so với năm 2005: Tỷ trọng nông, lâm nghiệp, thuỷ sản chiếm 35%, giảm 8,1%; Công nghiệp - Xây dựng chiếm 31,5%, tăng 8%; TM-DV chiếm 33,5%, tăng 0,1%” Vậy ta có thể thấy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và chuyển dịch CCLĐ tại TP.Hòa Bình diễn ra nhanh, đúng hướng của tỉnh và phù hợp với định hướng của Đảng về chuyển dịch CCLĐ theo hướng CNH-HĐH
3.1.1.2 Giá trị sản xuất của các ngành
Bảng 3.2 cho thấy, từ năm 2007 đến năm 2012 giá trị sản xuất theo giá hiện hành trên địa bàn TP.Hòa Bình tăng đều qua các năm với tốc độ bình quân trong giai đoạn này là 16,38%/năm, về mặt số tuyệt đối năm 2007 là 2.308.452 triệu đồng, đến năm 2012 là 4.928.258 triệu đồng
Ngành CN-XD có tốc độ tăng nhanh nhất đạt 21,50%/năm và có xuất phát điểm cao thứ hai so với 2 khu vực còn lại, tăng từ 705.075 triệu đồng (năm 2007) lên 1.866.998 triệu đồng (năm 2012) Ngành TM-DV có tốc độ tăng sau ngành CN-XD và đạt 17,93%/năm ở giai đoạn 2007-2012, nhưng có xuất phát điểm khá nhất và tăng từ 1.135.161 triệu đồng (năm 2007) lên 2.589.282 triệu đồng (năm 2012) Trong khi đó ngành nông nghiệp có tốc độ tăng chậm nhất trong 3 khu vực, với tốc độ tăng bình quân hàng năm trong giai đoạn 2007-2012 chỉ đạt 0,16%/năm, từ 468.216 triệu đồng (năm 2007) tăng lên 471.978 triệu đồng (năm 2012)
Tuy nhiên do có sự khác nhau về xuất phát điểm của giá trị sản xuất (GTSX) giữa các ngành, nên khi xét về mặt số tương đối hay nói cách khác là xét theo cơ cấu GTSX giữa các ngành ta thấy có sự chuyển dịch rõ nét về cơ cấu GTSX Trong giai đoạn 2007-2012 thì cơ cấu giá trị sản xuất ngành nông nghiệp giảm từ 20,28% (năm 2007) xuống còn 9,58% (năm 2012); ngược lại thì ngành TM-DV tăng từ 49,17% (năm 2007) lên 52,54% (năm 2012) và ngành CN-XD tăng từ 30,55% (năm 2007) lên 37,88% (năm 2012) Qua phân tích trên cho thấy cơ cấu GTSX giữa các ngành của Thành phố cũng chuyển dịch theo hướng CNH-HĐH
Căn cứ tình hình chuyển dịch CCLĐ và cơ cấu giá trị sản xuất từ ngành nông nghiệp sang ngành phi nông nghiệp của TP.Hòa Bình như đã phân tích ở trên, tác giả đã thảo luận với chuyên viên phòng Kinh tế, chuyên viên phụ trách mảng kinh tế của Văn phòng UBND Thành phố và đi đến đánh giá nguyên nhân có sự dịch chuyển như vậy là vì:
UBND thành phố đã lập kế hoạch xây dựng định hướng phát triển kinh tế xã hội để chuyển dịch CCLĐ theo hướng CNH-HĐH Nhiệm vụ cụ thể của các phòng chuyên môn như sau: Phòng Kinh tế, phòng Tài chính - Kế hoạch xây dựng định hướng phát triển kinh tế, xây dựng đề án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng các cụm CN-TTCN, khu trung tâm thương mại và mạng lưới chợ; phòng Lao động - Thương binh và xã hội điều tra khảo sát trình độ của lao động để có kế hoạch đào tạo nghề cho đội ngũ lao động Được sự quan tâm của UBND tỉnh, năm 2009 thì khu Công nghiệp bờ trái sông Đà đã được phê duyệt và bắt đầu triển khai xây dựng trên cơ sở nâng cấp khu chế xuất bờ trái sông Đà, đến năm 2011 thì khu Công nghiệp này đã bắt đầu có nhà đầu tư tham gia sản xuất; số hộ làm nghề tiểu thủ công nghiệp tăng nhanh tại cụm CN-TTCN Thái Bình Thêm vào đó là tốc độ đô thị hóa nhanh dẫn đến ngành Xây dựng phát triển nhanh đã làm cho giá trị sản xuất CN-XD tăng nhanh
Hệ thống chợ được nâng cấp, các siêu thị và Trung tâm thương mại được đầu tư mới để phục vụ nhu cầu mua sắm ngày một cao của nhân dân Thành phố và các huyện lân cận đã làm cho giá trị ngành TM-DV tăng nhanh
Bảng 3.2: Giá trị sản xuất và cơ cấu GTSX giữa các ngành giai đoạn (2007-2012) ĐVT: Tr.đồng
2007 2008 2009 2010 2011 2012 Tốc độ tăng BQ/năm (%)
(Nguồn: Chi cục Thống kê và báo cáo chuyên đề UBND TP.Hòa Bình)
Ngành NN Ngành CN-XD NgànhTM-DV
Ngành NN Ngành CN-XD NgànhTM-DV
Hình 3.2 Biểu đồ cơ cấu lao động theo ngành giai đoạn 2007-2012
3.1.1.3 Đánh giá hiệu quả của quá trình chuyển dịch
Qua bảng 3.3 cho thấy giá trị sản xuất/lao động/năm trong giai đoạn
2007-2012 của các ngành đều tăng qua các năm Cụ thể: Ngành CN-XD là ngành đạt hiệu quả cao nhất với giá trị sản xuất/lao động/năm tăng từ 55,26 triệu đồng (năm 2007) lên 120,23 triệu đồng (năm 2012), với tốc độ tăng bình quân đạt 16,82% Tiếp đó là đến ngành TM-DV cũng cho hiệu quả cũng khá cao, với giá trị sản xuất/lao động/năm tăng từ 67,97 triệu đồng
(năm 2007) lên 116,83 triệu đồng (năm 2012), tốc độ tăng bình quân đạt
11,44% Sau cùng là ngành nông nghiệp có tốc độ tăng giá trị sản xuất/lao động/năm chỉ đạt 1,68%, tương ứng tăng từ 32,2 triệu đồng (năm 2007) lên
Xét trên hai tiêu trí về giá trị sản xuất/lao động/năm tạo ra trong một năm và tốc độ gia tăng giá trị sản xuất/lao động/năm, ta có thể thấy chuyển dịch CCLĐ của Thành phố Hòa Bình là theo hướng giảm nhanh tỷ trọng nông nghiệp và tăng nhanh tỷ trọng CN-XD và TM-DV (là đúng định hướng chuyển dịch CCLĐ theo hướng CNH-HĐH do Thành phố đề ra)
Qua phân tích thực trạng chuyển dịch CCLĐ của Thành phố, báo cáo của Phòng lao động - Thương binh và xã hội, báo cáo của UBND Thành phố Hòa Bình giai đoạn (2007-2012) cho ta thấy chuyển dịch CCLĐ đã góp phần làm cho:
Thực trạng chuyển dịch CCLD tại các hộ điều tra
3.2.1 Tình hình về các nhóm hộ điều tra: Đề tài tập trung điều tra 120 hộ của TP.Hòa Bình
Sau khi kết quá trình điều tra 120 hộ dân thuộc các ngành Nông nghiệp, CN-XD, TM-DV tại địa bàn TP.Hòa Bình và xử lý số liệu điều tra được cho ta kết quả như sau:
3.2.1.1 Lao động a) Số lượng lao động
Theo kết quả điều tra 625 người ở các độ tuổi, số người trong độ tuổi lao động là 454 lao động chiếm 72,64%, ngoài độ tuổi lao động là 27,36% Số lao động trong độ tuổi lao động, thì nữ chiếm 45,37%, nam chiếm 54,63%
Cơ cấu dân số theo nhóm tuổi
( Nguồn: Tổng hợp số liệu điều tra)
Hình 3.6 Biều đồ cơ cấu dân số phân theo nhóm tuổi của các hộ điều tra
Qua hình 3.6 cho thấy số người dưới độ tuổi lao động 0-14 là 118 người chiếm 18,88% Số người trên độ tuổi lao động là 53 người chiếm 8,48%, những nhóm tuổi 15-19, 20-24, 25-29 chiếm tỷ trọng cao trong tổng số, với tỷ trọng lần lượt là 11,84% - 15,20% và 12,80% Như vậy số liệu thể hiện trên biểu đồ cho ta thấy trong thời gian hiện tại và giai đoạn tiếp theo thì lực lượng lao động trẻ vẫn đảm bảo đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của Thành phố b) Chất lượng lao động
Chất lượng lao động là yếu tố quan trọng để tạo ra thu nhập của người lao động: Có rất nhiều yếu tố tác động, đánh giá chất lượng lao động như: Thể chất, trình độ học vấn, sức khỏe, trình độ chuyên môn kỹ thuật, năng khiếu nhưng yếu tố tác động lớn đến thu nhập của lao động chính là trình độ học vấn và trình độ chuyên môn kỹ thuật
Cơ cấu trình độ học vấn
Mù chữ Cấp 1 Cấp 2 Cấp 3 Trung cấp Cao đẳng Đại học
( Nguồn: Tổng hợp số liệu điều tra)
Hình 3.7 Biểu đồ cơ cấu trình độ học vấn của các hộ điều tra
Hình 3.7 cho ta thấy rằng số người lao động điều tra trên 5 tuổi (dưới 5 tuổi chưa đi học) ở mẫu điều tra thì số người mù chữ là 18 người chiếm 2,88% trên tổng số người điều tra; số người có trình độ cấp 1 là 100 người chiếm 16,0%, số người có trình độ cấp 2 là 250 người, chiếm 40,0%, số người đạt trình độ cấp 3 là
168 người chiếm 26,88% Trình độ học vấn của các hộ điều tra còn khá thấp, phần lớn tập những lao động học hết cấp hai là nghỉ học tham gia đi lao động kiếm tiền, điều đó được chứng minh tỷ lệ học sinh cấp ba ít hơn tỷ lệ học sinh cấp hai là 13,12% Số lao động đã qua đào tạo Trung cấp, cao đẳng, đại học lần lượt là: 6,40% - 4,64% và 3,20% Qua đây ta thấy số lao động đã qua đào tạo chuyên nghiệp ít, chỉ chiếm trên 10% tổng số lao động điều tra, do trình độ học vấn thấp thì khả năng tiếp cận những tiến bộ khoa học mới hay nâng cao nâng lực cho người lao động sẽ gặp nhiều khó khăn Vì vậy cần có các giải pháp thích hợp để nâng cao trình độ học vấn của người dân của địa phương
Bảng 3.16 chỉ ra rằng, trong tổng số người có khả năng lao động (454 người không tính người già và trẻ em đi học) thì có đến 46,70% số người chưa qua đào tạo về chuyên môn kỹ thuật và 53,30% số người còn lại thì có qua đào tạo với nhiều hình thức khác nhau Cụ thể như sau: trình độ chuyên môn của những người lao động đạt được phần lớn là thông qua những khoá đào tạo không chính thức (18,06 %); tập huấn Nông nghiệp, tập huấn CN-XD, tập huấn TM-DV lần lượt là (5,73% - 3,30% và 2,20%); trình độ sơ cấp công nhân kỹ thuật 4,41 %; trung học chuyên nghiệp 8,81% và số người đạt trình độ cao đẳng và đại học chiếm 10,79%
Bảng 3.16: Cơ cấu trình độ CMKT của người lao động điều tra
( Nguồn: Tổng hợp số liệu điều tra)
Từ đó ta có nhận xét chung về chất lượng lao động của TP.Hòa Bình: Sản xuất nông nghiệp, buôn bán và xây dựng là những ngành sản xuất của phần lớn lao động tại các hộ điều tra nên trình độ học vấn và trình độ chuyên môn của lực lượng lao động vẫn còn hạn chế, số lượng lao động được đào tạo từ trung cấp trở lên vẫn còn thấp Thực trạng trên cũng đã phản ánh được phần nào về chất lượng của lao động ở Thành phố Hòa Bình, đây là lý do giải thích tại sao phần lớn số người trong độ tuổi lao động trong vùng là lao động giản đơn
Trình độ chuyên môn Số lượng
Không có trình độ chuyên môn 212 46,70 Đào tạo không chính thức 82 18,06
Tập huấn về nông nghiệp 26 5,73
Tập huấn về CN-XD 15 3,30
Tập huấn về TM-DV 10 2,20
Sơ cấp công nhân kỹ thuật 20 4,41
3.2.1.2.Thực trạng về việc làm và tính chất thu nhập a) Thực trạng về việc làm
Lao động đang làm việc là những lao động có việc làm để tạo ra thu nhập, thời gian làm việc chiếm nhiều thời gian nhất trong các công việc mà người đó tham gia Lao động đang làm việc không giới hạn trong độ tuổi lao động mà bao gồm cả những người ngoài độ tuổi vẫn tham gia lao động
Trong tổng số người có khả năng lao động theo số liệu điều tra (454 người) thì số lao động đang có việc làm tạo thu nhập là 435 người chiếm 95,81%, số lao động bị thất nghiệp chiếm 4,19% Những ngành nghề hiện tại là: Nông nghiệp, công nhân, công nhân viên, thợ may, thợ mộc, thợ sửa chữa điện tử, thợ hồ và một số ngành nghề khác b)Tính chất thu nhập
Qua kết quả điều tra về tính chất thu nhập của lao động và hình thức việc làm cho thấy, hiện tại trên địa bàn nghiên cứu có nhiều hình thức thu nhập khác nhau như: Thu nhập theo thời vụ, lương hàng tháng, lương thời gian hay lương theo sản phẩm…
Hình 3.8: Cơ cấu tính chất thu nhập của các hộ điều tra năm 2012, có khoảng 26,44% lao động có thu nhập theo thời vụ; 28,97% lao động hưởng lương công nhật; 32,87% số lao động nhận lương theo sản phẩm và 11,72% số lao động hưởng lương ổn định
Trong tổng số lao động có thu nhập, chỉ có 11,72 % lao động có thu nhập ổn định hàng tháng (số này chủ yếu là cán bộ công chức, viên chức làm việc tại các cơ quan của Thành phố và tỉnh), còn lại phần lớn là có thu nhập không ổn định Điều đó phần nào nói lên thu nhập của lao động trên địa bàn TP.Hòa Bình thất thường, phần lớn là lao động đi làm thuê cho các công ty xây dựng, các nhà máy sản xuất, cơ sở sản xuất, các cửa hàng và trung tâm thương mại, phần còn lại chủ yếu làm nông nghiệp phụ thuộc vào yếu mùa vụ và thời tiết sâu sắc
Cơ cấu tính chất thu nhập
Thu nhập thời vụ Lao động hưởng công nhật
Lao động nhận lương SP Lao động lương ổn định
Hình 3.8 Biểu đồ cơ cấu tính chất thu nhập của các hộ điều tra
3.2.2 Kết quả chuyển dịch CCLĐ giữa các ngành của nhóm hộ điều tra
3.2.2.1 Chuyển dịch cơ cấu về trình độ CMKT lao động của hộ điều tra
Như ta đã biết, trình độ chuyên môn kỹ thuật là tiêu trí phản ánh chất lượng của nguồn lao động xã hội; do vậy khi tương quan về trình độ chuyên môn thay đổi sẽ làm thay đổi chất lượng của nguồn lao động
Theo kết quả điều tra khảo sát các hộ gia đình thuộc 3 lĩnh vực kinh tế thu được kết quả như sau: Số người điều tra 625 người, số người trong độ tuổi lao động 454 người, số lao động 435 người (trừ những người đang đi học và không có khả năng lao động)
Bảng 3.17: Chuyển dịch trình độ CMKT trong các hộ điều tra
2007 2012 Thay đổi tỷ trọng giảm (-), tăng (+) (%)
Không có trình độ CMKT 187 52,53 212 46,70 -5,83 Đào tạo không chính thức 78 21,91 82 18,06 -3,85
Tập huấn về nông nghiệp 20 5,62 26 5,73 0,11
Tập huấn về CN-TTCN 10 2,81 15 3,30 0,49
Tập huấn về TM-DV 6 1,69 10 2,20 0,52
Sơ cấp công nhân kỹ thuật 15 4,21 20 4,41 0,19
(Nguồn: Tổng hợp số liệu điều tra)
Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình chuyển dịch CCLĐ của TP.Hòa Bình
Trên thực tế có rất nhiều yếu tố tác động trực tiếp, gián tiếp đến quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động, nhưng tác động trực tiếp và có ảnh hưởng nhiều nhất đến quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động TP.Hòa Bình theo hướng CNH-HĐH là các yếu tố sau:
3.3.1 Yếu tố vị trí địa lý, địa hình
Sự chuyển dịch CCLĐ phụ thuộc nhiều vào vị trí địa lý, địa hình Tại
02 vùng bờ trái và bờ phải sông Đà của TP.Hoà Bình đều có tính phân vùng rõ rệt vùng thấp có địa hình tương đối bằng phẳng, vùng cao có địa hình đồi và núi đá, các vùng này có điều kiện phát triển kinh tế xã hội khác nhau Do vậy, số lượng chất lượng lao động cũng khác nhau, lao động ở những nơi có địa hình phức tạp khó thì di chuyển đến nơi có điều kiện tự nhiên tốt hơn để sản xuất kinh doanh (tạo thành luồng di chuyển lao động từ vùng cao xuống vùng thấp, từ ngoại thành vào nội thành) hoặc đi làm thuê ở những địa phương khác
Ngoài ra do vị trí địa lý, địa hình của TP.Hòa Bình là trung tâm kinh tế chính trị của tỉnh Hòa Bình, có quốc lộ 6A chạy qua và các tuyến đường nội thị được đầu tư khá hoàn thiện, là nơi tập trung nhiều doanh nghiệp xây dựng, sản xuất CN-TTCN và kinh doanh TM-DV Đây chính là yếu tố rất thuận lợi để chuyển dịch CCLĐ theo hướng CNH-HĐH
3.3.2 Yếu tố về khoa học công nghệ
Như ta đã biết do TP.Hòa Bình là trung tâm kinh tế chính trị của tỉnh nên đây chính là nơi được áp dụng nhiều tiến bộ khoa học và công nghệ vào sản xuất kinh doanh so với các huyện của tỉnh Do tiến bộ khoa học và công nghệ là yếu tố cốt lõi để chuyển dịch CCLĐ theo đúng chủ trương chính sách của Nhà nước (phấn đấu đến năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp hiện đại) Nó được hiểu là sự phát triển đi lên của lực lượng sản xuất, phản ánh mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa yếu tố khoa học với yếu tố kỹ thuật và cũng do yêu cầu phát triển của sản xuất cũng như mức độ phức tạp về nhu cầu tiêu dùng của xã hội quyết định Khi khoa học công nghệ phát triển nó tạo ra động lực thúc đẩy lao động phải nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật, khả năng của bản thân để thích ứng với các tiến bộ khoa học công nghệ
Mặt khác, khi công nghệ thông tin phát triển nhanh chóng và mạnh mẽ, thông tin sẽ được cập nhật từ nhiều kênh khác nhau như internet, báo, đài giúp ích cho người lao động trong tìm kiếm việc làm cũng như học tập nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật góp phần nâng cao thu nhập của mình Ở TP.Hòa Bình công nghệ thông tin chỉ chủ yếu là lao động trẻ tuổi tiếp cận, còn lao động ở độ tuổi trung niên thì còn nhiều hạn chế Do vậy, đây chính là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến việc định hướng, tìm việc làm phù hợp với bản thân người lao động và tác động không tốt đến quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động
Chất lượng lao động biểu hiện ở năng suất lao động xã hội với các nhân tố khác không đổi, chất lượng lao động càng cao sẽ cho năng suất lao động càng cao, có thể nói chất lượng lao động là yếu tố quyết định đến thu nhập của người lao động Từ đó tác động đến quá trình chuyển dịch CCLĐ trên mọi lĩnh vực Khi chất lượng lao động càng cao sẽ thúc đẩy quá trình chuyển dịch nhanh và hiệu quả hơn, tạo ra năng suất lao động cao góp phần phát triển KTXH Chất lượng lao động được thể hiện thông qua chỉ tiêu:
- Trình độ học vấn của lao động: Như đã nói ở trên, trình độ học vấn đóng vai trò quan trọng đối với mỗi con người trong xã hội Trình độ học vấn sẽ giúp lao động thực hiện và áp dụng các năng lực, tài năng, giúp cho người lao động nâng cao địa vị của mình trong xã hội Trong thời kỳ CNH-HĐH đất nước với cơ cấu nghề nghiệp đa dạng như hiện nay đòi hỏi lực lượng lao động phải có trình độ trình độ học vấn cao để nhận thức được vấn đề, khắc phục những hạn chế của bản thân, sáng tạo trong lao động làm tăng năng suất lao động để tạo ra thêm nhiều của cải cho xã hội
- Trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động: Trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động trong điều kiện cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật phát triển mạnh như hiện nay, là yếu tố đánh giá khả năng làm việc của lao động trong mọi lĩnh vực, ngành nghề và nó quyết định đến mức thu nhập của lao động Tại TP.Hòa Bình ở khu vực nội thành lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao cơ bản đáp ứng yêu cầu của CNH-HĐH, nhưng tại các xã ngoại thành thì đây vẫn là vấn đề còn nhiều hạn chế Chính điều này ảnh hưởng rất lớn đến thu nhập của lao động và chuyển dịch CCLĐ của địa phương theo hướng CNH-HĐH
3.3.4.Chính sách của Đảng với khu vực nông thôn, miền núi
Các chính sách của Đảng ta đã tác động rất lớn đến chuyển dịch CCLĐ nông thôn miền núi nói chung, TP.Hòa Bình nói riêng Nó đóng vai trò là công cụ chủ yếu để Nhà nước tác động vào các đối tượng bao gồm nông nghiệp, nông dân, nông thôn và các tổ chức xã hội hoạt động trong các lĩnh vực kinh tế xã hội Các chính sách này nhằm hướng các đối tượng sản xuất, kinh doanh cùng thực hiện chiến lược, chính sách mà Nhà nước đề ra nhằm thúc đẩy quá trình chuyển dịch CCLĐ theo định hướng CNH-HĐH
Chính sách của Nhà nước góp phần thúc đẩy các đơn vị kinh tế, hộ gia đình cùng hợp tác để phát triển nhằm nâng cao thu nhập của mình Đồng thời thực hiện phân phối lại thu nhập giữa các đơn vị kinh tế; tạo điều kiện và môi trường đầu tư để góp phần đẩy nhanh tiến độ xây dựng nông thôn mới theo đúng chủ chương của Đảng
Do chuyển dịch cơ cấu kinh tế tác động trực tiếp đến chuyển dịch CCLĐ Mặt khác muốn tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế một cách bền vững thì việc đảm bảo vốn là vấn đề rất quan trọng Các nguồn vốn đầu tư có ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành và phát triển của các ngành, quá trình nâng cao trình độ công nghệ, ảnh hưởng đến sự hình thành, chuyển dịch cơ cấu kinh tế Giải quyết tốt vấn đề vốn trong nền kinh tế là một trong những điều kiện quan trọng nhất để phát triển và xây dựng một cơ cấu kinh tế hợp lý, phù hợp với yêu cầu khai thác tối đa các nguồn lực của địa phương để thúc đẩy chuyển dịch CCLĐ theo hướng CNH-HĐH
3.3.6 Nhân tố đất đai Đất đai là tài sản cố định hoặc đầu tư cố định, là thước đo sự giàu có của mỗi quốc gia Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt quan trọng đối với mọi quốc gia và lực lượng lao động Đất đai tác động đến mọi quá trình hoạt động kinh tế xã hội, khi mục đích sử dụng đất thay đổi kéo theo sự phân bổ lại lực lượng lao động giữa các vùng, các thành phần kinh tế Vì vậy, có thể nói đất đai tác động tương mạnh đến CCLĐ, ảnh hưởng đến quá trình chuyển dịch CCLĐ của TP.Hòa Bình Vì không có đất thì không thể phát triển sản xuất kinh doanh để chuyển dịch cơ cấu kinh tế và chuyển dịch CCLĐ được
3.3.7 Yếu tố đô thị hóa
Cùng với xu thế phát triển đất nước theo hướng CNH-HĐH, thì tình trạng đô thị hoá của TP.Hòa Bình cũng đã và đang diễn ra rất nhanh và mạnh cả khu vực nội thành và các xã ngoại thành Điều đó được biểu hiện bằng việc tỷ trọng lao động của khu vực bờ phải sông Đà có xu hướng tăng với tốc độ tăng bình quân trong giai đoạn 2007-2012 là 3,96% Khi quá trình đô thị hoá diễn ra nhanh, càng thúc đẩy chuyển dịch CCLĐ theo vùng diễn ra mạnh và có thể dẫn đến sự phát triển không cân bằng về tỷ trọng lao động, tỷ trọng GTSX giữa các vungvùng trên địa bàn Thành phố
Đánh giá chung sự chuyển dịch cơ cấu lao động giữa các ngành trên địa bàn TP.Hoà Bình
3.4.1 Những thành tựu đạt được
Một là, lao động đang làm việc tại ngành nông nghiệp của TP.Hòa Bình có xu hướng giảm dần qua các năm, tốc độ giảm bình quân 1,50%/năm trong giai đoạn 2007-2012, Trong khi đó lao động tại ngành CN-XD và ngành TM-
DV tăng nhanh qua các năm với tốc độ tăng bình quân tương ứng là 4,0%/năm và 5,82%/năm trong giai đoạn 2007-2012 Do tỷ trọng lao động ngành nông nghiệp giảm kéo theo tỷ trọng GTSX của ngành này cũng giảm từ 20,28% (năm 2007) xuống còn 9,58% (năm 2012)
Tính riêng năm 2012 thì ta thấy: tỷ trọng lao động của ngành nông nghiệp là 26,35%, nhưng tỷ trọng GTSX tạo ra chỉ chiếm 9,58% Trong khi tỷ trọng lao động của ngành CN-XD có 30,34 % nhưng lại tạo ra tỷ trọng GTSX của ngành này đạt 37,88% Ngành TM-DV có tỷ trọng lao động 43,31% cũng tạo ra tỷ trọng GTSX khá cao đạt 52,54% (chênh lệch tỷ trọng giữa lao động và giá trị sản xuất là cao nhất và đạt 9,23%)
Hai là, trong hai vùng kinh tế bờ phải sông Đà (vùng I) và bờ trái sông Đà (vùng II) ta thấy sự chuyển dịch CCLĐ và cơ cấu giá trị sản xuất tương đối rõ nét theo hướng giảm CCLĐ và cơ cấu GTSX của vùng II Điều đó được thể hiện: Tỷ trọng lao động vùng I tăng từ 69,21% (năm 2007) lên 72,27% (năm 2012), tỷ trọng GTSX cũng tăng tương ứng từ 70,87% - 75,47%; tỷ trọng lao động vùng II giảm từ 30,79% (năm 2007) xuống còn 27,73% (năm 2012) kéo theo tỷ trọng GTSX giảm 29,13% (năm 2007) xuống còn 24,53% (năm 2012) Tuy nhiên, cả 2 vùng này đều có số lượng lao động và GTSX tăng, nhưng mức độ tăng trưởng của vùng I cao hơn vùng II, đã làm cho CCLĐ vùng II chuyển dịch sang vùng I
Ba là, trong ngành nông nghiệp sự chuyển dịch lao động và giá trị sản xuất diễn ra chậm và đạt hiệu quả chưa cao Điều đó được thể hiện, ngành nông nghiệp (trồng trọt và chăn nuôi) có tỷ trọng lao động khá cao so với ngành Thủy sản và mức độ giảm CCLĐ là 0,37% kéo theo tỷ trọng GTSX giảm 0,41% Nguyên nhân là do CCLĐ và cơ cấu GTSX của ngành Thủy sản thấp cho nên làm cho mức độ chuyển dịch cơ cấu rất chậm
Bốn là, sự chuyển dịch cơ cấu GTSX và chuyển dịch CCLĐ nội bộ ngành
CN-XD diễn ra khá rõ ràng theo hướng tăng tỷ trọng ngành Công nghiệp và giảm tỷ trọng ngành Xây dựng Thể hiện tỷ trọng lao động ngành Công nghiệp tăng
63,54% (năm 2007) lên 65,90% (năm 2012), tỷ trọng GTSX cũng từ 58,65% (năm 2007) lên 69,02% (năm 2012); tỷ trọng lao động ngành Xây dựng giảm từ 36,46% (năm 2007) xuống còn 34,10% (năm 2012) kéo theo tỷ trọng GTSX giảm 41,35% (năm 2007) xuống còn 30,98% (năm 2012) Tuy nhiên, cả hai ngành này trên địa bàn Thành phố vẫn có xu hướng phát triển nhanh
Năm là, sự chuyển dịch CCLĐ và GTSX ở ngành TM-DV là sự chuyển từ ngành Dịch vụ sang ngành Thương mại Được thể hiện: Tỷ trọng lao động ngành Thương mại tăng từ 29,55% (năm 2007) lên 32,16% (năm
2012), tỷ trọng GTSX cũng tăng từ 30,44% (năm 2007) lên 33,86% (năm 2012); tỷ trọng lao động ngành Dịch vụ giảm từ 70,45% (năm 2007) xuống còn 76,84% (năm 2012) kéo theo tỷ trọng GTSX giảm 69,56% (năm 2007) xuống còn 66,14% (năm 2012) Tuy nhiên, cả hai ngành này trên địa bàn thành phố cũng trưởng tương đối mạnh
Sáu là, hiệu quả chuyển dịch CCLĐ trên địa bàn TP.Hòa Bình giai đoạn (2007 - 2012)
Bảng 3.21: Một số chỉ tiêu về chuyển dịch CCLĐ TP.Hòa Bình (2007-2012)
TT Chỉ tiêu ĐVT Năm
1 Lao động trong các ngành người 44.000 51.176
1.2 Lao động ngành NN người 14.540 13.485 -1,50 1.2 Lao động ngành CN-XD người 12.760 15.528 4,00 1.3 Lao động ngành TM-DV người 16.700 22.163 5,82
2 GTSX của các ngành Tr.đồng
2.1 Giá trị sản xuất ngành NN Tr.đồng 468.216 471.978 0,16 2.2 Giá trị sản xuất CN-XD Tr.đồng 705.075 1.866.998 21,50 2.3 Giá trị sản xuất TM-DV Tr.đồng 1.135.161 2.589.282 17,93
3 Giá trị sản xuất/LĐ ngành
3.1 GTXS/LĐ/năm ngành NN Tr.đồng 32,20 35,0 1,68 3.2 GTXS/LĐ/năm ngành CN-XD Tr.đồng 55,26 120,13 16,82 3.3 GTXS/LĐ/năm ngành TM-DV Tr.đồng 67,97 116,83 11,44
4 Tỷ lệ lao động thất nghiệp % 4,52 3,65
5 Thu nhập bình quân/đầu người Tr.đồng 14,6 27,5 13,50
6 Tỷ lệ hộ nghèo (theo QĐ số
(Nguồn: Báo cáo chuyên đề của UBND TP.Hòa Bình) 3.4.2 Những tồn tại yếu kém
Một là, sự chuyển dịch cơ cấu nội ngành nông nghiệp diễn ra rất chậm
Bởi vì ngành Thủy sản chiếm tỷ trọng rất thấp trong CCLĐ và cơ cấu GTSX của ngành nông nghiệp, thể hiện tại năm 2012 tỷ trọng lao động chiếm 1,47% và tỷ trọng GTSX chiếm 1,21% Chính vì thế mặc dù tốc độ phát triển ngành Thủy sản cao, nhưng không ảnh hưởng nhiều đến chuyển dịch CCLĐ và cơ cấu GTSX của ngành nông nghiệp
Hai là, chất lượng lao động thấp, tỷ lệ mù chữ chiếm 2,88%, trình độ học vấn cấp 1 và cấp 2 chiếm tỷ trọng cao 56,0%, trình độ học vấn cấp 3 chiếm 26,88%, số lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật trung cấp, cao đẳng và đại học chỉ chiếm 14,24% Do vậy chất lượng động vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của thời kỳ Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Ba là, trình độ chuyên môn của lao động có tăng lên, nhưng tốc tăng vẫn còn chậm, thể hiện đến năm 2012 tỷ trọng lao động chưa có trình độ chuyên môn vẫn còn cao, do đó để đáp ứng được nhu cầu của kinh tế trong thời kỳ CNH-HĐH cần phải đẩy mạnh công tác đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn cho nguồn lao động
Bốn là, tỷ lệ lao động thất nghiệp vẫn còn chiếm tỷ lệ cao, khoảng 4,19% tổng số lao động (số liệu tổng hợp từ các hộ điều tra)
3.4.3 Những nguyên nhân của tồn tại yếu kém
Một là, diện tích nuôi trồng Thủy sản của Thành phố tương đối thấp và người lao động tại đây chủ yếu quan tâm đến trồng trọt và chăn nuôi, còn Thủy sản được tận dụng các ao hồ đập thả cá để ăn là chủ yếu Trong giai đoạn 2007-2012 do nhu cầu về cá tăng lên đã làm cho nông dân đã bắt đầu tận dụng các hồ để nuôi các theo hình thức bán công nghiệp như nuôi cá lồng trên lòng hồ sông Đà tạo ra giá trị ngành Thủy sản tăng nhanh, nhưng cơ cấu thấp lên mức tăng này không ảnh hưởng nhiều đến cơ cấu ngành nông nghiệp
Hai là, do mang đặc trưng của miền núi có trình độ văn hóa thấp, do tất yếu của lịch sử để lại tỷ lệ mù chữ cao chủ yếu ở lứa tuổi trên 45 tuổi Trong những năm gần đây công tác đào tạo nâng cao trình độ học vấn và trình độ chuyên môn cho lao động trẻ trên địa bàn đã được quan tâm và có bước đầu đã cải thiện được phần nào chất lượng yếu kém của nguồn lao động
Ba là, việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất kinh doanh ở khu vực ngoại thành còn gặp rất nhiều hạn chế do chất lượng lao động không cao (chủ yếu học hết cấp 2, tỷ lệ học cấp 3 và trung cấp chuyên nghiệp rất thấp) lên tình trạng sản xuất lạc hậu, kém phát triển, đặc biệt là lĩnh vực nông nghiệp chủ yếu sử dụng kinh nghiệm tích lũy từ thực tiễn sản xuất là chủ yếu Dẫn đến lao động khó chuyển sang các ngành nghề phi nông nghiệp cần trình độ cao hơn
Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức đối với lao động và việc làm của TP.Hoà Bình
- Thành phố Hòa Bình có lực lượng lao động dồi dào, lao động trẻ chiếm trên 50% tuy chủ yếu là lao động phổ thông nhưng được đánh giá cao là sức có sức khỏe tốt, nhiệt tình, cần cù, năng động,… Nếu được đào tạo tốt thì đây chính là tiềm năng của Thành phố để chuyển dịch CCLĐ
- Được sự quan tâm chỉ đạo sâu sát của các cấp, các ngành, các đoàn thể của Thành phố về:
+ Tạo điều kiện cung cấp thông tin để người lao động tìm được việc làm phù hợp với khả năng của mình; mở các lớp tập huấn dài hạn và ngắn hạn để đào tạo nghề cho lao động
+ Giáo dục đào tạo thế hệ trẻ - thành phần quan trọng trong việc cung cấp nguồn nhân lực cho tương lai Ý thức điều đó UBND Thành phố, UBND tỉnh đã tiến hành chuẩn hóa đội ngũ giáo viên các cấp, do đó chất lượng giá dục và kết quả học tập được nâng lên rõ rệt
- Địa bàn Thành phố có tuyến quốc lộ 6A chạy qua, các tuyến đường nội thị cũng được đầu tư khá tốt đã giúp cho giao thương buôn bán với các huyện trong tỉnh và với các tỉnh miền Tây bắc rất thuận lợi b) Điểm yếu
- Trình độ nhận thức về nghề nghiệp của lao động vẫn còn hạn chế, lao động chưa biết chọn nghề nghiệp phù hợp với bản thân Thông thường những lao động có trình độ thì muốn làm việc trong các cơ quan Nhà nước, những lao động không có trình độ thì xu hướng đi làm tự do với những công việc nặng nhọc như phụ hồ, lái xe ôm, chở hàng thuê vào những khi kết thúc mùa vụ trong sản xuất nông nghiệp, hoặc đi nơi khác làm thuê Do vậy, mức thu nhập của lao động thường không ổn định
- Đa số lao động trên địa bàn là lao động chưa qua đào tại chính quy, chủ yếu tiếp cận công việc từ việc học hỏi kinh nghiệm từ những người đi trước Chính vì vậy nhiều lao động không đáp ứng được yêu cầu của các nhà tuyển dụng Đào tạo nghề thời gian ngắn, chất lượng đào tạo và tay nghề của người được đào tạo vẫn còn yếu dẫn đến người lao động không tự tin và được thuê làm việc với mức lương thấp Bên cạnh đó công tác đào tạo nghề chưa gắn với đầu ra cho nên không thu hút được lao động tham gia học Mặt khác việc đào tạo nghề trên địa bàn cũng gặp nhiều khó khăn như: cơ sở hạ tầng - trang thiết bị trường lớp chưa có hoặc đã quá cũ, lạc hậu và người lao động còn thiếu kinh phí để tham gia học tập nâng cao trình độ
- Mặc dù công tác vận động tuyên truyền cho lao động việc làm cho người lao động được sự quan tâm của các cấp chính quyền và các đoàn thể Nhưng khi thực hiện vẫn còn yếu, bên cạnh đó chưa có sự quan tâm của người lao động Kết quả là nhận thức của người lao động về việc làm chưa cao, họ còn khá bỡ ngỡ và xa lạ Người lao động cũng còn tư tưởng an phận ít chịu đi làm xa c) Cơ hội
- Thành phố đang tiếp tục đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng nhằm tăng số lượng doanh nghiệp đầu tư vào khu công nghiệp Bờ trái sông Đà và cụm
- Hiện nay Chính phủ hỗ trợ các dự án dạy nghề như: Dạy nghề cho người lao động ở nông thôn, dạy nghề cho cán bộ, cho bộ đội phục viên xuất ngũ, khôi phục các nghề truyền thống … Các đề án này đã góp phần đào tạo nghề cho người lao động giúp họ tìm được việc làm nâng cao thu nhập, đồng thời nó góp phần lớn đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật của nguồn lao động
- Trên địa bàn Thành phố có các trường cao đẳng, trường trung cấp tham gia đào tạo cho đội ngũ lao động; bên cạnh đó các trường cũng liên kết với các trường cao đẳng, đại học có uy tín và chất lượng để đào tạo nâng cao trình độ cho lao động, góp phần nâng cao trình độ nguồn nhân lực d) Thách thức
- Do đời sống của người lao động nông thôn nói chung và lao động ở miền núi nói riêng gặp rất nhiều khó khăn, phải đi lao động từ khi chưa đến tuổi lao động, điều kiện để chăm sóc sức khỏe còn hạn chế, nên vấn đề sức khỏe của người lao động là một vấn đề lớn Mặt khác người lao động trên 40 tuổi ít được tuyển dụng vào các công ty, đây cũng là nguyên nhân lao động bị thất nghiệp (do ốm yếu, do tuổi cao cộng với không có trình độ)
- Lực lượng lao động của Thành phố chủ yếu là lao động phổ thông có trình độ tay nghề thấp, trong khi đó với yêu cầu của thời kỳ CNH-HĐH thì việc tiếp cận các kiến thức về kinh tế, khoa học, xã hội cũng như các tiến bộ khoa học công nghệ để nâng cao trình độ để tạo ra thu nhập cũng là một vẫn đề lớn cần phải giải quyết
- Trình độ dân trí thấp, không đồng đều và chỉ thấy cái lợi trước mắt “nghỉ học để đi làm thuê tạo thu nhập”, ý thức của người lao động kém, ứng xử tuỳ tiện nhất là đối với các lao động xuất phát từ nông thôn, người lao động phần lớn chỉ quan tâm vào thu nhập mà ít quan tâm đến việc nâng cao tay nghề Chính vì vậy trình độ tay nghề không thường xuyên được nâng cao và sẵn sàng thay đổi việc nếu công việc khác có thu nhập khá hơn Bên cạnh đó những phong tục tập quán lạc hậu vẫn còn nhiều trong những việc ma chay, cưới hỏi làm ảnh hưởng lớn đến công việc cũng như thu nhập của người lao động.
Ma trận SWOT
Căn cứ thực trạng lao động việc làm của Thành phố trong thời gian qua Trên cơ sở phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và đe dọa từ đó tác giả thiết lập ma trận SWOT như sau:
Bảng 3.22: Liệt kê điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức Liệt kê các điểm mạnh (S)
S1 Lao động trẻ dồi dào, cần cù, ham học hỏi
S2 Được sự quan tâm, nhiệt tình giúp đỡ của các cơ quan chức năng
S3.Thành phố có khu công nghiệp nên
LĐ có nhiều việc làm để lựa chọn
Liệt kê các điểm yếu (W)
W1 Nhận thức của người lao động chưa cao
W2 Chất lượng lao động còn thấp W3 Công tác tuyên truyền giáo dục và mạng lưới thông tin chưa sâu rộng W4 Chính sách thu hút đầu tư còn kém
Liệt kê các cơ hội (O)
O1 Nhu cầu tuyển dụng lao động của các doanh nghiệp trên địa bàn ngày càng nhiều
O2 Có các chương trình, chính sách đào tạo nghề miễn phí và hỗ trợ đào tạo nghề
O3 Được sự quan tâm hỗ trợ của Nhà nước và UBND tỉnh cũng như TP
Liệt kê các thách thức (T)
T1 Bệnh nghề nghiệp Tệ nạn xã hội gia tăng và chất lượng cuộc sống giảm
T2 Nhu cầu trình độ tay nghề cao, sự cạnh tranh việc làm từ lao động nơi khác dẫn đến nguy cơ bị sa thải
T3 Uy tín người lao động giảm
Bảng3.23 : Chiến lược SWOT S+O: Phát triển, đầu tư
- Nâng cao tay nghề và tạo cơ hội tăng thu nhập cho người lao động
- Tạo mối kết nối giữa lao động và người sử dụng lao động
W1, W2+O1,O2,O3 → Đầu tư vào công tác đào tạo và nâng cao hiệu quả giải quyết việc làm
W3 + O1,O2,O3 → Cải thiện hoạt động tư vấn tuyên truyền, phát triển hệ thống thông tin
W4 + O1,O2,O3 → Quy hoạch và ban hành chính sách thu hút đầu tư
S1, S2,S3+T1 → Tăng cường kiểm tra an toàn lao động đối với đơn vị sử dụng lao động
Nâng cao ý thức trách nhiệm cho người lao động, qua các chương trình đào tạo và tuyên truyền
W1,W3+T1→ Sử dụng hợp đồng lao động, tăng cường vai trò của công đoàn doanh nghiệp
W1,W2, W3 + T2,T3 → Liên kết đẩy mạnh thông tin tuyên truyền và dạy nghề cho người lao động
W3+ T2→ Kêu gọi đầu tư, thu hút lao động.
Những giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu
3.7.1 Giải pháp về đào tạo nguồn nhân lực theo định hướng phát triển kinh tế thời kỳ CNH-HĐH
Lao động nông thôn, miền núi có trình độ chuyên môn thường thấp so với các khu vực khác Vì vậy những chương trình đào tạo nghề cho lao động vùng này là rất cần thiết đặc biệt là lực lượng lao động trẻ, lực lượng này sẽ góp phần nâng cao năng lực sản xuất và phát huy được tính năng động, sáng tạo trong sản xuất Theo nghiên cứu thì trình độ chuyên môn của lao động cũng là yếu tố quan trọng góp phần nâng cao chất lượng lao động Vì thế các chương trình đào tạo nghề cho lao động phải căn cứ vào quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của địa phương, căn cứ vào việc phân nhóm ngành nghề, căn cứ vào trình độ của người lao động; đồng thời cần quan tâm đến công tác hướng nghiệp cho học sinh ngay từ những năm học cấp 3
Chính sách đào tạo nghề là một giải pháp giúp giải quyết việc làm cho người lao động thất nghiệp nói chung và lao động ở nông thôn miền núi nói riêng Khi lao động được đào tạo nghề thì những lao động này sẽ có trình độ chuyên môn kỹ thuật và họ sẽ tự tìm kiếm được việc làm hoặc thông qua các chương trình tuyển dụng, giới thiệu việc làm để tìm được công việc phù hợp Dựa vào những kiến thức chuyên môn mà họ đã được học, các nhà tuyển dụng sẽ nhận họ vào làm việc tại các công ty, doanh nghiệp Khi trình độ của lao động tăng lên thì cơ hội làm việc của họ cũng tăng, khi đó lao động thất nghiệp sẽ được giảm nhanh chóng Vì vậy chính sách đào tạo nghề là một chính sách có tác động tương đối lớn đến chuyển dịch CCLĐ theo hướng CNH-HĐH
Nâng cao chất lượng đào tạo nghề phù hợp với điều kiện của địa phương, đảm bảo những lao động khi ra trường ngoài kỹ năng được học còn phải phù hợp với xu thế phát triển của xã hội theo từng giai đoạn, đảm bảo lao động tạo ra thu nhập từ chính những nghề đã được đào tạo Các trường học hoặc trung tâm dạy nghề này cũng cần liên kết với các đơn vị để những lao động sau khi hoàn thành khóa học có thể có việc làm ngay và ổn định Nhất là đối với những người có năng khiếu nên có học bổng hoặc các chính sách khuyến khích để người tham gia học nghề có thêm động lực học tập
Phòng Lao động - Thương binh và xã hội thường xuyên tổ chức điều tra, khảo sát đánh giá số lượng, chất lượng đội ngũ lao động có đủ khả năng lao động và hiện đang có nhu cầu kiếm việc làm Thành phố phải chỉ đạo thực hiện triệt để chương trình dân số kế hoạch hoá gia đình để giảm tỷ lệ tăng trưởng dân số tiến tới mức thay thế, khi mức tăng dân số giảm thì áp lực việc làm cũng giảm theo
Xây dựng chiến lược đào tạo nghề theo các hướng:
Một là, đẩy nhanh tốc độ xây dựng khu công nghiệp bờ trái sông Đà, cụm
CN-TTCN Thái Bình và có chính sách ưu đãi đối với nhà đầu tư vào các khu, cụm CN-TTCN của Thành phố Đây là điều kiện để chuyển dịch CCLĐ từ nông nghiệp sang lĩnh vực phi nông nghiệp, theo hướng tăng tỷ trọng lao động ngành CN-XD và TM-DV đồng thời giảm tỷ trọng nông nghiệp
Hai là, phát triển mạnh ngành TM-DV để thu hút lao động chuyển dịch sang ngành này, từng bước tăng tỷ trọng lao động trong ngành TM-DV nhằm xây dựng CCLĐ các ngành hợp lý theo hướng tăng lao động phi nông nghiệp
Ba là, nâng cao năng suất lao động, giải phóng sức lao động trong nông nghiệp tạo điều kiện để dịch chuyển lao động ngành nông nghiệp sang ngành CN-XD và TM-DV
3.7.2 Giải pháp về chuyển dịch cơ cấu đất đai và công tác quy hoạch sử dụng đất đai của TP.Hoà Bình
Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành liên quan ban hành cơ chế quy định về công tác quy hoạch như: quy hoạch xây dựng, quy hoạch chuyên ngành,… nhằm tránh chồng chéo và mâu thuẫn như hiện nay UBND cấp tỉnh,
Thành phố trực thuộc Trung ương phê duyệt kế hoạch sử dụng đất linh hoạt và chủ động trong việc điều chỉnh kế hoạch sử dụng đất phù hợp với tình hình thực tế của địa phương Xây dựng điều chỉnh, bổ sung cơ chế, quy định về công tác quy hoạch xây dựng, nhất là công tác lập, thẩm định và phê duyệt quy hoạch chi tiết, trong đó cần hạn chế việc chia nhỏ dự án nhằm tránh lãng phí đất, vốn đầu tư Điều chỉnh, bổ sung chính sách và quy định giá bồi thường nhất quán, đồng bộ và bình đẳng đối với tất cả các dự án đầu tư; bảng giá đất cần sát với giá chuyển nhượng thực tế trên thị trường tại thời điểm ban hành và có thể ban hành hàng năm Ban hành cơ chế, chính sách quy định chi tiết, cụ thể và chặt chẽ đối với việc lựa chọn, nhất là việc quy định các tiêu chí để đánh giá khả năng tài chính đối với các chủ đầu tư tham gia các dự án, nhất là các dự án kinh doanh bất động sản…
3.7.3 Giải pháp về đầu tư và phát triển cơ sở hạ tầng
Khuyến khích đầu tư vào các mục tiêu để chuyển dịch cơ cấu kinh góp phần chuyển dịch CCLĐ Đặc biệt là các chính sách đầu tư từ nguồn ngân sách Nhà nước đối với khu vực nông thôn miền núi như cho vay vốn để mở rộng kinh tế trang trại, phát triển nghề thủ công…
Khuyến khích mọi thành phần kinh tế đầu tư vào sản xuất, có chính sách ưu tiên đối với những nhà đầu tư vào các lĩnh vực nông nghiệp nông thôn, các vùng khó khăn Bằng cách thông qua các chính sách ưu đãi về thuê đất, thuế, chính sách bảo hộ sản xuất…
Việc chuyển dịch CCLĐ nhanh và có hiệu quả phụ thuộc rất nhiều vào kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất
- Đối với hệ thống giao thông
Giao thông là điều kiện không thể thiếu để phát triển các vùng chuyên môn hóa và tập chung hóa sản xuất Cần tiếp tục hoàn thiện và nâng cấp hệ thống giao thông trong vùng, nhất là vùng ngoại thành theo phương thức Nhà nước và nhân dân cùng đầu tư, chính quyền địa phương quản lý Nâng cấp những tuyến đường chính và kết nối chúng thành một hệ thống đảm bảo lưu thông hàng hóa
- Đối với hệ thống điện Điện có ý nghĩa quan trọng để phục vụ sản xuất kinh doanh và đời sống Tình trạng thiếu điện trong những năm gần đây đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng cho sản xuất đặc biệt là lĩnh vực Công nghiệp Vì vậy trong những năm tới vấn đề chủ yếu là ổn định nguồn điện phục vụ sản xuất kinh doanh… Cần phải kết hợp giữa chính quyền và nhân dân trong việc xây dựng và quản lý sử dụng mạng lưới điện
- Đối với hệ thống thủy lợi
Thủy lợi là yếu tố quan trọng đối với khu vực nông thôm miền núi, điều tiết nước để sản xuất nông nghiệp, cung cấp sinh hoạt hàng ngày của con người Cần phải đầu tư xây dựng mới và nâng cấp các công trình thủy lợi, phát triển mạng lưới thủy lợi một cách đồng bộ và cân đối từ hệ thống đê điều, kênh mương các cấp trên địa bàn… Bên cạnh việc xây dựng các công trình thủy lợi cũng phải tăng cường hơn nữa công tác quản lý
3.7.4 Giải pháp về khoa học và công nghệ
Trong điều kiện cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật phát triển mạnh như hiện nay, việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất và đời sống xã hội là một tất yếu Sau đây là một số giải pháp cụ thể để ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất có hiệu quả: