1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu ảnh hưởng của chế phẩm điều hòa sinh trưởng đến quá trình sinh trưởng phát triển cây lạc

65 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 2,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CAM ĐOAN Khóa luận tốt nghiệp với đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của chế phẩm điều hòa sinh trưởng đến quá trình sinh trưởng phát triển của cây Lạc tiên Passitflora foetida L.. Xuất p

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM -

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Sinh thái và Bảo tồn ĐDSH

Khóa học : 2015 - 2019

Thái Nguyên - 2019

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM -

Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Sinh thái và Bảo tồn ĐDSH Lớp : K47 – ST&BTĐDSH

Khóa học : 2015 - 2019 Giáo viên hướng dẫn : TS Nguyễn Thị Thu Hiền

Thái Nguyên – 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN Khóa luận tốt nghiệp với đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của chế phẩm điều hòa sinh trưởng đến quá trình sinh trưởng phát triển của cây Lạc tiên

(Passitflora foetida L.) nhân giống bằng hạt tại Thái Nguyên” là công trình

nghiên cứu của bản thân tôi, đề tài đã sử dụng thông tin từ nhiều nguồn khác nhau, các thông tin có sẵn đã được trích rõ nguồn gốc

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của bản thân tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu là quá trình điều tra trên thực địa, hoàn toàn trung thực, chưa công bố trên các tài liệu Nếu có gì sai sót tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Thái Nguyên, ngày 10 tháng 7 năm 2019

TS Nguyễn Thị Thu Hiền Lồ Di Mềnh

XÁC NHẬN CỦA GV CHẤM PHẢN BIỆN Xác nhận đã sửa chữa sai xót sau khi Hội đồng chấm đánh giá

(Ký, họ và tên)

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Thực tập tốt nghiệp là một thời gian có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình học tập của mỗi sinh viên Đây là một quá trình giúp sinh viên hệ thống hóa, củng cố lại kiến thức đã học Đồng thời cũng là thời gian để cho sinh viên học hỏi, làm quen với công tác nghiên cứu, tiếp xúc và cọ sát với thực tế, giúp mỗi sinh viên nâng cao kiến thức, kĩ năng, thái độ trước khi ra trường Là tiền

đề cho sự thành công của mình trong tương lai

Xuất phát từ nguyện vọng bản thân, được sự nhất trí của ban chủ nhiệm khoa Lâm nghiệp, ban giám hiệu Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, tôi

tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của chế phẩm điều hòa

sinh trưởng đến quá trình sinh trưởng phát triển cây Lạc tiên (Passitflora foetida L.) nhân giống bằng hạt tại Thái Nguyên” Trong quá trình thực tập

được sự giúp đỡ, chỉ bảo, hướng dẫn tận tình của thầy cô giáo trong khoa, trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, đặc biệt cô giáo hướng dẫn: TS Nguyễn Thị Thu Hiền là người trực tiếp hướng dẫn tôi thực hiện đề tài này cùng sự cố gắng của bản thân đã giúp tôi hoàn thành khóa luận này

Nhân dịp này cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc tới Ban chủ nhiệm khoa Lâm Nghiệp Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên

đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành khóa luận này

Đặc biệt cho tôi xin bày tỏ lòng biết ơn với chân thành và sâu sắc tới cô giáo hướng dẫn TS Nguyễn Thị Thu Hiền đã hướng dẫn tận tình trong suốt thời gian tôi thực tập và hoàn thành khóa luận

Do điều kiện và thời gian có hạn, trình độ bản thân còn hạn chế nên khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót nhất định.Vì vậy tôi rất mong nhận được

ý kiến đóng góp của thầy cô và các bạn để đề tài hoàn thiện hơn

Thái Nguyên, ngày 10 tháng 7 năm 2019

Sinh viên

Lồ Di Mềnh

Trang 5

Bảng 3.1 Tỉ lệ pha nồng độ thuốc

defined

Bảng 4.1 Ảnh hưởng của chế phẩm ĐHST đến tỷ lệ sống cây Lạc tiên Error!

Bookmark not defined

Bảng 4.2 Thời gian nảy mầm của hạt Lạc tiên ở 5 công thức thí

nghiệm Error! Bookmark not defined

Bảng 4.3 Ảnh hưởng của chế phẩm ĐHST đến giai đoạn phân cành cấp

1 Error! Bookmark not defined

Bảng 4.4 Ảnh hưởng của chế phẩm ĐHST đến D00 cây con Lạc tiên Error!

Bookmark not defined

Bảng 4.5 Ảnh hưởng của chế phẩm ĐHST đến Hvn cây con Lạc tiên Error!

Bookmark not defined

Bảng 4.6 Ảnh hưởng của chế phẩm ĐHST đến động thái tăng trưởng D00 và

ươm ……… Error! Bookmark not defined

Bảng 4.7 Ảnh hưởng của chế phẩm ĐHST đến số lá cây con Lạc tiên ở giai

đoạn vườn ươm Error! Bookmark not defined

Bảng 4.8 Tình hình sâu bệnh hại cây con Lạc tiên ở giai đoạn vườn

ươm Error! Bookmark not defined

Trang 6

Hình 2.1 Ảnh về cây Lạc tiên ở vườn khi quả chín ở thái nguyên 25

Hình 3.1 Loại thuốc Atonik được sử dụng trong đề tài 28

Hình 3.2 Loại thuốc GA3 được sử dụng trong đề tài 29

Hình 4.1 Tỉ lệ sống của cây Lạc tiên ở 5 công thức thí nghiệm 37

Hình 4.2 Thời gian nảy mầm của hạt Lạc tiên ở 5 công thức thí nghiệm……38

Hình 4.3 Ảnh tỷ lệ nẩy mầm của hạt Lạc tiên ở giai đoạn vườn ươm 39

Hình 4.4 Ảnh hưởng của chế phẩm ĐHST đến giai đoạn phân cành cấp 1 40

Hình 4.5 Ảnh hưởng của chế phầm ĐHST đến D00 cây con Lạc tiên 42

Hình 4.6 Tác giả đo đếm chỉ tiêu D00 cây Lạc tiên ở giai đoạn vườn ươm 43

Hình 4.7 Ảnh hưởng của chế phẩm ĐHST đến Hvn cây con Lạc tiên 45

Hình 4.8 Tác giả đo đếm chỉ tiêu Hvn cây con Lạc tiên……….45

Hình 4.9 Động thái tăng trưởng Hvn, D00 cây con Lạc tiên ở giai đoạn vườn ươm 47

Hình 4.10 Ảnh hưởng của chế phầm ĐHST đến số lá cây con Lạc tiên 49

Hình 4.11 Tác giả đo đếm chỉ tiêu số lá cây con Lạc tiên 49

Hình 4.12 Tác giả theo dõi tình hình sâu hại cây con Lạc tiên 50

Trang 7

Chữ cái viết tắt/ký hiệu Cụm từ đầy đủ

Tb

Xentimet Milimet Công thức Đối chứng Đường kính Chiều cao

Số thứ tự Trung bình

Trang 8

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

DANH MỤC CÁC BẢNG iii

DANH MỤC CÁC HÌNH iv

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v

PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1

1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích nghiên cứu 3

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3

1.3 Ý nghĩa của đề tài 3

1.3.1 Ý nghĩa về mặt khoa học 3

1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 4

PHẦN 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5

2.1 Cơ sở khoa học của phương pháp nhân giống bằng hạt 5

2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng nảy mầm của hạt 6

2.3 Những nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam 16

2.3.1 Trên thế giới 16

2.3.2 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam 18

2.4 Tổng quan đặc điểm khu vực nghiên cứu 21

2.4.1 Điều kiện tự nhiên 21

2.4.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 22

2.4 Đặc điểm chung của cây Lạc tiên 23

PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27

3.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 27

Trang 9

3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 27

3.2 Vật liệu nghiên cứu 27

3.2.1 Atonik và công dụng của Atonik 27

3.2.2 GA3 và công dụng của GA3 28

3.3 Nội dung nghiên cứu 30

3.4 Phương pháp nghiên cứu 30

3.4.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 30

3.4.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp 30

3.4.3 Phương pháp nội nghiệp 35

PHẦN 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 36

4.1 Ảnh hưởng của chế phẩm ĐHST đến tỷ lệ sống của cây Lạc tiên nhân giống bằng hạt ở giai đoạn vườn ươm 36

4.2 Ảnh hưởng của chế phẩm ĐHST đến giai đoạn này mầm và phân cành của cây Lạc tiên ở giai đoạn vườn ươm 37

4.2.1 Ảnh hưởng đến giai đoạn nảy mầm 37

4.2.2 Ảnh hưởng của chế phẩm ĐHST đến giai đoạn phân cành 39

4.3 Ảnh hưởng của chế phẩm ĐHST đến đường kính và chiều cao của cây con Lạc tiên nhân giống bằng hạt ở giai đoạn vườn ươm 41

4.3.1 Ảnh hưởng của chế phẩm ĐHST đến đường kính (D00) 41

4.3.2 Ảnh hường của các chế phẩm đến chiều dài thân chính (Hvn) 43

4.4 Ảnh hưởng của chế phẩm ĐHST đến động thái tăng trưởng D00 và Hvn cây con Lạc tiên nhân giống bằng hạt ở giai đoạn vườn ươm 46

4.5 Ảnh hưởng của chế phẩm ĐHST đếm số lá của cây Lạc tiên nhân giống bằng hạt ở giai đoạn vườn ươm 47

4.5 Ảnh hưởng của chế phẩm ĐHST đén tình hình sâu bệnh hại cây Lạc tiên nhân giống bằng hạt ở giai đoạn vườn ươm 49

Trang 10

5.1 Kết luận 51 5.2 Kiến nghị 52

TÀI LIỆU THAM KHẢO 53

Trang 11

PHẦN 1

MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Việt Nam là một trong những quốc gia có số lượng dân có dân số đông

gần 97 triệu người vào ngày 27/06/2019 theo số liệu mới nhất từ Liên Hợp Quốc Dân số Việt Nam hiện chiếm 1,27% dân số thế giới Việt Nam đang đứng thứ 14 trên thế giới trong bảng xếp hạng dân số các nước và vùng lãnh thổ Mật độ dân số của Việt Nam là 314 người/km2 Với tổng diện tích đất

là 310.060 km2 35,92% dân số sống ở thành thị (34.658.961 người vào năm 2018) Độ tuổi trung bình ở Việt Nam là 31 tuổi Việt nam cũng là một trong những có địa hình hiểm trở chủ yếu là miền núi, tại đây có nhiều tài nguyên

có giá trị cao đặc biệt nguồn cây thuốc dân gian ở nhiều dân tộc khác nhau Theo thống kê hiện tại ở Việt Nam đã có 10.340 loài như hà thủ ô đỏ, bình vôi, sâm vũ điệp trong đó không thể kể đến cây Lạc tiên là một loại dược liệu được dùng trong sản xuất đông dược và tân dược Cây mọc ở nhiều nơi nhưng thường được tìm thấy ở các bãi hoang, bờ bụi Loại cây này còn có nhiều

tên gọi: cây lạc, cây lồng đèn, hồng tiên, mắc mát, long châu quả Cây Lạc

tiên có tên khoa học (Passiflora Foetida L.), thuộc họ tầm gửi Cây mọc tự

nhiên ở ven rừng, đồi núi Lạc tiên là loại dây leo, thân mềm, rỗng, có nhiều lông thưa Lá mọc so le hình trái tim, mép và hai mặt có lông mịn, tua cuốn cuộn tròn Hoa có màu trắng, ở giữa tím nhạt Quả mọng màu vàng, dùng ăn được Hoa Lạc tiên mọc riêng lẻ, quả của nó hình trứng, dài 2-3cm, được bao bởi các lá ở ngoài Quả Lạc tiên thuộc loại “quả tương” (vỏ mỏng, bên trong chứa chất dịch và có hạt nhỏ)

Theo nghiên cứu của các nhà khoa học đã công bố, tỉ lệ người mất ngủ

có thể từ 4% cho tới 48% tùy theo đối tượng và lứa tuổi Khoảng 33% dân số

bị một trong nhiều triệu chứng của mất ngủ, 18% không thoả mãn với giấc ngủ 30% bệnh mất ngủ có liên hệ bệnh tâm thần, Theo số liệu thống kê, có tới

Trang 12

khoảng 20% dân số gặp phải tình trạng mất ngủ về đêm Trước đây tình trạng khó ngủ về đêm, mất ngủ… thường chỉ xảy ra ở những người cao tuổi thì hiện nay càng có nhiều người trẻ phải vật lộn chứng khó ngủ, mất ngủ Tình trạng khó ngủ, mất ngủ về đêm kéo dài sẽ khiến cơ thể mệt mỏi, làm ảnh hưởng tới cuộc sống và hiệu quả công việc Việc sử dụng thuốc ngủ và thuốc an thần trong thời gian dài ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và có thể gây nghiện Hiện nay,

sử dụng thảo dược trong điều trị mất ngủ và rối loạn an thần đang được chú trọng, khắc phục được các hạn chế của thuốc ngủ và thuốc an thần

Cây Lạc tiên (Passiflora foetida L.) là một loại dược liệu được dùng

trong sản xuất đông dược và tân dược Cây còn có nhiều tên gọi: cây Lạc, cây Lồng đèn, Hồng tiên, Mắc mát, Long châu quả Cây Lạc tiên có trong Dược điển Pháp và được nhiều nước ở châu Âu, Mỹ sử dụng Các nghiên cứu cho thấy nó có tác dụng lên hệ thần kinh trung ương: trấn tĩnh, an thần, chống hồi hộp, lo âu, mất ngủ Nó còn có tác dụng trực tiếp lên cơ trơn, làm giãn và chống

co thắt nên chữa được các chứng đau do co thắt đường tiêu hóa, tử cung

Dân gian thường dùng dây và lá cây Lạc tiên sắc uống làm thuốc an thần chữa mất ngủ Theo Đỗ Tất Lợi, dây, lá, hoa cây Lạc tiên thái nhỏ, phơi khô có công dụng an thần, giải nhiệt, mát gan; chữa trị chữa đau đầu, mất ngủ, thường phối hợp thêm với một số vị thuốc khác Quả cây Lạc tiên vị ngọt, tính bình,

có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, lợi thủy, dùng chữa ho do phế nhiệt, phù thũng, giã đắp chữa ung nhọt lở loét ở chân

Thái Nguyên là một tỉnh thuộc khu vực miền núi phía Bắc có điều kiện

tự nhiên, khí hậu thích hợp với phát triển trồng cây dược liệu Trong quy hoạch phát triển nông nghiệp của tỉnh Thái Nguyên đến năm 2020 đã xác định rõ trồng cây dược liệu là một hướng phát triển bên cạch phát triển các cây trồng truyền thống với mục tiêu hình thành một số vùng chuyên canh trông cây dược liệu Cây Lạc tiên là một loại thảo dược quý, dễ trồng, thích hợp với nhiều điều kiện

Trang 13

tự nhiên khí hậu nhiệt đới khác nhau Do đó, trồng cây Lạc tiên và chế biến cây Lạc tiên thành các sản phẩm điều trị và hỗ trợ điều trị an thần, mất ngủ tại Thái Nguyên là một hướng thích hợp, đem lại hiệu quả kinh tế và y dược cao

Xuất phát từ những lý do trên, bước đầu tôi tiến hành thực hiện đề tài

“Nghiên cứu ảnh hưởng của chế phẩm điều hòa sinh trưởng đến quá trình sinh trưởng phát triển cây Lạc tiên (Passiflora foetida L.) nhân giống bằng hạt tại Thái Nguyên”

1.2 Mục đích nghiên cứu

Đề tài góp phần tạo giống cây con Lạc tiên, cung cấp dược liệu, cho nghiên cứu khoa học, bảo vệ môi trường sống và sản xuất

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Xác định được loại chế phẩm và nồng độ chế phẩm điều hòa sinh trưởng

thích hợp nhất cho cây Lạc tiên (Passiflora foetida L.) nhân giống bằng hạt tại

- Qua quá trình nghiên cứu sẽ giúp sinh viên nắm được những kiến thức trong lĩnh vực lâm sinh: Kỹ thuật đóng bầu, chọn hạt trước khi gieo, xử lý hạt khi mang đi gieo… Đồng thời biết được quá trình sinh trưởng của hạt từ lúc bắt đầu gieo cho đến lúc cây có đủ tiêu chuẩn xuất vườn Trong quá trình nghiên cứu còn được bổ sung thêm kiến thức qua một số tài liệu, sách báo thông tin trên mạng Từ đó áp dụng khoa học kỹ thuật vào thực tiễn sản xuất, và tạo cho sinh viên tác phong làm việc sau khi ra trường

Trang 14

1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn

- Có được kỹ năng nhân giống cây Lạc tiên bằng phương pháp gieo hạt

- Áp dụng kết quả nghiên cứu trong nhân giống cây Lạc tiên bằng phương pháp gieo hạt

Trang 15

PHẦN 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở khoa học của phương pháp nhân giống bằng hạt

Bảo tồn nguồn gen ở thực vật hay động vật là bảo tồn các đa dạng đi truyền cần thiết cho các loài nhằm phục vụ công tác cải thiện, duy trì giống trước mắt hoặc lâu dài, tại chỗ hoặc nơi khác Một trong nhiều phương pháp đang được sử dụng nhiều hiện nay là phương pháp gieo bằng hạt ,giâm hom Gieo hạt: là chôn hạt với độ sâu bằng 2 đến 3 lần đương kính của hạt Đối với các loại hạt quá nhỏ thì ta có thể rải trực tiếp trên bề mặt chất trồng hoắc đất ẩm sau đó phun sương cho hạt bám vào bề mặt chất trồng là được Với các loại hạt to hơn thì nên chôn sâu khoảng 0,2-0,3cm (lưu ý quan trọng là không nên nén đất quá chặt khi chôn vì hạt sẽ không nảy mầm được).Sau khi gieo hạt xong nên phun sương lên bề mặt vài lần để đất và hạt tiếp xúc với nhau tốt hơn

Gieo hạt là phương pháp nhân giống cây trồng thường được dùng phổ biến Cơ sở khoa học của phương pháp là sau khi tiến hành gieo hạt, dưới ảnh hưởng của các chất chế phẩm như ngân hạt với thuốc tính sau 30 phút đem gieo trong bầu, khi gặp những điều kiện nhiệt độ, độ ẩm thích hợp thì sẽ hình thành

và phát triển thành cây con

Thực vật có hai hình thức sinh sản chủ yếu là sinh sản vô tính và sinh sản hữu tính Sinh sản hữu tính là hình thức sinh sản trong đó có sự kết hợp giao tử đực và giao tử cái để tạo thành hợp tử lưỡng bội Hợp tử phát triển thành

cá thể mới Sinh sản vô tính là hình thức sinh sản không qua thụ tinh, nó bao gồm sự kết hợp của vô tính và các dạng sinh sản dinh dưỡng.Trong các biện pháp sinh sản vô tính, gieo hạt là hình thức phổ biến nhất và là một trong những công cụ có hiệu quả cho việc lưu giữ, bảo vệ và duy trì giống những loài có giá trị Bởi chúng có các đặc điểm sau:

Trang 16

- Gieo hạt có thể dùng hạt sau khi thu hoạch quả chín toàn những nguyên liệu sẵn có, dễ làm, dễ thao tác

- Nhân giống bằng hạt cho hệ số nhân giống lớn, tương đối rẻ tiền, nên được dùng phổ biến cho trong nhân giống cây ăn quả, cây rừng và cây cảnh (Lê Đình Khả, Dương Mộng Hùng, 1998) [6]

- Nhân giống bằng hạt luôn giữ được các đặc trưng hình thái giải phẫu

và đặc điểm di truyền mong muốn của cây mẹ

Gieo hạt là phương pháp nhân giống cây thô sơ và cổ truyền nhất Cơ sở khoa học của phương pháp này là sau khi tiến hành gieo hạt, dưới ảnh hưởng của các chất chế phẩm khi gặp được những điều kiện nhiệt độ, độ ẩm thích hợp thì cây con sẽ được hình thành

Chất chế phẩm điều hòa sinh trưởng có tác động lớn đến quá trình nẩy

mầm, quá trình ra rễ và hình thành cây con của hầu hết các nghiên cứu về nhân giống cây từ hạt Qua các nghiên cứu cho thấy rằng trong điều kiện có chất kích thích thì khả năng nảy mầm, số lượng và trọng lượng sẽ cao hơn.Việc sử dụng

các chất chế phẩm ra rễ sẽ tạo cơ sở khoa học phục vụ việc sử dụng hợp lý và

bảo vệ nguồn tài nguyên sinh vật

Vấn đề có ý nghĩa quyết định trong gieo hạt là làm cho hạt nảy mầm , phát triển thành cây con sẽ được hình thành Tuy nhiên khả năng nảy rễ và hình thành cây con cũng phải phụ thuộc vào đặc điểm di truyền của loài cây, bộ phận quả của cây lấy làm giống cũng như loại tế bào đã phân hóa của cây, do đó người ta phải tạo điều kiện thuận lợi nhất cho chúng

2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng nảy mầm của hạt

Kết quả của hạt gieo đã được xác định bởi thời gian ngắn và tỷ lệ nảy mầm cao Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến kết quả của việc gieo hạt, nhưng phụ thuộc bởi ba yếu tố chính là: Khả năng nảy mầm (cá thể, hạt già hay hạt non của quả được thu), môi trường gieo hạt và các chất chế phẩm điều hòa Cơ bản thuộc 2

Trang 17

nhóm nhân tố gồm nhóm nhân tố ngoại sinh và nhóm nhân tố nội sinh (dẫn theo Phạm Văn Tuấn ,1996)[14]

- Nhân tố ngoại sinh: gồm đặc điểm của di truyền của từng xuất xứ, từng cá

thể cây, tuổi thu hoạch của quả, pha phát triển của con và các chất điều hòa sinh trưởng Các nhân tố ngoại sinh ảnh hưởng đến nẩy mầm của hạt gieo: Điều kiện sinh sống của cây mẹ được lấy quả, nhân tố ảnh hưởng đến quá trình gieo hạt, điều kiện sinh sống của cây mẹ trước khi thu hoạch: Điều kiện sinh sống của cây

mẹ khi thu hoạch có ảnh hưởng đến tỷ lệ nẩy mầm của hạt gieo, đặc biệt là chọn quả già

- Nhân tố nội sinh: các loại chế phẩm điều hòa sinh trưởng và các nhân

tố ngoại cảnh (nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng,…)

- Nhân tố môi trường: Nhóm nhân tố môi trường có tác dụng tổng hợp

ảnh hưởng tới quá trình giâm hom là: Thời vụ, mùa giâm hom, nhiệt độ, độ ẩm,

ánh sáng, giá thể, và môi trường ra rễ

+ Ánh sáng: Ánh sáng đóng vai trò quan trọng trong quá trình sống của

cây vì đó là nhân tố cần thiết cho quá trình quang hợp và trong quá trình nẩy mầm của hạt gieo và nhất là ánh sáng tán xạ Ánh sáng có ảnh hưởng đến quá trình quang hợp tạo nên các chất đồng hóa tham gia vào vận chuyển trong mạch libe và ánh sáng có tác dụng kích thích dòng vận chuyển các chất hữu cơ ra khỏi

lá, ở ngoài sáng tốc độ vận chuyển các chất đồng hóa trong libe nhanh hơn trong tối Nhưng trong gieo hạt không có lá thì quá trình quang hợp không diễn ra do

đó không thể có hoạt động Hầu hết các loài cây nảy mầm trong điều kiện tối hoàn toàn Trong điều kiện nhiệt đới, ánh sáng tự nhiên mạnh và nhiệt độ cao làm cho quá trình hạt nẩy mầm xảy ra Vì vậy trong quá trình gieo hạt phải che bóng thích hợp cho từng loài cây khác nhau với độ tàn che khác nhau (dẫn theo

mầm của gieo hạt thường mang tính chất tổng hợp: Ánh sáng - nhiệt - ẩm mà

không phải là từng nhân tố riêng lẻ

Trang 18

Ngoài ra tùy từng loại cây mà mức độ yêu cầu ánh sáng là khác nhau

Mức độ này còn phụ thuộc vào chất dinh dưỡng có trong hạt

+ Nhiệt độ: Nhiệt độ ảnh hưởng tới quá trình hạt nẩy mầm,các chất dinh

dưỡng trong hạt sẽ được duy trì bảo đảm tỷ lệ sống của hạt ở mức cao Vì thế nhiệt độ không khí là một yếu tố quyết định đến tốc độ phát triển và hình thành nên cây con của hạt Nhiệt độ trung bình cho hạt nẩy mầm đều từ 20 đến 250C Tùy vào từng loại hạt gieo mà cần nhiệt độ nảy mầm khác nhau Khi cây đã phát triển thành cây con các loài cây nhiệt đới thường có yêu cầu cao hơn các

loài cây ôn đới Đối với cây nhiệt đới:

Nhiệt độ ảnh hưởng đến quá trình quang hợp: Nhiệt độ tối thấp từ 5 -70C cây bắt đầu quang hợp, nhiệt độ tối ưu mà cây đạt hiệu quả quang hợp tốt nhất

là 25-300C và nếu duy trì nhiệt độ tối cao lâu thì cây sẽ bị chết

Nhiệt độ ảnh hưởng đến quá trình hô hấp: Nhiệt độ tối thấp từ 10-200C cây bắt đầu hô hấp, nhiệt độ tối ưu là 35-400C và nhiệt độ tối cao 45-550C cây

sẽ bị phá hủy

Nhiệt độ ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất, vận chuyển các chất trong cây: Nhiệt độ thấp làm tăng độ nhớt của các sợi protein, cản trở tốc độ dòng vận chuyển chất và làm giảm hô hấp của mô libe đặc biệt của tế bào kèm làm thiếu năng lượng cung cấp cho sự vận chuyển; nhiệt độ quá cao làm cho quá trình thoát hơi nước ở lá diễn ra mạnh đẫn đến mất nước gây ra héo; nhiệt

độ tối ưu 25-300C

Vì vậy nhiệt độ là nhân tố quyết định tốc độ nẩy mầm của hạt gieo Ở nhiệt độ quá thấp hạt nằm ở trạng thái tiềm ẩn và không nẩy mầm, ở nhiệt độ quá cao tăng cường hô hấp và hạt bị hỏng từ đó làm giảm tỷ lệ nẩy mầm của hạt gieo

Cũng như nhân tố nhiệt độ và ánh sáng để có khả năng nẩy mầm cao cần có thêm đầy đủ các điều kiện thích hợp về độ ẩm:

Trang 19

+ Độ ẩm: Độ ẩm không khí và độ ẩm giá thể là nhân tố không thể thiếu là

thành phần hết sức quan trọng trong quá trình gieo hạt Các hoạt động quang hợp,

hô hấp, phân chia tế bào và chuyển hóa các chất cần đến nước Thiếu nước thì độ

ẩm giá thể bị khô dẫn đến hạt khó nẩy mầm, thừa nước thì hoạt động của men thủy phân tăng lên, hạt sẽ bị ngân trong nước lâu vì vậy dẫn đến hạt bị thối Vậy khi gặp thời tiết bất lợi như độ ẩm quá cao hoặc quá thấp thì cần phải có biện pháp bổ xung hợp lý Khi gieo hạt mỗi loài cây đều cần chú ý đến để đảm bảo duy trì độ

ẩm thích hợp, ví dụ như đối với hạt to hơn thì yêu cầu độ ẩm cao hơn hạt kim giao, keo, mỡ hạt có diện tích lá lớn thì yêu cầu độ ẩm cũng cao hơn Khi làm mất độ ẩm của hom 15% thì hom không có khả năng nẩy mầm

Yêu cầu độ ẩm của hạt gieo thay đổi theo loài, theo mức độ phát triển của hạt Phun sương là yêu cầu bắt buộc khi tiến hành gieo hạt, giúp làm tăng

độ ẩm, giảm nhiệt độ không khí và giảm sự thoát hơi nước Vào từng thời điểm

mà mức độ phun khác nhau: Trong mùa nóng thời gian phun sương và thời gian ngắt quãng có thể ngắn hơn trong mùa lạnh

Để duy trì độ ẩm của giá thể thích hợp cho hạt nảy mầm cần lựa chọn vật liệu làm giá thể có khả năng thông thoáng tốt, thoát nước song phải giữ được

độ ẩm thích hợp

+ Giá thể gieo hạt: Giá thể và môi trường gieo hạt: Giá thể cũng góp

phần quan trọng vào thành công của gieo hạt giá thể là nơi cung cấp chất dinh dưỡng mà phần dinh dưỡng đó từ ngay trong chính bản thân được gieo hạt vì thế nó chỉ cần đáp ứng yêu cầu về nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng thích hợp rất nhiều giá thể được sử dụng trong gieo hạt hiện nay tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu, điều kiện, thời vụ, khí hậu và loài cây mà thành phần giá thể có thể là khác nhau Các giá thể thường được dùng hiện nay là cát tinh, mùn cưa, xơ dừa, bầu đất hay đất vườn Khi gieo hạt trực tiếp vào bầu thì giá thể thường là mùn cưa

để mục, cát tinh, xơ dừa băm nhỏ hoặc đất vườn ươm trộn lẫn với nhau

Trang 20

Giá thể gieo hạt là nơi gieo trực tiếp hạt lên miệng bầu sau khi đã xử lí qua chất chế phẩm Giá thể được dùng làm thí nghiệm này là đất thịt Một giá thể túi bầu thoát hơn nước tốt là thoát khí tốt và duy trì được độ ẩm trong thời gian dài mà không ứ nước, tọa điều kiện cho hạt phát triển tốt, đồng thời làm sạch không bị nhiễm nấm, không có nguồn sâu bệnh, độ pH thích hợp Đất thịt

sẽ cung cấp vi lượng cho cây, trấu và các chất trộn sẽ cung cấp độ phốp, thoáng

và chế độ điều hòa độ ẩm thích hợp cho rễ cây phát triển Phân hữu cơ nhớ phải

để hoai mục không nên dùng phân hữu cơ tươi sống vì dễ làm cho cây bị bệnh (Nguồn bài viết: http://tiepthinongnghiep.com/cay-an-trai-va-hoa-cay-canh/ky-thuat-trong-cham-soc-hoa-qua-17/ky-thuat-gieo-tat-ca-loai-hat-

1682.html | Tiếp Thị Nông) [28]

+ Thời vụ gieo hạt: Thời vụ gieo hạt là một trong những nhân tố quan

trọng nhất ảnh hưởng tới sự nảy mầm của hạt Tỷ lệ nảy mầm của hạt gieo phụ thuộc vào thời vụ thu hạt và thời vụ gieo hạt Một số loài có thể gieo hạt quanh năm song cũng có những cây có mùa vụ rõ rệt Theo Frison (1967) và Nesterow (1967) thì mùa xuân là mùa gieo hạt có tỷ lệ nảy mầm nhiều nhất ở nhiều loài

cây, trong khi đó có một số loài khác thì lại có tỷ lệ ra rễ cao hơn ở mùa xuân

Thời vụ gieo hạt đạt kết quả cao hay thấp thường gắn với điều kiện thời tiết, khí hậu trong năm, thường sinh trưởng mạnh vào mùa xuân - hè, sinh trưởng chậm vào thời kỳ cuối thu và mùa đông Vì vậy thời gian gieo hạt tốt nhất vào mùa xuân, hè và đầu thu Thời vụ gieo hạt có ý nghĩa quyết định đến

sự thành công hay thất bại của nhân giống bằng hạt

Đối với loài cây nghiên cứu là cây dây leo rụng thân mền và rụng lá thì nên thu như sao: Trồng bằng hạt, sau 18 – 24 tháng cây sẽ cho quả Quả chín sau khi ra hoa khoảng 3 tháng, được thu vào tháng 6 – 7 và tháng 9 – 10 Cây

3 năm tuổi cho từ 20 – 25 kg quả, 1 hecta đạt 12 – 15 tấn Thâm canh tốt có thể đạt 30 tấn/ha Nếu trồng theo quy mô lớn thì chu kỳ 3 – 4 năm Sau đó cần xử

Trang 21

lý đất và luân canh vì cây bị tuyến trùng gây hại Ngoài ra cần chú ý phòng trừ rệp, nhện đỏ, ruồi đục quả Thu hoạch quanh năm nhưng tốt nhất nên thu hoạch vào mùa xuân – hè, có thể dùng tươi hoặc băm nhỏ rồi phơi hay sấy khô (https://lahien.com/san-pham/lac-tien) [26]

- Nhân tố nội sinh: các loại chế phẩm điều hòa sinh trưởng và các nhân

tố ngoại cảnh (IAA, NAA, IBA,…)

+ Các chất điều hòa sinh trưởng: Các chất chế phẩm điều hòa sinh

trưởng chia theo hoạt tính sinh lý gồm hai nhóm tác dụng là nhóm điều hòa sinh trưởng và nhóm kìm hãm sinh trưởng Một số chất kích thích sinh trưởng như Auxin, Giberellin và Xytokinin Trong các chất chế phẩm điều hòa sinh trưởng thì Auxin được coi là chất quan trọng nhất trong quá trình sinh trưởng của cây hạt

Rhizocalin bản chất là axit được coi là chất đặc biệt cần thiết trong quá trình hình thành rễ nhiều loài cây

Một số nhóm chất điều hòa sinh trưởng: Nhóm Auxin gồm NAA (a Naphthalene acetic acid), IAA (Indol-3acetic acid), IBA (Indol butyric acid), IPA (Indol-3yl-Acetonitrile), Atonik và một số chất khác; nhóm Cytokinin gồm Zeatin, Kinetin; nhóm Giberellin gồm: GA3 (Giberellic acid), GA8 (Giberellin - Lije Substances) và nhiều chất giống Giberellin khác; nhóm chất

có khả năng kìm hãm sinh trưởng hoặc thúc đẩy quá trình già hóa như ABA (Abscisic scid), Ethophone (2-chloroethyl), Phosphonic acid, các phenol, retedant (Turesskaia (1993), ) [21]…

* Các nhân tố kích thích:

- Loại thuốc: Các chất chế phẩm điều hòa sinh trưởng có vai trò đặc biệt

quan trọng trong quá trình hình thành rễ phát triển của hạt gieo Một số loại chất kích thích sinh trưởng như: Auxin, Giberellin, Cytokinin…

Trang 22

Auxin: Có hai loại Auxin là Auxin tự nhiên và Auxin tổng hợp Auxin tự nhiên là IAA (acid ß - indol axetic) và Auxin tổng hợp là các chất có bản chất hóa học khác nhau nhưng có hoạt tính sinh lý tương tự như IAA (acid ß - indol axetic) Các Auxin tổng hợp như: ɑ-NAA (acid ɑ - Naphtylaxetic), 2,4D (acid 2.4 Dichlorophenoxyaxetic), 2.4.5T (Acid 2,4,5 Trichlorophenoxyaxetic), IBA (acid ß-indolbutyric), 2M4C (Acid 2metyl-4 Chlorophenoxyaxetic), Atonik… Trong sự sinh trưởng phát triển của cây, đặc biệt là rễ bất định phát sinh từ các cơ quan dinh dưỡng Auxin là hoocmon hình thành tăng trưởng về chiều cao, đường kính và phát triển (Christophe Wiart, Pharm D (2006), ) [17]

- Nồng độ: Cùng một loại thuốc nhưng nồng độ khác nhau có ảnh hưởng

khác nhau đến khả năng sinh trưởng của cây hạt Tùy từng loài cây mà hạt của chúng thích ứng với một loại chất cũng như nồng độ thích hợp nhất định Nếu nồng độ chất kích thích thấp sẽ không có tác dụng phân hóa tế bào đến tỷ lệ nảy mầm, nếu nồng độ quá cao sẽ ức chế quá trình nảy mầm và sinh trưởng của cây sẽ làm cho hạt bị thối không nảy mầm hoặc sinh trưởng chậm Khi lựa chọn nồng độ chất chế phẩm cần chú ý đến nhiệt độ không khí và mức độ hóa của hạt Trong quá trình gieo hạt khi điều kiện nhiệt độ quá cao cần phải xử lý với nồng độ thấp hơn và ngược lại khi nhiệt độ môi trường thấp thì cần xử lý lâu hơn Nếu thân cây quá non phải xử lý với nồng độ thấp và khi thân đủ già (hạt

đã phát triển thành cây gần hoàn toàn) phải xử lý với nồng độ cao hơn

- Thời gian xử lý thuốc:

Cùng một loại thuốc, cùng một nồng độ nhưng thời gian xử lý khác nhau

sẽ cho kết quả khác nhau Khi thực hiện thí nghiệm cần chú ý là giữa thời gian xử

lý, nồng độ, nhiệt độ không khí có mối liên quan nhất định Với thuốc kích thích

sử dụng với nồng độ cao thì thời gian xử lý ngắn và thuốc kích thích sử dụng với nồng độ thấp thì thời gian xử lý dài hơn

Trang 23

- Phương pháp xử lý hạt:

Theo cách thông thường hạt được xử lý bằng cách ngâm hạt trong dung dịch chất chế phẩm cho hạt nảy mầm Chất chế phẩm hạt nảy mầm là hỗn hợp chất tan thì phần gốc của hạt được ngâm nước và chất chế phẩm trước khi gieo, hạt sẽ

nảy mầm nhanh hơn ở vườn ươm, sau 2 – 3 tuần sẽ nẩy mầm

- Ảnh hưởng của các chất chế phẩm:

Các thuốc chế phẩm thường dùng là loại hoocmon thực vật như: Atonik; IAA(Indol – 3 – axetic – axit); IBA (Indol – Butiric – axit); NAA (Napthalen – axetic – axit); TTG và 2,4D; …

- Loại thuốc chế phẩm điều hòa sinh trưởng: Loại thuốc khác nhau có tác dụng khác nhau đến khả năng phát triển của cây Với đa số các loài cây dây leo Atonik có tác dụng sinh trưởng phát triển hơn, với cây gieo hạt có tác dụng tốt hơn

+ Nồng độ chất chế phẩm : Cùng loại thuốc kích thích nhưng nồng độ khác nhau có tác dụng khác nhau Nồng độ thuốc quá thấp sẽ không có tác dụng phân hóa phát triển của cây, nồng độ quá cao khi thành cây con sẽ bị chết khi tăng về chiều cao

+ Nồng độ chất chế phẩm còn phụ thuộc vào nhiệt độ không khí và mật

độ phát triển của cây con Nếu nhiệt độ không khí cao cần phải xử lý nồng độ thuốc thấp hơn so với bình thường và ngược lại Hạt chưa phát triển thân còn mền hoặc cây con còn yếu cần phải xử lý nồng độ thấp hơn so với những cây con già và ngược lại

+ Thời gian xử lý hạt: Cùng loại thuốc, cùng nồng độ nhưng thời gian xử

lý khác nhau sẽ cho tỷ lệ hạt nảy mầm khác nhau Giữa nông độ, thời gian, nhiệt độ không khí có mối quan hệ nhất định Nồng độ thấp hơn thời gian xử

lý lâu hơn và ngược lại, nhiệt độ cao cần xử lý nồng độ thấp và thời gian ngắn hơn và ngược lại

Trang 24

+ Phương pháp xử lý: Hạt thường được xử lý bằng hai phương pháp kích thích hạt nẩy mầy Nếu nồng độ cao ngâm 5 – 10 phút, nếu nồng độ trung bình thì ngâm 20- 30 phút và nếu nồng độ thấp ngâm 3 – 6 giờ

- Xử lí thuốc bằng nước:

Khi xử lý hạt bằng thuốc nước thì nồng độ và thời gian xử lý ảnh hưởng rất lớn đến tỉ lệ nẩy mầm của hạt gieo Nồng độ xử lý quá thấp, không có tác dụng kích thích hạt nảy mầm của hạt gieo, nồng độ quá cao hạt bị thối rữa trước lúc mang đi gieo, nồng độ thấp phải xử lý thời gian dài, còn nồng độ cao thì phải xử lý trong thời gian ngắn

Khi lựa chọn nồng độ chất chế phẩm điều hòa sinh trưởng cần chú ý đến nhiệt độ không khí và mức độ trưởng thành của hạt thành con Trong quá trình gieo hạt khi nhiệt độ cao cần xử lý với nồng độ thấp hơn và ngược lại Khi cây

đã phát triển thành cây con còn quá non phải xử lý với nồng độ thấp, ngược lại cây con đủ già phải xử lý với nồng độ cao hơn Cái khéo của người thực hiện

là chọn được nồng độ thích hợp với từng loại hạt để nhận được tỷ lệ ra rễ cao nhất

Nhận xét: Như vậy, để hình thành một cây con mới phải trải qua quá trình rất phức tạp, tổng hợp phụ thuộc vào nhiều yếu tố như nội sinh, ngoại sinh, sử dụng các chất điều hòa sinh trưởng (auxin)… Quá trình hình thành rễ phải trải qua rất nhiều giai đoạn khác nhau, mỗi giai đoạn cần phức hệ nhất định các điều kiện và hoàn cảnh, có thể nói chọn đúng thời gian gieo hạt, cây tuổi mẹ lấy quả (hạt), chọn đúng thuốc xử lý và nồng độ thích hợp, kết hợp với các yếu tố kỹ thuật chăm sóc tốt… thì hạt sẽ có tỷ lệ nảy mầm cao nhất, chất lượng của bộ rễ tốt nhất Chính vì vậy, nắm chắc cơ sở của việc nhân giống bằng hạt thì gieo hạt sẽ đạt tỷ lệ cao nhất

- Những kỹ thuật khi gieo hạt:

Giống: chủ yếu sử dụng giống thu hoạch(quả tím) và một số giống do các công ty nhập khẩu từ Đài Loan Hiện nay người ta dùng giống quả tím ghép

Trang 25

lên gốc ghép giống quả vàng, để tăng khả năng chống chịu sâu bệnh, tuyến trùng và khả năng sinh trưởng phát triển

1 Chuẩn bị đất: Trước khi trồng cây phải xử lý đất để diệt trừ mầm sâu, bệnh bằng cách cuốc sới tươi, lên luống , nhặt sạch cỏ dại và tàn dư thực vật khác

2 Thiết kế đường lô, mật độ khoảng cách trồng:

- Thiết kế đường lô: Thích hợp với những nơi đất bằng phẳng, độ dốc

<80, vườn trồng có thể thiết kế theo hình chữ nhật hoặc hình vuông diện tích từ 0,2 - 0,5 ha/lô, đường lô rộng 3m Trồng trên đất dốc, hàng cây phải bố trí theo đường đồng mức để thuận lợi cho việc vận chuyển vật tư, chăm sóc và thu hoạch

- Tùy theo điều kiện đất đai, địa hình và khả năng thâm canh, có thể trồng các mật độ: 1.660 cây/ha: khoảng cách 3 x 2m; 1.330 cây/ha: khoảng cách 3 x 2,5m; 1.100 cây/ha: khoảng cách 3 x 3 m; 850 cây/ha: khoảng cách 3 x 4m

3 Cách trồng: Hố trồng có kích thước 60x60x60cm, đào một hố nhỏ ở giữa bồn có độ sâu bằng bầu, đạt cây và lấp đất phủ kín bằng mặt bầu Sau đó rắc thuốc xung quanh để tránh mối, kiến, dế cắn phá Dùng cây chống cắm xung quanh và dùng các vật liệu che chắn nhằm hạn chế gió

4 Tưới nước: Cây Lạc tiên có bộ rễ ăn cạn, cho nên vấn đề tưới giữ ẩm

và tủ gốc là rất cần thiết Không để nước ngập úng trong mùa mưa nhưng phải

đủ nước tưới trong mùa khô đặc biệt trong giai đoạn cây ra hoa Định kỳ tưới 2 lần/1 ngày vào mùa khô

5 Bón phân: Cây Lạc tiên rất thích hợp với các loại phân hữu cơ, nhất là phân chuồng ủ hoai Lượng phân bón cho cây theo giai đoạn sinh trưởng, tuỳ thuộc mật độ trồng khác nhau cần điều chỉnh lượng phân bón cho phù hợp (http://khuyennong.lamdong.gov.vn/ky-thuat-trong-trot/ki-thuat-trong-

cay2/839-quy-trinh-k-thut-canh-tac-cay-lc-tien.) [25]

Trang 26

Vật liệu gieo hạt rất nhạy cảm với sự mất nước và dễ 8bị nhiễm bệnh Hạt phải được bảo quản khá tốt để ở nơi thoáng mát trước khi đem xử lí qua chế phảm Khi gieo hạt yêu cầu: Không lấy những hạt quá non hoặc hạt bị sâu, hạt đã chọn không được để dưới ánh nắng mặt trời Vật liệu gieo hạt được vớt

ra khỏi của chế phẩm để vào rổ hoặc khay dể thoát hết thuốc lúc đem đi gieo (không nên để quá 1 ngày, khi đã ngân quy thuốc và hạt phải giữ đủ ẩm Bầu phải xử lý thuốc chống nấm bệnh trước khi gieo , hạt gieo phải đạt trên cái đĩa nhỏ để dễ lấy hạt Giá thể gieo hom phải thoát nước tốt và không bị nấm bệnh, phải thường xuyên tưới phun sương đủ ẩm và giữ đủ độ ẩm không khí cho hạt gieo

Để gieo hạt thành công đều phải kết hợp một cách đầy đủ và đồng bộ, các biện pháp kỹ thuật cần thiết từ khâu chăm sóc cây mẹ lấy để lấy hạt và gieo hạt cũng như việc tạo điều kiện cần thiết để hạt dễ nẩy mầm và ra rễ Sau khi hạt nẩy mầm lại phải biết huấn luyện cây để chúng thích ứng dần với điều kiện vườn ươm và môi trường

2.3 Những nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam

2.3.1 Trên thế giới

Từ ngày xưa, trong quá trình hái lượm các loại cây cỏ để làm thức ăn, con người đã phát hiện ra những cây cỏ có độc thì tránh, những cây cỏ ăn được thì sử dụng làm lương thực, thực phẩm; những loại cây cỏ ăn vào khỏi bệnh thì dần được tích lũy thành kinh nghiệm sử dụng làm thuốc và được truyền tụng từ đời này qua đời khác Cùng với sự tiến hóa và phát triển của xã hội, kho tàng

kiến thức về cây thuốc của nhân loại ngày càng trở nên phong phú

Năm 2838 Trước công nguyên, Thần Nông đã biên soạn cuốn sách “Thần nông bản thảo” Cuốn sách có ghi chép về 364 vị thuốc và cách sử dụng Đây

là cuốn sách nền tảng cho sự phát triển của nghành y học dược thảo Trung Quốc cho đến ngày nay (dẫn theo Trương Thị Tố Uyên, 2010) [15]

Năm 1595, Lý Thời Trân đã tổng kết tất cả các kinh nghiệm về cây

Trang 27

thuốc, kinh nghiệm sử dụng và soạn ra cuốn “Bản thảo cương mục” Đây là

cuốn sách vĩ đại nhất của Trung Quốc về lĩnh vực dược liệu, mô tả 1094 cây thuốc và vị thuốc từ cây cỏ (Ngô Tuấn Vinh, 2010) [16]

Năm 348 – 322 Trước công nguyên, Aristote người Hy Lạp đã có những

ghi chép về cây cỏ của Hy Lạp Sau đó năm 340 Theophrate với tác phẩm “Lịch

sử vạn vật” đã giới thiệu gần 480 loài cây cỏ và công dụng của chúng Tuy tác

phẩm chỉ mới dừng lại ở mô tả các đặc điểm của cây cỏ, nhưng nó đã đạt nền tảng cho các khoa học nghiên cứu về thực vật sau này (dẫn theo Bảo Thắng (2003) [11])

Năm 60 – 20 Trước công nguyên, thầy thuốc Dioscorides người Hy Lạp

đã mô tả 600 loài cây cỏ chủ yếu để chữa bệnh, ông cũng là người đạt nền móng cho y dược học Hy Lạp (dẫn theo Chu Thị Thơm và cs, 2006) [12]

Năm 79 – 24 Trước công nguyên, nhà tự nhiên học Plinus người La Mã

đã soạn thảo bộ sách “Vạn vật học” gồm 37 tập, giới thiệu gần 1000 loài thực

vật có ích (Chu Thị Thơm và cs , 2006) [3].Petelot, A (1952) đã soạn thảo cuốn

sách “Les plantes de médicinales du Cambodye, du Laos et du Vietnam” gồm

4 tập đã giới thiệu về các loại cây thuốc và sản phẩm làm thuốc ở Đông Dương (dẫn theo W Zhou, Y Li, Jiang (2006) [22]

Theo tài liệu của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) 1985 (dẫn theo W Zhou,

Y Li, Jiang, 2006) [22], trong tổng số khoảng 250.000 loài thực vật bậc thấp cũng như bậc cao đã biết, khoảng 20.000 loài được sử dụng làm thuốc ở mức

độ khác nhau Trong đó, Ấn Độ được biết trên 6000 loài; Trung Quốc trên 5000 loài; riêng về thực vật có hoa ở một vài nước Đông Nam Á đã có tới 2000 loài

là cây thuốc

Năm 2004, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) (dẫn theo Đỗ Tất Lợi, 2004) [7], (dẫn theo X Yang, et al., 2008) [24] đã có tài liệu hướng dẫn thực hành nông nghiệp tốt đối với cây thuốc (Guidelines on good agricultural and

Trang 28

collection practices for medicinal plants) Tài liệu đã đưa ra những hướng dẫn

cụ thể từ chọn cây thuốc, chọn vùng trồng trọt thích hợp, kỹ thuật trồng, chăm sóc, thu hoạch và bảo quản sau thu hoạch Đây là một hướng dẫn và là thước

đo chất lượng sản phẩm dược liệu khi trở thành sản phẩm hàng hóa trên Thế giới Trung Quốc và Nhật Bản là hai nước đã dựa trên tài liệu hướng dẫn này

để xây dựng khung quy định cho sản xuất cây dược liệu, nhằm đưa cây dược liệu và các sản phẩm dược liệu trở thành sản phẩm hàng hóa trên toàn Thế giới

Trong vài thập kỷ gần đây, các nước trên thế giới đã đẩy mạnh việc nghiên cứu các chế phẩm mới từ cây thuốc Ở Mỹ, 25% các đơn thuốc được pha chế tại các cửa hàng dược gồm các chất chiết từ cây cỏ, 13% từ các loài vi sinh và 3% từ động vật với nhu cầu hàng tỷ USD/ năm (dẫn theo Christophe Wiart, Pharm D, 2006) [17] Ở Trung Quốc, có 940 xí nghiệp và xưởng sản xuất thuốc từ cây cỏ với 6266 mặt hàng; doanh thu các thuốc từ cây cỏ chiếm 33,1% thị trường thuốc năm 1995; tổng giá trị xuất khẩu dược liệu và thuốc cổ truyền từ năm 1997 đạt 600 triệu USD (dẫn theo X L Guo, T J Wang, et al.,

1997 )[23], (S C Huang, et al., 2008) [20] Hiện nay, Trung Quốc có chủ trương đầu tư mạnh cho công tác nghiên cứu dược liệu, đã tự túc được khoảng 90% nhu cầu thuốc trong nước, trong đó thuốc sản xuất từ nguồn gốc thực vật chiếm ưu thế (dẫn theo X.Yang, et al., 2008) [24], ( F.Yin, Y Zhang, et al., 2006) [18]

2.3.2 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam

Các nghiên cứu sử dụng tiếp cận chuỗi giá trị đã bắt đầu được thực hiện

ở Việt nam trong một thập kỷ gần đây, chủ yếu tập trung vào các sản phẩm trồng trọt như gạo, cà phê, chè, hồ tiêu… và chăn nuôi như gà, lợn, bò… Chẳng hạn Agrifood thực hiện một nghiên cứu về chuỗi giá trị gạo ở tỉnh Điện Biên theo đạt hàng của tổ chức phát triển Hà Lan SNV Nghiên cứu này tập trung vào gạo IR64 và gạo nếp nương (Agrifood, 2006) GTZ thực hiện phân tích thử nghiệm chuỗi giá trị bơ cho đồng bào thiểu số ở Daklak Nghiên cứu chỉ ra

Trang 29

những thách thức đối với chuỗi bơ này là trình độ kỹ năng canh tác yếu, chi phí vật tư đầu vào như nước, phân bón, thuốc trừ sâu cao (GTZ, 2006b) [4] Trong một nghiên cứu khác, GTZ phân tích chuỗi giá trị sản phẩm dưa hấu ở Long

An Nghiên cứu chỉ ra nhiều vấn đề trong chuỗi cần sự trợ giúp để nâng cao hiệu quả Chẳng hạn, tỉnh Long An cần có các chương trình phát triển bền vững cây dưa hấu với sự hỗ trợ về kỹ thuật và thay đổi tập quán trồng trọt (GTZ, 2006a) [3] Nghiên cứu hợp tác giữa Trung tâm nghiên cứu chính sách nông nghiệp (CAP), trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, và Tổ chức phi chính phủ Prosperity Initiative năm 2008 đã phân tích chuỗi giá trị bưởi tại Việt nam nhằm xác định nhu cầu, khả năng cạnh tranh và cơ hội của bưởi Việt nam nhằm tìm hướng xóa đói giảm nghèo thông qua công cụ thị trường (dẫn theo tài liệu Mũ - PP ,2008) [10]..

Cây Lạc tiên (Passiflora foetida L.) là một loại dược liệu được dùng

trong sản xuất đông dược và tân dược Cây còn có nhiều tên gọi: cây Lạc, cây Lồng đèn, Hồng tiên, Mắc mát, Long châu quả Dân gian thường dùng dây và

lá cây Lạc tiên sắc uống làm thuốc an thần chữa mất ngủ Theo Đỗ Tất Lợi, dây, lá, hoa cây Lạc tiên thái nhỏ, phơi khô có công dụng an thần, giải nhiệt, mát gan; chữa trị chữa đau đầu, mất ngủ, thường phối hợp thêm với một số vị thuốc khác Quả cây Lạc tiên vị ngọt, tính bình, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, lợi thủy, dùng chữa ho do phế nhiệt, phù thũng, giã đắp chữa ung nhọt lở loét ở chân Các nhà khoa học trong nước đã có những nghiên cứu về thành phần hoạt chất và tác dụng sinh học của cây Lạc tiên Huỳnh Lời và cộng sự đã khảo sát thành phần hóa học của cây Lạc tiên Tác giả đã tách chiết được vitexin

và xylosyl vitexin từ những phần trên mặt đất của cây Lạc tiên (Huỳnh Lời và Trần Hùng, 2011) [9] Bằng kỹ thuật HPLC-DAD, nhóm tác giả đã xác định được hàm lượng vitexin trong lá từ 0,15-0,4%, trong hạt 0,005% (Huỳnh Lời

và Trần Hùng, 2011) [9] Năm 2014, Vũ Thị Hiệp và cộng sự đã đánh giá tác

dụng an thần giải lo âu của cao chiết cồn Lạc tiên tây (Passiflora incarrnata

Trang 30

L.) trên chuột nhắt trắng Kết quả cho thấy Cao cồn Lạc tiên tây không thể hiện độc tính cấp ở liều 3,2 g/kg Ở liều 150 mg/kg, cao Lạc tiên tây thể hiện tác dụng an thần giải lo âu trên mô hình hai ngăn sáng tối Trên mô hình kéo dài thời gian ngủ của thiopental và chữ thập nâng cao, liều 300 mg/kg có tác dụng

an thần, giải lo âu Nghiên cứu độc tính bán trường diễn cho thấy cao cồn Lạc tiên tây không làm thay đổi số lượng hồng cầu, bạch cầu, Hb, AST, ALT (Vũ Thị Hiệp và Nguyễn Phương Dung, 2014) [5] Nhóm tác giả Nguyễn Văn Đàn

và cộng sự đã nghiên cứu độc tính và tác dụng an thần của cao bình vôi – Lạc tiên – lá sen – lá vông nem trên chuột nhắt trắng Kết quả đã chỉ ra rằng cao chiết liều 1,97 g/kg không có tác dụng kéo dài thời gian gây ngủ của thiopental sau 30 phút sử dụng, chỉ thể hiện sau 60 phút sử dụng Trong khi liều 3,94 g/kg khẳng định tác dụng sau 30 và 60 phút sử dụng Sau 60 phút, cao chiết liều 3,94 g/kg hiệu quả gây ngủ tăng hơn gấp 1,9 lần so với Sen vông-R liều 40 mg/kg

Cả hai liều không thể hiện tác dụng giải lo âu tại thời điểm 30 và 60 phút sử dụng Chưa xác định được LD50 và độc tính bán trường diễn trên chuột nhắt trắng theo đường uống (Nguyễn Văn Đàn và Phan Quan Chí Hiếu, 2014) [2]

Như vậy, cả kinh nghiệm dân gian và những nghiên cứu hiện đại đều đánh giá Lạc tiên là cây dược liệu có nhiều tác dụng quý, không độc đặc biệt

có tác dụng an thần khi dùng riêng và dùng phối hợp với các dược liệu khác Hiện nay, có nhiều công ty dược và sản xuất thực phẩm chức năng trong nước

đã sản xuất các sản phẩm hỗ trợ an thần phòng ngừa mất ngủ từ cây dược liệu Lạc tiên Nhưng nguồn nguyên liệu chủ yếu thu hái từ tự nhiên dẫn đến nguồn dược liệu này cạn kệt, không chủ động nguyên liệu trong sản xuất Hiện nay mới chỉ có tập đoàn TH đầu tư hình thành vùng trồng dược liệu 250 ha tại Nghệ

An trong đó có cây Lạc tiên đạt chuẩn hữu cơ Từ dược liệu Lạc tiên trồng được, tập đoàn TH đã sản xuất một số thức uống thảo dược trong đó có thành phần chiết xuất từ cây Lạc tiên cung cấp ra thị trường trong nước và xuất khẩu

ra nước ngoài (Báo Nghệ An, 2017) [1]

Trang 31

2.4 Tổng quan đặc điểm khu vực nghiên cứu

Địa điểm nghiên cứu đề tài tại vườn ươm trong mô hình khoa Lâm Nghiệp, trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên

2.4.1 Điều kiện tự nhiên

* Vị trí địa lý: Vườn ươm khoa Lâm nghiệp thuộc trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên Nằm cách thành phố Thái Nguyên khoảng 3 km về phía Tây Căn cứ vào bản đồ TP Thái Nguyên thì xác định được vị trí như sau:

- Phía Bắc giáp với phường Quan Triều;

- Phía Nam giáp với phường Thịnh Đán;

- Phía Tây giáp xã Phúc Hà;

- Phía Đông giáp khu dân cư và khu kí túc xá thuộc trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên

* Đặc điểm địa hình: Vườn ươm khoa Lâm nghiệp trường ĐHNL Thái Nguyên nằm dưới chân đồi nhưng nhìn chung tương đối bằng phẳng

* Đặc điểm đất đai: Vườn ươm khoa Lâm nghiệp trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên nằm dưới chân đồi, đất không màu mỡ, ít dinh dưỡng Đặc điểm của đất là đất Feralit phát triển trên đá Sa Thạch

* Đặc điểm khí hậu thủy văn:

Theo số liệu quan trắc của Trạm khí tượng thủy văn Thái Nguyên cho thấy Trung tâm nghiên cứu Lâm nghiệp vùng núi phía Bắc - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, thời tiết chia làm 4 mùa; Xuân - Hạ - Thu - Đông, song chủ yếu là 2 mùa chính; Mùa mưa và mùa khô Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, cụ thể:

- Nắng: Số giờ nắng cả năm là 1.588 giờ Tháng 5 - 6 có số giờ nắng nhiều nhất (khoảng 170 - 180 giờ)

Trang 32

- Chế độ nhiệt: Nhiệt độ trung bình năm khoảng 22 – 250C Chênh lệch nhiệt độ giữa ngày và đêm khoảng 2 – 50C Nhiệt độ cao tuyệt đối là 390C, nhiệt

độ thấp tuyệt đối là 130C

- Lượng mưa: Trung bình năm khoảng 2007 mm/năm, tập trung chủ yếu vào mùa mưa (tháng 6, 7, 8, 9) chiếm 85% lượng mưa cả năm, trong đó tháng

7 có số ngày mưa nhiều nhất

- Độ ẩm không khí: Trung bình đạt khoảng 82% Độ ẩm không khí nhìn chung không ổn định và có sự biến thiên theo mùa, cao nhất vào tháng 7 (mùa mưa) lên đến 86,8%, thấp nhất vào tháng 3 (mùa khô) là 70% Sự chênh lệch

độ ẩm không khí giữa 2 mùa khoảng 10 - 17%

- Gió, bão: Hướng gió thịnh hành chủ yếu vào mùa nóng là gió mùa Đông Nam và mùa lạnh là gió mùa Đông Bắc Do nằm xa biển nên xã Quyết Thắng nói riêng và TP Thái Nguyên nói chung ít chịu ảnh hưởng trực tiếp của bão

2.4.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

* Dân số - lao động: Xã Quyết Thắng có tổng số dân là 10.474 người, người dân nơi đây đa số sống chủ yếu dựa vào nghề sản xuất nông lâm nghiệp, chăn nuôi, hoạt động dịch vụ và đi làm thuê ngoài trong những lúc nông nhàn Trình độ dân trí ở đây tương đối cao nhưng tỷ lệ hộ sống dựa vào ngành nông nghiệp vẫn còn cao

Số lao động trong độ tuổi là khoảng 5523 người chiếm 59,92% trong tổng số nhân khẩu của toàn xã

* Giao thông: Xã Quyết Thắng có hệ thống giao thông tương đối hoàn

chỉnh, các tuyến đường liên xã đều được nhựa hóa, hệ thống liên thôn đều được

bê tông hóa tiện cho việc đi lại Tuy nhiên chất lượng một số tuyến đường còn thấp nên gây khó khăn trong việc trao đổi mua bán hàng hóa của người dân

* Thủy lợi: Quyết Thắng không có sông lớn chảy qua địa bàn do vậy chủ

yếu chịu ảnh hưởng chế độ thuỷ văn hệ thống kênh đào Núi Cốc, suối và hồ, ao trên địa bàn phục vụ cơ bản cho nhu cầu SX và đời sống sinh hoạt của nhân dân

Ngày đăng: 19/05/2021, 16:27

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w