Ngành chăn nuôi lợn đã và đang phát triển cả về số lượng, chất lượng đàn lợn cũng như cơ sở vật chất phục vụ chăn nuôi, tất cả vì mục đích nâng cao chất lượng sản phẩm cho nhu cầu tiêu d
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NUÔI TẠI TRẠI CÔNG TY KHAI THÁC KHOÁNG
SẢN THIÊN THUẬN TƯỜNG TP CẨM PHẢ - QUẢNG NINH”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Dược thú y
Khóa học: 2015 - 2019
Thái Nguyên - 2019
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NUÔI TẠI TRẠI CÔNG TY KHAI THÁC KHOÁNG
SẢN THIÊN THUẬN TƯỜNG TP CẨM PHẢ - QUẢNG NINH”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Dược thú y
Khóa học: 2015 - 2019 Giảng viên hướng dẫn: TS Hà Văn Doanh
Thái Nguyên - 2019
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian em thực tập tại cơ sở em được trưởng trại chăn nuôi Đinh Văn Ảnh, cán bộ kỹ thuật và công nhân trong trang trại chăn nuôi tạo điều kiện
và giúp đỡ rất nhiều để em hoàn thành tốt khoá luận của mình Nhân dịp này,
em xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới:
Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa cùng toàn thể các thầy, cô giáo trong khoa Chăn nuôi thú y
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo hướng dẫn TS
Hà Văn Doanh đã tận tình hướng dẫn để em hoàn thành tốt bài khoá luận này
Đồng thời, em xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới công ty khai thác khoáng sản Thiên Thuận Tường, chủ trang trại cùng toàn thể các bác, anh, chị
em công nhân trong trang trại của công ty đã tạo điều kiện tốt nhất giúp đỡ em trong quá trình thực hiện chuyên đề
Một lần nữa em xin được gửi tới các thầy giáo, cô giáo, gia đình và các bạn
bè đồng nghiệp lời cảm ơn sâu sắc, lời chúc sức khoẻ cùng những điều tốt đẹp nhất vì đã luôn ở cạnh động viên và tạo mọi điều kiện vật chất cũng như tinh thần
để giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 19 tháng 12 năm 2019
Sinh viên
Phạm Thị Hồng Hạnh
Trang 4LỜI NÓI ĐẦU
Để trở thành một kỹ sư chăn nuôi hoặc bác sỹ thú y trong tương lai, ngoài việc phải trang bị cho mình một lượng kiến thức về lý thuyết, mỗi sinh viên cần phải trải qua giai đoạn thực tập thử thách về thực tế Chính vì vậy thực tập tốt nghiệp là một trải nghiệm thực tế và đây cũng là một khâu quan trọng đối với các trường đại học nói chung và trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên nói riêng Đây là thời gian cần thiết để mỗi sinh viên củng cố kiến thức đã học trong nhà trường, áp dụng những kiến thức đã học vào trong thực tiễn sản xuất để học hỏi thêm nhiều kinh nghiệm, tiếp cận với các phương pháp nghiên cứu khoa học, kỹ thuật mới và góp phần vào sự phát triển của ngành chăn nuôi của nước nhà
Được sự đồng ý của Ban Giám Hiệu nhà trường và Ban Chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, sự giúp đỡ nhiệt tình của giáo viên hướng dẫn và cán bộ kỹ thuật trại công ty cổ phần Thiên
Thuận Tường, tôi đã tiến hành thực hiện chuyên đề: “Thực hiện quy trình
chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi nuôi tại trại công ty khai thác khoáng sản Thiên Thuận Tường
TP Cẩm Phả - Quảng Ninh”
Trong thời gian thực tập, được sự hướng dẫn tận tình và chu đáo của thầy giáo hướng dẫn, cùng sự giúp đỡ của cán bộ kỹ thuật trại và sự cố gắng, nỗ lực của bản thân, tôi đã hoàn thành được Khóa luận tốt nghiệp đại học Do thời gian có hạn và mới làm quen với thực tiễn sản xuất và công tác nghiên cứu khoa học nên bản khóa luận của tôi không tránh khỏi những hạn chế thiếu sót Vậy, tôi kính mong nhận được sự giúp đỡ, góp ý quý báu của thầy cô giáo, bạn
bè để khóa luận của tôi được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 19 tháng 12 năm 2019
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 3.1 Khẩu phần ăn của lợn mẹ trước và sau khi đẻ 27
Bảng 4.1 Tình hình chăn nuôi lợn tại trại từ 2017 đến tháng 11/2019 33
Bảng 4.2 Kết quả số lợn con trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 34
Bảng 4.3 Kết quả thực hiện các thao tác kỹ thuật 35
Bảng 4.4 Tỷ lệ nuôi sống lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi tại trại 35
Bảng 4.5 Kết quả sát trùng tại cơ sở 36
Bảng 4.6 Kết quả tiêm vắc xin phòng bệnh cho lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi nuôi tại trại 37
Bảng 4.7 Kết quả chẩn đoán bệnh trên đàn lợn từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi nuôi tại trại 39
Bảng 4.8 Triệu chứng lâm sàng chính của một số bệnh 41
Bảng 4.9 Kết quả điều trị bệnh cho lợn từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi 42
Trang 6Ml : Mililit Nxb : Nhà xuất bản SFV : Dịch tả
STT : Số thứ tự
TB : Trung bình TNHH : Trách nhiệm hữu hạn
TT : Thể trọng
UI : Đơn vị đo PED : Hội chứng tiêu chảy cấp
g : Gam ETEC : Enterotoxigenic E.coli
Trang 7MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN 2
LỜI NÓI ĐẦU ii
DANH MỤC CÁC BẢNG iii
DANH MỤC CÁC TỪ,CỤM TỪ VIẾT TẮT iv
MỤC LỤC v
Phần 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích và yêu cầu của chuyên đề 2
1.2.1 Mục đích 2
1.2.2 Yêu cầu 2
Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 3
2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3
2.1.1 Quá trình thành lập, vị trí, điều kiện khí hậu và cơ sở hạ tầng 3
2.1.2 Thuận lợi và khó khăn 7
2.2 Tổng quan tài liệu 8
2.2.1 Cơ sở khoa học của chuyên đề 8
2.2.2 Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước 20
Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 24 3.1 Đối tượng 24
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 24
3.3 Nội dung thực hiện 24
3.4 Các chỉ tiêu và phương pháp thực hiện 24
3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi và một số công thức tính toán 24
3.4.2 Phương pháp thực hiện 25
3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 32
Trang 8Phần 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 33
4.1 Tình hình chăn nuôi tại trại công ty cổ phần Thiên Thuận Tường qua 3 năm 2017 - 2019 33
4.2 Kết quả áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi tại trại 34
4.2.1 Số lượng lợn con trực tiếp chăm sóc, nuỗi dưỡng trong thời gian thực tập 34
4.3 Tỷ lệ nuôi sống lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi 35
4.4 Kết quả thực hiện các biện pháp phòng bệnh cho lợn sơ sinh đến 21 ngày tuổi 36
4.4.1 Phòng bệnh bằng phương pháp vệ sinh, sát trùng tại trại 36
4.4.2 Phòng bệnh bằng vacxin cho đàn lợn tại trại 36
4.5 Kết quả chẩn đoán và điều trị bệnh cho lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi 38
4.5.1 Kết quả chẩn đoán bệnh cho lợn từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi 38
4.5.2 Kết quả điều trị bệnh cho lợn từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi 42
Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 44
5.1 Kết luận 44
5.2 Đề nghị 45
TÀI LIỆU THAM KHẢO 47 MỘT SỐ HÌNH ẢNH THUỐC VÀ CÔNG VIỆC TRONG QUÁ TRÌNH THỰC TẬP
Trang 9Phần 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Trong những năm gần đây cùng với xu hướng phát triển chung của nền kinh tế, ngành chăn nuôi thú y ở nước ta cũng đang từng bước phát triển nhằm đem lại nhiều sản phẩm có chất lượng cho xã hội và đóng một vai trò quan trọng
trong nền kinh tế quốc dân
Ngành chăn nuôi thú y nói chung, ngành chăn nuôi lợn nói riêng là một nghề có truyền thống lâu đời và phổ biến của nhân dân ta Ngành chăn nuôi lợn
đã và đang phát triển cả về số lượng, chất lượng đàn lợn cũng như cơ sở vật chất phục vụ chăn nuôi, tất cả vì mục đích nâng cao chất lượng sản phẩm cho nhu cầu tiêu dùng của người dân trong nước cũng như trong xuất khẩu.Tuy nhiên với số lượng đàn nuôi ngày càng lớn, mật độ lợn trong chuồng nuôi ngày càng đông cộng với ảnh hưởng liên tục từ các yếu tố khác như: thời tiết, khí hậu, nguồn nước, không khí nên vấn đề dịch bệnh có những biến đổi khó lường, đặc biệt quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng ở giai đoạn từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi ảnh hưởng rất nhiều đến sự phát triển và sinh trưởng của lợn sau này Biện pháp hiệu quả nhất chính là thực hiện vệ sinh, chăm sóc, nuôi dưỡng, cùng với việc sử dụng vắc xin phòng bệnh và sử dụng các loại kháng sinh để điều trị bệnh một cách kịp thời và hợp lý để đạt hiệu quả kinh tế cao
Xuất phát từ tình hình thực tế trên, được sự đồng ý của BCN khoa, giáo
viên hướng dẫn và cơ sở thực tập em tiến hành thực hiện chuyên đề: “Thực
hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi nuôi tại trại công ty khai thác khoáng sản Thiên Thuận Tường TP Cẩm Phả - Quảng Ninh”
Trang 101.2 Mục đích và yêu cầu của chuyên đề
1.2.1 Mục đích
- Đánh giá tình hình chăn nuôi tại trại công ty khai thác khoáng sản Thiên Thuận Tường – TP Cẩm Phả - Tỉnh Quảng Ninh
- Áp dụng quy trình chăm sóc nuôi dưỡng cho đàn lợn con nuôi tại trại
- Xác định tình hình nhiễm bệnh, cách phòng trị bệnh cho lợn con nuôi tại trại
Trang 11Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập
2.1.1 Quá trình thành lập, vị trí, điều kiện khí hậu và cơ sở hạ tầng
2.1.1.1 Quá trình thành lập, cơ sở hạ tầng
Trang trại sản xuất lợn hướng nạc của ông Trần Hòa nằm trên địa phận phường Cửa Ông - thành phố Cẩm Phả - tỉnh Quảng Ninh Trại được thành lập năm 2007 Là trại lợn tư nhân do ông Trần Hòa làm Chủ đầu tư và là Giám đốc công ty
- Trại lợn của công ty khai thác khoáng sản Thiên Thuận Tường có khoảng 6 ha đất để xây dựng trang trại, nhà điều hành, nhà ở cho công nhân, bếp ăn và các công trình phụ phục vụ cho công nhân và các hoạt động khác của trại
- Khu nhà ở của công nhân được xây ở đầu hướng gió; dãy nhà ở là nhà hai tầng gồm 7 phòng
- Khu nhà ăn xây dựng khang trang, sạch sẽ Khu nấu ăn được trang bị
tủ lạnh, bếp ga để thuận tiện cho việc bảo quản và chế biến thức ăn
- Trong khu chăn nuôi được quy hoạch bố trí xây dựng hệ thống chuồng trại cho khoảng 500 nái bao gồm:
Trang 12- Hệ thống chuồng xây dựng khép kín hoàn toàn Phía đầu chuồng là hệ thống giàn mát, cuối chuồng có 4 quạt thông gió đối với các chuồng đẻ; 4 quạt đối với các chuồng bầu, các chuồng thương phẩm, chuồng nái hậu bị + đực giống và chuồng cai sữa Hai bên tường có dãy cửa sổ lắp kính; mỗi cửa sổ có diện tích 1,2m²; cách nền 1,2m; mỗi cửa sổ cách nhau 0,8m Trên trần được lắp
hệ thống chống nóng bằng thép Ngoài ra, mỗi chuồng thương phẩm còn được trang bị hệ thống cho ăn siro tự động hiện đại nhất hiện nay, với 100% thiết bị và dây chuyền nhập khẩu từ Đan Mạch
- Phòng pha tinh của trại được trang bị các dụng cụ hiện đại như: Máy đếm hiển mật độ tinh trùng, kính vi, thiết bị cảm ứng nhiệt, tủ lạnh, các dụng cụ đóng liều tinh, nồi hấp cách thủy dụng cụ và một số thiết bị khác
- Trong khu chăn nuôi, đường đi lại giữa các ô chuồng, các khu khác đều được đổ bê tông và có các hố sát trùng
- Hệ thống nước trong trại chăn nuôi cho lợn uống là nước giếng mua từ bên ngoài về (do trại xây dựng gần biển nên không thể khoan giếng lấy nước ngọt được) Nước tắm cho lợn, nước xả gầm, rửa chuồng được bơm từ ao chứa nước trong trang trại lên bể chứa và theo hệ thống ống nước dẫn tới các chuồng khác nhau
- Trại xây dựng gồm 2 khu tách biệt:
+ Khu nhà ở của công nhân được xây rộng rãi với nhà ăn, nhà tắm, nhà
vệ sinh sạch sẽ đầy đủ tiện nghi
+ Khu chăn nuôi có hệ thống chuồng được xây dựng khép kín và tự động hoàn toàn Trang thiết bị trong chuồng hiện đại, được nhập từ Đan Mạch
- Trại có một nhà kho là nơi chứa thức ăn cho lợn và một kho thuốc là nơi cất giữ và bảo quản các loại thuốc, vắc - xin, dụng cụ kỹ thuật để phục vụ công tác chăm sóc, điều trị cho đàn lợn của trại
2.1.1.2 Vị trí địa lý, điều kiện địa hình
Trang 13Khu đất dự kiến xây dựng nhà máy hiện là đất đồi núi, cần san gạt mặt bằng, đường giao thông để thuận tiện cho công tác vận chuyển nguyên liệu vào
và thành phẩm ra khỏi khu vực sản xuất
Khu đất được lựa chọn là dạng đồi núi thấp, bị chia cắt bởi nhiều khe và sông nhỏ Địa hình cao hơn ở phía Tây và phía Bắc, thấp hơn ở phía Đông và Nam Độ dốc không lớn lắm bình quân 15o - 20o thích hợp với việc canh tác nhiều loại cây ăn quả và lấy gỗ Thung lũng trung tâm và các tụ thuỷ thuận lợi cho việc đắp ao đầm nuôi trồng thuỷ sản
2.1.1.3 Đặc điểm khí hậu
Cơ sở thực tập nằm trên địa bàn thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa Nhiệt độ trung bình 22,7 - 24,10C; Lượng mưa trung bình 1.297 - 1910.5mm;
Độ ẩm trung bình 81,3%; Số giờ nắng trong năm từ 1530 - 1776 giờ
Gió chủ đạo là gió Đông Nam và Đông Bắc Hàng năm có gió bão, mưa
to, gió mạnh
Hướng cấp nước: Giải pháp cấp nước của nhà máy là giếng khoan với lưu lượng 10m3/h và xử lý nước đạt tiêu chuẩn công nghiệp thực phẩm để cung cấp cho nhà máy
Hướng thoát nước: Nước mưa được thoát theo dốc san nền Nước thải sản xuất - sinh hoạt được xử lý đạt tiêu chuẩn nước thải phục vụ thủy lợi dẫn đến hồ sinh học và thoát ra kênh thủy lợi
Cấp điện: Nhà máy được cấp điện từ đường dây 35KV ở phía Tây Nam, cách nhà máy khoảng 150m
2.1.1.4 Cơ cấu tổ chức của trang trại
Cơ cấu tổ chức của trại được tổ chức như sau:
01 Chủ trại
01 Quản lý trại
02 Kỹ thuật trại của công ty De Heus
Trang 1401 Kế toán
03 Công nhân và 8 sinh viên thực tập
01 Đầu bếp
01 Bảo vệ chịu trách nhiệm bảo vệ tài sản chung của trại
Với đội ngũ công nhân trên, trại phân ra làm các tổ khác nhau như tổ chuồng đẻ, tổ chuồng bầu và đực giống, tổ chuồng cai, tổ chuồng thương phẩm Mỗi tổ thực hiện công việc hàng ngày một cách nghiêm túc, đúng quy định của trại
2.1.1.5 Tình hình sản xuất của trang trại
* Công tác chăn nuôi
Thức ăn cho lợn nái và lợn con là thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh có chất lượng cao được cung cấp bởi công ty TNHH De Heus
Sinh viên, kỹ sư, khách tham quan khi vào khu chăn nuôi lợn đều phải mặc quần áo bảo hộ rồi phun sát trùng mới được xuống chuồng
- Công tác phòng bệnh: Trong khu vực chăn nuôi hành lang giữa các chuồng và bên ngoài chuồng đều được rắc vôi bột, các phương tiện vào trại sát trùng một cách nghiêm ngặt ngay tại cổng vào
+ Quy trình phòng bệnh bằng vắc - xin luôn được trại thực hiện nghiêm túc, đầy đủ và đúng kỹ thuật Lợn được tiêm vắc - xin ở trạng thái khỏe mạnh,
Trang 15được chăm sóc nuôi dưỡng tốt, không mắc các bệnh truyền nhiễm và các bệnh mãn tính khác để tạo được trạng thái miễn dịch tốt nhất cho đàn lợn
- Công tác trị bệnh: Kỹ thuật của trại có nhiệm vụ theo dõi, kiểm tra đàn lợn thường xuyên, các bệnh xảy ra ở lợn nuôi tại trang trại luôn được kỹ thuật viên phát hiện sớm, cách li, điều trị ngay ở giai đoạn đầu của bệnh nên điều trị đạt hiệu quả từ 80 - 90% trong một thời gian ngắn Vì vậy, không gây thiệt hại lớn về số lượng đàn lợn
2.1.2 Thuận lợi và khó khăn
Trên thị trường giá thịt lợn giảm sâu không chỉ làm ảnh hưởng đến tâm
lý người tiêu dùng, mà còn gây không ít khó khăn đối với thịt lợn của các trang trại chăn nuôi theo tiêu chuẩn vì chất lượng thịt tốt hơn so với chất lượng thịt
Trang 16bán ngoài chợ nên giá thành đắt hơn Tuy nhiên, vì lợi nhuận nhiều trang trại thu gom lợn từ dân sau đó dán mác thịt lợn sạch và bán ra thị trường với giá rẻ hơn
2.2 Tổng quan tài liệu
2.2.1 Cơ sở khoa học của chuyên đề
2.2.1.1 Đặc điểm sinh lý của lợn con từ sơ sinh tới 21 ngày tuổi
* Đặc điểm về sinh trưởng, phát triển của lợn con
Đối với chăn nuôi lợn con nói riêng và gia súc nói chung, thời kỳ gia súc mẹ mang thai được chăm sóc chu đáo, bào thai sẽ phát triển tốt sinh con khỏe mạnh Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [9], so với khối lượng sơ sinh thì khối lượng lợn con lúc 10 ngày tuổi tăng gấp 2 lần, lúc 21 ngày tuổi tăng gấp 4 lần, lúc 30 ngày tuổi tăng gấp 5 - 6 lần, lúc 40 ngày tuổi tăng gấp 7 - 8 lần, lúc 50 ngày tuổi tăng gấp 10 lần, lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 12 - 14 lần
Lợn con bú sữa sinh trưởng và phát triển nhanh nhưng không đồng đều qua các giai đoạn, nhanh trong 21 ngày đầu sau đó giảm dần.Sở dĩ có sự giảm này là do nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là do lượng sữa mẹ bắt đầu giảm
và hàm lượng Hemoglobin trong máu của lợn con bị giảm Thời gian bị giảm sinh trưởng kéo dài khoảng 2 tuần hay còn gọi là giai đoạn khủng hoảng của lợn con Chúng ta hạn chế sự khủng hoảng này bằng cách cho ăn sớm Do lợn con sinh trưởng nhanh nên quá trình tích lũy các chất dinh dưỡng mạnh
Ví dụ: Lợn con sau 3 tuần tuổi mỗi ngày có thể tích lũy được 9 - 14 gam protein/1kg khối lượng cơ thể, trong khi đó lợn trưởng thành chỉ tích lũy được 0,3 - 0,4 gam protein/1kg khối lượng cơ thể
Hơn nữa, để tăng 1 kg khối lượng cơ thể, lợn con cần ít năng lượng nghĩa
là tiêu tốn năng lượng ít hơn lợn trưởng thành Vì vậy, cơ thể của lợn con chủ yếu là nạc, mà để sản xuất ra 1 kg thịt nạc cần ít năng lượng hơn để tạo ra 1
kg mỡ
Trang 17* Đặc điểm phát triển của cơ quan tiêu hóa
Khối lượng bộ máy tiêu hóa tăng lên từ 10 - 15 lần, chiều dài ruột non tăng lên gấp 5 lần, dung tích bộ máy tiêu hóa tăng lên 40 - 50 lần, chiều dài ruột già tăng lên từ 40 - 50 lần Lúc đầu trọng lượng dạ dày chỉ là 6 – 8g và chứa được 35 – 50g sữa nhưng chỉ sau 3 tuần đã tăng gấp 4 lần và đến lúc lợn con đạt 60 ngày tuổi đã nặng 150g và chứa được 700 – 1000g sữa (Nguyễn Quang Linh, 2005) [8]
Một đặc điểm cần lưu ý ở lợn con là có giai đoạn không có axit HCl trong
dạ dày Giai đoạn này được coi như một tình trạng thích ứng tự nhiên Nhờ vậy
nó tạo được khả năng thẩm thấu các kháng thể có trong sữa đầu của lợn mẹ Trong giai đoạn này dịch vị không có khả năng phân giải protein mà chỉ có khả năng làm vón sữa đầu và sữa Còn huyết thanh chứa albumin và globulin được chuyển xuống ruột và thẩm thấu vào máu
Ở lợn con từ 14 - 16 ngày tuổi, tình trạng thiếu axit HCl ở dạ dày không còn gọi là trạng thái bình thường nữa Việc tập cho lợn con ăn sớm có tác dụng thúc đẩy bộ máy tiêu hóa của lợn con phát triển nhanh và sớm hoàn thiện Vì thế sẽ rút ngắn được giai đoạn thiếu axit HCl Bởi vì khi được bổ sung thức ăn thì thức ăn sẽ kích thích tế bào vách dạ dày tiết ra axit HCl ở dạng tự do sớm hơn và tăng cường phản xạ tiết dịch vị (giai đoạn con non khác với con trưởng thành là chỉ tiết dịch vị khi thức ăn vào dạ dày)
Lợn con dưới 1 tháng tuổi, dịch vị không có axit HCl tự do, lúc này lượng axit tiết ra rất ít và nhanh chóng kết hợp với dịch nhày của dạ dày, hiện tượng này gọi là hypohydric Do dịch vị chưa có axit HCl tự do nên men pepsin trong
dạ dày lợn chưa có khả năng tiêu hóa portein của thức ăn Vì axit HCl tự do có tác dụng kích hoạt men pepsinnogen không hoạt động thành men pepsin hoạt động và men này mới có khả năng tiêu hóa protein (Hoàng Toàn Thắng và cs, 2006) [12]
Trang 18Enzym trong dịch vị dạ dày lợn con đã có từ lúc mới đẻ, tuy nhiên lợn trước 20 ngày tuổi không thấy khả năng tiêu hóa thực tế của dịch vị có enzym,
sự tiêu hao của dịch vị tăng theo tuổi một cách rõ rệt khi cho ăn các loại thức
ăn khác nhau, thức ăn hạt kích thích tiết ra dịch vị mạnh Hơn nữa dịch vị thu được khi cho thức ăn hạt kích thích axit HCl nhiều hơn và sự tiêu hóa nhanh hơn dịch vị thu được khi cho uống sữa Đây là cơ sở cho việc bổ sung sớm thức
ăn và cai sữa sớm cho lợn con
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [9], vì thiếu axit HCl tự do nên vi sinh vật có điều kiện dễ dàng phát triển gây bệnh đường tiêu hóa, điển hình là bệnh lợn con Do đó để hạn chế bệnh đường tiêu hóa có thể kích thích vách tế bào
dạ dày tiết ra axit HCl tự do sớm hơn bằng cách bổ sung thức ăn sớm cho lợn con Nếu tập ăn sớm cho lợn con vào lúc 5 - 7 ngày tuổi thì axit HCl tự do có thể tiết ra từ 14 ngày tuổi
Thực nghiệm còn xác nhận rằng nhiều loại vi khuẩn đường ruột đã sinh
ra các chất kháng sinh ức chế sự phát triển của vi trùng gây bệnh, khi lợn con sinh ra hệ vi sinh vật đường ruột chưa phát triển đầy đủ số lượng vi khuẩn có lợi, chưa có khả năng kháng lại vi khuẩn gây bệnh nên rất dễ nhiễm bệnh đường tiêu hóa Vi khuẩn gây bệnh phó thương hàn, vi khuẩn gây thối rữa ở lợn con mới sinh
* Đặc điểm cơ năng điều tiết thân nhiệt
Theo nhóm tác giả Hội chăn nuôi Việt Nam (2000) [6] ở lợn con sơ sinh,
tỷ lệ nước trong cơ thể chiếm 82% Vì có nhiều nước, nhiệt độ cơ thể giảm nhanh,
30 phút sau khi sinh lượng nước giảm 1,5 - 2% kèm theo giảm thân nhiệt 5 -
100C, lợn con bị lạnh, các chức năng hoạt động bị rối loạn dẫn đến dễ bị chết
non
Cơ năng điều tiết thân nhiệt của lợn con chưa hoàn chỉnh vì vỏ đại não của lợn con chưa phát triển hoàn thiện Do đó việc điều tiết thân nhiệt và năng lực
Trang 19phản ứng kém, dễ bị ảnh hưởng bởi môi trường (nhiệt độ, độ ẩm)
Ở lợn con, khả năng sinh trưởng và phát triển nhanh, yêu cầu về dinh dưỡng ngày càng tăng cao Trong khi đó sản lượng sữa của lợn mẹ tăng dần đến 2 tuần sau khi đẻ và sau đó giảm dần cả về chất và lượng Đây là sự mâu thuẫn giữa nhu cầu dinh dưỡng của lợn con và khả năng cung cấp sữa của lợn
mẹ Nếu không kịp thời bổ sung thức ăn cho lợn con thì lợn thiếu dinh dưỡng dẫn đến sức đề kháng yếu, lợn con gầy còm, dẫn đến tỷ lệ mắc bệnh tăng lên
Vì vậy nên tiến hành cho lợn con tập ăn sớm để khắc phục tình trạng khủng hoảng trong thời kỳ 3 tuần tuổi và giai đoạn sau cai sữa
Lợn con dưới 3 tuần tuổi cơ năng điều tiết thân nhiệt chưa hoàn chỉnh nên thân nhiệt chưa ổn định, nghĩa là sự thải nhiệt và sinh nhiệt chưa cân bằng
Khi còn là bào thai, các chất dinh dưỡng được mẹ cung cấp qua nhau thai, điều kiện sống tương đối ổn định Lợn con sơ sinh gặp điều kiện sống hoàn toàn mới tiếp xúc trực tiếp với môi trường bên ngoài, nếu chăm sóc không tốt rất dễ dẫn đến bị mắc bệnh, còi cọc và tỷ lệ nuôi sống thấp
Ngoài ra, lớp mỡ dưới da của lợn con còn mỏng, lượng glycogen dự trữ trong cơ thể lợn còn thấp, trên cơ thể lợn con lông còn thưa, mặt khác diện tích
bề mặt cơ thể so với khối lượng cơ thể chênh lệch tương đối cao nên lợn con
dễ bị mất nhiệt và khả năng cung cấp nhiệt cho lợn con chống rét còn thấp dẫn đến lợn con rất dễ mắc bệnh khi thời tiết thay đổi
Ở điều kiện nhiệt độ thấp, độ ẩm không khí cao gây ra hiện tượng tăng tỏa nhiệt ở lợn con bằng phương thức bức xạ Vì thế ở nước ta vào cuối mùa Đông đầu mùa Xuân, khí hậu lạnh và ẩm, lợn con sẽ bị toả nhiệt theo phương thức này, làm cho nhiệt lượng cơ thể mất đi, lợn bị lạnh Đây là điều kiện thuận lợi cho dịch bệnh phát triển, nhất là bệnh đường tiêu hoá
Trang 20* Đặc điểm về khả năng miễn dịch
Phản ứng miễn dịch là khả năng đáp ứng của cơ thể Phần lớn các chất lạ chủ yếu là mầm bệnh Mầm bệnh xâm nhập vào cơ thể lợn con tương đối dễ dàng, do chức năng của các tuyến phòng vệ chưa hoàn chỉnh Ở lợn con lượng enzym tiêu hoá và lượng axit HCl tiết ra còn ít, chưa đủ để đáp ứng cho quá trình tiêu hoá, gây rối loạn trao đổi chất, dẫn đến khả năng tiêu hoá kém, hấp
thu kém Trong giai đoạn này các loại vi khuẩn như: Salmonella spp, E.coli…dễ
dàng xâm nhập vào cơ thể qua đường tiêu hoá và gây bệnh
Lợn con mới đẻ ra trong cơ thể hầu như chưa có kháng thể Lượng kháng thể tăng rất nhanh sau khi lợn con được bú sữa đầu của lợn mẹ Cho nên khả năng miễn dịch của lợn con là hoàn toàn thụ động, phụ thuộc vào lượng kháng thể hấp thu được nhiều hay ít từ sữa đầu của lợn mẹ
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [9], trong sữa đầu của lợn mẹ hàm lượng protein rất cao Những ngày đầu mới đẻ, hàm lượng protein trong sữa chiếm 18 - 19%, trong đó lượng - globulin chiếm số lượng khá lớn (30 - 35%)
Nó có tác dụng tạo sức đề kháng cho lợn nên sữa đầu có vai trò quan trọng đối với khả năng miễn dịch của lợn con Lợn con hấp thu lượng - globulin bằng con đường ẩm bào Quá trình hấp thu nguyên vẹn nguyên tử - globulin giảm
đi rất nhanh theo thời gian Nó chỉ có khả năng hấp thu qua ruột non của lợn con rất tốt trong 24 giờ đầu sau khi đẻ ra nhờ trong sữa đầu có kháng men antitripsin làm mất hoạt lực của men tripsin tuyến tụy và nhờ khoảng cách tế bào vách ruột của lợn con khá rộng Cho nên 24 giờ sau khi được bú sữa đầu, hàm lượng - globulin trong máu lợn con đạt tới 20,3 mg/100 ml máu Sau 24 giờ, lượng kháng men trong sữa đầu giảm dần và khoảng cách giữa các tế bào vách ruột của lợn con hẹp dần, nên sự hấp thu - globulin kém hơn, hàm lượng
- globulin trong máu lợn con tăng lên chậm hơn Đến 3 tuần tuổi chỉ đạt khoảng
24 mg/100 ml máu (máu bình thường của lợn trưởng thành có khoảng 65 mg/100
Trang 21ml máu) Do đó lợn con cần được bú sữa đầu càng sớm càng tốt Nếu lợn con không được bú sữa đầu thì từ 20 - 25 ngày tuổi mới có khả năng tự tổng hợp kháng thể Do đó những lợn con không được bú sữa đầu thường sức đề kháng kém, dễ mắc bệnh, tỷ lệ chết cao
* Hệ vi sinh vật đường ruột
+ Theo Nguyễn Như Thanh và cs, (2004) [10], hệ vi sinh vật đường ruột
gồm hai nhóm: nhóm vi khuẩn đường ruột, vi khuẩn bắt buộc gồm: E.coli,
Salmonella, Shigella, Klesiella, Proteus… Trong nhóm vi khuẩn này, người ta
quan tâm nhiều nhất đến trực khuẩn E coli Đây là vi khuẩn phổ biến nhất hành tinh, chúng có mặt ở mọi nơi và khi gặp điều kiện thuận lợi, các chủng E coli
trở lên cường độc gây bệnh Nhóm vi khuẩn vãng lai: chúng là bạn đồng hành
cùng với thức ăn, nước uống, vào hệ tiêu hoá gồm: Staphylococcus spp,
Streptococcus spp, Bacillus subtilis… Ngoài ra, trong đường tiêu hóa của lợn
con có các trực khuẩn yếm khí gây thối rữa: Clostridium perfringens, Bacillus
sporogenes, Bacillus fasobacterium, Bacillus puticfus
- Phần lớn thời gian sống của lợn là ở trong chuồng, do vậy chuồng trại có ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe của chúng Chuồng trại xây dựng đúng kiểu, đảm bảo các chỉ tiêu kỹ thuật, cao ráo, thoáng, độ thông khí tốt, kết hợp với chăm sóc quản lý và vệ sinh chuồng trại tốt sẽ ảnh hưởng rất tốt đến khả năng sinh trưởng và sức kháng bệnh tật của gia súc và ngược lại Trong điều kiện khí hậu nhiệt đới của nước ta, về mùa hè khí hậu nóng, ẩm, về mùa đông khí hậu lạnh, khô nên yêu cầu chuồng nuôi gia súc luôn phải khô ráo, thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông Do vậy trong xây dựng chuồng trại ngoài việc đảm bảo các yếu tố kỹ thuật cần chú ý đến địa điểm xây dựng chuồng, hướng chuồng, vật liệu xây dựng để dễ dàng khống chế các chỉ tiêu tiểu khí hậu chuồng nuôi phù hợp với từng giai đoạn phát triển của lợn, chuồng khô, thoáng, đủ ánh sáng thì tỷ lệ lợn con mắc hội chứng tiêu chảy thấp hơn so với chuồng ẩm, tối
Trang 22- Trong chăn nuôi việc đảm bảo đúng quy trình kỹ thuật là điều rất cần thiết, chăm sóc nuôi dưỡng tốt sẽ tạo ra những gia súc khoẻ mạnh, có khả năng chống đỡ bệnh tật tốt và ngược lại Ô chuồng lợn nái phải được vệ sinh tiêu độc trước khi vào đẻ Nhiệt độ trong chuồng phải đảm bảo 32 - 34°C đối với lợn sơ sinh và 28 - 30°C với lợn cai sữa Chuồng phải luôn khô ráo, không thấm ướt, không thay đổi thức ăn đột ngột
Việc giữ gìn chuồng trại sạch sẽ, kín ấm áp vào mùa đông và đầu xuân là điều kiện cần thiết phải thực hiện Nên dùng các thiết bị sưởi điện hoặc đèn hồng ngoại trong những ngày thời tiết lạnh ẩm để đề phòng bệnh lợn con phân trắng, mang lại hiệu quả cao trong chăn nuôi
- Phòng bệnh bằng bổ sung sắt: ở lợn con, việc thiếu sắt dẫn đến thiếu máu, làm giảm sức đề kháng cũng là nguyên nhân gây nên hội chứng tiêu chảy khá cao Lợn con một ngày tuổi sẽ được bấm nanh, bấm tai và tiêm sắt
- Phòng bệnh bằng vắc xin: phòng bệnh bằng vắc xin là phương pháp hữu hiệu nhất để ngăn ngừa bệnh đặc biệt là các bệnh mà nguyên nhân là vi sinh vật Vắc xin phòng bệnh tiêu chảy cho lợn đã được nghiên cứu khá lâu và đã được sử dụng để phòng ngừa tiêu chảy nhằm tạo miễn dịch chủ động cho đàn lợn chống lại bệnh, các loại vắc xin này đã và đang cho kết quả phòng bệnh một cách khả quan, đạt được mục tiêu làm giảm tỷ lệ mắc bệnh Một số tác giả
đã tập trung nghiên cứu chế tạo và sử dụng vắc xin phòng bệnh nhằm kích thích
cơ thể chủ động sản sinh kháng thể chống lại mầm bệnh
- Nhu cầu về một số chất dinh dưỡng và chất khoáng
+ Nhu cầu protein: Lợn con sinh trưởng phát triển nhanh, trong thời gian
bú sữa nguồn năng lượng được cung cấp chủ yếu từ phân giải đường và 1 phần nhỏ protein Nhưng protein chủ yếu là nguyên liệu cho sinh trưởng và phát triển, do vậy nhu cầu về protein rất lớn Như vậy, trong thức ăn tập ăn của lợn con cần 20 - 22% protein thô
Trang 23+ Nhu cầu về lipit: Trong thời kì bú sữa, nhu cầu về lipit rất thấp vì khả năng tiêu hóa lipit rất thấp
+ Nhu cầu về gluxit: Thời kì từ sơ sinh đến cai sữa nguồn năng lượng do gluxit cung cấp chiếm 70 - 80% do vậy nhu cầu về gluxit cũng rất lớn, ngoài nguồn có từ sữa (chủ yếu là từ đường lactoza) lúc nhỏ, đến khi tập ăn, ngoài nguồn từ sữa lợn con được cung cấp qua thức ăn tập ăn
+ Nhu cầu về khoáng: Khoáng chiếm 4 - 5% khối lượng cơ thể, có 3 nhóm khoáng:
Đa lượng: Ca, P, Na, Mn, Cl, Fe, S
Vi lượng: Cu, Mo, Mg, Zn, Al, F
Siêu vi lượng: acemic, bismus, thủy ngân
+ Nhu cầu vitamin: Vitamin là chất xúc tác sinh học tổng hợp, tham gia vào một số men tiêu hóa phân giải các chất dinh dưỡng, tham gia cấu tạo màng
tế bào Lượng vitamin vô cùng nhỏ, nhưng lại có tác dụng rất lớn cho sinh trưởng, phát dục và sinh sản
+ Nhu cầu về nước: Nước chiếm 50 - 60% khối lượng cơ thể, trong máu nước chiếm 80 - 95% Cơ thể mất 10% nước sẽ gây rối loạn chức năng trao đổi chất, nếu mất 20% lượng nước lợn con sẽ chết
2.2.1.2 Một số bệnh thường gặp ở lợn con
Tiêu chảy
Phạm Ngọc Thạch (1996) [11], cho biết tiêu chảy là biểu hiện lâm sàng của quá trình bệnh lý ở đường tiêu hóa, là hiện tượng con vật đi ỉa nhanh, nhiều lần trong ngày, phân có nhiều nước do rối loạn chức năng tiêu hóa, ruột tăng cường co bóp và tiết dịch hoặc chỉ phản ánh đơn thuần sự thay đổi tạm thời của phân gia súc đang thích ứng với những thay đổi trong khẩu phần ăn Tiêu chảy xảy ra ở nhiều bệnh và bản thân nó không phải là bệnh đặc thù (Archie Hunter, 2000) [1]
Trang 24Theo Trần Đức Hạnh (2013) [5]: Lợn con ở 1 số tỉnh phía bắc mắc tiêu chảy và chết với tỷ lệ trung bình là 31,84% và 5,37%, tỷ lệ mắc tiêu chảy và chết giảm dần theo lứa tuổi, cao nhất ở lợn con giai đoạn từ 21 - 40 ngày ( 30,97
và 4,93 %) và giảm ở giai đoạn 41 - 46 ngày
Nguyễn Chí Dũng (2013) [3] kết luận: Tháng có nhiệt độ thấp và ẩm độ cao (12,1,2 %) tỷ lệ mắc tiêu chảy cao (26,98 – 38,18%)
Nguyên nhân:
- Do thời tiết khí hậu: các yếu tố nóng, lạnh, mưa, nắng, hanh, ẩm thay đổi thất thường và điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng ảnh hưởng trực tiếp đến cơ thể lợn, nhất là cơ thể lợn con chưa phát triển hoàn chỉnh, các phản ứng thích nghi của cơ thể
- Lợn con bị nhiễm khuẩn: Theo Phạm Sỹ Lăng (2009) [7], bệnh tiêu chảy
ở lợn có nguyên nhân do vi khuẩn E.coli, Salmonella, trong đó Salmonella là
vi khuẩn có vai trò quan trọng trong quá trình gây ra hội chứng tiêu chảy
- Theo Glawisschning E Bacher H (1992) [15], nguyên nhân gây bệnh phân trắng lợn con chủ yếu là do vệ sinh chuồng trại kém, thức ăn thiếu dinh dưỡng, chăm sóc quản lý không tốt
- Lợn mẹ bị viêm vú, viêm tử cung
- Lợn mẹ ăn không đúng khẩu phần
- Bệnh tiêu chảy trên lợn con do E.coli có thể xảy ra ở bất kỳ độ tuổi theo
mẹ nào nhưng thường có hai thời kỳ cao điểm là 0 - 5 ngày tuổi và 7 - 14 ngày
tuổi (Nagy B, Fekete PZS, 2005) [16]
Triệu chứng:
- Sàn chuồng có phân lợn lỏng, màu vàng hoặc màu trắng
- Trong chuồng có hiện tượng lợn nôn ra sữa
- Người lợn con bị bẩn do dính phân
- Vú lợn mẹ dính phân lợn con
Trang 25 Viêm phổi
Tìm hiểu nguyên nhân lợn triệu chứng và kinh nghiệm chăm sóc ta phân lập viêm phổi của lợn do đâu và nguyên nhân gì, kiểm tra lại hệ thống thức ăn, cách vận hành: Quạt, giàn mát, nhiệt độ, vệ sinh, độ đồng đều nhằm đưa ra biện pháp điều trị đúng bệnh, đúng thuốc, khắc phục kịp thời, tránh tình trạng bệnh của lợn kéo dài làm nặng thêm đi đến nhờn thuốc khó điều trị Khống chế, cách ly khoanh vùng từ công nhân giữa các chuồng, dụng cụ chăm sóc giữa các chuồng tránh lây lan bệnh trong trại và giữa các trại Tìm mọi biện pháp nâng cao sức đề kháng của lợn kích ăn cho lợn
Nguyên nhân là do Mycoplasma hyopneumoniae gây ra, bệnh xảy ra trên
lợn con ngay từ khi mới sinh ra, bệnh xâm nhập chủ yếu qua đường hô hấp Bệnh cũng có thể do điều kiện chăn nuôi vệ sinh chuồng trại kém, thời tiết thay đổi…,
do sức đề kháng của lợn giảm Bệnh thường lây lan do nhốt chung với con nhiễm bệnh
Viêm khớp
Nguyên nhân: Streptococcus suis là vi khuẩn gram (+), Streptococcus suis
gây viêm khớp lợn cấp và mãn tính ở mọi lứa tuổi Bệnh này thường gây ra trên lợn con 1 - 6 tuần tuổi Vi khuẩn xâm nhập qua đường miệng, cuống rốn, vết thương khi cắt đuôi, bấm nanh, các vết thương trên da, đầu gối khi chà sát trên
nền chuồng, qua vết thiến
Triệu chứng: Lợn con đi khập khiễng từ 3 - 4 ngày tuổi, khớp chân sưng lên vào ngày 7 - 15 sau khi sinh nhưng tử vong thường xảy ra lúc 2 - 5 tuần tuổi Thường thấy viêm khớp cổ chân, khớp háng và khớp bàn chân Lợn ăn ít, hơi sốt, chân lợn có hiện tượng què, đi đứng khó khăn, chỗ khớp viêm tấy đỏ, sưng, sờ nắn vào có phản xạ đau (Nguyễn Ánh Tuyết, 2015) [19]
Dịch tiêu chảy cấp (PED): Mọi loại lợn đều nhiễm bệnh
Trang 26Qua khảo sát các ổ dịch tiêu chảy cấp, tỷ lệ bệnh và tỷ lệ chết xuất hiện trên lợn con theo mẹ là rất cao (tương ứng là 93,94 %) Hai tỷ lệ này giảm dần theo lứa tuổi Các yếu tố liên quan đến việc lan truyền dịch bệnh giữa các trại phụ thuộc vào : Khoảng cách giữa các trại lợn (trại càng gần có nguy cơ lây bệnh càng cao), quy mô chăn nuôi (tỷ lệ nhiễm bệnh cao ở trại có quy mô chăn nuôi nhỏ, dưới 50 lợn nái), vệ sinh chăn nuôi (thực hiện 2 tuần, một lần có tỷ
lệ nhiễm bệnh cao hơn so với 1 tuần, một lần), và nguồn nước sử dụng (tỷ lệ nhiễm bệnh cao ở trại có nguồn nước chưa qua xử lý) Triệu chứng lâm sàng đặc trưng của dịch tiêu chảy cấp trên lợn là tiêu chảy phân lỏng (100 %), nôn mửa (90,33 %), sau đó suy nhược, mất nước, chết nhanh (Nguyễn Tất Toàn,
- Do 1 loại ARN virus sợi đơn thuộc họ Coronavirus gây ra Với kích
thước thuộc loại khá lớn so với nhiều virus khác từ 27 đến 30 kb Virus có 2 type chính, type 1 thường gây bệnh cho lợn sau cai sữa, type 2 gây bệnh cho lợn con lợn mẹ và lợn hậu bị
Khi lợn khỏe mạnh tiếp xúc với các nguồn gây bệnh tiêu chảy cấp (PED) như: lợn mang mầm bệnh, phân, tinh lợn, vật dụng chăn nuôi có mầm
bệnh, xe tải, con người, nguồn nước…Virus sẽ từ các nguồn đó xâm nhập vào
cơ thể lợn chủ yếu thông qua đường tiêu hóa (VietDVM team, 2014) [20]
Triệu chứng:
+ Với lợn con: Tiêu chảy quá nhiều kết hợp với nôn làm cho những lợn con này mất nước nặng, thân nhiệt giảm làm cho lợn lạnh, nằm chồng lên nhau
Trang 27và nằm lên bụng lợn mẹ Phân lợn con màu vàng nhạt chứa sữa chưa tiêu hóa hết Chúng sẽ chết trong vòng 3 - 4 ngày do mất nước Khi chết, xác gầy kèm lợn các triệu chứng như mắt lõm sâu
Đồng thời, nếu mổ khám ta sẽ thấy các bệnh tích rất đặc trưng của bệnh tiêu chảy cấp như:
- Thành ruột rất mỏng, trong suốt và có thể nhìn thấy chất chứa bên trong
do lớp lông rung trên niêm mạc bị phá hủy và bào mòn
- Dạ dày có chứa nhiều sữa bị đóng vón
- Hạch màng treo ruột sưng to
- Xuất hiện các tia tĩnh mạch sữa song song với tĩnh mạch màng treo ruột + Với lợn lợn choai hay lợn nái, sức đề kháng cao hơn đồng thời hệ thống lông rung trên niêm mạc ruột cũng khó bị phá hủy hơn nên tỷ lệ nhiễm và tỷ lệ chết không cao như lợn con Những lợn trong hệ tiêu hóa có rất nhiều loại chất chứa (không chỉ có mỗi sữa như lợn con lợn mẹ) nên khi hệ thống lông rung ruột bị phá hủy, thức ăn không được tiêu hóa triệt để, các chất chứa trong ống tiêu hóa lên men làm cho phân tiêu chảy có màu xám, hay xám đen giống như
xi măng hoặc có màu vàng (chủ yếu lợn choai)
Đối với những lợn choai và lợn nái không chết, triệu chứng tiêu chảy sẽ biến mất sau 3 đến 4 tuần và đàn lợn bắt đầu phục hồi Một thời gian sau, lợn nái hình thành miễn dịch và truyền sang sữa cho lợn con
Tỷ lệ chết của lợn trưởng thành thấp nên không ảnh hưởng lớn đến tổng đàn, nhưng ảnh hưởng lớn đến tình hình dịch bệnh do những lợn này mang mầm bệnh làm lây lan cho lợn con, đặc biệt là lợn nái hậu bị sẽ được nhập đàn để tiếp tục sinh sản Mặt khác theo ghi nhận các đợt dịch ở Thái Lan của Olanratmanee và
cs (2010) [17], PED ảnh hưởng xấu đến năng suất sinh sản Một khảo sát ở Trung Quốc trong các ổ dịch tiêu chảy cấp do PED, tỷ lệ bệnh trên lợn con theo mẹ trong
Trang 28vòng 7 ngày lên đến 100% và tỷ lệ chết biến động 80 - 100 % (Sun R Q Cai R
2.2.2 Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước
2.2.2.1 Nghiên cứu trong nước
- Bộ máy tiêu hóa ở lợn con phát triển nhanh, song khả năng chống đỡ bệnh tật ở đường ruột và dạ dày còn yếu Do đó, cần chú ý vệ sinh chuồng trại, máng ăn, máng uống và áp dụng các biện pháp kỹ thuật phòng chống bệnh đường tiêu hóa cao hơn
- Khi lợn nái nuôi con bằng chuồng sàn thì lợn con ít và không ỉa chảy phân trắng, còn lợn con theo mẹ nuôi chuồng nền thì tỷ lệ mắc hội chứng tiêu chảy từ 40 - 45%
Theo Trần Thị Dân (2008) [2], lợn con mới đẻ trong máu không có globulin nhưng sau khi bú sữa đầu lại tăng lên nhanh chóng do truyền từ mẹ sang qua sữa đầu Lượng globulin sẽ giảm sau 3 - 4 tuần, rồi đến tuần thứ 5 - 6 lại tăng lên và đạt giá trị bình thường 65 mg/100 ml máu Các yếu tố miễn dịch như
bổ thể, bạch cầu… được tổng hợp còn ít, khả năng miễn dịch đặc hiệu của lợn con kém Vì vậy, cho lợn con bú sữa đầu rất cần thiết để tăng khả năng bảo vệ
cơ thể chống lại mầm bệnh
- Các yếu tố nóng, lạnh, mưa, nắng, hanh, ẩm thay đổi thất thường và điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng ảnh hưởng trực tiếp đến cơ thể lợn, nhất là cơ
Trang 29thể lợn con chưa phát triển hoàn chỉnh, các phản ứng thích nghi của cơ thể còn rất yếu
- Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy điều kiện môi trường sống lạnh,
ẩm đã làm thay đổi các chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa máu của lợn, biến đổi về chức năng và hình thái của hệ tuần hoàn, hệ nội tiết, liên quan đến phản ứng điều hòa nội mô Trong những trường hợp như thế sức đề kháng của cơ thể giảm đi là điều kiện để cho các vi khuẩn đường ruột tăng số lượng độc tính và gây bệnh
- Nhu cầu Fe trong máu rất cần thiết cho duy trì Hemoglobin (Hb) và dự trữ cho cơ thể phát triển Ở lợn sơ sinh, trong 100 ml máu có 10,9 mg Hb, sau
10 ngày tuổi chỉ còn 4 - 5 mg Nếu lợn con chỉ nhận Fe qua sữa sẽ thiếu Fe dẫn đến thiếu máu gây suy dinh dưỡng, ỉa phân trắng
- Các yếu tố lạnh, ẩm ảnh hưởng rất lớn đến lợn sơ sinh, lợn con vài ngày tuổi Trong các yếu tố về tiểu khí hậu thì quan trọng nhất là nhiệt độ và độ ẩm
Độ ẩm thích hợp cho lợn từ 75 - 85% Vì thế việc làm khô và giữ ấm chuồng
là vô cùng quan trọng
- Chuồng trại ẩm, lạnh tác động vào cơ thể lợn gây rối loạn thần kinh từ
đó gây rối loạn tiêu hóa.Tỷ lệ lợn con mắc hội chứng tiêu chảy thay đổi theo sự biến đổi hàng tháng của nhiệt độ, độ ẩm trung bình, cụ thể là có sự tương quan thuận với độ ẩm và tương quan nghịch với nhiệt độ không khí Do đó, để hạn chế tỷ lệ mắc hội chứng tiêu chảy lợn con, thì ngoài các biện pháp về dinh dưỡng, thú y, cần đảm bảo tiểu khí hậu chuồng nuôi thích hợp
- Khi lợn bị tiêu chảy số loại vi khuẩn và tổng số vi khuẩn hiếu khí trong
1 gam phân tăng lên so với ở lợn không bị tiêu chảy Khi phân lập tác giả thấy
rằng các vi khuẩn đóng vai trò quan trọng trong hội chứng tiêu chảy như: E.coli,
Salmonella và Streptococcus tăng lên trong khi Staphylococcus và Bacillus subtilis giảm đi
- Theo Nguyễn Trung Tiến và cs ( 2015) [13] dịch tiêu chảy cấp tính trên lợn (Porcine Epldemic Diarrhea - PED) là một bệnh truyền nhiễm cấp tính nguy
Trang 30hiểm do một loại vi rút thuộc họ Coronaviridae gây ra Dịch PED xảy ra quanh
năm nhưng thường phổ biến hơn vào mùa đông và trên 90% ca bệnh xảy ra ở lợn con dưới 7 ngày tuổi Trong nghiên cứu này 148 mẫu bệnh phẩm là các mẫu phân và ruột của lợn nghi mắc bệnh PED thu thập được từ 3 tỉnh là Quảng Trị, Thái Nguyên và Thái Bình từ năm 2013 - 2014 đã được chẩn đoán bằng phương pháp RT - PRC Kết quả chẩn đoán cho thấy 57/148 (38,51%) mẫu bệnh phẩm dương tính với vi rút PED Kết quả phân tích trình tự nucleotide và amino acid trên cơ sở giải trình tự một phân gen S (spike gene) cho thấy các chủng vi rút PED thu thập được trong nghiên cứu này có tỉ lệ tương đồng về nuleotide và amino acid rất cao khi so sánh với các chủng vi rút PED tham chiếu khác trước đây của Việt Nam, tỷ lệ tương đồng nucleotide từ 94,8 - 98,6% và amino acid từ 93,5 - 98,8% Kết quả phân tích cây phả hệ cho thấy các chủng vi rút PED trong nghiên cứu này thuộc nhóm G1-1
2.2.2.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Bệnh lợn con là hội chứng nhiễm khuẩn đường ruột ở giai đoạn bú sữa Bệnh xảy ra ở các nước trên thế giới, bệnh thường phát và nhiễm nặng ở các khu đông dân cư, nơi môi trường bị ô nhiễm, thiếu nước sạch, ở các tỉnh miền núi dân trí còn thấp
Phòng và trị bệnh đường tiêu hoá ở lợn con nói chung và bệnh lợn con nói riêng đã có rất nhiều tác giả ở nhiều nước trên thế giới quan tâm và nghiên cứu Theo nhiều tác giả thì nhóm kháng sinh Neomycin có tác dụng điều trị tốt, cho uống với liều từ 10 - 20 UI/kg P cho uống trong vòng 3 ngày Các kháng sinh khác nên dùng Oxytetracyclin Dibiomycin liều 5000-10000 UI/kg TT trong liệu trình phối hợp với Sulfamid cũng cho hiệu quả điều trị tốt
Dùng Organmin (liều lượng 5g/con) cho uống có tác dụng đối với việc phòng bệnh đường tiêu hoá Tác giả lưu ý rằng khi sử dụng kháng sinh phải
phối hợp một cách hợp lý
Nguyên nhân gây bệnh ở lợn con chủ yếu là do vệ sinh chuồng trại kém,
Trang 31thức ăn thiếu dinh dưỡng, chăm sóc quản lý không tốt
Do lợn con dưới 1 tháng tuổi hoàn toàn không có HCL tự do nên tác dụng diệt khuẩn của dạ dày chưa cao và khả năng tiêu hóa của dạ dày, ruột ở mức thấp Đây là 1 nguyên nhân rất quan trọng để quyết định quá trình nhiễm bệnh
Nhiều nhà khoa học cho rằng nguyên nhân có vai trò chủ yếu của trực khuẩn
Escherichia coli (E coli) thuộc các nhóm Enterotoxigenic E.coli (ETEC)
Theo tài liệu thực nghiệm của Mỹ, đối với lợn con trong việc phòng bệnh thiếu máu dẫn đến tiêu chảy chỉ cần tiêm sắt 1 lần vào ngày thứ 3 sau khi sinh
là đủ
Nhiều nghiên cứu về phòng và điều trị bệnh nói riêng và bệnh đường tiêu
hóa nói chung ở các nước cho thấy: kháng sinh nhóm Neomycine có hiệu quả
điều trị tốt với liều 1000 - 2000 UI/kg khối lượng, trong vòng 3 ngày Các kháng
sinh khác cũng có kết quả tốt khi dùng kết hợp với Sulfamid trong liệu trình
điều trị