Tài liệu Thức ăn xanh ngoài cỏ cho gia súc - Phương pháp chủ động được biên soạn với mục đích giới thiệu đa dạng nguồn thức ăn thô cho gia súc và hướng dẫn một số phương pháp chế biến thông dụng, dễ làm và đạt hiệu quả cao. Phần 1 của tài liệu trình bày các nội dung chính sau: Kỹ thuật trồng cỏ thâm canh, kỹ thuật trồng thu hoạch một số loài cây thức ăn thô xanh làm thức ăn cho gia súc. Mời các bạn cùng tham khảo.
Trang 4Jlò’i n ó i itíỉíL
Cùng với sự tăng trưởng mạnh mẽ của ngành chăn nuôi ở nước ta, nghề chế biến thức ăn chăn nuôi đã
và đang phát triển nhanh chóng Song sự tăng nhanh các nhá máy chề' bìêh thức ăn công nghiệp cũng mới chỉ đáp ứng được khoảng 1/3 nhu cầu thức ăn 'cho tổng đàn gia súc.
Trong khi đó, với ưu thế là một nước nhiệt đới, quanh năm cây trái xanh tốt, ngành chăn nuôi Việt Nam luôn sẵn
có nền tảng nguyên liệu vững chắc là nguồn thức ăn xanh phong phú và nguồn phụ phẩm công, nông nghiệp dồi dào Trong những năm gần đây, khi đàn gia súc của Việt Nam tăng nhanh cả về số lượng và chất lượng thì nhu cầu
về thức ăn lại trở nên nóng bỏng bởi tập quán chăn thả và tận dụng theo mùa vụ đã không thể đáp ímg yêu cầu chăn nuôi đang trong xu hướng cộng nghiệp hóa hiện nay.
Vì vậy, mở rộng diện tích trồng cỏ và tăng cường thu gom, chế biến phụ phẩm công, nông nghiệp nhằm khai thác lợi thế vùng làm thức ăn cho gia súc, dặc biệt là gia súc nhai lại ở nước ta vốn rất dễ thiểu thức ăn vào mùa dông, mùa khô là việc làm mang nhiều lợi ích và đảm bảo chăn nuôi hiệu quả.
Trang 5Chế bỉêh thức ăn cho gia súc từ nhiều nguồn thức ăn xanh phong phú và từ các nguồn phụ phẩm là phương pháp chủ động thức ăn đơn giận và rẻ tiền nhưng hiện tại chưa trỏ thành tập quán, thối quen và tư duy chính thức của người chăn nuôi nên trên thực tế việc phát triển các nguồn thức ăn này còn khá nhiều hạn chế.
Cuốn sách nhỏ "Phương pháp chủ động thức ăn xanh ngoài cỏ cho gia súc” được biên soạn vớỉ mục đích giới thiệu đa dạng nguồrữhức ăn thô cho gia súc và hướng dẫn một số phương pháp chế biến thông dụng, dễ làm và đạt hiệu quả cao.
Tuy nhiên, nguồn thức ăn xanh trong chăn nuôi được nhân dân tìm thấy và sử dụng lâu đời cũng như kết quả của quá trình nhập nội các giống cỏ siêu năng suất khác còn rất nhiều mà cuôh sách nhỏ này chưa thể cập nhật và giới thiệu hết Trong từng phương pháp được giới thiệu trong sách cũng có thể có các chi tiết khác nhau ở thực tế các vùng miền và có thể còn một sô'thiểu sót Tác giả xin cảm
ơn và rất mong nhận đước sự đóng góp ý kiến quý báu từ các độc giả!
Kính chúc người chăn nuôi thành công!
7Á c ý À
Trang 6Cùng với sự phát triển đàn gia súc trong khắp cả nước thì mối bận tâm hàng đầu là nền tảng thức ăn chăn nuôi như thế nào để phát triển bền vững định hướng chăn nuôi ngay trong từng nông hộ?
Ngành chế biến thức ăn chăn nuôi đã và đang phát triển khá mạnh mẽ trong những năm gần đây nhưng cũng đang gặp nhiều khó khăn bởi thụ động với nguồn nguyên liệu ngoại nhập, vừa thiếu về sô' lượng vừa chưa kiểm soát được chất lượng lại vừa đắt đỏ làm giảm lợi nhuận chăn nuôi cho người nông dân
Trong khi đó, ngành chăn nuôi hiện đang bỏ phí một
ưu thế là một nước nhiệt đới quanh năm cỏ cây xanh tốt,
Trang 7nông dân Việt Nam có truyền thống chế biến thức ăn tận dụng lâu đời cho chi phí sản xuất chãn nuôi rẻ, hiệu quả và tạo sản phẩm "sạch" tăng tính cạnh tranh, làm tiền đề cho nền sản xuất nông nghiệp hữu cơ hiện đại.
Vì vậy, xu thế vừa đẩy mạnh công nghiệp hóa sản xuất thức ăn chăn nuôi trong nước vừa phát huy nội lực tận dụng ưu thế vùng tự thu gom, chế biến thức ân chăn nuôi
rẻ tiền, an toàn và hiệu quả trong chăn nuôi là xu thế tất yếu phù hợp với giai đoạn phát triển chăn nuôi hiện nay.Thức ăn thô xanh luôn có tầm quan trọng đặc biệt và không thể thay thế đối với gia súc ăn cỏ như trâu, bò, dê, cừu, thỏ, hươu, nai, nhím, và là thức ăn truyền thống khá hiệu quả đối với chăn nuôi lợn,*gà, vịt, ngan, ngỗng Thức
ăn công nghiệp hiện nay mới chỉ cung cấp đủ dinh dưỡng cho lợn và gia cầm còn đối với gia súc nhai lại và ăn cỏ nói chung thì thức ăn thô xanh lại là nguồn dinh dưỡng mà thức ăn công nghiệp không thể đáp ứng
Vói nhu cầu trung bình 30 kg thức ăn thô xanh mỗi ngày của trâu, bò; 5 - 7 kg/ ngày ở dê, cừu, hươu, nai; 3 - 5 kg/ ngày ợ nhún, thỏ, cũng là bài toán khá phức tạp đối với chấn nuổi nồng hộ khi việc chăn thả tự nhiên ngày càng khó khăn do đất trồng bị thu hẹp và kém hiệu quả bởi chất lượng
cỏ tự nhiên vừa thiếu vừa nghèo dinh dưỡng
Việt Nam vốn chưa có được một đồng Cỏ chăn nuôi nào đúng nghĩa của nõ, mà chăn nuôi chủ yếu là tận dụng, chăn thả tự nhiên nên hiệu quả chăn nuôi còn thấp và để tiếp tục tăng đầu con thì phải tạo thêm nguồn thức ăn.Với thực trạng như trên, việc kế thừa và phát hiện những nguồn thức ăn thô xanh khác ngoài cỏ và trồng cỏ thâm canh là một hướng đi đúng đắn trong giai đoạn hiện
Trang 8nay Các nguồn thức ăn thô xanh ở Việt Nam rất phong phú và sẵn có ở mọi vung miền trên cả nước Phương pháp chế biến lại đơn giản nên nếu biết thu gom, chế biến và bảo quản hợp lý thì ngừòi chăn nuôi sẽ chủ động được nguồn thức ăn rẻ tiền và giàu dinh dưỡng, khấc phục được tính thời vụ và đảm bảo hiệu quả chăn- nuôi, đặc biệt là chăn nuôi gia súc ăn cỏ.
II - GIỚI THIỆU MỘT SỐ LOẠI CỎ DÙNG LÀM THỨC ĂN THÔ XANH TRONG CHĂN NUÔI
1 Cỏ Voi (Penisetum Pupureum)
Cỏ Voi là loại cỏ hòa thảo thân thẳng, lá có bẹ thân có đốt giống như cây mía cỏ có thể cao đến 2,5 m cỏ voi có nguồn gốc từ những vùng có khí hậu nhiệt đới của châu Phi
Cỏ thích hợp với những vùng đất có độ màu mỡ cao và
là cỏ chịu phân bón đặc biệt là phân đạm cỏ có khả năng chịu hạn kém thích hợp ở những vùng có mùa khô ngắn và lượng mưa hàng năm lớn hơn 1000 mm cỏ Voi có khả năng chịu ngập úng kém, cho nên cỏ Voi chỉ cho nẫng suất cao nhất ở những vùng đất màu mỡ, độ thoát nước tốt và
có nước tưới
Cỏ Voi có khả năng kháng cỏ dại kém, khả năng chịu giẫm đạp kém nên không thích hợp làm chãn thả, phù hợp với trồng làm đồng cỏ thu cắt
Cỏ Voi được nhập vào nước ta từ úc, hiện nay đã phát triển rất nhiều nơi ương nước chủ yếu là giống King Grass
có nhiều lộng và phát triển chiều cao rất nhanh Năng suất
Trang 9Trong những năm gần đây, có thêm hai giống cỏ Vọi mới đó là Madagazca và Florida Hai loại này có thân to hơn, lá nhiều ít lông hơn cỏ Kìng Grass và được cho là có năng suất cao hơn Tuy nhiên, khả năng thích nghi và các chỉ tiêu sản xuất chủ yếu còn đang được nghiên cứu chưa được công bố cỏ có tính ngon miệng, gia súc rất thích ăn
có thể cho ăn tươi hoặc ủ chua đều tốt
Hạn chế lớn nhất của cỏ vọi là phần thân cứng rất nhanh, nếu cắt không kịp thời, gia súc sẽ chừa thân lại không ăn nên tỷ lệ sử dụng không cao Trong thực tế, người ta thường cắt cỏ Voi ở lứa đầu khoảng 55-60 ngày sau khi trồng và khoảng cách cất các lứa tiếp theo là 40-45 ngày Khi cho ăn, nên chặt cỏ thành những đoạn ngắn từ 3-
5 cm để tăng khả năng sử dụng
2 Cỏ Ghinê (Pạnicum maximum)
Cỏ Ghinê (Panicum Maximum) có nhiều giống khác nhau như P.M Liconi, P.M.Rivesdable, P.M.TĐ58, P.M Hamill, P.M Common cỏ Ghinê còn được gọi là cỏ Sả,
cỏ Tây Nghệ An
Cỏ Ghinê có nguồn gốc từ châu Phi và được trồng rộng rãi ở các nước nhiệt đới, Á nhiệt đới, cận nhiệt đới cỏ Ghinê được đưa vào nước ta từ năm 1875 và hiện nay đã được trồng ở nhiều vùng trong cả nước
Loài cỏ này là loại thân bụi cao, trồng lưu niên với chiều cao cây từ 60-200cm, có thân nhánh bò ngắn Phiến
lá rộng 35mm, dài 12 - 40cm, bẹ lá mọc quanh gốc có màu tím, bẹ và lá có lông nhỏ màu trắng Những lá phía trên vàthâm canh có thể đạt tới 350 - 400 tấn/ha năm Mùa mưacho năng suất 180 - 200 tấn/ha
Trang 10bẹ lá dài nên không che nắng những lá dưới Lá có khả năng xoay theo chiều nắng nên có thể trồng ghép, trồng dưới tán mà không hề lo cây kém phát triển.
Cụm hoa hình chuông, có lớp lông nhỏ và mịn Bộ rễ nhiều nhánh và phát triển mạnh, cỏ Ghinê phát triển tạo thành từng cụm như một hình phễu có thể hứng nước mưa nên khả nãng chịu hạn khá cao, có thể chịu đựng được 6 -
7 tháng khô
Ghinê là loại cỏ có tốc độ phát triển rất nhanh (chỉ đứng sau cỏ Voi), năng suất xanh đạt 80 - 250 tấn/ha/năm Hàm lượng vật chất khô trong 1 kg chất xanh trung bình từ
22 - 25%, hàm lượng đạm thô từ 7 -9 % Hàm lượng xơ thô
từ 28 - 35%
Nhìn chung, cỏ Ghinê có nhiều đặc tính quý như sinh trưởng nhanh, mạnh, năng suất cao, khả năng chịu hạn, chịu nóng và chịu bóng tốt, dễ trồng và sống được trên nhiều loại đất khác nhau, thậm chí chúng còn phát triển tốt
cả trên đồi núi cao 2500m so với mặt biển Song đất tốt nhất cho cỏ Ghinê là loại đất mầu mỡ, phù sa, giầu canxi, oxit sắt và pH = 5,5 - 6, nhiệt độ tối thích là 16 -28°c c ỏ
có thể được trồng cả bằng hạt và thân hom
Cỏ Sả có bộ rễ khỏe, ăn sâu nên có khả nãng chịu hạn tốt hơn cỏ voi Cỏ Sả thích hợp với những vùng có lượng mưa từ khoảng 890 mm trở lên Giống như cỏ Voi, cỏ Sả
có khả năng chịu úng kém vì vậy thích hợp với những vùng
có khả năng thoát nước tốt cỏ Sả có khả năng chịu bóng tốt cho nên có thể trồng được dưới tản cây to hoặc cây bụi
Cỏ Sả có khả nãng thích hợp với nhiều loại đất nhưng
cỏ phát triển tốt nhất ở những vùng đất có độ màu mỡ từ trung bình trở lên cỏ có thể mọc được ở những vùng đất
Trang 11dốc, nhiều đá nhưng không cho nàng suất cao cỏ Sả có khả năng cạnh tranh với cỏ dại và khả năng chịu giẫm đạp tốt hơn cỏ Voi Nhiều nơi người ta trồng cỏ sả để chân thả nhưng tốt nhất nên chăn thả gia súc khi cỏ cao được từ 15-
22 cm Năng suất cỏ trung bình trong mùa mưa là 150-
200 tấn/ha Trồng thâm canh có thể đạt 280 -300 tấn/ha
Cỏ -Sả có mềm, nhiều lá cho nên gia súc thích ăn Sau đây
là các giống cỏ Sả phổ biến ở Việt Nam
2.1 Cỏ sả TD 58 ịPanicum maximum cv TD 58)
Là một dòng cỏ sả có lá màu xanh sẫm, thân và gốc
màu xanh tím, hạt có màu xanh tím, được trồng rất nhiều ò
Thái Lan, nhất là vùng Đông Bắc
Cỏ có thể sống sót được ở những vùng có mùa khô kéo dài nhưng phát triển tốt ở những vùng có mùa khô ngắn hoặc không cổ mùa khô cỏ phát triển tốt ở những vùng đất tốt và có phân bón cỏ có khả năng tái sinh rất nhanh
Cỏ sả TD 58 được đưa vào Việt Nam từ năm 1995, cỏ dễ thích nghi, dễ trồng, cho năng suất chất xanh cao, chất lượng tốt, gia súc ãn ngon miệng Đặc biệt thân lá rất mềm, tỉ lệ lá/thân khoảng 65%, ra bồng một lần trong nãm vào khoảng tháng 10, dễ thu hạt và cho năng suất hạt cao, chất lượng hạt tốt
Nãng suất chất xanh của cỏ đạt 170 - 220 tấn/ha mùa mưa, thâm canh có thể đạt tới 300 - 320 tấn/ha năm, năng suất hạt đạt 300 - 350 kg/ha c ỏ có thể nhân giống bằng hạt và bằng thân gốc đều tốt
2.2 Cỏ sả Common và Ciat 673
Cỏ này lá màu xanh, gốc, thân và hạt có màu xanh đậm Cỏ được đưa vào nghiên cứu tại Trung tâm Nghiên
Trang 12cứu và Phát triển chăn nuôi Sông Bé từ nám 1993 đến năm
1996 chính thức phát triển 2 dòng cỏ này ra sản xuất.Năng suất cỏ thu đựợc trung bình trong mùa mưa là
140 -170 tấn/ha Trồng thâm canh có thể đạt 180 -200 tấn/ha
Cỏ Common và Ciat 673 có thân lá mềm, bẹ lá to, tỷ lệ lá/thân khoảng 60%, có tính ngon miệng cao nên gia súc thích ăn Cỏ này fa bông nhiều lần trong năm nên có thể thu hạt nhiều lần, năng suất hạt cao từ 250 - 300kg/ha, hạt chắc nhiều và tỷ lệ nảy mầm cao Đặc điểm ra bông nhiều lần trong năm cũng là một hạn chế của giống cỏ này vì khi
cỏ ra bông, chất lượng cỏ giảm đi rất nhanh
2.3 Cỏ sả K 280
Là giống cỏ sả cỏ thân thấp lá nhỏ, nãng suất thấp hofn các giống kể trên nhưng có khả năng phát triển ở những vùng đất ít màu mỡ Đặc điểm nổi bật của cỏ sả K280 là khả năng chịu hạn tốt cỏ thích hợp với những vùng đất đồi, ít dinh dưỡng và có mùa khô kéo dài
3 c ỏ Ruzi (Brachiaria Ruziziensis)
Là một giống cỏ hòa thảo cao trung bình, có nhiều lá, thân bò, trên lá có nhiều lông tơ cỏ này có nguồn gốc từ Madagasca cỏ Ruzi phát triển tốt nhất ở những vùng có khí hậu nóng ẩm cỏ cho năng suất cao ở những vùng đất thoát nước tốt (đất gò) và giàu dinh dưỡng
Ruzi là loại cỏ chịu phân bón cho nên để cỏ Ruzi phát triển tốt ở những vùng đất nghèo dinh dưỡng thì cần nhiều phân bón lót
Cỏ Ruzi có khả năng chịu hạn tốt, khả nãng lưu gốc qua mùa khô rất tốt vì vậy có thể trồng cỏ Ruzi ở nhũng
Trang 13vùng có mùa khô dài Khả năng kháng cỏ dại và chịu giẫm đạp của cỏ Ruzi tương đối tốt Gỏ Ruzi được sử dụng làm đồng cỏ chăn thả.
Năng suất chất xanh cao, chất lượng tốt, gia súc ăn ngon miệng Năng suất cỏ 130 -170 tấn/ mùa mưa, thâm canh đạt 180 -200 tấn/ha Năng suất hạt 300-380 kg/ha cỏ
có thể trồng bằng thân và trồng bằng hạt
4 Cỏ Stylo (Stylosanthes guyanensis)
Đây là một loại cỏ có nguồn gốc từ châu Mỹ La Tinh
Cỏ được trồng phổ biến ở Tây Ấn Độ, Ha oai, và một số nước châu Phi như Kenya, Uganda, Nigieria Đây là loại
cỏ có thân thô, có lông, lá kép ba, dài hẹp và nhọn Loại cỏ này phát triển rất tốt ở những vùng nóng
Đây là loại cỏ có khả năng chịu hạn tốt, nó có thể sống được ở những vùng có mùa khô kéo dài và khí hậu nóng bức
Cỏ có thể sống được ở những vùng có lượng mưa trung bình khoảng 890 mm Đây là loại cỏ có khả năng chịu bóng kém vì vậy không nên trồng dưới tán các cây khác
Cỏ này có thể thích nghi với nhiều loại đất Nó có thể phát triển được trên đất axít và có khả năng chịu úng tương đối tốt Cỏ có khả năng chịu giẫm đạp nên có thể dùng để chăn thả tuy nhiên chỉ ở mức chăn thả vừa phải
Năng suất chất xanh của loại cỏ này đạt khoảng 60 tấn/ha Hàm lượng đạm trong cỏ khoảng 16%
5 Cỏ lông Para (Brachiaria mutica)
Cỏ lông Para có nguồn gốc ở Braxin và sau đó được
trồng ở nhiều nước nhiệt đới thuộc châu Phi và châu Á
Giống cỏ này được đưa vào miền Nam nước ta lần đầu tiên
Trang 14Ở Ấn Độ, ngưòi ta còn gọi cỏ lông Para là cỏ nước hay cỏ trâu vì nó ưa nước và sinh trưởng nhanh trong điều kiện đầm lầy.
Cỏ lông Para là loại cây thuộc họ hòa thảo thân bò, mặt trên và dưới lá có nhiều lông tơ mịn Cây có thể cao tới l,5m, cành cứng, to, rỗng ruột, đốt dài 10-15cm, mắt hai đầu đốt có màu trắng xanh và có khả năng đâm chồi Lá cỏ dài, đầu nhọn, cỏ lông Para có thể sinh trưởng ở đất đỏ, đất mặn, đất phèn, nhưng ưa đất phù sa, đồng bằng Là loại cây thích hợp với những vùng mưa nhiều, đất trũng, chịu được ngập nước (tới 60cm) Tại những nơi này, cỏ mọc rất khỏe và nhanh chóng lấn át cỏ dại Chỉ cần trồng một lần sau đó nó tự phát triển dễ dàng Thân và lá cỏ lông Para mềm nên gia súc nhai lại rất thích ăn Tuy nhiên, khi
cỏ già, bị vấy bùn, phân thì tính ngon miệng giảm rõ rệt Hơn nữa, cỏ lông Para không chịu được dẫm đạp, do vậy chỉ nên trồng để thu cắt và cho ăn tại chuồng
Năng suất xanh đạt 90-100 tấn/ha/năm
Đặc biệt, so với một số giống cỏ khác, cỏ lông Para có khả năng phát triển tốt vào vụ đông xuân nên nó chính là cây hòa thảo trồng cung cấp thức ăn xanh cho gia súc vào
vụ này
6 Cỏ hỗn hợp Avex
Đây là loại cỏ hỗn hợp ôn đới gồm 2 giống hòa thảo và
3 giống họ đậu Giống cỏ này có đặc điểm rất ưu việt là có khả năng sinh trưởng và phát triển tốt trong mùa đông.vào năm 1875, sau đó được đưa ra trồng ở miền Trung vàmiền Bắc
Trang 15cỏ có hàm lượng đạm cao 18 -22% Tuy nhiên cỏ này cho năng suất thấp chỉ đạt 40-50 tấn/ha.
Thời gian trồng và sử dụng trong khoảng 6 tháng
7 Cỏ Xu đăng (Sorghum Sudanasa)
Cỏ Xu đăng thuộc họ hòa thảo, thân đứng, cỏ có khả nẫng sinh trưởng nhanh, chịu được các điều kiện nóng và khô hạn Loại cỏ này cũng rất thích hợp cho chăn nuôi gia súc nhai lại theo quy mô trang trại vì có thể cơ giới hóa toàn bộ từ khâu làm đất đến gieo trồng, chăm sóc và thu cắt Cỏ thường được dùng cho gia súc ăn tươi hoặc dự trữ bằng ủ chua
Năng suất xanh đạt 100-120 tâ'n/ha/năm
II - MỘT SỐ LOẠI THỨC ẢN THÔ XANH NGOÀI
1 Cây thức ân chăn nuôi giàu dinh dưỡng ngoài cỏCây thức ăn chăn nuôi giàu dinh dưỡng ngoài cỏ rất nhiều như cây điền thanh, cây đậu biếc, cây sắn dây, cây muồng, cây bột mắm, cây so đũa, cây đu đủ, cây vông, cây dền gai, cây rau sam, cây tàu bay, rau càng cua, rau cần, rau hàm ếch, rong đuôi chó, rong tóc tiên, bèo ong, rau diếp, cây dưởng, cây dâm bụt, cây lạc trời, cây mít, cây điêu tử, nhưng trong khuôn khổ tài liệu này, chúng tôi chỉ giới thiệu cách trồng, thu hoạch và chế biến một
số loại cây khá thông dụng và hiệu quả Bao gồm các loại cây như:
Trang 16Bảng ỉ : Một số cây thức ăn xanh ngoài cỏ
Dê, cừu, hưonu, nai
Nhím , thỏ
Trang 172 Phụ phẩm nông nghiệp thuộc nhúm làm thức ăn thô xanh
Có nhiều loại phụ phẩm công, nông nghiệp dùng làm thức ãn gia súc rất tốt như bột đầu tôm, bột xương, bột thịt, bột lông vũ, bột đầu cá, khô dầu lạc, khô dầu đậu tương, khô dầu bông, nhưng không phải thuộc tính chất của nhóm thức ăn thô xanh nên chúng tôi không giới thiệu trong tài liệu này
Các phụ phẩm nông nghiệp có thể dùng làm thức ăn thô xanh cho gia súc cũng rất nhiều như đầu mẩu sắn khô,
lá rau xanh già, lá rong riềng, thân lá đậu xanh sau thu hoạch quả, vỏ quả đậu tương, nhưng chưa thông dụng và sản lượng cũng không cao lắm nên trong tài liệu này chúng tôi lựa chọn một số phụ phẩm nông nghiệp cơ bản dùng làm thức ăn thô xanh cho gia súc như:
Bảng 2: Một số phụ phẩm dùng làm thức ăn thô xanh
T râ u , bò
„Dê, cừu, hươu, nai
Nhím , thỏ
2 Thân, lá khoai lang sau
thu củ
Trang 18T râ u , bò
Dẻ, cừu, hươu, nai
Trang 191.2 Chuẩn bị đất
Chọn nơi đất thấp có độ ẩm cao, vì cỏ Voi có năng suất rất cao nên trồng theo hướng chuyên canh và thâm canh.Đất phụ họp để thâm canh cỏ Voi là loại đất có tầng canh tác trên 30 cm, nhiều mầu, tơi xốp, thoát nước, có độ
ẩm trung bình đến hơi khồ, pH của đất = 6-7
Đất trồng cỏ Voi cần cày sâu độ 20-25cm, bừa và cày
2 lần làm tơi đất Làm sạch cỏ dại và san phẳng mặt đất trồng Rạch hàng sâu 20 - 25cm theo hướng đông-tây, khoảng cách hàng Ộ0 - 80cm Cũng có thể trồng theo khóm với mật độ bụi nọ cách bụi kia 40 cm và hàng cách hàng 60 cm
Trang 201.3 Phân bón
Tùy theo ruộng tốt hay xấu mà có thể sử dụng lượng phân bón khác nhau Trung bình, lượng phân bón cho mỗi
ha trồng cỏ Voi như sau:
+ Phân chuồng hoai mục: 15-20 tấn
Trang 21Xới váng nhẹ bằng cuốc làm đất tơi, thoáng.
Bón thúc với lượng lOOkg urê/ha khi cỏ ở giai đoạn 25
Các lứa tái sinh thu hoạch tiếp theo là 30-40 ngày, khi
mà thảm cỏ đạt độ cao 80-120cm, độ cao cắt gốc để lại khoảng 5cm
Dùng liềm hoặc dao sắc thu hoạch toàn bộ không để lại cây mầm để thảm cỏ tái sinh đều
2 Quy trình trồng cỏ Ghi nê
2.1 Chuẩn bị đất
Đất được cày bừa kỹ, làm sạch cỏ dại, dễ thoát nước Nếu trổng bằng gieo hạt thì làm đất tơi nhỏ, rạch gieo hạt sâu chỉ 7 - lOcmT Nếu trồng xen, trồng bằng hom thì cuốc hàng, rạch luống Mỗi hàng sâu 15 - 17 cm theo hướng đông - nam, hàng cách hàng 40 -60 cm Nếu trồng trên đất dốc thì rạch hàng theo đường đồng mức
, 2.2 Thời vụ và chuẩn bị giống
Trổng cỏ Ghinê vào các tháng mùa mưa (từ tháng 4-9) nhưng tốt nhất là vào các tháng 4-6
Trang 22Nếu trồng bằng thân rễ thì sử dụng thân nhánh tươi, cỏ bánh tẻ tuổi 75- 80 ngày Đánh gốc, rũ sạch đất, giữ lại phần lá, thân gốc dài 30 -35cm Lượng giống trồng cho mỗi ha là 3.500 - 4.000 kg hom giống Nếu nhân giống bằng hạt thì phải sử dụng hạt có thời gian ngủ 3 -4 tháng' sau thu hoạch, tốt nhất nên thu hoạch nãm nay dùng cho năm sau Số lượng hạt yêu cầu là 6 -8 kg/ha.
Cho trồng cỏ thu chất xanh
Phân hữu cơ hoai mục (tấn/ha/nâm) 10 15
Sulííat Kali hoặc Cloruakali
(kg/ha/nãm)
Cho trồng cỏ thu hạt
Phân hữu cơ hoai mục (tấn/ha/năm) 10-15
Sulííat Kali hoặc Cloruakali
(kg/ha/năm)
150
*
Phân đạm Urê (kg/ha/nãm) 200
Bón lót phân hữu cơ + lân + 2/3 phân Kali xuống lòng rãnh trước khi trồng
Nêu trồng thâm canh thì bón thêm một lượt phân hữu
cơ + 1/3 phân Kali còn lại vào khi chăm sóc lứa cắt cuối
Trang 23mùa mưa Phân đạm chia đều bón cho mỗi lứa cắt ( 5 - 7 lứa/năm).
2.4 Kỹ thuật trồng, chăm sóc, thu hoạch và chế biến
Nếu trồng bằng thân rễ thì mỗi khóm trổng từ 3 - 5 dảnh hoặc 2 - 3 cây nếu trồng bằng cây con cao 20 -30 cm ươm từ hạt Lấp đất phủ lên cỏ rễ 2 - 3 cm rồi nén chật gốc
Sau trồng 7 -10 ngày nên kiểm tra mật độ sống và trồng dặm những cây chết Bón thúc phân đạm ở giai đoạn sinh trưởng (15 - 20 ngày sau trồng), sau 30 - 35 ngày xói phá váng, dọn sạch cỏ dại
Cỏ Ghinê cho thu hoạch lứa đầu lúc được 55 - 60 ngày tuổi Cứ 30 -35 ngày sau lại được thu cắt lứa tiếp theo Khi cắt, cần cắt sát gốc 6 - 8 cm Nếu thu hạt thì đợi khi đã có hạt rụng mới thu hoạch, cầm nhóm cuống bông đập nhẹ vào miệng thúng, túi, bao, để hạt chín rụng Cứ 2 - 3 ngày thu hạt một lần
Có thể chăn thả gia súc gặm cỏ tự do sau khi đồng cỏ Ghinê đã cho 2 lứa cắt Chú ý là chăn thả lứa tái sinh phải sau cắt 25 - 35 ngày, mỗi lần chân thả không quá 4 ngày
3 Quy trình trồng cỏ Ruzi
3.1 Thời gian trồng
Tốt nhất là' vào đầu mùa mưa (tháng 4 - tháng 5)
3.2 Chuẩn bị đất
Lần đầu cày vỡ đất với độ sâu 20 cm rồi bừa vỡ
Lần thứ hai cầy đảo lại vừa bừa tơi đất Làm sạch cỏ dại và san phẳng đất
Trang 24Sau khi làm phẳng đất, tiến hành rạch hàng cách nhau
40 - 50 cm và sâu 15 cm (nếu trồng bạng thân khóm) hoặc sâu 5 -10 cm (nếu gieo bằng hạt)
ha cần 4 - 6 tấn khóm
- Cách trồng: Đặt các khóm cỏ giống vuông góc với thành rạch, khóm nọ cách khóm kia 35 - 40cm Dùng cuốc lấp kín 1/2 thân cây giống Sau đó dùng chân dậm chật đất để tạo độ ẩm, bảo đảm cỏ chóng ra mầm và đạt
tỷ lệ sống cao
Trang 25- Cần xử lý hạt trước khi gieo bằng cách ngâm hạt vào nước nóng 80°c trong vòng khoảng 1 0 - 1 5 phút, sau đó vớt hạt ra, rửa sạch bằng nước lã và ngâm thêm khòảng 60 phút rồi vớt ra và đem gieo.
- Gieo rải đều theo hàng rạch Dùng tay khỏa đều và lấp một lớp đất mỏng lên trên Mỗi ha cần 4 ' 5 kg hạt
cỏ giống
3.4.3 Kỹ thuật chăm sóc
Sau khi trồng khoảng 2 - 3 tuần, tiến hành kiểm tra tỷ
lệ mọc mầm, trồng dặm lại những cây bị chết
Trong trường hợp gieo hạt thì cần lưu ý phân biệt mầm
cỏ Ruzi với mầm cỏ dại để tránh không trồng dặm những cây chết hoặc không nẩy mầm
Xới xáo nhẹ cho đất tơi xốp và làm sạch cỏ dại
Khi thảm cỏ nảy mầm xanh và sau khi làm cỏ lần hai thì bón thúc bằng đạm urê
3.5 Thu hoạch
Thu hoạch lứa đầu sau khi trồng được 60 ngày bằng cách cắt trên mặt đất (để lại gốc) 10 cm Các lứa thu hoạch tiếp theo tiến hành khi thảm cỏ cao khoảng 45 - 60 cm.Nếu trồng cỏ làm bãi chân thả thì hai lứa đầu vẫn thu cắt bình thường, đến lứa thứ ba mới đưa gia súc vào chăn thả Hợp lý nhất cho chăn thả là khi thảm cỏ có độ cao 35 -
40 cm Thời gian chăn thả mỗi đợt trên cùng một thảm cỏ không quá 4 ngày và thời gian nghỉ giữa hài đợt chân thả khoảng 25 - 35 ngày
3 4.2 Trồng bằng hạt
Trang 264 Quy trình trồng cỏ stylo
Trang 27- Để cho cây chóng mọc nên ủ hạt trong nưóc nóng 60
- Cũng có thể gieo hạt trong vườn ươm và khi cây mọc cao 20 - 25cm thì nhổ ra trồng theo rạch với khoảng cách cây cách cây 15-20 cm
4.4.3 Chăm sóc
Khi cây mọc cao khoảng 5 - 10 cm thì tiến hành xới xáo cho đất tơi xốp và làm sạch cỏ dại Đồng thời bón thúc bằng urê Khoảng 2 tháng tuổi xới cỏ một lần nữa, tạo điều kiện cho cỏ phát triển tốt
4.4.5 Thu hoạch
Cỏ Stylo thường cho thu hoạch từ tháng 6 - tháng 12 Chu kỳ kinh tế 4 - 5 năm
Trang 28Sau 3 tháng trồng, cỏ Stylo bắt đầu cho thu hoạch, đó
là lúc cỏ cao khoảng 60 cm và thảm có che phủ kín mặt đất
Khi thu hoạch cắt cách mặt đất 15 - 20cm Thu hoạch các lứa tiếp theo cứ sau 2 - 2,5 tháng, lúc cây cao 35 - 40cm
5 Quy trình trồng cỏ lông Para
cỏ khác
Đất phải cầy bừa nhuyễn như đất cấy lúa Trên đất cạn phải làm đất thật tơi nhỏ Vì vậy, cần phải cày 1 - 2 lượt, bừa 1-2 lượt xen nhau Thời gian giữa hai lượt cày, bừa là
1 0 - 1 5 ngày Sau khi bừa lần cuối cùng, dùng cày rạch hàng cách nhau 50 cm và sâu khoảng 15 cm
5.3 Bón phân
Tùy theo độ chua của đất, mõi ha cần bón lót 0,5 - 1,0 tấn vôi bột bằng cách rải đều trước khi bừa lần cuối hoặc trước khi rạch hàng trồng Đối với những bãi bồi hoặc triền sông có phù sa thì không cần bón lót bằng phân hữu cơ
Trang 29Những chân ruộng xấu nên bón lót 5 - 10 tấn phân chuồng/ha bằng cách rải đều như bón vôi bột Cũng tùy theo chân ruộng, có thể sử dụng thêm phân lãn và kali (từ 20 đến 40 kg/ha mỗi loại) để bón lót Riêng sunphát đạm, dùng để bón thúc sau mỗi lần thu hoạch, lượng dung mỗi lần 20 - 30kg/ha.
5.4 Cách trồng và chăm sóc
Có thể sử dụng dảnh gốc hoặc hom thân để trồng.Cách chuẩn bị hom giống: cắt cây giống khi được 3 - 4 tháng tuổi, xén bỏ phần ngọn non, sau đó cắt các đoạn hom bánh tẻ dài 25 - 30cm, dùng lạt mềm bó thành từng
bó 5-6 kg và lưu ý tránh làm dập nát hom cây
Sau khi làm đất kỹ, rạch hàng cách nhau 40 - 50cm, sâu khoảng 15 cm và tiến hành đặt theo bụi, mỗi bụi 2 - 3 hom, cách nhau 20 - 25cm, xuôi theo rạch hàng Lấp đất dày khoảng 5cm
Trang 30- Lứa cắt đầu thực hiện sau khi gieo 60 ngày.
- Các lứa cắt tiếp theo 40 - 50 ngày
- Độ cao thu cắt: Cách mặt đất 3 - 5 cm
- Cỏ hỗn hợp Avex thường được sử dụng chủ yếu bằng cách cho ăn tươi
Trang 317.3 Cách trồng và chăm sóc
- Gieo bằng hạt: 7 - 8 kg hạt giống/ha
- Mật độ gieo trồng: Hàng cách hàng 50 cm, bụi cách bụi 20 cm
- Chăm sóc giống như chăm sóc cỏ Voi
7 Quy trình trồng cỏ Xu đăng (Sorghum Sudanasa)
Trang 32CHƯƠNG III
KỸ THUẬT TRỔNG, THU HOẠCH MỘT Số LOẠI CÂY THỨC ĂN THÔ XANH LÀM THỨC ĂN CHO GIA súc
I - CÂY BÈO TẤM
1 Đặc điểm sinh học cơ bản
- Sống nổi mặt nước, sống theo nhóm gồm 2 - 3 cây
- Thân bèo hình bầu dục dẹt và chỉ gồm một phiến lấ mỏng màu xanh lục
- Chỉ có 1 rễ duy nhất
- Một mo hoa mọc trên phiến lá gồm một hoa đực trần hai nhị và một hoa cái
- Sinh sản bằng chổi mọc từ thân mẹ
2 Giá trị dinh dưỡng
Bảng 4: So sánh thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng
của bèo tấm với một số loại bèo khác
ĐVT: %
T èn ch ất Bèo tấm Bèo
cái
Bèo ong
Bèo sen
Bèo hoa dâu
Tươi Khô
Nước 92,0 8,06 92,16 89,1-5 88,50 92,90
Trang 33Tên chất Bèo tấm Bèo
cái
Bèoong
Bèosen
Bèo hoa dâu
Tươi Khô
Xenluloza 0,09 10,28 0,58 1,60 2,04 0,60Khoáng toàn
(g)
Bảng 5: Giá trị dinh dưỡng của bèo tấm
STT Tên tiêu chuẩn ĐVT Đối vói
tráu, bò
Đối với
dê, cừu
Đối với lợn
1 Tổng chất dinh
dưỡng tiêu hóa
2 Năng lượng trao đổi Kcal 219 222 246
3 Năng lượng duy trì Kcal 142
4 Năng lượng tăng
trọng
5 Năng lượng tiết sữa Kcal 136
Trang 343 Cách trồng, thu hoạch và chế biến
Trồng bèo:
Bèo được trồng ở những khu vực có mặt nước ngọt không kén độ nông sâu nhưng tương đối trong và lưu thông dòng chảy
Cách trồng vô cùng đơn giản là thả bèo giống (bèo trưởng thành ở ao, hồ khác mang về) xuống mặt nước Bèo sinh sản rất nhanh chóng, không cần thiết phải bón thúc cho bèo Tuy nhiên, để đảm bảo nãng suất nên thả bèo giống vào mùa xuân, hạ
Khi bèo đã che phủ kín mặt nước là thời điểm thu hoạch và chế biến
Thu hoạch bèo tấm: Thu hoạch bèo tấm bằng cách vớt
nhờ những dụng cụ vô cùng đơn giản như sau:
- Vớt bèo tấm bằng gây và rá hoặc bằng vó, lưới
Chế biến và sử dụng bèo tấm:
Dùng tươi: Cho gia cầm ăn trực tiếp, đặc biệt là gà, vịt
con sẽ rất tốt vì bèo tấm có hàm lượng caroten cao hoặc để nấu cám cho gia cầm và lợn Chú ý trước khi cho gia súc, gia cầm ăn phải nhặt sạch các tạp chất có trong bèo mới vớt và cần để bèo ráo nước ao, hồ mới cho ăn
Trang 35* Thời gian bảo quản: Bảo quản trong 4 - 5 tháng đối
với bèo khô và 1 - 2 ngày với bèo tươi
* Bèo khô cho ăn trực tiếp, trộn với cám đã nấu hoặc cám công nghiệp cho gà, vịt, ngan, ngỗng và lợn ăn
II - CÂY BÈO HOA DÂU
1 Đặc điểm sinh học cơ bản và giá trị dinh dưỡng
Bèo hoa dâu là nguổn cung cấp đạm thực vật truyền thống cho vật nuôi, đăc biệt là đối với những vùng độc canh lụa nước Bèo dâu vừa là nguồn thức ăn gia súc, vừa
là nguồn phân xanh và làm ấm chân lúa rất tốt
Do giấu protein, caroten và hàm lượng xơ thấp nên bột bèo hoa dâu là loại bột xanh đạt cấp I theo tiêu chuẩn thức
ăn chăn nuôi của Anh quốc
Trang 36Bảng 6: Giá trị dinh dưỡng của bèo hoa dâu
STT Tên tiêu chuẩn ĐVT Đối vói
trâu, bò
Đôi với
dê, cừu
Đối với lợn
1 Tổng chất dinh
dưỡng tiêu hóa
2 Năng lượng trao đổi Kcal 157 157 173
3 Năng lượng duy trì Kcal 96
4 Năng lượng tăng
trọng
5 Năng lượng tiết sữa Kcal 94
Bèo dâu sinh trưởng tốt trong vụ Đông Trong điều kiện thâm canh, mỗi hecta bèo dâu mỗi tháng cho tới 21 - 34 tấn chất xanh tương đương 1,9 - 2,9 tấn chất khô và 331 -
838 kg Protein thô
Do hàm lượng nước của bèo chiếm tới 90% nên phải cần tới 10 - 12 kg bèỏ dâu tươi mới thu được 1 kg bột bèo khô
Bột bèo khô có hàm lượng Protein thô khá cao (19 - 26%) tính theo vật chất khô Hàm lượng đạm này cao ngang với bột cỏ Alfalfa nhưng hàm lượng xơ của bèo lạỉ thấp hơn nhiều
Bảng 7: Thành phần hóa học của bèo hoa dâu
STT Tên thành phần hóa học Tỷ lệ (%)
Trang 37Hàm lượng caroten của bột bèo hoa dâu đạt từ 90 - 200
mg trong 1 kg bột bèo khô tùy thuộc vào kỹ thuật phơi sấy Bèo dâu còn chứa nhiều loại nguyên tố khoáng như canxi, phốtpho, kali, natri, magie, lưu huỳnh, clo, silic, nhôm, sắt, mangan, đặc biệt hàm lượng đồng, kẽm rất cao Hàm lượng hai loại axit amin không thay thế là axit amin Lizin
và Methionin cao ngang bằng với đậu tương và cao hơn cỏ Alfalfa
Dùng bột bèo hoa dâu nuôi gà (5% khẩu phần) đã làm tăng tỷ lệ đẻ, tỷ lệ ấp nở và làm giảm tỷ lệ chết phôi Bèo dâu tươi dùng nuôi vịt và lợn cũng cho kết quả rất tốt Những thí nghiệm trên lợn đã so sánh như sau: Lợn ăn 30% cám + 70% thức ăn khác thì đạt tăng trọng 100% Nếu ăn 15% cám + 15% bột bèo khô + 70% thức ăn khác thì lợn tăng trọng 109,5%
2 Cách trồng, chế biến và sử dụng
Bèo hoa dâu sống nổi trên mặt nước ngọt, sinh sản nhanh và dễ dàng, ít cần sự can thiệp của con người Cách trồng và thu hoạch tương tự như bèo tấm Song trong thực
tế, lợi dụng khả năng sinh trưởng vào mùa đông của bèo nên nông dân thường thả bèo hoa dâu ở ruộng lúa để giữ
ấm chân lúa nên khi thu hoạch cần chú ý hết đợt phun
Trang 38Phương pháp chế biến và sử dụng tương tự như bèo tấm.
III - CÂY BÈO SEN
1 Đạc điểm sinh học cơ bản
Bèo sen hay còn gọi là bèo Tây, Lục bình có nguồn gốc
từ Braxin và được nhập vào Việt Nam từ năm 1905 Bèo thường mọc ở những vùng có nguồn nước ngọt chảy chậm như ao, hồ, đầm,
Bèo sen là loại cây thân cỏ mọc nổi lên trên mặt nước hoặc bám nhẹ vào bùn nên phạm vi phân bố của bèo sen rộng hơn các loại béo khác
Rễ bèo dạng chùm, dài, rậm Tùy vào lượng chất lơ lửng của nước mà kích thước và độ rậm của rễ thay đổi
Lá bèo tròn, hình hoa thị, cuống lá xốp và phồng to ở những cây non ở những cây già cuống lá lại dài và nhỏ, thậm chí có cuống lá già dài tới 30 cm
Hoa bèo sen rất đẹp, mọc thành cụm hình chùy Hoa có màu tím và màu xanh dương nhạt, trên cánh có đốm vằng tươi Hoa dài 15 cm, đài và cấnh hoa mọc liền nhau ở gốc
Bèo sen có giới hạn nhiệt độ từ 10 - 40°c và nhiệt độ tối thích là 20 - 23°c Do vậy, bèo phát triển mạnh từ tháng
4 đến tháng 10 và ra hoa vào khoảng tháng 10 - tháng 11.
Bèo sen sinh sản vô tính bằng cách mọc ra những thân
bồ dài từ nách lá, sau phát triển và tách khỏi cây mẹ để trở thành một cây non mới
thuốc sâu cho lúa ít nhất 1 tuần mới vớt bèo để tránh ngộđộc cho gia súc khi ăn bèo
Trang 39Bèo sen dùng làm thức ăn cho gia súc, gia cầm và cá; làm phân xanh; ủ phân chuồng.
2 G iá t r ị c ủ a bèo sen
Bảng 8: Thành phần hóa học của bèo sen
Bảng 9: Giá trị dinh dưỡng trong 1 kg thân, lá bèo sen
3.1 Cách trồng: Cũng giống như các loại bèo khác,
bèo sen khá dễ sống và không cần chăm chút gì nhiều từ con người nhưng ở các vùng đất quá bạc màu thì nên bón
Trang 40thêm phân và tro bếp để đảm bảo năng suất của bèo (159 tấn bèo khô/ha/nãm).
3.2 Chế biến:
* Dùng tươi và nẩu chín: Cho lợn ăn sống trực tiếp thì
nên chọn bèo non Các cây bèo già cần được nấu chín mói cho ăn để tăng tỷ lệ tiêu hóa Bèo nấu cám cho cả gia cầm
và lợn ăn được
* Phơi khô làm bột bèo: Tương tự như bột bèo tấm và
bột bèo hoa dâu
* ủ xanh: Dùng cho lợn, gia cầm và cá
- ơiuẩn bị:
+ Bèo tươi bỏ hết lá khô, nát, bẩn rồi rửa sạch.+ Cắt bèo thành từng đoạn 2 - 3 cm
+ Tỷ lệ nguyên liệu:
Bảng 10: Tỳ lệ nguyên liệu chế biến bèo sen
STT Tên nguyên liệu Tỷlệ(kg)
- Cách ủ: Trộn đều các nguyện liệu theo tỷ lệ trên rồi
xếp nén thật chặt trong chum, vại, hố xây ủ thức ãn xanh, Khi đã xếp đầy hố ủ thì phủ lên trên một lóp cỏ dầy Sau cùng dùng đá nén chặt và đổ nước ngập cỏ khoảng 6 cm Sau 5 - 7 ngày thì có thể dùng bèo cho gia súc, gia cầm và
cá ăn được