1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Kết quả nghiên cứu thực trạng nghề khai thác thủy sản ven bờ huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam

8 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 899,31 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài báo này đưa ra kết quả nghiên cứu về thực trạng nghề khai thác thủy sản tại vùng biển ven bờ huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam với để đưa ra được thực trạng về tàu thuyền, trang thiết bị an toàn hàng hải, trình độ thuyền viên, sự suy giảm nguồn lợi thủy sản, vi phạm về kích thước loài tối thiểu được phép khai thác, nhận thức của ngư dân về bảo vệ nguồn lợi thủy sản… Từ đó tìm ra nguyên nhân, làm căn cứ đề xuất các giải pháp nhằm khai thác hợp lý NLTS vùng biển ven bờ huyện Núi Thành tỉnh Quảng Nam..

Trang 1

THÔNG BÁO KHOA HỌC

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG NGHỀ KHAI THÁC THỦY SẢN

VEN BỜ HUYỆN NÚI THÀNH, TỈNH QUẢNG NAM

RESEARCH RESULTS OF FISHING STATUS IN COASTAL NUI THANH DISTRICT,

QUANG NAM PROVINCE

Tơ Văn Phương1

Ngày nhận bài: 16/8/2014; Ngày phản biện thơng qua: 20/10/2014; Ngày duyệt đăng: 10/02/2015

TĨM TẮT

Bài báo này đưa ra kết quả nghiên cứu về thực trạng nghề khai thác thủy sản tại vùng biển ven bờ huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam với để đưa ra được thực trạng về tàu thuyền, trang thiết bị an tồn hàng hải, trình độ thuyền viên, sự suy giảm nguồn lợi thủy sản, vi phạm về kích thước lồi tối thiểu được phép khai thác, nhận thức của ngư dân về bảo vệ nguồn lợi thủy sản… Từ đĩ tìm ra nguyên nhân, làm căn cứ đề xuất các giải pháp nhằm khai thác hợp lý NLTS vùng biển ven bờ huyện Núi Thành tỉnh Quảng Nam

Từ khĩa: nguồn lợi thủy sản, thực trạng khai thác thủy sản, huyện Núi Thành, Quảng Nam

ABSTRACT

This paper gives research results of coastal resources fi shing in Nui Thanh district, Quang Nam province with some particular contents as follow: status of fi shing vessels, navigation equipments, crew, fi sheries resources dynamic, violation rates of minimum size permitted fi shing, fi shers’ awareness on fi sheries resources overtime As a basic to propose solutions

in order to reasonable fi shing resources in the research area.

Keywords: fi sheries resources, fi shing status, Nui Thanh district, Quang Nam province

1 ThS Tơ Văn Phương: Trường Đại học Nha Trang

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Vùng biển ven bờ huyện Núi Thành, tỉnh Quảng

Nam đĩng vai trị quan trọng về nguồn sinh kế và thu

nhập của hàng ngàn người ven biển của địa phương

Theo số liệu thống kê Phịng Nơng nghiệp huyện Núi

Thành (2013), tồn huyện cĩ hơn 85% trong tổng số

1527 tàu thuyền cĩ cơng suất dưới 90CV hoạt động

ven bờ với nhiều ngư cụ bất hợp pháp (ví dụ: sử dụng

kích thước mắt lưới nhỏ, xung điện, chất nổ, chất

độc ) Đặc biệt, bên cạnh 931 tàu cĩ cơng suất dưới

20CV với kích thước mắt lưới nhỏ, đánh bắt khơng

chọn lọc và gần như hoạt động quanh năm nên đã

tàn phá ngư trường và nguồn lợi thủy sản (NLTS),

thậm chí cịn phá hủy mơi trường sinh thái rạn san hơ,

thảm cỏ - rong biển, làm mất nơi sinh cư, tận diệt các

loại thủy sản [2] Để khai thác hợp lý NLTS, cần thiết

phải cĩ cái nhìn tổng quan về thực trạng nghề khai

thác thủy sản vùng biển này, sẽ giúp giải quyết vấn đề

khoa học - vốn là câu hỏi được đặt ra khi đứng trước

mâu thuẫn nguồn lợi giảm, sản lượng tăng tại địa phương nghiên cứu

II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp

Số liệu thứ cấp liên quan đến: cơ cấu về tàu thuyền, ngư cụ, ngư dân, NLTS được thu thập từ các cơ quan ban ngành liên quan đến thủy sản, từ internet, nhà khoa học…

2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp

Khảo sát trực tiếp và gián tiếp từ các nguồn: Thuyền trưởng, thuyền viên, nậu vựa tại bến cá; cán bộ quản lý nghề cá tại các cấp, để biết được biến động tăng, giảm tàu thuyền, sản lượng, ngư

cụ, kích thước mắt lưới, sản phẩm

3 Phương pháp chọn cỡ mẫu, thu mẫu ngẫu nhiên

Áp dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên theo Bảng chọn mẫu an tồn của FAO về hướng dẫn

Trang 2

thu thập số mẫu an toàn trong khoa học nghề cá có

đủ ý nghĩa thống kê

Để chọn ra cỡ mẫu nghiên cứu có ý nghĩa thống

kê đối với tàu thuyền nghề thực tế đi khai thác ven

bờ huyện Núi Thành, tác giả sử dụng các phương

pháp: i) Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn

(PRA); ii) Phương pháp thu thập số liệu định lượng

(phỏng vấn cá nhân trực tiếp, qua điện thoại và

email, quan sát trực tiếp) Sau đó kiểm chứng thông tin để xác định loại nghề, nhóm tàu, dải công suất, địa phương Qua quá trình phân tích, trích lọc và

xử lý số liệu thống kê, xác định được nhóm tàu thuyền theo dải công suất và địa phương thực tế khai thác ở vùng biển ven bờ Cụ thể tại bảng 1 dưới đây

Bảng 1 Thống kê tàu thuyền theo nghề dải công suất, địa phương (6/2014)

TT Nghề Công suất (CV) Địa phương Tam Hải Tam Quang Tam Tiến Tam Hòa Xã khác Tổng

Công trình nghiên cứu cần điều tra ngẫu nhiên

110 mẫu để đạt được độ tin cậy trong nghiên cứu

là 95% [6]

Từ bảng 1, sử dụng phương pháp phân bố mẫu

ngẫu nhiên (theo địa bàn, công suất, nghề), phân bố

mẫu phải tỷ lệ thuận với quy mô tổng thể theo Viện

Khoa học thống kê [4], công thức xác định cỡ mẫu

của từng loại nghề khai thác (ni) như sau:

Trong đó: N là tổng thể mẫu, Ni tổng thể mẫu theo (theo địa bàn, công suất, nghề) thứ i, n tổng số mẫu cần nghiên cứu, ni tổng số mẫu cần nghiên cứu (theo địa bàn, công suất, nghề) thứ i, i là (địa bàn, công suất, nghề), f là tỷ lệ mẫu

f = n/N, (N = N1+N2+…+ Ni; n = n1+n2+…+ ni)

Từ cách tính toán như trên, có bảng 2 là phân

bổ mẫu nghiên cứu

Bảng 2 Bảng phân bổ mẫu nghiên cứu theo địa bàn, nghề khai thác

TT Nghề Địa phương Công suất (CV) Tam Hải Tam Quang Tam Tiến Tam Hòa Xã khác Tổng

Trang 3

4 Phương pháp xử lý số liệu

Tiến hành hiệu chỉnh số liệu thu được và làm

sạch các phiếu câu hỏi điều tra Xử lý và phân tích

thông tin bằng kiến thức chuyên môn thông qua

Microsoft Excel

5 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu

5.1 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi về không gian: hoạt động khai thác thủy

sản vùng biển ven bờ huyện Núi Thành, tỉnh Quảng

Nam (được quy định theo Nghị định 33/2010/NĐ-CP

của Chính phủ)

Thời gian: từ tháng 6 năm 2013 đến tháng 5

năm 2014

5.2 Đối tượng nghiên cứu

Tàu thuyền khai thác thủy sản (công suất

<20CV, > 20CV, tàu thuyền địa phương khác) hoạt động tại vùng biển ven bờ huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam

III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

1 Thực trạng về tàu thuyền, trang thiết bị

1.1 Cơ cấu tàu thuyền khai thác thủy sản

Tình hình phát triển tàu thuyền khai thác thủy sản tại địa phương địa phương nghiên cứu trong giai đoạn 2003 - 2013 được thể hiện tại bảng 3

Bảng 3 Thống kê tàu thuyền huyện Núi Thành qua các năm theo dải công suất

Dải công suất (CV) Xu hướng tàu thuyền theo năm

2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013

Nguồn: Chi cục Khai thác và Bảo vệ NLTS Quảng Nam

Cơ cấu tàu thuyền các loại được biểu đồ hóa như hình 1 cho thấy, biến động về số lượng tàu thuyền các loại qua các năm đều ổn định

Hình 1 Biến động tàu thuyền khai thác từ 2003 đến 2013 Hình 2 Cơ cấu tàu theo dải công suất tàu

Đến tháng 6/2014, cơ cấu tàu thuyền theo dải

công suất từ dải nhỏ hơn 20CV đến trên 800CV

được minh họa tại hình 2 Theo đó, có 61% tàu

thuyền nhỏ hơn 20CV, đây là nhóm tàu do huyện

quản lý, nhóm tàu công suất lớn hơn chiếm tỉ lệ

khoảng 39% Đáng chú ý, nhóm tàu có công suất

dưới 90CV là những tàu khai thác gần bờ chiếm tỷ

lệ cao, khoảng 85% (trong số 1.527 tàu)

Ngoài ra, xét về cơ cấu tàu thuyền theo địa

phương và dải công suất dưới 90CV (hình 3) cho

thấy, tàu thuyền chủ yếu tập trung ở Tam Hải (chủ

yếu dưới 20CV), Tam Quang, Tam Tiến và Tam Hòa

Trong khi ở các xã khác, tàu nhỏ chiếm tỷ trọng lớn

nhưng số lượng không đáng kể Hình 3 Cơ cấu tàu thuyền theo địa phương và dải công suất dưới 90CV

Trang 4

1.2 Đặc điểm tàu thuyền khai thác ven bờ ở huyện

Núi Thành

Qua khảo sát 110 tàu thuyền hoạt động vùng

biển ven bờ cho thấy, hầu hết đóng theo kiểu dân

gian, vật liệu vỏ tàu chủ yếu bằng gỗ, đối với tàu có

công suất nhỏ hơn 20CV thì vật liệu đóng vỏ tàu là gỗ

kết hợp nan tre thô sơ, nhóm tàu có công suất dưới 6CV chủ yếu bằng nan tre; chất lượng tàu thuyền dao động từ 50 - 90%, chỉ còn trung bình khoảng 64% so với ban đầu Thông số tàu thuyền khai thác ven bờ được thể hiện ở bảng 4, nhìn chung kích thước nhỏ, trung bình chỉ khoảng 10,5 mét

Bảng 4 Bảng thống kê thông số tàu thuyền mẫu điều tra

TT Các giá trị Thông số tàu thuyền điều tra (m)

4 Khoảng ước lượng trung bình (độ tin cậy 95%) 10,50 ± 0,56 2,56 ± 0,15 0,91 ± 0,05

1.3 Thực trạng trang thiết bị hàng hải

Vì là tàu thuyền nhỏ, lâu năm, với 71% tàu có công suất nhỏ hơn 20CV nên khả năng trang thiết bị hàng hải phục vụ khai thác còn hạn chế, được thể hiện tại bảng 5 dưới đây

Bảng 5 Trang bị an toàn hàng hải (n = 110)

TT Loại trang thiết bị Thông số đánh giá Tình hình trang bị của 110 tàu mẫu khảo sát Tỷ lệ % đối với tổng thể

Số lượng Tỷ lệ %

Bảng 5 cho thấy:

Trang thiết bị hàng hải chưa đầy đủ, không đáp

ứng theo tiêu chuẩn quy định của Thông tư 02/2007/

TT-BTS ngày 13/7/2007 về việc hướng dẫn thực

hiện Nghị định số 66/2005/NĐ-CP ngày 19/5/2005

của Chính phủ về đảm bảo an toàn cho người và

tàu cá hoạt động thủy sản

Cụ thể: chỉ có 33,6% đáp ứng theo quy định, có

tới 27,3% tàu thuyền không trang bị hoặc trang bị

không đủ phương tiện cứu sinh; đặc biệt có tới 54,5% tàu thuyền không trang bị đủ phao áo cho tất cả thuyền viên trên tàu Đối với nghề Lặn biển,

do hoạt động khai thác gần bờ, nên 100% các tàu không trang bị dò cá và đàm thoại; phần lớn không

có la bàn và định vị vệ tinh

2 Thực trang lao động nghề khai thác

Là nghề sinh kế quy mô nhỏ, thực trạng lao động trên tàu cá xét được thể hiện chi tiết tại bảng 6

Trang 5

Bảng 6 cho thấy:

Đối với tuổi đời: lao động nghề cá dao động từ

31 ÷ 50 tuổi chiếm khoảng 57,5%, nhóm lao động

dưới 18 tuổi chiếm tỷ lệ 8,5%, trong khi nhóm tuổi

51 ÷ 60 chiếm tới 14,6% Đáng lưu ý, 3,7% lao động

trên 61 tuổi, có người 75 tuổi vẫn phải làm nghề biển

Trong khi, một mặt do không tìm được bạn

đi biển, mặt khác vì kế sinh nhai, có khoảng 10%

số lao động trên tàu cá là phụ nữ, và không ít tàu

thuyền có cả vợ con đều phải đi khai thác

Đối với tuổi nghề: có 82,9% số lao động nghề

cá có trên 10 năm kinh nghiệm hành nghề, trong đó

7,5% lao động hành nghề trên 25 năm

Tuy nhiên, xét về trình độ học vấn, hầu hết lao

động có trình độ tiểu học và trung học cơ sở Đặc biệt, có đến 5,85% lao động nghề cá mù chữ, lớn hơn con số 0,7% có trình độ trung học phổ thông Góc độ khác cho thấy, vì là tàu thuyền kích thước và công suất nhỏ, chỉ hoạt động ven bờ nên chưa đến 1/3 thuyền trưởng đã qua các lớp bồi dưỡng, tập huấn thuyền máy trưởng

3 Thực trạng về kích thước loài khai thác

Sản phẩm chính trong các mẻ lưới vi phạm nghiêm trọng kích thước tối thiểu được phép khai thác theo Thông tư 02, cụ thể thể hiện ở hình dưới đây

Bảng 6 Thống kê tuổi đời, tuổi nghề, trình độ thuyền viên (294 thuyền viên = 110 tàu)

TT Thông số đánh giá Thuyền viên trên 110 tàu mẫu khảo sát Tỷ lệ % đối với tổng thể

Số lượng Tỷ lệ %

3 Trình độ học vấn

Hình 4 và 5 cho thấy, 65,7% tỷ lệ cá Chuồn và

64,2% cá Cơm khai thác được từ lưới Vây có kích thước chiều dài thân nhỏ hơn kích thước tối thiểu cho phép khai thác theo quy định của Thông tư 02

Trang 6

Qua hình 8 cho thấy, có 64,2% cá Cơm khai

thác được từ lưới Vây có kích thước nhỏ hơn kích

thước tối thiểu được phép đánh bắt theo qui định

của Thông tư 02 Đối với cá Nục, có 84,9% tỷ lệ cá

có kích thước nhỏ hơn kích thước tối thiểu được

phép khai thác

Kết quả nghiên cứu cho thầy, 100% ngư cụ khai

thác NLTS vùng biển nghiên cứu có kích thước mắt

lưới vi phạm quy định của Thông tư 02, dẫn đến sản

phẩm khai thác được có tỷ lệ vi phạm cao Hệ quả

làm nguồn lợi không kịp tái tạo, cạn kiệt NLTS không

thể tránh khỏi

4 Nhận thức của người dân về nguồn lợi thủy sản và giải pháp bảo vệ

- 100% ngư dân khẳng định nguồn lợi thủy sản vùng biển ven bờ đang bị cạn kiệt nghiêm trọng, sản lượng khai thác ngày một ít hơn và kích thước các loài thủy sản vi phạm quy định về kích thước tối thiểu được phép khai thác chiếm tỷ lệ cao trong mỗi mẻ lưới

- 100% chưa tham gia các tổ chức quản lý và bảo vệ NLTS, và khoảng 30% ngư dân cho rằng không muốn tham gia vì nhận thức chưa thấy được lợi ích gì từ đó (hàm ý mục đích hỗ trợ tiền lương, tiền công )

Hình 6 Phân bố chiều dài thân cá Mối, tôm he của nghề lưới kéo

Hình 6 cho thấy, cá tạp trong mỗi mẻ lưới, chuyến biển chiếm tỷ lệ khá cao (49,3%) trong chuyến khảo sát thực tế khoảng 68% số lượng cá Mối (thẩn) có chiều dài thân nhỏ hơn kích thước tối thiểu khai thác (20cm); trong khi 86,3% số lượng Tôm he có kích thước vi phạm quy định về kích thước tối thiểu được phép khai thác (12cm)

100% tàu thuyền khai thác nghề lưới Kéo tại vùng biển nghiên cứu vi phạm về quy định kích thước mắt lưới phần giữ cá theo quy định của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (Thông tư 02)

Hình 7 Phân bố chiều dài thân cá Liệt và cá Nục

Từ hình 7 cho thấy, có 81,9% cá Liệt có chiều dài vi phạm quy định kích thước thành thục sinh dục (10,7cm), trong khi đó, 77,5% cá Nục vi phạm quy định kích thước tối thiểu được phép khai thác (12cm)

Hình 8 Phân bổ chiều dài thân cá Cơm và cá Nục

Trang 7

- Vì gặp khó khăn trong hành nghề nên 85,7%

ngư dân muốn chuyển đổi sang nghề khác nếu

được hỗ trợ vốn đầu tư để cải hoán, nâng cấp tàu

thuyền và ngư cụ để đi khai thác xa bờ

- 72,7% ngư dân cho rằng nghề khai thác họ

đang hoạt động đảm bảo được cuộc sống của gia

đình, 22,8% có ý kiến ngược lại và 4,5% ý kiến

khác Ngư dân chưa có ý định phát triển nghề để

nâng cao năng suất, điều này chứng tỏ ngư dân còn

thụ động trong sản xuất, trình độ dân trí thấp nên

gặp khó khăn cho phát triển công nghệ mới Hầu

hết ngư dân không có ý định cho con theo nghiệp

mình Từ khó khăn như vậy, một số ngư dân chuyển

sang làm nghề khác như phụ hồ, mò ốc hoặc vào

Sài Gòn kiếm sống

- Khảo sát cho thấy thấy có khoảng 70 loài cá

được ngư dân cho biết có ở vùng biển nghiên cứu,

khi phỏng vấn kết hợp thu mẫu cho thấy có 8/54

loài cá, 1/18 loài giáp xác ít xuất hiện hoặc bây giờ

không còn nữa Cụ thể: Cá Sủ, Cá Tam Bôi, Cá Hồng

và Cá Song giường như không còn trong mẻ lưới

Trong khi có một số loài thủy sản không còn nhiều như trước, cách đây 5 - 10 năm

Theo khảo sát, 100% ngư dân khi được hỏi cho biết mô hình khôi phục, tái tạo và BVNLTS như chà, rạn nhân tạo đóng vai trò quan trọng, có ảnh hưởng tích cực đến bảo vệ và phát triển NLTS Do vậy họ ủng hộ việc Nhà nước đầu tư kinh phí xây dựng mô hình chà rạn ở vùng biển này, sẽ giúp khai thác hợp

lý NLTS vì mô hình chà - rạn sẽ giúp khôi phục, bảo

vệ và phát triển NLTS tại đây

Trong khi đó, tàu thuyền nghề lưới Kéo - vốn

là nghề xâm hại môi trường sống của các loài thủy sản - sẽ tránh xa các khu vực bãi rạn nhân tạo (nếu được thả ở khu vực ngư trường) vì cho rằng nếu kéo lưới vào khu vực đó sẽ bị rách và mất lưới

5 Mối quan hệ giữa sản lượng và năng suất khai thác

Mối quan hệ giữa tổng sản lượng khai thác và sản lượng trên một đơn vị cường lực khai thác theo công suất (CV) - CPUE được thể hiện ở hình 9

Xét trong mối tương quan từ hình 9, xu hướng

sản lượng và CPUE gia tăng nhanh chóng, liên

tục trong giai đoạn 2003 - 2013 lần lượt từ 17.000

tấn (năm 2003) lên tới 34.750 tấn (năm 2013) Tuy

nhiên, CPUE giảm liên tục với 0,62 tấn/CV ở năm

đầu giai đoạn xuống còn 0,34 tấn/CV vào năm cuối

giai đoạn Giá trị CPUE 0,34 tấn/CV cũng tương

đồng với xu hướng suy giảm năng xuất khai thác

chung của nghề cá qui mô nhỏ - vốn chủ yếu khai

thác NLTS ven bờ Việt Nam [5]

Đây là minh chứng chứng tỏ NLTS bị suy giảm

Đặc biệt, sản lượng chủ yếu từ đội tàu có công suất

dưới 45CV (chiếm 71% tổng số tàu thuyền) không

có khả năng đi xa bờ, theo khảo sát là khai thác

gần bờ Do vậy, có thể khẳng định rằng nguồn

lợi thủy sản vùng biển gần bờ đang bị suy giảm

nghiêm trọng

IV KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

1 Kết luận

Có 849 tàu thuyền huyện Núi Thành (gồm: 597 tàu thuyền có công suất nhỏ hơn 20CV và 252 tàu

có công suất từ 20 - 90CV) và có 22 tàu Quảng Ngãi khai thác tại vùng biển nghiên cứu

Trang bị thiết bị an toàn hàng hải và cứu sinh không đầy đủ

Sản lượng khai thác có xu hướng tăng tương tự với xu hướng quy mô tàu thuyền Tuy nhiên, CPUE lại có xu hướng giảm theo thời gian Cụ thể, từ 0,62 tấn/CV năm 2003 xuống còn 0,34 tấn/CV vào năm 2013

Thuyền viên có trình độ học vấn thấp, chủ yếu

là tiểu học và trung học cơ sở Tuổi đời cao, trung bình từ 40 - 50 tuổi, tương ứng là tuổi nghề cũng cao từ 10 - 20 năm

Hình 9 Mối quan hệ giữa sản lượng và CPUE giai đoạn 2003-2013

Trang 8

So với 5 năm trước, sản lượng trên một đơn

vị cường lực giảm từ 20 - 30%, kích thước các loài

thủy sản chính trong thành phần đánh bắt giảm từ

30 - 40%, và trên 80% vi phạm kích thước tối thiểu

cho phép khai thác trong khi 100% kích thước mắt

lưới ngư cụ vi phạm quy định kích thước mắt lưới

tối thiểu theo quy định Trong khi mẻ lưới ngày càng

ít các loài thủy sản có giá trị kinh tế

Phần lớn ngư dân (85,7%) sẽ tự nguyện chuyển

đổi nghề nghiệp, chủ yếu sang nghề khai thác khác

nếu được nhà nước hỗ trợ vốn để cải hoàn, đóng

mới tàu thuyền, công nghệ mới

Qua khảo sát thấy rằng, 100% ngư dân ủng hộ

mạnh mẽ việc xây dựng mô hình rạn nhân tạo nhằm

bảo vệ, khôi phục và phát triển NLTS Ngoài ra, rạn

nhân tạo đóng vai trò quan trọng làm hạn chế tàu

thuyền xâm hại đến môi trường sinh thái ven biển

2 Kiến nghị

Cắt giảm tàu thuyền có kích thước và công suất

nhỏ, đặc biệt là hoạt động nghề khai thác có xâm hại

đến môi trường hệ sinh thái Khi tàu thuyền được

cắt giảm, giải quyết công ăn việc làm cho nhóm

ngư dân này là cấp bách; cần thiết phải phân tích, đánh giá tình hình kinh tế - xã hội tại địa phương để

đề xuất giải pháp

Chuyển đổi nghề nghiệp đối với tàu thuyền có khả năng cải hoán, thậm chí đóng mới để ngư dân tiến khơi xa, không khai thác ven bờ

Nhà nước hỗ trợ vốn để ngư dân cải hoán, đóng mới tàu thuyền và công nghệ mới để vươn khơi bám biển, hạn chế áp lực khai thác ven bờ nhằm khai thác hợp lý NLTS vùng biển ven bờ

Có giải pháp và mô hình giúp khôi phục, duy trì, bảo vệ và phát triển NLTS ven bờ Mô hình rạn nhân tạo được coi là khả thi trong hoàn cảnh này Ngoài ra, cũng cần có phương án lập các tổ chức bảo vệ và phát triển NLTS hướng đến nghề

cá bền vững

Nghề cá ven bờ Việt Nam nói chung, tại địa phương nghiên cứu nói riêng là đa loài, đa ngư cụ - vốn phức tạp; cần thiết phải có giải pháp đồng bộ

để khai thác hợp lý NLTS vùng biển ven bờ huyện Núi Thành Sử dụng bất kỳ một giải pháp đơn lẻ nào cũng đều đi đến thất bại

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tiếng Việt

1 Chi cục khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản tỉnh Quảng Nam 2013 Số liệu thống kê tàu thuyền nghề cá tỉnh Quảng Nam tính đến năm 2013 Quảng Nam Việt Nam

2 Phòng nông nghiệp huyện Núi Thành 2013 Báo cáo kết quả sản xuất khai thác thủy sản và diêm nghiệp huyện Núi Thành năm 2013 Núi Thành, Quả ng Nam

3 Phòng nông nghiệp huyện Núi Thành 2010 Kết quả thực hiện nghị quyết về đề án phát triển kinh tế thủy sản giai đoạn 2004-2010 Núi Thành, Quả ng Nam

4 Viện Khoa học thống kê 2005 Phương pháp chọn mẫu trong nghiên cứu Hà Nội

Tiếng Anh

5 DANIDA 2010 The Fisheries Sector in Vietnam: A Strategy Economic Analysis University of Copenhagen and Ministry of Planning and Investment of Vietnam Vietnam

6 FAO 2002 Sample-based fi sheries surveys: A technical handbook FAO Fisheries technical 425, Rome, Italy

Ngày đăng: 19/05/2021, 14:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w