MỤC LỤC I.PHẦN MỞ ĐẦU II.SƠ LƯỢC VỀ KHAI KHOÁNG III.CÁC VI SINH VẬT THAM GIA VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG IV.QUÁ TRÌNH NGÂM CHIẾT SINH HỌC V.CƠ CHẾ TÍCH LŨY KIM LOẠI VI.KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ VII.TÀI LIỆU THAM KHẢO I PHẦN MỞ ĐẦU Ít ai biết rằng nhờ vào vi sinh vật, những sinh vật nhỏ bé nhất hành tinh này mà con người chúng ta có thể tồn tại trên hành tinh này. Chúng tham gia và có vai trò rất lớn trong nhiều lĩnh vực. trong số đó có sự tham gia vào quá trình mà chúng ta sắp đề cập tới đây, đó là: ỨNG DỤNG CỦA VI SINH VẬT TRONG TUYỂN KHOÁNG. Sự tham gia của vi sinh vật vào việc tuyển khoáng đã được nhiều tác giả chứng minh. Đây là những vi sinh vật hóa dưỡng vô cơ bắt buộc hay tùy tiện, hoặc vi sinh vật dị dưỡng, chúng có thể thuộc về nhóm trung hay ưa nhiệt có khả năng oxy hóa Fe2+ thành Fe3+ cũng như các loại lưu huỳnh dạng khử thành acid sulfuric hoặc sulfade kim loại. Ngoài ra, hàng loạt các vi sinh vật khác như nấm, tảo, và động vật nguyên sinh cũng có mặt trong sự sinh trưởng cộng sinh trong các dung dịch ngâm chiết tồn tại trong tự nhiên, trong các mỏ quặng tham gia vào quá trình tích lũy kim loại. Thực tế con người đã sử dụng vi sinh vật khai khoáng từ rất lâu mà không hề hay biết. II. SƠ LƯỢC VỀ TUYỂN KHOÁNG NHỜ VI SINH VẬT Tuyển khoáng là quá trình tổ hợp cùa các khâu gia công và phân tách khoáng vật để từ quặng nguyên khai ban đầu ta thu được 1 hoặc nhiều sản phẩm có giá trị sử dụng trên thị trường. Các sản phẩm có giá trị sử dụng sau quá trình tuyển khoáng được gọi là quặng tinh(than sạch) các sản phẩm vô ích không có giá trị sử dụng gọi là quặng thải ( đuôi thải). Đặc điểm: + Quá trình tuyển khoáng mang lại giá trị sử dụng cho nguyên liệu khoáng sản + Quá trình tuyển khoáng không làm thay đổi bản chất của vật liệu khoáng sản ( cấu trúc tinh thể , công thức hóa học) điểm này phân biệt giữa tuyển khoáng và luyện kim hay hóa chất + Về bản chất quá trình tuyển khoáng là quá trình phân tách khoáng vật, phân tách khoáng vật có ích và đất đá thải, giữa khoáng vật có ích và khoáng vật có hại,giữa khoáng vật có ích với nhau. Ứng dụng của vi sinh vật vào tuyển khoáng là sử dụng cá đặc tính có thể phân tách, tích lũy kim loại của vi sinh vật vào các quá trình tuyển khoáng. Từ trước công nguyên, người La Mã đã sử dụng VSV trong khai thác đồng từ dịch khoáng nhưng vẫn chưa biết đến sự tồn tại của nó. Đến năm 1901, kĩ sư Seiko (Liên Xô) lần đầu tiên phát hiện ra sự tồn tại của vi khuẩn trong các bẫy dầu ở vùng Bacu. Năm 1947 lần đầu tiên phân lập được vi khuẩn Thiobacillus ferrooxidans từ nước thải hầm mỏ.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
KHOA CÔNG NGHỆ SINH HỌC
VI SINH V T TRONG TUY N KHO NG, ẬT TRONG TUYỂN KHOÁNG, ỂN KHOÁNG, ÁNG,
TUY N QU NG ỂN KHOÁNG, ẶNG
Giáo viên hướng dẫn: Cô TRẦN THỊ HỒNG HẠNH
6 NGUYỄN THỊ THU HIỀN 560923
DANH SÁCH THÀNH VIÊN TRONG NHÓM
Trang 2IV.QUÁ TRÌNH NGÂM CHIẾT SINH HỌC
Trang 3• “.
•
.
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Ít ai biết rằng nhờ vào vi sinh vật nhỏ bé trên hành tinh này mà con người
chúng ta có thể tồi tại Chúng tham gia và có vai trò rất lớn trong nhiều lĩnh
vực, trong đó có sự tham gia vào quá trình mà chúng ta sắp đề cập tới đây, đó
là “ ứng dụng của vi sinh vật trong tuyển khoáng “.
Những vi sinh vật nhỏ bé này có vai trò đáng kể trong quá trình tách chiết kim loại từ quặng, trong tích lũy và làm giàu đối với 1 số kim loại quý và trong sản xuất vật liệu mới
Thực tế con người đã sử dụng vi sinh vật khai khoáng từ rất lâu mà không hề hay biết
Thực tế con người đã sử dụng vi sinh vật khai khoáng từ rất lâu mà không hề hay biết
Trang 4II Sơ lược về khai khoáng nhờ vi sinh vật
• 1,Khái niệm về tuyển khoáng
Tuyển khoáng là tổ hợp của các
khâu gia công và phân tách
khoáng vật để từ quặng nguyên
khai ban đầu ta thu được 1 hoăc
nhiều sản phẩm có giá trị sử
dụng trên thị trường.
Các sản phẩm có giá trị sử dụng sau quá trình tuyển khoáng được gọi là quặng tinh(than sạch) các sản phẩm
vô ích không có giá trị sử dụng
gọi là quặng thải ( đuôi thải )
Trang 62 Ứng dụng vi sinh vật vào tuyển khoáng
Ứng dụng của vi sinh vật vào tuyển khoáng là sử dụng cá đặc tính có thể phân tách, tích lũy kim loại của vi sinh vật vào các quá trình tuyển khoáng.
Đây là những vi sinh vật hóa dưỡng vô cơ bắt buộc hay tùy tiện, hoặc vi sinh vật dị dưỡng, chúng có thể thuộc về nhóm trung hay ưa nhiệt có khả năng oxy hóa Fe 2+ thành Fe 3+ cũng như các loại lưu huỳnh dạng khử thành acid sulfuric hoặc
sulfade kim loại Ngoài ra, hàng loạt các vi sinh vật khác như nấm, tảo, và động vật nguyên sinh cũng có mặt trong sự sinh trưởng cộng sinh trong các dung dịch ngâm chiết tồn tại trong
tự nhiên, trong các mỏ quặng tham gia vào quá trình tích lũy kim loại
Trang 7Vai trò của vi sinh vật trong tuyển khoáng:
Thu kim loại có tính chọn lọc đặc hiệu
Ít gây hại vỏ trái đất
Ít ảnh hưởng sinh giới
Có thể thu nhận kim loại từ những quặng phế thải Tránh lãng phí
Có thể khai thác kim loại ở độ sâu lớn
Trang 8sự tồn tại của vi khuẩn trong các bẫy dầu ở vùng Bacu.
Đến năm 1901, kĩ sư Seiko (Liên Xô) lần đầu tiên phát hiện ra
sự tồn tại của vi khuẩn trong các bẫy dầu ở vùng Bacu.
Năm 1947 lần đầu tiên phân lập được vi
khuẩn Thiobacillus
ferrooxidans từ nước
thải hầm mỏ.
Năm 1947 lần đầu tiên phân lập được vi
khuẩn Thiobacillus
ferrooxidans từ nước
thải hầm mỏ.
3 Sơ lược về lịch sử
Trang 94 Đặc điểm của quá trình tuyển khoáng
Trang 10III.CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG
Trang 11khá năng hoạt động ở nhiệt độ thấp Vd: Chlorella pyrenoidosa bị giảm
khả năng hấp thụ tích cực Cd2+ ở nhiệt độ khoãng 4˚C.
Ánh sáng: vi khuẩn và vi khuẩn lam có thể hoạt động ở mọi môi trường ánh sáng Loài tảo bị ảnh hưởng đến khả năng hấp thụ tích cực khi môi trường thiếu ánh sáng
Nhiệt độ: có khả năng tồn tại và tham gia vào quá trình tuyển khoáng ở nhiệt độ cao ( có thể lên đến 105˚C).Tuy nhiên một số vi sinh vật giảm
khá năng hoạt động ở nhiệt độ thấp Vd: Chlorella pyrenoidosa bị giảm
khả năng hấp thụ tích cực Cd2+ ở nhiệt độ khoãng 4˚C.
Ánh sáng: vi khuẩn và vi khuẩn lam có thể hoạt động ở mọi môi trường ánh sáng Loài tảo bị ảnh hưởng đến khả năng hấp thụ tích cực khi môi trường thiếu ánh sáng
Độ pH: môi trường có tính acid Ở một số vi khuẩn pH tối ưu khoãng 1,7 đền 2,5.
Nồng độ các chất: giảm khả năng hoạt động tuyển khoáng khi nồng độ một số chất quá cao Một số loài có khả năng kháng với một số độc tố thường là kim loại nặng tuy nhiên khi nồng độ độc tố quá cao, các vi sinh vật này có khả năng bất hoạt
3.Các yếu
tố sinh
học
Hoạt động tốt khi môi trường bị giới hạn dinh dưỡng
Cả vi sinh vật sống lẫn vi sinh vật chết đều có khả năng tham gia tuyển khoáng
Hoạt động tốt khi môi trường bị giới hạn dinh dưỡng
Cả vi sinh vật sống lẫn vi sinh vật chết đều có khả năng tham gia tuyển khoáng
Trang 121 Các vi khuẩn ngâm chiết
Thiobacillus ferrooxidans
IV NGÂM CHIẾT SINH HỌC
Thiobacillus ferrooxidan là một vi khuẩn hình que, Gram âm, di
động bằng tiêm mao, không hình thành bào tử
Chúng thu nhận năng
lượng cần thiết cho sinh
trưởng và đồng hóa CO2
từ sự oxy hóa Fe2+ và
các hợp chất lưu huỳnh
vô cơ có tính khử.
Chúng thu nhận năng
lượng cần thiết cho sinh
trưởng và đồng hóa CO2
từ sự oxy hóa Fe2+ và
các hợp chất lưu huỳnh
vô cơ có tính khử.
Thường có mặt trong các loại
nước khai mỏ có tính acid
Trang 13Thiobacillus thiooxidans
Leptospirillum ferrooxidans
Trang 14Sunfobacillus acidocaldarius
Thiobacillus kabobis
Trang 152 Cơ chế tác động nhờ vi khuẩn
a.Cơ chế trực tiếp :
MS + 2O2 MSO4 Trong đó M là kim loại hóa trị hai
MS phân ly theo phương trình: MS M 2+ + S 2- (1)
Anion sunfua được giải phóng ra sau đó sẽ lập tức được liên kết với hệ thống enzyme của vi khuẩn và bị oxi hóa thành sunfat : S 2- + 2O2 - (vi khuẩn) SO 42-
Trang 16b.Cơ chế gián tiếp
Trong phương thức tác dụng gián tiếp của vi
khuẩn, vai trò của vi khuẩn là cung cấp một cách liên tục chất oxi hóa – Fe2(SO4)3- một nhân tố oxi hóa mạnh
Phương trình biểu diễn:
FeS2 + 3.5 O2 + H2O -> (vk) FeSO4 + H2SO4
FeSO4 + 0.5 O2 + H2SO4 -> (vk) Fe2(SO4)3 + H2O
Chất oxi hóa Fe2(SO4)3 sẽ đi vào phản ứng hòa tan nhiều loại quặng khác nhau.
Trang 17Ví dụ đối với quá trình ngâm chiết quặng uranium:
UO2 + Fe2(SO4)3 -> UO2SO4
+2FeSO4
Trang 18Ngâm chiết sinh học quặng đồng
Trang 19Dung dịch ngâm chiết được phun lên phần đỉnh của các đống
Trang 20V Cơ chế tích lũy kim loại
1 Tổng quan
Có nhiều loại vi sinh vật có khả năng biến đổi
phân tách và tích lũy các kim loại nặng cũng như các nuclide phóng xạ ( đồng vị phóng xạ ) từ môi trường ngoài.
Các vi sinh vật này có thể là nấm men, nấm
sợi, xạ khuẩn, khuẩn lam, tảo và một số loại vi
khuẩn khác Vi sinh vật thông qua nhiều phản ứng khác nhau tạo thành nhiều loại trầm tích và các
khoáng vật sa lắng.
Trang 21Một số vi khuẩn có khả năng tích luỹ kim loại
1 B.megaterium; 2 Streptococcus mutans; 3 Micrococcus lysodeikticus
Trang 22 Số lượng kim loại tích lũy được có thể
rất lớn và gấp nhiều lần lượng có trong tế
Số lượng kim loại tích lũy được có thể
rất lớn và gấp nhiều lần lượng có trong tế
kim loại có giá trị kinh tế cao
Các quá trình tích lũy kim loại này có ý nghĩa công nghiệp và môi trường vì sự loại bỏ các kim loại nặng và các nuclit phóng
xạ có nguy cơ tiềm tàng trong nước thải công nghiệp và các loại nước thải khác chất đồng thời thu hồi được các nguyên tố
kim loại có giá trị kinh tế cao
Trang 232 Cơ chế
.
Giai đoạn một là quá trình
liên kết hoặc hấp thu không phụ
thuộc vào quá trình trao đổi
chất với thành tế bào và các bề
mặt ngoài khác, thường diễn ra
nhanh không tiêu tốn năng
lượng và có thể diễn ra ở cả tế
bào sống và tế bào chết
Giai đoạn hai là sự vận chuyển và tích lũy kim loại vào bên trong tế bào, diễn ra chậm, tiêu tốn năng lượng và phụ thuộc vào quá trình trao đổi chất qua màng tế bào
Trang 24Giai đoạn một: sự hấp phụ sinh học
không phụ thuộc vào trao đổi chất
- Hấp phụ là quá trình tích lũy hay sự tập trung các chất (chất bị hấp phụ) lên một bề mặt hoặc mặt phân pha (chất hấp phụ)
- Xảy ra khi các nguyên tử hay các phân tử của một pha xâm nhập gần như đồng đều vào
trong các nguyên tử, phân tử của các pha khác
Trang 25sự phân cực của phân tử, trong đó các phân tử được hấp phụ
có thể có sự dịch chuyển bên trong mặt phân pha
Loại hấp phụ thứ ba là lực hấp dẫn hóa học giữa chất hấp phụ và chất bị hấp phụ, được gọi là sự hấp phụ
“hóa học” hay sự hấp phụ “hoạt hóa”
Có 3 kiểu hấp phụ chính ở vi sinh vật
thường được gọi là sự hấp phụ “ trao đổi” do lực hấp dẫn điện gây ra Đối với các tế bào vi sinh vật loại hấp phụ này thường được định nghĩa đơn giản là sự hấp dẫn của các ion tích điện dương (cation) đối với các phối tử tích điện âm trong nguyên liệu tế bào.
Trang 26Giai đoạn 2: Sự tích lũy nội bào phụ
thuộc vào trao đổi chất
Diễn ra chậm hơn so với quá trình hấp phụ
Bị ức chế bởi nhiệt độ thấp, sự vắng mặt của một nguồn năng
lượng hoặc bởi với các chất kìm hãm trao đổi chất (như glucoza đối với vi sinh vật dị dưỡng, ánh sáng với vi sinh vật quang tự dưỡng) Tốc độ hấp thu bội bào còn phụ thuộc vào trạng thài sính
lý của tế bào, bản chất và thành phần của môi trường sinh trưởng
Vi sinh vật có một hệ thống vận chuyển mang tính đặc hiệu khác nhau đối với sự tích lũy kim loại của vi sinh vật từ môi trường ngoài
Lượng kim loại tích lũy được nhờ sự vận chuyển năng lượng có thể vượt hơn rất nhiều so vời lượng hấp thu nhờ quá trình lý-hóa
Trang 273.Sự tích lũy kim loại ở vi khuẩn
lysodeikticus, và Streptococcus mutans
-Có sự cạnh tranh giữa các kim loại khác nhau với các vị trí liên kết trên thành tế bào
-Quá trình liên kết kim loại có ít nhất hai giai đoạn, giai đoạn kết hợp của các nhóm phản ứng với ion kim loại và giai đoạn kết tủa của các muối kim loại tăng về số lượng
Trang 28 Phần vỏ của các vi khuẩn Gram âm có cấu trúc hóa học khác biệt rõ rệt với thành tế bào của các vi khuẩn gram dương Chúng có hai lớp màng ( màng sinh
chất và màng ngoài) khác nhau về bản chất hóa học
và kẹp giữa chúng là một lớp trong peptidoglycan
mỏng nằm trong vùng không gian ngoại vị.
Như tế bào E coli ở trạng thái nghỉ ngơi,sự hấp thu
Cu là một quá trinh hai pha do có hai kiểu vị trí liên kết Hầu hết các kết tủa kim loại xẩy ra ở các vùng đầu phân cực của màng hoặc dọc theo lớp
peptidoglycan Ở E coli, thứ tự ái lực kim loại:
Zn 2+ = Cd 2+ > Mn 2+ = Co 2+ = Ni 2+ > Mg 2+ = Ca 2+
Trang 292 Giai đoạn 2
Người ta đã phát hiện được các hệ thống vận chuyển đặc hiệu đối với Mn 2+ ở một số vi khuẩn như E coli, B subtilis và
Lactobacillus plantarum
Ngoài ra, Mn 2+ cũng như (Ni 2+ và Co 2+ ) có thể được hấp thu như
là một cơ chất có ái lực thấp của hệ thống vận chuyển Mg 2+
Ở L.plantarum, sự vận chuyển Mn2+ phụ thuộc vào gradien H+ xuyên màng
Kim loại có chức năng sinh học đối với vi khuẩn sẽ có ái lực cao có tính đặc hiêu cao, điều này đã được chứng minh ở
E.coli, Bacillus megaterium với sự vận chuyển theo cơ chế đặc
hiệu với Mg 2+
Người ta đã phát hiện được các hệ thống vận chuyển đặc hiệu đối với Mn 2+ ở một số vi khuẩn như E coli, B subtilis và
Lactobacillus plantarum
Ngoài ra, Mn 2+ cũng như (Ni 2+ và Co 2+ ) có thể được hấp thu như
là một cơ chất có ái lực thấp của hệ thống vận chuyển Mg 2+
Ở L.plantarum, sự vận chuyển Mn2+ phụ thuộc vào gradien H+ xuyên màng
Kim loại có chức năng sinh học đối với vi khuẩn sẽ có ái lực cao có tính đặc hiêu cao, điều này đã được chứng minh ở
E.coli, Bacillus megaterium với sự vận chuyển theo cơ chế đặc
hiệu với Mg 2+
Trang 30• Ở vi khuẩn lam Anabaena cylindrica người ta đã ghi
nhận được hệ thống vận chuyển Ni2+ có tính đặc
hiệu cao
• Sự hấp thu phụ thuộc vào hiệu thế của màng và bị
kìm hãm trong bóng tối hoặc bởi các chất kìm hãm trao đổi chất
Anabaena cylindrica
Trang 314.Sự tích lũy kim loại nhờ tảo
1 Giai đoạn một
Sự tích lũy kim loại và các nuclit phóng xạ
không phụ thuộc vào trao đổi chất do tảo thực hiện thường xảy ra nhanh, thuận nghịch, và
thường được hoàn thành trong vòng 5-10 phút
Tuy nhiên, độc tính và sự chết của tế bào có thể dẫn đến sự hấp thu nội bào không đặc hiệu
1 Giai đoạn một
Sự tích lũy kim loại và các nuclit phóng xạ
không phụ thuộc vào trao đổi chất do tảo thực hiện thường xảy ra nhanh, thuận nghịch, và
thường được hoàn thành trong vòng 5-10 phút
Tuy nhiên, độc tính và sự chết của tế bào có thể dẫn đến sự hấp thu nội bào không đặc hiệu
Trang 32 Tỷ lệ hấp thu sinh học trên hấp thu toàn phần và
năng lực hấp thu có thể dao động giữa các loài tảo khác nhau
liên kết cađimi lên thành tế bào có thể chiếm tới
80% hấp thu toàn phần
thu chủ yếu đối với rất nhiều loại kim loại khác
nhau kể cả uranium
bào lại chiếm phần lớn trong hấp thu toàn phần.
năng lực hấp thu có thể dao động giữa các loài tảo khác nhau
liên kết cađimi lên thành tế bào có thể chiếm tới
80% hấp thu toàn phần
thu chủ yếu đối với rất nhiều loại kim loại khác
nhau kể cả uranium
bào lại chiếm phần lớn trong hấp thu toàn phần.
Trang 33Các thành phần cấu trúc bao gồm các
polysaccharide, clellulosa, axit uronic, và các
protein Cả hai loại liên kết ion và liên kết cộng hóa trị đều tham gia vào việc hấp thu sinh học lên các protein và các polysaccharide quan trọng
- Như ở Scenedesmus obliquus thành tế bào hoạt
động như một chất trao đổi cation axit yếu mặc
dù cađimi chẳng hạn có thể được tích lũy trên
thành tế bào của S obliquus dưới dạng các phức chất trung tính
Các thành phần cấu trúc bao gồm các
polysaccharide, clellulosa, axit uronic, và các
protein Cả hai loại liên kết ion và liên kết cộng hóa trị đều tham gia vào việc hấp thu sinh học lên các protein và các polysaccharide quan trọng
- Như ở Scenedesmus obliquus thành tế bào hoạt
động như một chất trao đổi cation axit yếu mặc
dù cađimi chẳng hạn có thể được tích lũy trên
thành tế bào của S obliquus dưới dạng các phức chất trung tính
Trang 34Sự hấp thu sinh học có thể bị ảnh hưởng bởi
sự có mặt của các cation khác hoặc proton
Ca2+, Mg2+, Na+, Mn2+, Zn2+, Co2+ và Ni2+ làm chậm sự hấp thu Cd2+ ở Chlorella regularis,
nhưng K+ thì không
Trong khi đó Cd2+, Cu2+, Zn2+ và Mn2+ nói
chung bị giảm ở pH thấp, song riêng ở
thu mạnh ở pH 2
Sự hấp thu sinh học có thể bị ảnh hưởng bởi
sự có mặt của các cation khác hoặc proton
Ca2+, Mg2+, Na+, Mn2+, Zn2+, Co2+ và Ni2+ làm chậm sự hấp thu Cd2+ ở Chlorella regularis,
nhưng K+ thì không
Trong khi đó Cd2+, Cu2+, Zn2+ và Mn2+ nói
chung bị giảm ở pH thấp, song riêng ở
thu mạnh ở pH 2
Trang 35Sự hấp thu sinh học uranium và các nuclide
phóng xạ khác nhờ tảo đang rất được quan tâm
Tất cả các chi tảo nước ngọt Chlorella,
Scenedesmus, và Chlamydomonas sp đều có khả
năng hấp thu những số lượng lớn uranium
Sự hấp thu sinh học uranium và các nuclide
phóng xạ khác nhờ tảo đang rất được quan tâm
Tất cả các chi tảo nước ngọt Chlorella,
Scenedesmus, và Chlamydomonas sp đều có khả
năng hấp thu những số lượng lớn uranium
Trang 362.Giai đoạn hai
Sự hấp thu kim loại nội bào ở tảo đôi khi được gọi là pha hấp thu “chậm” để phân biệt với pha hấp thu “nhanh” dùng để chỉ liên kết không
phụ thuộc vào trao đổi chất
Người ta đã chứng minh được rằng hấp thu
“chậm” có thể do hiệu quả đồng thời của sinh trưởng và hấp thu bề mặt gây ra
Sự hấp thu kim loại nội bào ở tảo đôi khi được gọi là pha hấp thu “chậm” để phân biệt với pha hấp thu “nhanh” dùng để chỉ liên kết không
phụ thuộc vào trao đổi chất
Người ta đã chứng minh được rằng hấp thu
“chậm” có thể do hiệu quả đồng thời của sinh trưởng và hấp thu bề mặt gây ra
Trang 37Sự hấp thu tích cực các cực kim loại ở tảo rất mẫn cảm với sự thiếu ánh sáng, sự có mặt của các chất kìm hãm trao đổi chất và phụ thuộc vào nhiệt độ Sau quá trình hấp thu tích cực, nồng độ nội bào có thể lớn hơn tới vài nghìn lần so với bên ngoài
Ở Chlorella pyrenoidosa sự hấp thu tích cực
Ở Chlorella pyrenoidosa sự hấp thu tích cực
Cd2+ không bị tác động bởi Ca2+, Mg2+, Cu2+,
Zn2+ hay Co2+, nhưng bị kìm hãm cạnh tranh bởi bóng tối ở 40C hoặc ở các tế bào chết