1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng chống tội phạm buôn bán người Một số vấn đề lý luận và thực tiễn

131 47 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 131
Dung lượng 181,38 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tội phạm buôn bán người hiện nay đang diễn ra vô cùng phức tạp, gia tăng về số lượng và cả tính chất, mức độ, quy mô thực hiện hành vi phạm tội. Ở nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam thì buôn bán người nhằm rất nhiều mục đích như: Bóc lột sức lao động, buôn bán nội tạng, bán làm gái mại dâm,… Những hành vi này không những được thực hiện trong nước mà còn vượt ra ngoài phạm vi lãnh thổ quốc gia, trở thành vấn đề mang tính toàn cầu.

Trang 1

ASEANAPOL ASEAN Association of Police

Hiệp hội Cảnh sát các nước Đông Nam Á

EUROPOL The European Police Office

Cơ quan Cảnh sát châu Âu

INTERPOL International Criminal Police Organization

Tổ chức Cảnh sát Hình sự quốc tế

OHCHR Office of High Commissioner for Human Rights

Văn phòng Cao ủy Nhân quyền Liên Hiệp Quốc

Trang 2

Nhận thức được vấn đề trên, nhóm chúng em đã nghiên cứu thực hiện đề

tài “Hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng, chống tội phạm buôn bán người – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” Đề tài này chủ yếu tập trung

phân tích những vấn đề lý luận và thực tiễn về hợp tác quốc tế trong đấu tranhphòng, chống tội phạm buôn bán người như: Quy định của một số quốc giatrên thế giới về tầm quan trọng của việc hợp tác quốc tế trong phòng, chốngloại tội phạm này cũng như nghiên cứu về tình hình hợp tác quốc tế giữa cácquốc gia thông qua việc ký kết các Hiệp định song phương, đa phương; hơnnữa, phân tích thực tiễn hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng, chống tộiphạm buôn bán người thông qua các kênh hợp tác như: INTERPOL,ASEANAPOL,… Từ đó, phân tích nguyên nhân và nêu lên những giải phápgiúp hoàn thiện hệ thống pháp luật, hợp tác trong đấu tranh phòng, chống tộiphạm buôn bán người

Trang 3

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ngày nay, thế giới đang đang xích lại gần nhau hơn, các quốc gia đềutrong xu thế hội nhập và phát triển trong khu vực cũng như trên toàn thế giới.Trong bối cảnh đó, Việt Nam đã có nhiều đổi mới về chính sách đối ngoại vàhợp tác toàn diện với các nước trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xãhội, tương trợ tư pháp hình sự,… và đã đem lại những kết quả thiết thực Bêncạnh đó mặt trái của quá trình này cũng đặt ra nhiều thách thức to lớn choViệt Nam trong việc bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội.Vấn đề tội phạm có sự gia tăng cả về lượng và chất đang là vấn đề đáng báođộng và khó kiểm soát, trong đó có tội phạm buôn bán người Vấn nạn nàykhông chỉ xâm hại đến quyền con người, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đếnsức khỏe, tinh thần, tính mạng của nạn nhân mà còn tác động xấu đến đạođức, giống nòi, lối sống, thuần phong mỹ tục, ảnh hưởng trực tiếp đến tìnhhình an ninh, trật tự của quốc gia Để đấu tranh phòng ngừa tội phạm mua bánngười, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật, trong đó

có đề cập đến vấn đề đấu tranh phòng chống tội phạm mua bán người Quốchội đã tiến hành soạn thảo Dự thảo Luật phòng chống mua bán người và đượcđưa ra các kỳ họp Quốc hội để lấy ý kiến đóng góp Và đến kỳ họp thứ 9 ngày

29 tháng 03 năm 2011 Quốc hội khóa 12, bản Dự thảo luật đã được hoànthiện, thông qua

Xuất phát từ tình hình phức tạp cũng như tính đặc thù của tội phạm muabán người, thời gian qua Đảng, Nhà nước cũng như các Bộ, Ban, Ngành chứcnăng có liên quan đã đặc biệt quan tâm, tập trung chỉ đạo quyết liệt công tácphòng, chống mua bán người, đồng thời nỗ lực xây dựng, bổ sung, sửa đổicác văn bản pháp luật cho phù hợp thực tiễn phòng ngừa và đấu tranh, làmcông cụ pháp lý cho các cơ quan thực thi pháp luật trong công tác phòng,chống mua bán người Cụ thể, Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị số 48-CT/TW

ngày 22 tháng 10 năm 2010 của Bộ Chính trị về “Tăng cường sự lãnh đạo

Trang 4

của Đảng đối với công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới”, trong

đó tập trung đấu tranh, xử lý nghiêm minh các loại tội phạm xâm phạm anninh quốc gia, tội phạm về tham nhũng, tội phạm về ma túy,… và tội phạmmua bán người Các Bộ, ngành chức năng cũng ký kết hai Thông tư liên tịchtrong các năm 2013 và 2014 nhằm hướng dẫn thực hiện Luật Phòng, chốngmua bán người trong lĩnh vực điều tra, truy tố, xét xử Đặc biệt, Bộ luật Hình

sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã quy định rõ các hành vi, bổ sungcác tình tiết định khung về tội mua bán người, đã tạo tiền đề pháp lý cho cáchoạt động phòng ngừa và đấu tranh đối với các tội phạm nói chung và tộiphạm mua bán người nói riêng Bên cạnh đó, Việt Nam đã ký kết bốn Hiệpđịnh song phương về phòng, chống mua bán người với các nước láng giềng làThái Lan, Campuchia, Lào và Trung Quốc Việt Nam cũng đã tham gia phêchuẩn Nghị định thư về Phòng ngừa, trấn áp và trừng trị hành vi buôn bánngười, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em (Nghị định thư Palermo) của Liên HợpQuốc…

Tuy nhiên, quy định pháp luật cũng như thực tiễn hoạt động hợp tácquốc tế về phòng, chống tội phạm mua bán người trong thời gian qua cho thấyvẫn còn những vướng mắc, khó khăn nhất định Điều này đòi hỏi phải cónhững nghiên cứu sâu sắc về lĩnh vực này để tháo gỡ những vướng mắc, vượtqua khó khăn trong thực tiễn thực hiện nhằm nâng cao hiệu quả hợp tác quốc

tế trong lĩnh vực phòng, chống mua bán người

Nhận thức được vấn đề trên, nhóm chúng em quyết định chọn đề tài

“Hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng, chống tội phạm buôn bán người – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” để làm đề tài nghiên cứu khoa học Do

lần đầu tiếp cận lĩnh vực này nên đề tài không tránh khỏi những sai sót.Chúng em rất mong nhận được sự giúp đỡ, đóng góp ý kiến của các thầy, cô

để đề tài nghiên cứu của chúng em được hoàn thiện hơn

2 Tình hình nghiên cứu

Trang 5

Nhận thức được tính nguy hiểm của tội phạm buôn bán người, cũngnhư sự cần thiết của hợp tác quốc tế trong việc phòng, chống tội phạm buônbán người, cộng đồng quốc tế đã đưa ra những thỏa thuận chung thông quacác văn kiện quốc tế để tạo cơ sở pháp lý cho việc kiểm soát những hành vinày Bên cạnh đó, còn có những công trình nghiên cứu, các sản phẩm trong vàngoài nước của các cá nhân, các nhóm, các tổ chức ảnh hưởng trực tiếp hoặcgián tiếp ở những mức độ và phạm vi khác nhau của đề tài, có thể kể đếnnhững công trình nghiên cứu như:

- Báo cáo đánh giá hệ thống pháp luật Việt Nam trên tinh thần các Nghịđịnh thư của Liên Hợp Quốc về Phòng, chống buôn bán người và di cư tráiphép, bổ sung Công ước Liên Hợp Quốc về Phòng chống tội phạm có tổ chứcxuyên quốc gia của Bộ Tư pháp năm 2004;

- Phát hiện, điều tra các tội phạm mua bán phụ nữ và trẻ em qua biêngiới của lực lượng Cảnh sát nhân dân (Luận văn Tiến sĩ Luật học (2006) củaTrần Minh Hường bảo vệ tại Học viện Cảnh sát nhân dân);

- Hợp tác quốc tế của Việt Nam trong đấu tranh phòng chống tội phạmxuyên quốc gia của tác giả Nguyễn Hữu Ngọc (Luận văn Thạc sĩ Quan hệquốc tế (2008) bảo vệ tại Đại học Quốc gia Hà Nội);

- Phòng, chống buôn bán người ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp(Luận văn Thạc sĩ Pháp luật về quyền con người (2014) của Nguyễn HữuQuang);

- Phạm Văn Công (2019), Pháp luật về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực

Tố tụng Hình sự ở Việt Nam hiện nay, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội ViệtNam, Luận án Tiến sĩ, Hà Nội

Ngoài ra, còn có các bài viết trên các bài báo, tạp chí:

- Cần từng bước hoàn thiện pháp luật về công tác phòng, chống tộiphạm buôn bán phụ nữ, trẻ em của tác giả Lương Thanh Hải (Tạp chí Tòa ánnhân dân số 7/2006);

Trang 6

- Tổng quan về hệ thống pháp luật liên quan đến phòng, chống buôn bánngười và một số kiến nghị hoàn thiện của tác giả Nguyễn Công Hồng (tạp chíPháp luật và Phát triển năm 2010);

- Luật Phòng, chống mua bán người – Cơ sở pháp lý đấu tranh chống tộiphạm mua bán người trong thời gian tới của GS.TS Nguyễn Ngọc Anh (Tạpchí CAND số chuyên đề tháng 8/2010);

- Buôn bán người ở Việt Nam hiện nay: Thực trạng, nguyên nhân và

giải pháp tại Hội thảo “Phòng, chống buôn bán người: Viễn cảnh quốc tế,

ASEAN và Việt Nam” ngày 02 tháng 12 năm 2010 của tác giả Lê Văn

Chương;

- Luật Phòng, chống mua bán người – một công cụ pháp lý quan trọng,góp phần nâng cao hiệu quả phòng, chống mua bán người và đáp ứng yêu cầuhội nhập quốc tế của tác giả Hoàng Thế Liên (Viện Nhà nước và Pháp luật số5/2011)…

- Nội dung cơ bản của Luật Phòng, chống mua bán người của tác giảNgô Đức Thắng (Tạp chí Công an nhân dân số 8/2011);

- Hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng, chống mua bán người tại ViệtNam hiện nay của tác giả Nguyễn Khắc Hải (Tạp chí Khoa học Đại học Quốcgia Hà Nội số 01/2013);

- Chương trình phòng, chống mua bán người giai đoạn 2016 – 2020 (gọitắt là Chương trình 130/CP) theo Quyết định số 2546/QĐ-TTg được Thủtướng Chính phủ phê duyệt ngày 31 tháng 12 năm 2015;

- Hợp tác quốc tế trong phòng, chống tội phạm mua bán người xuyênquốc gia của tác giả Trần Đức (Tạp chí Biên Phòng năm 2018);

- Tăng cường hợp tác quốc tế trong phòng chống mua bán người của tácgiả Phương Nam (Tạp chí Công lý năm 2018);

- Hợp tác quốc tế đấu tranh phòng, chống tội phạm của lực lượng Cảnhsát nhân dân Việt Nam của tác giả Nguyễn Ngọc Anh

Trang 7

Bên cạnh đó, còn có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến hợp tácquốc tế trong đấu tranh phòng, chống tội phạm buôn bán người được công bố,đăng tải trên các báo, tạp chí điện tử…

Các công trình nghiên cứu và các bài viết trên bước đầu đã khái quátđược tình hình buôn bán người ở Việt Nam; đồng thời đề cập đến cơ sở phápluật về công tác phòng, chống tội phạm buôn bán người Đây là những nộidung cơ bản mà đề tài sẽ kế thừa và khai thác ở những mức độ nhất định

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về hợptác quốc tế trong đấu tranh phòng, chống tội phạm mua bán người được quyđịnh trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: Hành vi buôn bán người là một loại tội phạm đặc biệtnghiêm trọng xâm hại đến quyền con người, trật tự xã hội và an ninh của mỗiquốc gia, của cộng đồng quốc tế Việc phòng, chống tội phạm buôn bán ngườiliên quan đến nhiều đối tượng được điều chỉnh bởi nhiều ngành luật khácnhau Do đó, trong phạm vi đề tài này, chúng em tập trung vào nghiên cứu,phân tích một số vấn đề lý luận và thực trạng của hợp tác quốc tế trong đấutranh phòng, chống tội phạm buôn bán người

- Về không gian: Đề tài nghiên cứu tập trung vào sự hợp tác quốc tế vềđấu tranh phòng, chống tội phạm buôn bán người của Việt Nam với một sốquốc gia trên thế giới

- Về thời gian: nghiên cứu khảo sát trong thời gian 10 năm (từ năm

Trang 8

phòng, chống tội phạm buôn bán người nhằm góp phần cung cấp cơ sở lýluận để hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam Trên cơ sở đó, đưa ra nhữnggiải pháp góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật Việt Nam cũng như

sự cần thiết của hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng, chống tội phạm buônbán người

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

Để đạt được mục đích trên, đề tài đặt ra và giải quyết các nhiệm vụ cụthể sau:

- Phân tích cơ sở lý luận của pháp luật quốc tế, pháp luật Việt Nam vềđấu tranh phòng, chống tội phạm buôn bán người;

- Đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam về hợp tác quốc tế trong đấutranh phòng, chống tội phạm buôn bán người;

- Tổng kết lý luận, đánh giá thực tiễn của hợp tác quốc tế trong đấutranh phòng, chống tội phạm buôn bán người, dự báo tình hình tội phạm buônbán người trong thời gian tới

- Đưa ra phương hướng và giải pháp để hoàn thiện pháp luật phòng,chống tội phạm buôn bán người ở Việt Nam

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác– Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những quan điểm của Đảng, Nhà nước vềpháp luật phòng chống tội phạm buôn bán người

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu, đề tài sử dụng các phương phápnghiên cứu như: Phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp

so sánh, phương pháp thống kê

6 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của đề tài

6.1 Ý nghĩa lý luận

Trang 9

Đề tài là công trình nghiên cứu một cách có hệ thống các quy định củapháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam về hợp tác quốc tế trong đấu tranhphòng, chống tội phạm buôn bán người, góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận vềhợp tác quốc tế về phòng chống buôn bán người.

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Từ những vấn đề lý luận và thực tiễn về hợp tác quốc tế trong đấu tranhphòng, chống tội phạm buôn bán người đề tài là tài liệu tham khải hữu ích chocác nhà xây dựng chính sách, pháp luật và những người làm công tác thựctiễn Đề tài cũng có thể là nguồn tài liệu tham khảo cho sinh viên, học viên vànhững người quan tâm

Trang 10

PHẦN NỘI DUNG Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỢP TÁC QUỐC TẾ

TRONG ĐẤU TRANH PHÒNG, CHỐNG TỘI PHẠM BUÔN BÁN NGƯỜI 1.1 Khái niệm hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng, chống tội phạm buôn bán người

Tội phạm là một hiện tượng xã hội mang tính chất hình sự - pháp lý, cónguồn gốc và nguyên nhân từ xã hội Mặt khác, tội phạm là một phạm trù lịch

sử, gắn liền với Nhà nước và giai cấp Khái niệm tội phạm cũng luôn vậnđộng và biến đổi cùng với sự vận động của xã hội.1

Nghiên cứu hành vi tội phạm là nghiên cứu những hành vi mang tính cábiệt, phản xã hội của con người Người ta có thể tiếp cận vấn đề tội phạm từnhiều góc độ khác nhau của các ngành khoa học khác nhau Bộ luật Hình sựnước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm2017) quy định những nhóm hành vi nguy hiểm cho xã hội sau đây là tộiphạm: Xâm phạm an ninh quốc gia; Xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhânphẩm, danh dự con người; Xâm phạm quyền tự do của con người, quyền tự

do, dân chủ của công dân; Xâm phạm sở hữu; Xâm phạm chế độ hôn nhân vàgia đình; Xâm phạm trật tự quản lý kinh tế; Tội phạm về môi trường; Tộiphạm về ma túy; Xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng; Xâm phạmtrật tự quản lý hành chính; Tội phạm về chức vụ; Xâm phạm hoạt động tưpháp; Tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân và trách nhiệm củangười phối thuộc với quân đội trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu; Tội pháhoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh Chủ thể của tộiphạm là bất kỳ cá nhân hoặc pháp nhân thương mại nào có đủ năng lực chịutrách nhiệm hình sự Trong phạm vi bài viết này, nhóm chúng em đề cập đến

Trang 11

vấn đề tội phạm từ góc độ phạm vi hoạt động vượt qua biên giới quốc gia vàmang tính quốc tế.

1.1.1 Khái niệm hợp tác quốc tế

Ngày nay, với xu thế phát triển và hội nhập quốc tế đang giữ vai trò chủđạo; thì bất cứ quốc gia nào dù lớn hay nhỏ, dù giàu hay nghèo, dù thuộc thểchế chính trị nào cũng đều phải thiết lập các quan hệ với các quốc gia, tổ chứcquốc tế Có thể thấy, mọi quốc gia trên thế giới đều phải đối mặt với rất nhiềuyếu tố bất ổn tiềm ẩn, khó lường như: bất ổn về chính trị, thiên tai do biến đổikhí hậu, dịch bệnh… nhưng hòa bình, hợp tác quốc tế cùng phát triển vẫn là

xu thế chủ đạo

Trong thời gian qua, hợp tác quốc tế ở Việt Nam luôn được quan tâm

và tăng cường Những dấu mốc hợp tác quốc tế của Việt Nam có thể kể đến:Năm 1977, Việt Nam trở thành thành viên của Liên Hợp Quốc; Năm 1995,Việt Nam trở thành thành viên của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á(ASEAN); Vào tháng 01 năm 2007, Việt Nam chính thức trở thành thành viênthứ 150 của Tổ chức Thương mại thế giới WTO,… Những thành tựu trên làminh chứng rõ nét và cụ thể nhất cho sự nhất quán, kiên định trong đường lốichính sách của Đảng và Nhà nước ta trong quá trình xây dựng mối quan hệhợp tác với các nước trên thế giới

Trong bối cảnh thế giới nhiều biến động, sự hợp tác quốc tế vừa là cơhội đồng thời cũng là thách thức đối với các quốc gia Theo tác giả Hoàng

Khắc Nam, “Hợp tác vừa là cách thức, vừa là mục đích mà nhân loại phấn

đấu để đạt được” Trong quan hệ quốc tế, hợp tác là hình thức quan hệ thứ hai

cùng với xung đột Cũng theo tác giả: “Hợp tác quốc tế là sự phối hợp hòa

bình giữa các chủ thể quan hệ quốc tế nhằm thực hiện các mục đích chung”2

Theo từ điển tiếng Việt, hợp tác là “cùng chung sức giúp đỡ lẫn nhau

trong một công việc, một lĩnh vực nào đó, nhằm một mục đích chung” Còn

2 Hoàng Khắc Nam (2006), Bài giảng Nhập môn Quan hệ quốc tế, Trường Đại học Khoa học, xã hội và nhân

văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, tr.117,118.

Trang 12

quốc tế là “các nước trên thế giới trong quan hệ với nhau”3 Từ “quốc tế”

theo nghĩa rộng còn bao gồm cả cộng đồng quốc tế, các tổ chức quốc tế khuvực, toàn cầu hoặc tổ chức quốc tế song phương, đa phương4

Quan hệ hợp tác là hoàn toàn phù hợp và dựa trên cơ sở nguyên tắc cơ

bản của luật quốc tế hiện đại, đó là: “Các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác với

nhau”5 Theo nguyên tắc này thì mỗi quốc gia trong quan hệ quốc tế đều đượccoi là thực thể có chủ quyền và do đó đều có quyền tự quyết định những vấn

đề về đối nội và đối ngoại, không có sự can thiệp từ bên ngoài Tuy nhiên, cácquốc gia không thể tồn tại biệt lập mà phải hợp tác với nhau Đây không chỉ

là yêu cầu khách quan của quá trình phát triển kinh tế, xã hội mà còn là mộtđòi hỏi của việc giải quyết các vấn đề quốc tế phát sinh trong đó có vấn đềphòng, chống tội phạm Khoản 3, Điều 1 Hiến chương Liên Hợp Quốc quy

định: “Các quốc gia thực hiện sự hợp tác quốc tế trong việc giải quyết các

vấn đề quốc tế về kinh tế, xã hội củng cố hoà bình và an ninh quốc tế”6

Như vậy, có thể hiểu, hợp tác quốc tế là một hình thức tương tác trongquan hệ quốc tế Về mặt hành vi, đó là sự tương tác hòa bình giữa các chủ thểquan hệ quốc tế, tức là trong đó bạo lực được loại ra Về mặt mục đích, hợptác là cách thức phối hợp nhằm thực hiện các mục đích chung, lợi ích chung

Sự phối hợp đa dạng từ nhân lực, vật lực đến tài lực Về mặt kết quả, sự hợptác thường đem lại kết quả như nhau cho các bên tham gia hợp tác tức là hoặccùng được, hoặc cùng không thỏa mãn…

1.1.2 Khái niệm tội phạm buôn bán người 7

3 Viện Ngôn ngữ học (2003), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, tr.466, tr.811.

4 Viện Ngôn ngữ, Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Đại từ điển tiếng Việt, tái bản năm 2010.

5 Liên Hợp Quốc (1970), Hiến chương Liên Hợp Quốc được Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua ngày 24/10/1970

6 Liên Hợp Quốc (1970), Hiến chương Liên Hợp Quốc được Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua ngày 24/10/1970, trang 1

7 Do cách hiểu về nội hàm của thuật ngữ “mua bán người” và “buôn bán người” chưa được thống nhất tại

Việt Nam nên trong đề tài này tùy từng trường hợp nhóm sẽ có những cách dùng khác nhau Trong Bộ luật

Hình sự hiện hành và Luật phòng, chống mua bán người của Việt Nam dùng khái niệm “ mua bán người”,

còn trong các văn bản quốc tế, luật hình sự phần lớn các quốc gia cũng như các nhà nghiên cứu nước ngoài,

và một số học giả Việt Nam lại sử dụng thuật ngữ “buôn bán người” Việc sử dụng thuật ngữ không thống

Trang 13

Công ước về trấn áp việc buôn người và khai thác (bóc lột) tình dụcngười khác của Liên Hợp Quốc năm 1949 đưa ra khái niệm buôn bán người

là hành vi mua bán phụ nữ vì mục đích mại dâm Như vậy hành vi buôn bán

người ở đây không bao gồm hành vi mua bán đàn ông và trẻ em

Năm 1962, Văn phòng Cao ủy Nhân quyền Liên Hiệp Quốc (OHCHR)

đưa ra khái niệm về buôn bán người: “Tất cả mọi hành động và mưu toan

hành động có liên quan đến việc tuyển dụng, vận chuyển trong phạm vi quốc gia và xuyên biên giới, mua bán, chuyển giao, tiếp nhận che giấu con người bằng cách lừa dối, ép buộc (kể cả sử dụng hoặc đe dọa dùng vũ lực hoặc lạm dụng thẩm quyền) hoặc bắt buộc trừ nợ vì mục đích xếp đặt hoặc lưu giữ người đó, cho dù trả tiền hay không, trong việc phục vụ (việc nhà, tình dục hoặc sinh sản), trong lao động bắt buộc hoặc lao động trừ nợ, hoặc trong các điều kiện tương tự như nô lệ, trong một cộng đồng, khác cộng đồng mà người

đó đã sống tại thời điểm trước khi bị lừa gạt, ép buộc hay gán nợ”.

Các khái niệm trên cơ bản đã miêu tả được các đặc điểm của hành vibuôn bán người Tuy nhiên, do chức năng, mục đích và nhiệm vụ của từng tổ

chức khác nhau nên khi ban hành các văn kiện và đưa ra định nghĩa về “buôn

bán người” cũng khác nhau Các khái niệm trên chỉ dừng lại ở những lĩnh vực

cụ thể ví dụ như trong Công ước về nô lệ, hành vi buôn bán người chỉ đề cậpđến buôn bán nô lệ mà không tiên lượng rằng sẽ có những người không phải

nô lệ vẫn là nạn nhân của nạn buôn bán người Theo định nghĩa của Tổ chứcLao động quốc tế (ILO), buôn bán người được mô tả nhiều hơn ở khía cạnhbóc lột sức lao động và trong định nghĩa của tổ chức nhân quyền thì xuất phát

từ việc bảo vệ quyền con người…

Vì thế trong suốt thời gian dài, dù đã có hàng loạt các văn kiện quốc tếnêu ra các quy tắc, các biện pháp thiết thực để đấu tranh với việc bóc lột conngười, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em nhưng vẫn chưa có một văn kiện mangtính toàn cầu nào xử lý các khía cạnh của việc buôn bán người Năm 2000,Liên Hợp Quốc thông qua Công ước về chống tội phạm có tổ chức xuyên

Trang 14

quốc gia và các Nghị định thư bổ sung cho Công ước, trong đó có Nghị địnhthư về phòng ngừa, trấn áp và trừng trị buôn bán người đặc biệt là phụ nữ vàtrẻ em Nghị định thư Phòng ngừa, trấn áp và trừng trị buôn bán người, đặc

biệt là phụ nữ và trẻ em (gọi tắt là Nghị định thư về chống buôn bán người –

Tracfficking in persons) được Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua ngày

15 tháng 11 năm 2000, có hiệu lực từ ngày 25 tháng 12 năm 2003 đến nay đã

có 115 phê chuẩn Tại Điều 3 của Nghị định thư đưa ra khái niệm về hành vi

“buôn người” như sau:

“a Việc buôn bán người này sẽ có nghĩa là việc mua, vận chuyển,

chuyển giao, chứa chấp và nhận người nhằm mục đích bóc lột bằng cách sử dụng hay đe dọa sử dụng vũ lực hay bằng các hình thức ép buộc, bắt cóc, lừa gạt, man trá hay lạm dụng quyền lực hoặc vị thế dễ bị tổn thương hay bằng việc đưa hay nhận tiền hay lợi nhuận để đạt được sự đồng ý của một người kiểm soát đối với những người khác Hành vi bóc lột sẽ bao gồm ít nhất việc bóc lột mại dâm những người khác hay những hình thức bóc lột tình dục khác, các hình thức lao động hay dịch vụ cưỡng bức, nô lệ hay những hình thức tương tự nô lệ, khổ sai hoặc việc lấy đi các bộ phận cơ thể;

b Việc một nạn nhân của việc buôn bán người chấp nhận sự bóc lột chủ ý được nêu ra trong Khoản a của Điều này sẽ là không thích hợp nếu bất

kỳ một cách thức nào được nêu trong Khoản a đã sử dụng;

c Việc mua, vận chuyển, chuyển giao, chứa chấp hay nhận một đứa trẻ nhằm mục đích bóc lột sẽ bị coi là “buôn bán người: ngay cả khi việc này được thực hiện không cần dùng đến bất kỳ một cách thức nào được nói đến trong Khoản a Điều này”8

Định nghĩa này đã khắc phục được những hạn chế của các quan niệm

về buôn bán người trong các văn kiện quốc tế trước đây; định nghĩa về buônbán người nêu trên không chỉ áp dụng đối với phụ nữ và trẻ em mà phải thừa

8 Nghị định thư Phòng ngừa trấn áp và trừng trị buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em (2000) bổ sung

Trang 15

nhận rằng, mặc dù chưa phải là phổ biến nhưng cả đàn ông cũng có thể trởthành nạn nhân của việc buôn bán người Theo định nghĩa này, các yếu tố cơbản của hành vi buôn bán người bao gồm:

Thứ nhất, mục đích của hành vi buôn bán người là bóc lột hoặc lạm

dụng, bao gồm: Bóc lột sức lao động, bóc lột tình dục, khổ sai, nô lệ hay cáchình thức tương tự nô lệ, lấy các bộ phận cơ thể… và lạm dụng tình thế dễ tổnthương của nạn nhân để nhằm mục đích thu lợi nhuận từ hành vi phạm tội đó

Thứ hai, phương thức thực hiện hành vi, là: Dùng vũ lực, đe dọa dùng

vũ lực, bắt cóc, lừa gạt, cưỡng ép hay lạm dụng quyền lực

Thứ ba, hành vi phạm tội, gồm: Tuyển mộ, mua, vận chuyển, chuyển

giao, che giấu, chứa chấp để chuyển giao…

Trong hệ thống pháp luật Việt Nam trước đây chưa có văn bản phápluật chuyên biệt về phòng, chống tội phạm buôn bán người vì vậy không cókhái niệm đầy đủ về hành vi phạm tội buôn bán người trong các văn bản phápluật Trong thực tiễn đấu tranh chống tội phạm ít gặp trường hợp nạn nhân bịbuôn bán là nam giới, chủ yếu nạn nhân là phụ nữ và trẻ em Vì vậy, trong

luật thực định không có khái niệm “buôn bán người” mà trong luật chỉ có các quy định về tội phạm “mua bán phụ nữ” quy định tại Điều 119 và tội phạm

“mua bán trẻ em” quy định tại Điều 120 Bộ luật Hình sự năm 1999

Hoặc theo Điều 3 Luật Phòng, chống mua bán người năm 2011 chỉ quyđịnh các hành vi bị nghiêm cấm bao gồm: Chuyển giao hoặc tiếp nhận người

để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy các bộ phận cơ thể hoặc vì mụcđích vô nhân đạo khác; tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người để bóc lộttình dục, cưỡng bức lao động, lấy các bộ phận cơ thể hoặc vì mục đích vônhân đạo khác hoặc để thực hiện hành vi đã quy định; cưỡng bức người khácthực hiện một trong các hành vi đã quy định; môi giới để người khác thựchiện một trong các hành vi được nêu trên; trả thù, đe dọa trả thù nạn nhân,người làm chứng, người tố giác, người tố cáo, người thân thích của họ hoặcngười ngăn chặn hành vi theo quy định; lợi dụng hoạt động phòng, chống

Trang 16

mua bán người để trục lợi, thực hiện các hành vi trái pháp luật; cản trở việc tốgiác, tố cáo, khai báo và xử lý hành vi quy định tại Điều này; kỳ thị, phân biệtđối xử với nạn nhân; tiết lộ thông tin về nạn nhân khi chưa có sự đồng ý của

họ hoặc người đại diện hợp pháp của nạn nhân; giả mạo là nạn nhân; hành vikhác vi phạm các quy định của Luật này9

Hiện nay, theo Điều 150 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sungnăm 2017) quy định buôn bán người bao gồm các hành vi sau:

“a) Chuyển giao hoặc tiếp nhận người để giao, nhận tiền, tài sản hoặc

lợi ích vật chất khác;

b) Chuyển giao hoặc tiếp nhận người để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác;

c) Tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người khác để thực hiện hành vi quy định tại điểm a hoặc điểm b khoản này”.

Mặc dù không có định nghĩa pháp lý chính thức về “mua bán người”

nhưng trong thực tiễn đấu tranh, điều tra, xét xử tội phạm và căn cứ vào hành

vi “mua bán” mà khái niệm “mua bán người” được hiểu là việc chuyển giao

người từ một người hoặc một nhóm người sang một người hoặc một nhómngười khác để đổi lấy tiền hoặc lợi ích vật chất.10

Từ đó, có thể thấy một vài đặc điểm của tội phạm “buôn bán người”

như sau:

Thứ nhất, hành vi phạm tội: Chuyển giao, tiếp nhận, tuyển mộ, vận

chuyển, chứa chấp người để chuyển giao Đây là việc người phạm tội thamgia vào con đường dây buôn bán người Hành vi buôn bán người không chỉ lànhững hành vi đơn lẻ chỉ có sự xuất hiện của người bán, người mua màthường hành vi đó sẽ được những người phạm tội xây dựng kế hoạch rất chitiết và kỹ lưỡng bao gồm nhiều giai đoạn khác nhau, từ địa điểm này sang địa

9 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2011), Luật Phòng, chống mua bán người, Hà Nội.

10 Nguyễn Thị Nga (2018), Tội mua bán người theo pháp luật Hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Lào Cai ,

Trang 17

điểm khác, từ quốc gia này sang quốc gia khác thực hiện một việc riêng trongchuỗi hành vi phạm tội của mình nhằm che giấu hành vi phạm tội Do đó,người phạm tội chỉ cần thực hiện một trong các khâu của hành vi nêu trên thìvẫn sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Thứ hai, thủ đoạn phạm tội: Dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, bắt cóc,

lừa gạt, lạm dụng quyền lực, lợi dụng tình trạng quẫn bách của nạn nhân hoặccác thủ đoạn khác

Hành vi dùng vũ lực là hành vi (hành động) mà người phạm tội đã thựchiện, tác động vào cơ thể của nạn nhận như: đấm, đá, bóp cổ, trói, bắn, đâm,chém… Hay nói một cách khái quát là hành vi dùng sức mạnh vật chất nhằmkhống chế sự tự do của người bị buôn bán Hành vi này có thể làm cho nạnnhân bị thương tích, bị tổn hại sức khỏe hoặc thậm chí là chết, nhưng cũng cóthể chưa gây ra thương tích đáng kể (không có tỷ lệ thương tật)

Hành vi đe dọa dùng vũ lực là hành vi dùng lời nói hoặc hành độngnhằm đe dọa người bị hại nếu không thực hiện theo yêu cầu của người đưa rayêu cầu thì sẽ thực hiện ngay hành vi đe dọa đó

Hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực của người phạm tội buôn bánngười có thể đối với người bị hại hoặc đối với người khác; nếu là đối vớingười khác thì người bị hại là trẻ em nên người phạm tội phải dùng vũ lực, đedọa dùng vũ lực đối với người bị hại để bắt trẻ em đem bán hoặc nhằm mụcđích khác Tuy nhiên, cũng có một số trường hợp người phạm tội đã có hành

vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực với chính người bị hại nếu người bị hại cóhành vi chống cự hoặc bỏ trốn bị người phạm tội bắt lại

Hành vi lừa gạt của người phạm tội thường là bằng sự hứa hẹn vớingười thân của người bị hại hoặc chính người bị hại về cuộc sống sung túc ởnước ngoài; lấy chồng nước ngoài để người bị hại hoặc người thân của người

bị hại tin nên mới đi theo

Lợi dụng tình trạng quẫn bách của nạn nhân là việc người phạm tội lợidụng những hoàn cảnh khó khăn, nạn nhân rơi vào tình trạng khó có sự lựa

Trang 18

chọn đúng đắn để người phạm tội dẫn dụ nạn nhân vào con đường mua bánngười của mình.

Thứ ba, mục đích phạm tội: Lấy tiền hoặc lợi ích vật chất khác hoặc

bóc lột tình dục, bóc lột sức lao động, lấy các bộ phận cơ thể hay vì mục đích

vô nhân đạo khác Việc buôn bán người của người phạm tội đôi khi chỉ nhằmmục đích đơn thuần là lấy tiền, họ xem nạn nhân như một món hàng hóa trênthị trường, dùng những thủ đoạn để chiếm đoạt sự tự do của con người, sau đóbán họ đi như một món hàng để lấy tiền hoặc vì lợi ích vật chất khác (vàng,kim cương, đá quý, ngọc quý,…) Tuy nhiên bên cạnh những lợi ích đó,người phạm tội thực hiện hành vi buôn bán người nhằm bóc lột tình dục Đó

là việc người phạm tội buôn bán người để bắt họ trở thành người phục vụtrong đường dây mại dâm, thông thường nạn nhân trong trường hợp này làphụ nữ, tuy nhiên theo xu hướng phát triển của xã hội ngày nay thì nam giớivẫn có thể là nạn nhân trong trường hợp này Bóc lột sức lao động đó là việc

nạn nhân bị buôn bán người sẽ trở thành những “cỗ máy làm việc” trong các

nhà máy, xí nghiệp, trong các gia đình,… ở đó họ bị bóc lột và không đượchưởng mọi chế độ gì của người lao động theo quy định của pháp luật trongnước và các điều ước quốc tế

Bên cạnh đó, nạn nhân còn bị bán đi để lấy các bộ phận trên cơ thể Xãhội ngày càng phát triển, y học cũng vì thế mà phát triển theo, việc cấy ghépcác bộ phận trên cơ thể người đã trở thành những khái niệm quen thuộc trong

y học và trong xã hội Tuy nhiên do nhu cầu ngày càng lớn nhưng các bộphận được cấy ghép lại là nguồn khan hiếm, khi số lượng người hiến thì ít màngười cần ghép thì nhiều; do đó người phạm tội đã nắm bắt được điều đó nên

họ sẽ dùng những thủ đoạn của mình để tước đi sự tự do thân thể của nạnnhân và lấy đi các bộ phận trên cơ thể của họ đem đi bán một cách bất hợppháp và vô nhân đạo

Nạn nhân của hoạt động buôn bán người là bất kỳ người nào, riêngtrường hợp nạn nhân là người chưa thành niên và người có nhược điểm về thể

Trang 19

chất hoặc tinh thần thì không cần yếu tố thủ đoạn mà chỉ cần có hành vi vàmục đích là đủ dấu hiệu cấu thành tội buôn bán người.

Như vậy, cách hiểu về tội phạm buôn bán người nêu trên cũng đã phùhợp với quy định trong các văn bản pháp luật của Việt Nam và phù hợp vớichuẩn mực quốc tế về phòng, chống tội phạm buôn bán người

1.1.3 Khái niệm hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng, chống tội phạm buôn bán người

Hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng chống tội phạm bao gồm toàn

bộ các hoạt động cần thiết của cộng đồng quốc tế nhằm ngăn ngừa, trừng trịcác loại hình tội phạm Về phạm vi, có thể là hợp tác song phương, hợp táckhu vực hoặc hợp tác toàn cầu trong đấu tranh phòng, chống tội phạm buônbán người Về nội dung, hoạt động hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng,chống tội phạm buôn bán người bao gồm các hành động cụ thể được thựchiện như: Tương trợ tư pháp giữa các quốc gia trong các vụ việc hình sự vềhoạt động có tính tư pháp như thẩm vấn người phạm tội; chuyển giao giấy tờ,tài liệu, các vật chứng; lấy lời khai của nhân chứng và các hoạt động điều trakhác; Dẫn độ tội phạm và chuyển giao phạm nhân,… Bên cạnh đó, các hoạtđộng chuyển giao, trao đổi thông tin và kinh nghiệm trong hợp tác quốc tế vềđấu tranh phòng, chống tội phạm buôn bán người ngày càng tạo điều kiệnthuận lợi cho quá trình hợp tác quốc tế như lập hồ sơ dữ liệu, các hoạt độngkhoa học nghiên cứu về nguyên nhân, khuynh hướng, dự báo tội phạm và cácbiện pháp ngăn ngừa tội phạm buôn bán người

Vậy nên có thể hiểu, hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng, chống tội

phạm buôn bán người được hiểu là tổng thể các nguyên tắc, các quy phạm điều chỉnh quan hệ hợp tác, bao gồm các nguyên tắc ứng xử, quyền và nghĩa

vụ hợp tác giữa các quốc gia và các chủ thể khác của pháp luật quốc tế do các quốc gia thoả thuận xây dựng Quá trình hợp tác quốc tế về phòng, chống tội phạm buôn bán người giữa các quốc gia dựa trên cơ sở pháp lý là pháp luật quốc tế về phòng, chống tội phạm buôn bán người Nội dung của hợp tác

Trang 20

quốc tế về phòng, chống tội phạm buôn bán người rất rộng bao gồm nhiều lĩnh vực khác nhau như: Trao đổi thông tin; Thu thập chuyển giao tài liệu chứng cứ; Truy nã, bắt giữ và dẫn độ tội phạm buôn bán người…

Với cách hiểu như trên, bản chất của hợp tác quốc tế trong đấu tranhphòng, chống tội phạm buôn bán người thể hiện trên những phương diện:

Thứ nhất, là hoạt động hợp tác giữa các quốc gia trong việc đấu tranh

phòng, chống tội phạm buôn bán người

Thứ hai, các hoạt động hợp tác rất đa dạng, bao gồm (nhưng không

giới hạn): Trao đổi thông tin; Thu thập chuyển giao tài liệu chứng cứ; Truy

nã, bắt giữ và dẫn độ tội phạm buôn bán người; Tương trợ tư pháp về hìnhsự…

Thứ ba, mục tiêu tổng quát của hoạt động hợp tác quốc tế trong phòng,

chống tội phạm buôn bán người là thúc đẩy sự phát triển hợp tác giữa cácquốc gia, nâng cao hiệu quả phòng, chống tội buôn bán người, đặc biệt là sựhợp tác với mục đích bảo vệ quyền con người

Có thể khái quát một số nhiệm vụ cơ bản của hợp tác quốc tế trong đấutranh phòng, chống tội phạm buôn bán người như sau:

Thứ nhất, thông qua các hình thức tương trợ tư pháp, Nhà nước ta mới

có khả năng đấu tranh có hiệu quả với tội phạm có yếu tố nước ngoài, nhất làtội phạm buôn bán người diễn ra ngày càng gia tăng về số lượng cũng nhưquy mô

Thứ hai, góp phần bảo vệ và phát triển quan hệ hợp tác quốc tế của

Nhà nước ta trong việc phòng, chống tội phạm

Thứ ba, hợp tác quốc tế trong phòng, chống tội phạm buôn bán người

còn có nhiệm vụ giáo dục công dân nâng cao ý thức pháp luật, tôn trọng lợiích quốc gia, trách nhiệm về đấu tranh phòng, chống tội phạm trong phạm viquốc gia cũng như quốc tế

1.2 Đặc điểm của hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng, chống tội phạm buôn bán người

Trang 21

Thứ nhất, có ít nhất hai chủ thể tham gia thiết lập quan hệ hợp tác

trong đấu tranh phòng, chống tội phạm buôn bán người Theo đó các chủ thểphải tham gia vào quan hệ hợp tác một cách độc lập, có đầy đủ quyền vànghĩa vụ; có khả năng gánh vác những trách nhiệm pháp lý do những hành vicủa mình gây ra Chủ thể có thể tham gia quan hệ hợp tác quốc tế về đấutranh phòng, chống tội phạm buôn bán người có thể kể đến bao gồm các quốcgia, các dân tộc đang đấu tranh giành quyền tự quyết, các tổ chức quốc tế liênchính phủ và các chủ thể khác được công nhận là chủ thể của pháp luật quốctế

Thứ hai, việc thực hiện hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng, chống

tội phạm buôn bán người phải bảo đảm các nguyên tắc hợp tác quốc tế trongđấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung Để đảm bảo thực hiện tốt mụctiêu đấu tranh phòng chống tội phạm buôn bán người và duy trì quan hệ hợptác giữa các quốc gia, đòi hỏi từng quốc gia thành viên phải thực hiện nghiêmchỉnh nguyên tắc hợp tác bình đẳng về chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ củaquốc gia và nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của quốc giakhác

Chủ quyền quốc gia được coi là tối cao và bất khả xâm phạm, sẽ không

có quan hệ hợp tác nếu như mối quan hệ đó sẽ ảnh hưởng đến độc lập, chủquyền của quốc gia Như vậy, độc lập chủ quyền là điều kiện tiên quyết để cóhợp tác quốc tế với đầy đủ ý nghĩa của nó Khi bàn luận, thỏa thuận các vấn

đề hợp tác giải quyết, ý kiến của các quốc gia đều có giá trị như nhau; khi đãthỏa thuận và cam kết thì các quốc gia đều có quyền và nghĩa vụ thực hiệncam kết như nhau Trong quá trình hợp tác quốc tế giải quyết các vấn đề vềtội phạm buôn bán người, các quốc gia không được lợi dụng để can thiệp vàocông việc nội bộ của quốc gia khác

Để phục vụ cho việc hợp tác trong đấu tranh phòng, chống tội phạmbuôn bán người thì giữa Việt Nam và các nước có thể thỏa thuận ký kết vớinhau các nội dung cần hợp tác nhưng các thỏa thuận đó phải bảo đảm phù hợp

Trang 22

với Hiến pháp, pháp luật của Việt Nam và các điều ước quốc tế mà nướcCộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên Việc hợp tác của các quốcgia không được làm phương hại đến các quan hệ quốc tế đã được thiết lậpgiữa các quốc gia khác.

Thứ ba, mục đích của hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng, chống tội

phạm buôn bán người là nhằm xóa bỏ nạn buôn bán người; thúc đẩy và bảo

vệ quyền con người đặc biệt là phụ nữ và trẻ em – đối tượng chủ yếu của loạitội phạm này và các quyền tự do cơ bản; trừng trị thích đáng những kẻ cóhành vi buôn bán người Ngoài ra, ở nhiều điều ước quốc tế về phòng, chốngtội phạm buôn bán người còn đề cập đến vấn đề hợp tác nâng cao hiệu quảhoạt động tương trợ tư pháp, dẫn độ tội phạm, phối hợp điều tra, chuyển giao

vụ án hình sự, hợp tác trong thực thi pháp luật và công tác tái hòa nhập củacác nạn nhân bị buôn bán… góp phần củng cố, phát triển quan hệ hữu nghị,hợp tác về đấu tranh phòng, chống tội phạm buôn bán người giữa Việt Nam

và các quốc gia hữu quan

Thứ tư, hợp tác quốc tế bao gồm nhiều hình thức đa dạng, phong phú

với các chương trình, dự án hợp tác song phương, hợp tác khu vực, hợp tác liên khu vực và hợp tác trên quy mô toàn cầu Về nguyên tắc, tội phạm thực

hiện trên lãnh thổ của quốc gia nào thì quốc gia đó có thẩm quyền xét xử Tuynhiên, nhiều hoạt động tội phạm hiện nay thường vượt qua biên giới quốc gia

và hậu quả cũng liên quan đến nhiều quốc gia khác Chính vì vậy, nhu cầuhợp tác quốc tế nhằm đấu tranh phòng chống tội phạm trở nên cấp thiết, đòihỏi các quốc gia trong khu vực, trên thế giới luôn tăng cường mở rộng hợp táctrên nhiều khía cạnh trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm buônbán người thông qua các điều ước, hiệp định song phương, đa phương

1.3 Nội dung của hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng, chống tội phạm buôn bán người

1.3.1 Tương trợ tư pháp về hình sự

Trang 23

Trong khoa học luật quốc tế, tương trợ tư pháp về hình sự được hiểuvới nghĩa chung nhất là sự giúp đỡ chính thức giữa các Chính phủ trong việcđiều tra và truy tố trong lĩnh vực hình sự, bao gồm từ việc điều tra, truy tố và

ra bản án đối với một tội phạm11 Còn xét theo hình thức và bản chất của hoạt

động này, có thể hiểu: “Tương trợ tư pháp về hình sự là một thủ tục pháp luật

quốc tế, trong đó các quốc gia có liên quan hợp tác, hỗ trợ lẫn nhau trong việc thu thập chứng cứ; lời khai; cung cấp thông tin và các vật chứng; tìm hiểu hồ sơ vụ án; tạo điều kiện thực hiện việc tiến hành khám xét, bắt giữ, cung cấp các bản gốc hoặc bản sao đã công chứng của những tài liệu có liên quan đến vụ án, kể cả những chứng từ ngân hàng tài chính hoặc hồ sơ kinh doanh; xác minh hoặc làm rõ những thu nhập, tài sản, công cụ hoặc đồ vật khác có liên quan đến vụ án,… nhằm thực hiện các hoạt động tố tụng hình sự như điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án”.12

Căn cứ vào bản chất của hoạt động tương trợ tư pháp về hình sự, có thể

hiểu: Tương trợ tư pháp về hình sự là việc cơ quan có thẩm quyền của các

quốc gia liên quan, căn cứ vào các điều ước quốc tế và pháp luật quốc gia thực hiện một hoặc một số hoạt động về trao đổi thông tin; tống đạt giấy tờ,

hồ sơ, tài liệu; triệu tập nhân chứng; thu thập hoặc cung cấp chứng cứ; truy cứu trách nhiệm hình sự và thực hiện các yêu cầu khác về hình sự nhằm hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong giải quyết vụ án có yếu tố nước ngoài 13

Trong quan hệ hợp tác quốc tế, các quốc gia sẽ giành cho nhau sựtương trợ pháp lý đầy đủ nhất có thể trong việc điều tra truy tố và xét xử liênquan đến các hành vi phạm tội cụ thể được quy định trong các điều ước cụ thể

mà các quốc gia thiết lập Phạm vi tương trợ tư pháp về hình sự, trao đổithông tin, phối hợp điều tra tội phạm buôn bán người cơ bản gồm các hoạt

11 Nguyễn Thị Thuận (2007), Luật Hình sự Quốc tế (Sách chuyên khảo), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội,

trang 288, 289.

12 PGS TS Nguyễn Xuân Yêm (2000), Dẫn độ tội phạm, tương trợ tư pháp về hình sự và chuyển giao phạm

nhân quốc tế trong phòng, chống tội phạm, Nxb Chính trị quốc gia, trang 144.

13 Xem, Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội (2016), Giáo trình Luật tương trợ tư pháp, Nxb Chính trị quốc gia

- Sự thật, Hà Nội, trang 100,101.

Trang 24

động sau: Thu thập chứng cứ hoặc lời khai của người có liên quan; tống đạttài liệu tư pháp; tìm kiếm, tạm giữ và phong tỏa tài sản; khám nghiệm đồ vật

và hiện trường; cung cấp thông tin, chứng cứ và giám định; cung cấp bản gốchoặc bản công chứng của tài liệu và hồ sơ có liên quan; xác định, truy tìmcông cụ, phương tiện phạm tội hoặc những đồ vật khác với mục đích làmchứng cứ; tạo điều kiện thuận lợi cho sự có mặt tự nguyện của các cá nhânquốc gia yêu cầu; và các hình thức trợ giúp khác không trái với pháp luật màcác quốc gia yêu cầu Ngoài ra trên cơ sở không trái với pháp luật quốc gia,các cơ quan chức năng của một số quốc gia thành viên có thể chuyển thôngtin liên quan đến tội phạm buôn bán người cho cơ quan chức năng của quốcgia khác mà không cần có yêu cầu của quốc gia khác này; nếu quốc giachuyển tin cho rằng thông tin có thể hỗ trợ cho cơ quan này kết thúc thànhcông các cuộc điều tra và thủ tục tố tụng hình sự hoặc việc chuyển thông tin

đó có thể dẫn tới việc quốc gia khác sẽ có yêu cầu tương trợ phù hợp Các cơquan chức năng nhận thông tin phải tuân thủ yêu cầu giữ bí mật thông tinhoặc yêu cầu về việc hạn chế sử dụng của cơ quan cung cấp thông tin

1.3.2 Dẫn độ tội phạm buôn bán người

Dẫn độ tội phạm là hành vi trợ giúp pháp lý được tiến hành trên cơ sởcác điều ước quốc tế và các nguyên tắc được thừa nhận chung của luật quốc

tế, được thể hiện ở việc một quốc gia chuyển giao người bị kết tội hoặc bị kết

án (trên lãnh thổ có người đó) cho quốc gia yêu cầu dẫn độ – quốc gia trênlãnh thổ đã xảy ra hành vi phạm tội hoặc là quốc gia bị thiệt hại do hành viphạm tội; hoặc là quốc gia có công dân bị thiệt hại để quốc gia đó thực hiệnviệc truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc là để thi hành án hình sự14

Dẫn độ là một hình thức tương trợ tư pháp giữa các quốc gia; trong đó,quốc gia được yêu cầu dẫn độ, dựa trên cơ sở của pháp luật quốc tế và phápluật quốc gia, chuyển giao người có hành vi phạm tội hoặc người đã bị kết án

14 PGS.TS Nguyễn Ngọc Chí (2013), Những vấn đề lý luận, thực tiễn về luât hình sự quốc tế (Tái bản lần

thứ nhất, có sửa chữa, bổ sung), Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, Nxb Chính trị quốc gia – sự thật,

Trang 25

bằng một bản án có hiệu lực pháp luật đang có mặt trên lãnh thổ của quốc giađược yêu cầu để quốc gia yêu cầu tiến hành truy cứu trách nhiệm hình sựhoặc thi hành bản án đối với người đó15.

Dẫn độ được điều chỉnh đặc biệt bởi một hệ thống các điều ước quốc tếsong phương và đa phương, trên cơ sở đó các quốc gia đồng ý chuyển giaonhững tội phạm bỏ trốn đến các quốc gia khác, nhờ vậy mà người phạm tội cóthể bị xét xử tại nước nơi thực hiện hành vi phạm tội hoặc những trường hợpđặc biệt, ở nơi có thẩm quyền xử lý khác

Các quốc gia có thể tìm kiếm hoặc cung cấp dẫn độ liên quan đến buônbán người thông qua nhiều dạng khác nhau của các thu xếp, bao gồm thu xếpdựa trên các hiệp định song phương hoặc đa phương, cũng như các thu xếpdựa trên nội luật không có nền tảng hiệp ước Hành vi phạm tội mà việc dẫn

độ được yêu cầu là hành vi vi phạm theo nội luật của cả quốc gia yêu cầu lẫnquốc gia được yêu cầu Nó còn được biết đến như là thủ tục phạm tội kép cho

việc dẫn độ - đôi khi còn được gọi là “sự phạm tội kép” Công ước về chống

tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia (gọi tắt là công ước Palecmo) năm 2000(Điều 16(1)) khi được kết hợp với Nghị định thư về Buôn bán người (Điều1(3)), làm các hành vi buôn bán người thành các hành vi vi phạm có thể dẫn

độ trong các hoàn cảnh nhất định Điều 16(1) của Công ước Palecmo quyđịnh phạm vi của nghĩa vụ dẫn độ, trong hệ thống nội luật, các quốc gia phảiđảm bảo rằng các hành vi phạm tội theo Công ước Palecmo và các hành viphạm tội theo Nghị định thư về Buôn bán người là những hành vi phạm tội cóthể dẫn độ Các yêu cầu dẫn độ phải phù hợp với luật pháp quốc tế

Các quốc gia có thể sử dụng Công ước Palecmo có tổ chức như là cơ sởpháp lý trực tiếp cho việc yêu cầu và chấp thuận dẫn độ Tuy nhiên, khi cácquốc gia không chấp nhận để sử dụng Công ước cho mục đích này, và đúng ra

là yêu cầu có các cơ sở pháp lý riêng rẽ cho dẫn độ (chẳng hạn như luật phápquốc gia hoặc một hiệp ước dẫn độ cụ thể), họ phải đảm bảo rằng hành vi

15 Xem, Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội (2016), Giáo trình Luật tương trợ tư pháp, Sđd.

Trang 26

buôn bán người được đưa vào như một hành vi phạm tội có thể dẫn độ Ví dụ, nếu một quốc gia có một “danh sách” các hành vi phạm tội có thể dẫn độ

trong luật pháp về dẫn độ của mình, quốc gia đó cần phải đảm bảo rằng cáchành vi phạm tội buôn bán người được đưa vào danh sách đó Điều này sẽđảm bảo việc tuân thủ theo các nghĩa vụ hợp tác quốc tế chống tội phạm trongCông ước Palecmo áp dụng cho các hành vi vi phạm trong Nghị định thư vềbuôn bán người

1.3.3 Hợp tác quốc tế trong chuyển giao người bị kết án

Chuyển giao người bị kết án có thể hiểu là việc quốc gia chuyển giao,

vì mục đích nhân đạo và tái hòa nhập xã hội, chuyển giao từ lãnh thổ củangười bị kết án cho quốc gia nhận chuyển giao, nơi người bị chuyển giao làcông dân hoặc có những quan hệ cộng đồng thân thiết, để tiếp tục chấp hànhbản án có hiệu lực pháp luật của quốc gia chuyển giao đã tuyên đối với người

đó (phạt tù có thời hạn hoặc vô thời hạn).16

Hoạt động chuyển giao người bị kết án phạt tù được coi là mang tínhchất nhân đạo với mục đích đưa người đang chấp hành hình phạt tù trở về tổquốc để chấp hành nốt hình phạt còn lại Việc chấp hành hình phạt tù tại quêhương của mình, gần với người thân sẽ giúp cho họ cải tạo tốt hơn, dễ tái hòanhập cộng đồng sau khi được trả tự do

Với mục đích góp phần vào việc tái hòa nhập xã hội sớm và có hiệuquả hơn của người bị kết án phạt tù, các quốc gia thành viên được khuyếnkhích tiếp nhận vào lãnh thổ nước họ những người đang phải chấp hành hìnhphạt tù hoặc những hình phạt tước tự do khác thông qua hình thức chuyểngiao người đang chấp hành hình phạt tù để những người này có thể chấp hànhxong bản án của họ ở lãnh thổ quốc gia đó

Cơ sở pháp lý của chuyển giao người bị kết án là các điều ước quốc tế

đa phương và song phương hoặc theo nguyên tắc có đi, có lại Theo thông lệ

16 Nguyễn Thị Thuận (2007), Luật Hình sự Quốc tế (Sách chuyên khảo), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội,

Trang 27

quốc tế, việc chuyển giao người bị kết án cần phải bảo đảm những điều kiệnnhất định; tuy nhiên, các quốc gia trong quá trình đàm phán, ký kết có thểthỏa thuận phù hợp với pháp luật nước mình, cụ thể:

Thứ nhất, chỉ áp dụng chuyển giao người bị kết án khi cấu thành tội

phạm theo pháp luật của nước chuyển giao cũng cấu thành một tội phạm theopháp luật của nước nhận chuyển giao (tội phạm kép) Tuy nhiên, điều kiệnnày không nhất thiết đòi hỏi là tội phạm đó phải được quy định như nhautrong pháp luật của hai bên ký kết mà chỉ cần không ảnh hưởng đến tính chất

cơ bản của tội đó

Thứ hai, người bị kết án phải là công dân của nước nhận chuyển giao

hoặc có quan hệ cộng đồng với quốc gia đó Hiểu theo nghĩa rộng, người bịkết án có quan hệ cộng đồng với một quốc gia là khi quốc gia đó là nơi cư trúchính của người đó trước khi bị kết án; hoặc quốc gia đó là nơi trú chính củaông bà, cha mẹ, con của người bị kết án; hoặc quốc gia đó là nơi cư trú chínhcủa một người mà người bị kết án đã kết hôn hoặc có quan hệ hôn nhân thựctế; hoặc là quốc gia nơi người bị kết án có những quan hệ chặt chẽ với mộtngười cư trú chính tại quốc gia này (việc xác định cư trú chính phù hợp vớiquy định của pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế)

Thứ ba, bản án đối với người được chuyển giao đã có hiệu lực pháp

luật và phải là bản án kết tội cuối cùng, không còn thủ tục tố tụng nào đối vớitội phạm đó Điều này có nghĩa là bản án do Tòa án của nước chuyển giaotuyên phạt phải được bảo lưu trên lãnh thổ của nước nhận chuyển giao, nướcnhận chuyển giao không được tái xét xử, sửa đổi hay hủy bỏ bản án, hình phạtcủa nước chuyển giao Hình phạt do Tòa án của nước chuyển giao đã tuyênphạt phải là hình phạt tù và bảo đảm sẽ được tiếp tục thi hành ở nước tiếpnhận (hình phạt tù cần được hiểu là bất kỳ sự trừng phạt hoặc biện phápcưỡng chế nào do Tòa án tuyên nhằm tước tự do có thời hạn hoặc không thờihạn áp dụng cho một hành vi phạm tội)

Trang 28

Thứ tư, tại thời điểm tiếp nhận yêu cầu chuyển giao, thời gian chấp

hành hình phạt của người bị kết án phải còn ít nhất 01 năm hoặc người bị kết

án đang chấp hành hình phạt vô thời hạn Đồng thời người được chuyển giaophải có một thời gian nhất định đã chấp hành hình phạt trên lãnh thổ của nướcchuyển giao theo quy định của pháp luật nước chuyển giao Tuy nhiên, cácquốc gia khi đàm phán, ký kết hiệp định song phương về chuyển giao người

bị kết án có thể đồng ý thỏa thuận về thời gian còn lại mà người bị kết án phảichấp hành hình phạt ít hơn thời gian 01 năm

Thứ năm, nước chuyển giao và nước nhận chuyển giao đều đồng ý về

việc chuyển giao và việc chuyển giao phải có sự đồng ý của người bị kết án;trong trường hợp cần thiết, nếu xét tình trạng sức khỏe thể chất hoặc tâm thầncủa người bị kết án thì phải có sự đồng ý của người đại diện hợp pháp củangười bị kết án.17

1.4 Quy định của một số quốc gia về hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng, chống tội phạm buôn bán người

1.4.1 Tình hình pháp luật về hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng, chống tội phạm trên phạm vi toàn cầu

Hiện nay trên thế giới có rất nhiều các điều ước quốc tế điều chỉnhnhững vấn đề liên quan đến hợp tác quốc tế trong các vấn đề hình sự, phòngchống tội phạm, quy định nhiều loại hành vi và có yêu cầu quốc gia thànhviên áp dụng các biện pháp lập pháp (nội luật hóa để coi các hành vi này là tộiphạm theo pháp luật trong nước); hành pháp (áp dụng các biện pháp tổ chức,hành chính, nhân sự, tài chính… để phòng, chống); tư pháp (điều tra, truy tố,xét xử, thi hành án) để tăng cường hợp tác quốc tế trong các vấn đề về phòngchống tội phạm Thông thường, có các hình thức hợp tác quốc tế trong cácvấn đề về phòng chống tội phạm như: Công nhận hành vi là tội phạm có tínhquốc tế, tội phạm xuyên quốc gia; công nhận tính chất tội phạm của những

17 Nguyễn Thị Thuận (2007), Luật Hình sự Quốc tế (Sách chuyên khảo), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội,

Trang 29

hành vi nhất định từ đó thiết lập thẩm quyền tài phán hoặc áp dụng biện phápcấm, điều tra, ngăn chặn; hình sự hóa hành vi phạm tội; quy định quyền vànghĩa vụ các cơ quan có thẩm quyền trong truy tố, truy cứu trách nhiệm hìnhsự; tương trợ tư pháp, dẫn độ, chuyển giao người bị kết án…18,19

Tội phạm xuyên quốc gia chỉ có thể được giải quyết hiệu quả thông quahợp tác giữa các quốc gia Trong khi nhiều cơ chế hợp tác chính thức vàkhông chính thức đang cùng tồn tại, hợp tác quốc tế về vấn đề phòng chốngtội phạm thường yêu cầu sự đồng ý của các quốc gia và điều đó thông quaquan hệ chính thức ghi nhận bằng hiệp định Việc ký kết hiệp định, điều ướcsong phương hoặc đa phương tạo cơ sở pháp lý rõ ràng cho việc hợp tác dướihình thức pháp lý thông qua trợ giúp quốc tế Không phải tất cả các quốc giađều yêu cầu hợp tác quốc tế phải dựa trên cơ sở hiệp định, nhiều quốc gia cóthể hợp tác trên cơ sở có đi có lại hoặc vì mục đích thân thiện Vào năm 2008,trên cơ sở thống kê của Liên Hợp Quốc, gần 80% các quốc gia thành viên chorằng có thể cho phép dẫn độ trên nguyên tắc có đi có lại hoặc hợp tác thânthiện; 85% nêu rõ hợp tác trong tương trợ tư pháp có thể được thực hiệnthông qua nguyên tắc này Năm 2013, thống kê của Liên Hợp Quốc cũng chokết quả khảo sát tương tự, với hơn 80% các quốc gia cho rằng có thể dẫn độthông qua nguyên tắc có đi có lại, và gần như tất cả các quốc gia đều chophép tương trợ tư pháp trên nguyên tắc này20 Tuy vậy, không như nguyên tắc

có đi có lại hoặc pháp luật trong nước, các quy định của hiệp định songphương hoặc đa phương về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực phòng, chống tộiphạm là nguồn cơ bản và quan trọng của pháp luật quốc tế hiện đại, quy địnhquyền và nghĩa vụ của quốc gia trong lĩnh vực này Đồng thời, quy định điềukiện, trình tự, thủ tục hoặc cơ sở để từ chối hợp tác đều được quy định trong

18 M Cherif Bassiouni 1992 “Policy considerations on inter-state cooperation in criminal matters”, Pace

International Law Review, Volume 4, Issue 1, Article 5, pp.139.

19

Phạm Văn Công (2019), Pháp luật về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực Tố tụng Hình sự ở Việt Nam hiện nay,

Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Luận án Tiến sĩ, Hà Nội, trang 54, 55.

20 The United Nations Office on Drugs and Crime 2012 Manual on Mutual Legal Assistance and Extradition, New York, USA.

Trang 30

các hiệp định Các quy định trong các hiệp định này là những cơ sở pháp lý đểbảo đảm cho sự thành công và qua đó, tính hiệu quả của một văn bản yêu cầuhợp tác; kể cả trong trường hợp một quốc gia có thể cho phép hợp tác khôngcăn cứ vào một điều ước Tuy nhiên, vẫn cần thấy rằng, các điều kiện, quyđịnh cụ thể trong các điều ước song phương hoặc đa phương làm cầu nối giữatruyền thống và văn hóa pháp luật khác biệt trên thế giới, cũng như sự đadạng về pháp luật tố tụng Cùng với đó, quyền và nghĩa vụ trong các điều ướcquốc tế song phương hoặc đa phương xác định những khuôn khổ rõ ràng điềuchỉnh các hành vi mà một quốc gia nhận được bản yêu cầu cần phải đáp ứng.Thời gian gần đây, các quốc gia đã chia sẻ nhiều thông tin hơn, số lượng cácđiều ước quốc tế song phương và đa phương quy định về dẫn độ và tương trợ

tư pháp ngày càng tăng21

Trên cơ sở các thông tin của các quốc gia thành viên Liên Hợp Quốc,khoảng 90% các quốc gia thành viên đã ký ít nhất một điều ước quốc tế songphương về dẫn độ Trong khi điều ước dẫn độ là thông dụng nhưng khôngphải quốc gia nào cũng có một số lượng lớn các điều ước dẫn độ songphương Trung bình có 04 điều ước quốc tế song phương về dẫn độ trên mộtquốc gia, trong đó có 88% số quốc gia có ít hơn 10 điều ước song phương vềdẫn độ Không quá 50 quốc gia trên thế giới ký kết với 10 quốc gia trở lênhiệp định song phương về dẫn độ Chỉ có khoảng 20 quốc gia có hơn 20 hiệpđịnh dẫn độ song phương Đây là các quốc gia ở châu Âu, châu Mỹ, bốn quốcgia ở châu Á và hai quốc gia ở châu Đại Dương Có rất ít quốc gia có hơn 50hiệp định song phương về dẫn độ; trong khi chỉ có một quốc gia trên thế giới

có hơn 140 hiệp định dẫn độ song phương đó là Hoa Kỳ22 Số liệu về các hiệpđịnh song phương về tương trợ tư pháp không khác nhiều; trên phạm vi toàncầu, có ít nhất 80% số quốc gia có điều ước song phương về tương trợ tư pháp

21

Phạm Văn Công (2019), Pháp luật về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực Tố tụng Hình sự ở Việt Nam hiện nay,

Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Luận án Tiến sĩ, Hà Nội, trang 56.

22 The United Nations Office on Drugs and Crime 2012 Manual on Mutual Legal Assistance and

Trang 31

trong khi 90% có điều ước song phương về dẫn độ Tuy vậy, tổng số điều ướcsong phương về tương trợ tư pháp lớn hơn điều ước song phương về dẫn độ:Trung bình 05 hiệp định song phương trên một quốc gia; 56% số quốc gia kýkết dưới 10 hiệp định song phương; 65% số quốc gia ký kết 10 hiệp định songphương hoặc nhiều hơn; có 35 quốc gia có nhiều hơn 20 hiệp định songphương về tương trợ tư pháp Các quốc gia cũng cần đánh giá số lượng cácđiều ước song phương về dẫn độ và tương trợ tư pháp vì các vấn đề có mốiquan hệ chặt chẽ với nhau Thống kê của Liên Hợp Quốc năm 2014, các quốcgia châu Âu và châu Á có tổng số hiệp định dẫn độ và tương trợ tư pháp songphương lớn hơn tổng số hiệp định song phương của châu Mỹ và châu ĐạiDương Tuy vậy, tỷ lệ số hiệp định song phương được ký kết ở trong khu vực

và ngoài khu vực là không đồng đều Trên phạm vi toàn cầu, tỷ lệ này làkhoảng 50%, nhưng ở châu Phi là gần 80%, châu Mỹ là 62%, châu Á 60%,châu Âu gần 70% Điều này cho thấy mối quan hệ giữa các quốc gia liên khuvực và trong khu vực thể hiện qua tỷ lệ số lượng các hiệp định song phươngđược ký kết; cùng với đó, các quốc gia cũng có thể xem xét việc ký kết hoặcgia nhập các điều ước khu vực về lĩnh vực này để tăng tính hiệu quả hoặc tối

ưu hóa các khu vực có quan hệ hợp tác về đấu tranh phòng, chống tội phạm.Trong 10 năm qua, có 12 điều ước quốc tế khu vực liên quan đến tư pháp hình

sự được ký kết23,24

Văn phòng của Liên Hợp Quốc về phòng chống ma túy và tội phạm(gọi tắt là UNTOC) quy định nhiều cơ chế, hình thức hợp tác quốc tế trong tốtụng hình sự; trong đó, dành một điều quy định về dẫn độ, tương trợ tư pháp.Bên cạnh đó, quy định khuyến nghị các quốc gia ký kết và nâng cao hiệu quảhợp tác quốc tế trong việc tịch thu tài sản có được do phạm tội mà có (Điều

13, khoản 9); hợp tác tương trợ tư pháp; thành lập cơ quan điều tra phối hợp,

23 The United Nations Office on Drugs and Crime 2012 Manual on Mutual Legal Assistance and Extradition, New York, USA.

24

Phạm Văn Công (2019), Pháp luật về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực Tố tụng Hình sự ở Việt Nam hiện nay,

Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Luận án Tiến sĩ, Hà Nội, trang 56, 57.

Trang 32

điều tra chung (Điều 19); sử dụng biện pháp điều tra đặc biệt (Điều 20, khoản2); xác định nhân chứng (Điều 24, khoản 3); sự hợp tác của người bị buộc tộivới cơ quan thực thi pháp luật (Điều 26, khoản 5); hợp tác giữa các cơ quanthực thi pháp luật (Điều 27, khoản 2) Tính đến nay, đã có 31 quốc gia thànhviên UNTOC thông báo với Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc về việc sử dụngUNTOC như cơ sở pháp lý trực tiếp để hợp tác quốc tế về dẫn độ Để thựchiện hợp tác giữa các quốc gia, cơ quan trung ương được chỉ định làm đầumối liên hệ và điều tiết mối quan hệ phối hợp của một quốc gia trong thực thiquy định của các điều ước quốc tế Tùy từng hệ thống pháp luật trong nướcquy định về chức năng, nhiệm vụ mà quốc gia giao, Cơ quan trung ương cótrách nhiệm tiếp nhận, kiểm tra tính hợp lệ, thực hiện yêu cầu hợp tác quốc tếhoặc chuyển yêu cầu cho cơ quan có thẩm quyền thực hiện các yêu cầu phốihợp hoạt động hợp tác quốc tế theo quy định của điều ước quốc tế, pháp luậttrong nước25,26.

1.4.2 Khái quát pháp luật của một số quốc gia về hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng chống tội phạm

1.4.2.1 Hợp chủng quốc Hoa Kỳ (Hoa Kỳ)

Thứ nhất, về pháp luật tương trợ tư pháp

Điều 1782, Chương 28 và Điều 3512, Chương 18 Bộ Tổng tập LuậtHoa Kỳ quy định Cơ quan trung ương của nước ngoài có thể yêu cầu tươngtrợ tư pháp để thu thập chứng cứ trong điều tra hình sự, truy tố và các thủ tục

tố tụng hình sự khác đối với các loại tội phạm, trong đó bao gồm cả tội phạmmua bán người Các yêu cầu có thể được lập theo quy định của điều ước quốc

tế song phương, đa phương hoặc không có điều ước quốc tế (theo nguyên tắc

có đi có lại)

25 Prof Dr John A.E Vervaele 2016 “International coopeartion in the investigation and prosecution of

environmental crime: problems and challenges for the legislative and judicial authorities”, Law Review.

Vol.VI, Issue 2, July-December 2016, pp.130.

26 Phạm Văn Công (2019), Pháp luật về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực Tố tụng Hình sự ở Việt Nam hiện nay,

Trang 33

Với yêu cầu lập theo quy định của một điều ước quốc tế sẽ được tiếpnhận, xem xét và xử lý theo quy định của điều ước quốc tế và pháp luật trongnước, cụ thể là tại Điều 1782, Chương 28 và Điều 3512, Chương 18 Bộ tổngtập Luật Hoa Kỳ Sau đó, ủy thác tư pháp về hình sự được chuyển đến mộttrong 94 cơ quan thuộc Tổng Công tố Hoa Kỳ để xem xét việc thực thi.Thông thường Tòa án cấp quận có thẩm quyền tiến hành các hoạt động cụ thể,sau khi có kết quả tương trợ, Văn phòng các vấn đề quốc tế, Cục Hình sự, Bộ

Tư pháp sẽ gửi kết quả này cho cơ quan có thẩm quyền quốc gia yêu cầu27

Với yêu cầu theo nguyên tắc có đi có lại, ủy thác tư pháp gửi qua Vănphòng các vấn đề quốc tế, Cục Hình sự, Bộ Tư pháp để xem xét, chuyển cho

Cơ quan Công tố và Tòa án cấp quận có thẩm quyền giải quyết theo quy địnhcủa pháp luật trong nước như nêu trên

Thứ hai, pháp luật về dẫn độ tội phạm

Hiện nay, Hoa Kỳ đã ký kết hiệp định song phương về dẫn độ với hơn

140 quốc gia trên thế giới và nhiều điều ước quốc tế đa phương; Hoa Kỳthường dẫn độ trên cơ sở hiệp định song phương Các điều ước đa phươngnày có hai loại, một là điều ước đa phương chuyên biệt liên quan đến dẫn độ;hai là một số điều ước đa phương nói chung nhằm mục đích ngăn chặn vàtrừng phạt hoạt động của tội phạm xuyên quốc gia hoặc vi phạm nghiêm trọngquyền con người, bao gồm cả việc áp đặt nghĩa vụ của các bên ký kết phảitruy tố và dẫn độ những người tham gia vào các hành vi được xác định Mặc

dù, các điều ước này không phải là các điều ước quốc tế về dẫn độ, tuy nhiênchúng thường chứa đựng những quy định về các hành vi được xác định làhành vi có thể bị dẫn độ trong các điều ước quốc tế28

Bên cạnh đó, pháp luật Hoa Kỳ cho phép dẫn độ bất kỳ người nướcngoài nào được phát hiện trên lãnh thổ của mình mà người này đã bị yêu cầu

27 Phạm Văn Công (2019), Pháp luật về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực Tố tụng Hình sự ở Việt Nam hiện nay,

Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Luận án Tiến sĩ, Hà Nội, trang 59.

28 Phạm Văn Công (2019), Pháp luật về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực Tố tụng Hình sự ở Việt Nam hiện nay,

Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Luận án Tiến sĩ, Hà Nội, trang 60.

Trang 34

dẫn độ hoặc bị truy cứu trach nhiệm hình sự bởi một Tòa án hình sự quốc tế.

Cơ quan trung ương về dẫn độ là Văn phòng các vấn đề quốc tế, Cục Hình sự,

Bộ Tư pháp Hoa Kỳ29

1.4.2.2 Cộng hòa Liên bang Đức

Về pháp luật: Luật về hợp tác quốc tế trong các vấn đề về hình sự của

Liên bang Đức ngày 23 tháng 12 năm 1982 (sửa đổi, bổ sung năm 2012)30gồm 11 phần, 99 điều quy định về quan hệ với nước ngoài về hợp tác tronglĩnh vực hình sự, gồm các vấn đề liên quan đến trình tự, thủ tục tố tụng đốivới một tội phạm thông thường (không coi là tội phạm chính trị, quân sự hoặcmột số loại bị coi là tội phạm đặc biệt khác) có thể bị áp dụng hình phạt bởiTòa án hình sự đối với hành vi tương tự ở Liên bang Đức (nguyên tắc tộiphạm kép) Điều ước quốc tế mà Liên bang Đức là thành viên được ưu tiên ápdụng, không được trái với pháp luật Liên bang Việc hợp tác được quy địnhtrong luật này đối với các quốc gia trong và ngoài Liên minh châu Âu (gọi tắt

là EU)31 Về phạm vi hợp tác quốc tế trong lĩnh vực hình sự, tố tụng hình sự,Luật này quy định:

Một là, dẫn độ (Liên bang Đức gửi yêu cầu hoặc nhận yêu cầu) được

quy định từ Điều 2 đến Điều 47, yêu cầu dẫn độ bổ sung, nguyên tắc có đi cólại, tội phạm chính trị, truy bức chính trị, tội phạm quân sự, hình phạt tử hình,tội phạm bị nhiều quốc gia yêu cầu, thủ tục dẫn độ với Tòa hình sự quốc tế,tài liệu, hồ sơ dẫn độ, nguyên tắc đặc biệt, thẩm quyền xem xét giải quyếtviệc dẫn độ do Tòa hình sự cấp quận nơi người bị yêu cầu dẫn độ có mặt hoặc

là nơi cư trú cuối cùng tại Liên bang Đức, việc áp dụng biện pháp cưỡng chế,giam, giữ, khám xét để giải quyết yêu cầu dẫn độ, bắt khẩn cấp trước khi cóyêu cầu dẫn độ chính thức, bắt, tạm giam để dẫn độ, thủ tục thông báo, lập

29 The Uited Nations Office on Drugs and Crime 2012 Manual on Mutual Legal Assistance and Extradition, New York, USA.

30 German Federal Law Gazette I 2012 Act on International Cooperation in Criminal Matters of 23 December 1982 , as last amended by Article 1 of the Act of 21 July 2012, Bundesgesetzblatt I 2012, 15661 page 2071.

31 Phạm Văn Công (2019), Pháp luật về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực Tố tụng Hình sự ở Việt Nam hiện nay,

Trang 35

lệnh bắt để giải quyết yêu cầu dẫn độ, khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếunại, tố cáo, kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm, dẫn độ tạm thời, dẫn độ đơngiản, dẫn độ đến nước thứ ba, chuyển giao đồ vật, tài liệu Luật cũng quy địnhnhiệm vụ và trách nhiệm của luật sư bào chữa (Điều 40).

Hai là, hỗ trợ thông qua việc thi hành phán quyết (lệnh, quyết định) của

tòa nước ngoài được quy định từ Điều 48 đến Điều 58

Ba là, những hợp tác trong hoạt động khác (gồm tương trợ tư pháp),

trong đó quy định hỗ trợ tư pháp có thể được tiến hành với bất kỳ hoạt độngnào của tố tụng hình sự ở nước ngoài được cơ quan hành pháp, tư pháp cóthẩm quyền của nước ngoài yêu cầu Về chuyển giao thông tin cá nhân liênquan vụ án hình sự, đội điều tra chung theo điều ước quốc tế, thỏa thuận hoặcnguyên tắc có đi có lại với từng vụ việc, bố trí người làm chứng, chuyên giagiám định hoặc hỗ trợ điều tra, chuyển giao vật chứng, tài liệu, đồ vật, khámxét Luật có quy định Điều 67a về tương trợ tư pháp với các tòa hình sự quốc

tế, tổ chức liên nhà nước và siêu nhà nước (như EU)32

Phần VII luật quy định các nguyên tắc chung, theo đó, các giới hạntương trợ về trật tự công cộng, về hồ sơ và chứng cứ, giao tiếp điện tử để tạothuận lợi cho việc hợp tác, phối hợp, giúp đỡ nước khác33 trong quá trìnhphòng chống tội phạm trong giai đoạn hiện nay, kể cả tội phạm buôn bánngười

1.4.2.3 Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (Trung Quốc)

Về pháp luật, hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tố tụng hình sự nói chung

và phòng chống tội phạm nói riêng ở Trung Quốc (bao gồm tội phạm buônbán người) được quy định tại Bộ luật Tố tụng Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm

32 Phạm Văn Công (2019), Pháp luật về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực Tố tụng Hình sự ở Việt Nam hiện nay,

Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Luận án Tiến sĩ, Hà Nội, trang 61.

33 German Federal Law Gazette I 2012 Act on International Cooperation in Criminal Matters of 23 December 1982 , as last amended by Article 1 of the Act of 21 July 2012, Bundesgesetzblatt I 2012, 15661 page 2071.

Trang 36

2012), Luật dẫn độ và các văn bản pháp luật khác quy định về chuyển giaongười bị kết án34.

Bộ luật Tố tụng Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2012) quy định Điều

365 phạm vi tương trợ tư pháp hình sự và hợp tác Cảnh sát giữa cơ quanCông an chủ yếu là trao đổi và hợp tác trao đổi thông tin tội phạm, điều tra,thu thập chứng cứ, tống đạt tài liệu, hồ sơ tố tụng hình sự, chuyển vật chứng,tài liệu, chứng cứ, dữ liệu điện tử, nghe nhìn và các loại chứng cứ khác, thamgia hoạt động dẫn độ, bắt giữ và trục xuất đối tượng hình sự, bị cáo, ngườiphạm tội hoặc hình thức hợp tác khác được quy định trong các thỏa thuận,điều ước quốc tế mà Trung Quốc là thành viên Theo thống kê của Bộ Ngoạigiao Trung Quốc, đến tháng 12 năm 2013, Trung Quốc đã ký với 37 hiệp địnhsong phương về dẫn độ, là thành viên của 14 điều ước quốc tế đa phương vềdẫn độ; ký 11 hiệp định song phương về chuyển giao người bị kết án phạt tù;

ký 50 hiệp định song phương tương trợ tư pháp (trong đó, có 16 hiệp địnhsong phương tương trợ tư pháp về các lĩnh vực dân sự, hình sự, là thành viêncủa hơn 20 điều ước quốc tế đa phương có quy định về tương trợ tư pháp).Pháp luật Trung Quốc cho phép tiến hành tương trợ tư pháp hình sự, dẫn độ,chuyển giao người bị kết án phạt tù với các quốc gia không cùng là thành viênđiều ước quốc tế về nội dung này trên cơ sở nguyên tắc có đi có lại Ngoài ra,Trung Quốc cũng ký hơn 110 bản ghi nhớ, thỏa thuận quốc tế với Viện Công

tố các quốc gia và 92 bản ghi nhớ, thỏa thuận quốc tế với Bộ Tư pháp của cácnước; gần 190 bản ghi nhớ, thỏa thuận quốc tế với cơ quan Công an, Cảnh sátcác nước, lập và vận hành 65 đường dây nóng với các cơ quan nội vụ, cảnhsát các nước, tham gia 81 cơ chế đối ngoại quốc tế; cử 40 sỹ quan liên lạc tới

23 nước và tổ chức quốc tế35

34 Phạm Văn Công (2019), Pháp luật về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực Tố tụng Hình sự ở Việt Nam hiện nay,

Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Luận án Tiến sĩ, Hà Nội, trang 61.

35 Phạm Văn Công (2019), Pháp luật về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực Tố tụng Hình sự ở Việt Nam hiện nay,

Trang 37

Điều 366 Bộ luật Tố tụng Hình sự quy định, không trái với các điềuước quốc tế, thỏa thuận quốc tế và pháp luật liên quan của Trung Quốc, cơquan công an cấp thành phố, châu, xã ở vùng biên giới có thể, phù hợp vớitình hình thực tiễn, tiến hành gặp gỡ với cơ quan thực thi pháp luật, trao đổinhân sự, phối hợp kiểm soát biên giới, trao đổi thông tin và triển khai các hìnhthức hợp tác Cảnh sát khác nhưng phải được phê duyệt bởi cơ quan công ancấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và báo cáo bằng văn bản cho BộCông an.

Điều 679 Bộ luật Tố tụng Hình sự quy định vai trò Viện kiểm sát trong

tố tụng hình sự (giai đoạn xét xử), xác định phạm vi tương trợ tư pháp hình sựcủa Viện kiểm sát chủ yếu gồm điều tra các vụ án hình sự, tống đạt tài liệu tốtụng hình sự, thông báo kết quả tố tụng hình sự, chuyển giao vật chứng, tàiliệu chứng cứ, dữ liệu điện tử nghe nhìn, kê biên và chuyển tài sản bị trộmcắp và các hình thức tương trợ tư pháp khác phù hợp với pháp luật và điềuước quốc tế Điều 690 quy định, trường hợp Viện kiểm sát nhân dân ở khuvực biên giới Trung Quốc và cơ quan tư pháp tương ứng của quốc gia lánggiềng hợp tác tương trợ tư pháp, các cơ quan này có thể ký kết thỏa thuận vềcác vấn đề cụ thể trong quá trình xử lý vụ án, triển khai các hoạt động hợp táchữu nghị36

Cơ quan trung ương tương trợ tư pháp hình sự là Viện kiểm sát nhândân tối cao; Bộ Ngoại giao là cơ quan trung ương về dẫn độ

1.4.2.4 Liên hiệp Vương quốc Anh, Scotland, xứ Wales và Bắc Ireland (Vương quốc Anh)

Vương quốc Anh ban hành Luật về tội phạm (hợp tác quốc tế) năm

200337 Luật này là luật chuyên ngành quy định về hợp tác với các quốc giakhác trong các thủ tục tố tụng hình sự và điều tra hình sự, mở rộng thẩm

36 Phạm Văn Công (2019), Pháp luật về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực Tố tụng Hình sự ở Việt Nam hiện nay,

Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Luận án Tiến sĩ, Hà Nội, trang 62.

37 The United Kingdom 2003 Crime (Interntaional Co-operation) Act 2003 (as amended) and mutual legal assistance guidelines, 5th Edition, UK.

Trang 38

quyền tài phán nhằm xử lý các hành vi khủng bố hoặc các mối đe dọa bênngoài lãnh thổ Vương quốc Anh và các mục đích khác có liên quan, trong đóbao gồm cả mục đích hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng chống tội phạmbuôn bán người Luật quy định về nội dung, hình thức, thẩm quyền tiến hànhcác thủ tục chuyển giao, giao nhận, xử lý, giải quyết các yêu cầu tương trợ tưpháp hình sự, các hoạt động ủy thác tư pháp trong điều tra vụ án hình sự, cácloại thông tin, tài liệu, thủ tục xác nhận chứng cứ, bố trí người có chuyên mônđược phép tiến hành hỗ trợ điều tra vụ án hình sự có liên quan đến Vươngquốc Anh.

Cơ quan trung ương gồm Bộ Nội vụ, Hải quan, Cơ quan phòng chốngtội phạm nghiêm trọng, và các cơ quan khác trong từng phần lãnh thổ Vươngquốc Anh, Scotland, Bắc Ireland, lãnh thổ hải ngoại trong đó, Bộ Nội vụ nhận

và gửi số lượng lớn yêu cầu tương trợ tư pháp hình sự

Hoạt động tương trợ tư pháp hình sự gồm: Tống đạt giấy tờ, tài liệu tốtụng, chuyển giao hồ sơ truy cứu trách nhiệm hình sự, trao đổi thông tin hồ sơ

vụ án, thu thập chứng cứ, lấy lời khai (hỏi cung), lấy lời khai nhân chứng, lấylời khai qua kênh truyền hình, điện thoại trực tuyến, khám xét và phong tỏa,thu giữ máy tính và vật mang dữ liệu, dữ liệu điện tử, ghi âm, ghi hình, nghe -ghi âm điện thoại, phong tỏa tài sản, phương tiện phạm tội, sung công, tịchthu tài sản, phương tiện phạm tội, bố trí người có mặt ở nước ngoài để lấy lờikhai hoặc hỗ trợ điều tra, chuyển giao vụ án hình sự để truy cứu trách nhiệmhình sự, phối hợp điều tra, lập đội điều tra chung

Năm 2017, Cơ quan trung ương nhận 6.757 yêu cầu tương trợ tư pháphình sự (355 yêu cầu thông qua Lệnh Điều tra châu Âu) và 1.967 yêu cầuphối hợp hoạt động tố tụng như tống đạt tài liệu, thu thập chứng cứ38

Theo thống kê của Bộ Nội vụ Vương quốc Anh, đến năm 2018, Vươngquốc Anh là thành viên của 03 điều ước quốc tế về phòng, chống tội phạm ma

38 Phạm Văn Công (2019), Pháp luật về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực Tố tụng Hình sự ở Việt Nam hiện nay,

Trang 39

túy, tham nhũng và tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia (bao gồm cả tội phạmbuôn bán người), tham gia Quy chế năm 2011 về tương trợ tư pháp hình sự vàQuy chế năm 2002 về dẫn độ trong EU; 07 điều ước quốc tế về phòng, chốngtội phạm rửa tiền, khủng bố, tội phạm mạng, buôn bán người, các công ước vềtương trợ tư pháp hình sự, dẫn độ và các nghị định thư bổ sung các điều ướcquốc tế này; 40 hiệp định song phương về tương trợ tư pháp hình sự (trong

đó, ký với Việt Nam năm 2009, có hiệu lực từ năm 2010); 28 hiệp định songphương về dẫn độ Ngoài ra, nguyên tắc có đi có lại cũng được áp dụng nếuVương quốc Anh và các quốc gia khác không cùng là thành viên điều ướcquốc tế liên quan39

Pháp luật về dẫn độ: Vương quốc Anh ban hành Luật về dẫn độ năm

2003, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2004 Phần 1 của Luật này quyđịnh về thực thi quyết định của Hội đồng châu Âu về lệnh bắt giữ châu Âugiữa các quốc gia thành viên Trong đó, dẫn độ theo quy định này được thựchiện theo lệnh của thẩm phán theo thủ tục tố tụng hình sự Phần 2 của Luậtquy định về dẫn độ giữa Vương quốc Anh với các quốc gia ngoài châu Âu

Bộ trưởng Ngoại giao Vương quốc Anh sẽ ra quyết định về việc chấp nhậndẫn độ hay không sau khi nhận được quyết định xem xét, giải quyết của thẩmphán có thẩm quyền Luật quy định về kháng nghị lên cấp phúc thẩm, tòa áncấp trên trực tiếp sẽ thụ lý và giải quyết kháng nghị phúc thẩm việc quyếtđịnh cho phép dẫn độ

1.5 Ý nghĩa của hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng, chống tội phạm buôn bán người

Thứ nhất, xây dựng mối quan hệ hợp tác hữu nghị giữa các quốc gia

góp phần giải quyết những vấn đề bức xúc mang tính toàn cầu trong côngcuộc đấu tranh phòng chống tội phạm buôn bán người Xuất phát từ tình hìnhhoạt động của tội phạm buôn bán người diễn biến hết sức phức tạp với mức

39 Phạm Văn Công (2019), Pháp luật về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực Tố tụng Hình sự ở Việt Nam hiện nay,

Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Luận án Tiến sĩ, Hà Nội, trang 64.

Trang 40

độ và tính chất ngày càng nguy hiểm, vượt khỏi phạm vi lãnh thổ của mộtquốc gia; tội phạm buôn bán người đã hình thành các băng nhóm hoạt độngvới sự cấu kết chặt chẽ giữa các tổ chức tội phạm ở các quốc gia khác nhau.Mặc dù các quốc gia đã thực hiện nhiều biện pháp thiết thực nhưng tình hìnhtội phạm vẫn có chiều hướng gia tăng Bên cạnh đó, với quy mô tội phạmngày càng mở rộng thì việc tổ chức điều tra, xử lý loại tội phạm này cũng làvấn đề khó khăn đối với lực lượng thực thi pháp luật của các nước bởi tínhđặc thù của tội phạm buôn bán người; các nước có quy định pháp luật khácnhau về đấu tranh phòng, chống tội phạm và thiếu vắng sự hợp tác hiệu quảgiữa các nước liên quan Trước tình hình đó, xu hướng tất yếu đặt ra là phải

có sự hợp tác giữa các quốc gia trong đấu tranh phòng, chống tội phạm buônbán người; thông qua việc hợp tác, các quốc gia cùng nhau giải quyết nhữngvấn đề khó khăn chung trong quá trình đấu tranh đẩy lùi tội phạm từ đóhướng đến việc loại bỏ tội phạm buôn bán người tại đất nước của mình GiúpNhà nước tăng cường khả năng của quốc gia thực thi pháp luật trong nướcnhằm ngăn ngừa và chống tội phạm buôn bán người

Thứ hai, hợp tác quốc tế góp phần giúp đỡ, tạo điều kiện cho các quốc

gia thực hiện tốt hơn trong công tác phòng, chống tội phạm buôn bán người.Thông qua các kênh hợp tác quốc tế như: INTERPOL40, ASEANAPOL41,EUROPOL42,… và hợp tác song phương khác, các quốc gia thành viên đãtranh thủ được sự giúp đỡ về kinh nghiệm, huấn luyện, đào tạo, trang thiết bị

kỹ thuật cho lực lượng cảnh sát, tăng cường tổ chức các khóa huấn luyệnnâng cao năng lực về kỹ thuật, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, tổ chức cácbuổi hội thảo, hội nghị chuyên đề trong nước và ở nước ngoài, trao đổi với

40 INTERPOL là tên gọi thường dùng của Tổ chức Cảnh sát Hình sự Quốc tế (tiếng Anh: International Criminal Police Organization), một tổ chức liên chính phủ được thành lập ngày 07 tháng 09 năm 1923 tại Vienna, Áo với mục đích củng cố hoạt động chung của các Cơ quan Cảnh sát quốc gia.

41 ASEANAPOL là tên thường dùng của Hiệp hội Cảnh sát các nước ASEAN (tiếng Anh: Association of Southeast Asian Chiefs of National Police - ASEANAPOL), kênh đầu mối thúc đẩy quan hệ hợp tác đấu tranh chống tội phạm xuyên quốc gia giữa các thành viên ASEAN.

42 EUROPOL là tên thường dùng của cục Cảnh sát châu Âu hay còn gọi là Cơ quan Cảnh sát Liên minh châu

Âu có trụ sở tại Hague (Hà Lan); là cơ quan hợp tác đấu tranh chống tội phạm xuyên quốc gia giữa các nước

Ngày đăng: 19/05/2021, 13:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Mai Bộ, Sửa đổi bổ sung tội mua bán người và tội mua bán trẻ em theo hướng nội luật hóa Công ước quốc tế về tội mua bán người, Tạp chí Tòa án nhân dân số 6/2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sửa đổi bổ sung tội mua bán người và tội mua bán trẻ em theohướng nội luật hóa Công ước quốc tế về tội mua bán người
3. Bộ Công an (2007), Kỷ yếu: Phòng chống tội phạm xuyên quốc gia trong bối cảnh toàn cầu hóa và Hội nhập kinh tế quốc tế, Nxb Chính trị quốc gia – Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu: Phòng chống tội phạm xuyên quốc giatrong bối cảnh toàn cầu hóa và Hội nhập kinh tế quốc tế
Tác giả: Bộ Công an
Nhà XB: Nxb Chính trị quốcgia – Hà Nội
Năm: 2007
4. PGS.TS. Nguyễn Ngọc Chí (2013), Những vấn đề lý luận, thực tiễn về luât hình sự quốc tế (Tái bản lần thứ nhất, có sửa chữa, bổ sung), Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, Nxb Chính trị quốc gia – sự thật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề lý luận, thực tiễn vềluât hình sự quốc tế (Tái bản lần thứ nhất, có sửa chữa, bổ sung)
Tác giả: PGS.TS. Nguyễn Ngọc Chí
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia – sự thật
Năm: 2013
5. Lê Văn Chương (2010), Buôn bán người ở Việt Nam hiện nay: Thực trạng, nguyên nhân và giải pháp tại Hội thảo “Phòng, chống buôn bán người:Viễn cảnh quốc tế, ASEAN và Việt Nam” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Buôn bán người ở Việt Nam hiện nay: Thựctrạng, nguyên nhân và giải pháp" tại Hội thảo “"Phòng, chống buôn bán người:"Viễn cảnh quốc tế, ASEAN và Việt Nam
Tác giả: Lê Văn Chương
Năm: 2010
7. Chỉ thị số 48-CT/TW ngày 22/10/2010 của Bộ Chính trị về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăngcường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tội phạm trongtình hình mới
8. Chỉ thị số 09-CT/TW, ngày 01 tháng 12 năm 2011 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa XI) về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác xây dựng phong trào bảo vệ an ninh Tổ quốc trong tình hình mới” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối vớicông tác xây dựng phong trào bảo vệ an ninh Tổ quốc trong tình hình mới
9. Công tác phòng, chống mua bán người giai đoạn 2016 – 2020, Bài viết đăng trên trang Cục Quản lý xuất nhập cảnh – Bộ Công an, ngày 23/04/2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác phòng, chống mua bán người giai đoạn 2016 – 2020
14. Phạm Văn Công (2019), Pháp luật về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực Tố tụng Hình sự ở Việt Nam hiện nay, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Luận án Tiến sĩ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về hợp tác quốc tế trong lĩnh vựcTố tụng Hình sự ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Phạm Văn Công
Năm: 2019
15. Vũ Ngọc Dương, Tội buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ, trẻ em theo Công ước Actip và thực tiễn thực hiện tại Việt Nam, Bài viết đăng trên trang Luật sư Việt Nam Online – Cơ quan của Liên đoàn Luật sư Việt Nam, ngày 11/02/2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tội buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ, trẻ em theoCông ước Actip và thực tiễn thực hiện tại Việt Nam
16. Nguyễn Hoàng Đoàn, Mạng thông tin toàn cầu I-24/7 chống tội phạm xuyên quốc gia, Bài đăng trên Tạp chí điện tử Công an nhân dân, ngày 12/10/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mạng thông tin toàn cầu I-24/7 chống tội phạmxuyên quốc gia
17. Trần Đức, Hợp tác quốc tế trong phòng, chống tội phạm mua bán người xuyên quốc gia, Tạp chí Biên Phòng năm 2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hợp tác quốc tế trong phòng, chống tội phạm mua bánngười xuyên quốc gia
18. Đặng Thái Giáp, Vấn đề tội phạm xét xử từ lý luận về ý thức xã hội , Tạp chí Triết học, ngày 09/05/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề tội phạm xét xử từ lý luận về ý thức xã hội
19. Lê Thái Hà, Chấm dứt buôn bán người: Dự án Liên minh các tổ chức Liên hợp quốc về phòng chống buôn bán người Việt Nam – UNIAP, Bài viết đăng trên trang Conversations on Vietnam Development (CVD), ngày 08/8/2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chấm dứt buôn bán người: Dự án Liên minh các tổ chứcLiên hợp quốc về phòng chống buôn bán người Việt Nam – UNIAP
20. Nguyễn Khắc Hải (2013), Hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng, chống mua bán người tại Việt Nam hiện nay, Tạp chí Khoa học Đại học Quốc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng,chống mua bán người tại Việt Nam hiện nay
Tác giả: Nguyễn Khắc Hải
Năm: 2013
22. Nguyễn Công Hồng, Tổng quan về hệ thống pháp luật liên quan đến phòng, chống buôn bán người và một số kiến nghị hoàn thiện, Tạp chí Pháp luật và Phát triển, năm 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan về hệ thống pháp luật liên quan đếnphòng, chống buôn bán người và một số kiến nghị hoàn thiện
23. Hoàng Khắc Nam (2006), Bài giảng Nhập môn Quan hệ quốc tế, Trường Đại học Khoa học, xã hội và nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng Nhập môn Quan hệ quốc tế
Tác giả: Hoàng Khắc Nam
Năm: 2006
24. Phương Nam, Tăng cường hợp tác quốc tế trong phòng chống mua bán người, Bài viết đăng trên Báo Công lý, Cơ quan của Tòa án nhân dân tối cao, ngày 30/11/2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường hợp tác quốc tế trong phòng chống muabán người
25. Nguyễn Thị Nga (2018), Tội mua bán người theo pháp luật Hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Lào Cai, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tội mua bán người theo pháp luật Hình sựViệt Nam từ thực tiễn tỉnh Lào Cai
Tác giả: Nguyễn Thị Nga
Năm: 2018
26. Nguyễn Hữu Ngọc (2008), Hợp tác quốc tế của Việt Nam trong đấu tranh phòng chống tội phạm xuyên quốc gia, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hợp tác quốc tế của Việt Nam trong đấutranh phòng chống tội phạm xuyên quốc gia
Tác giả: Nguyễn Hữu Ngọc
Năm: 2008
35. Những cuộc truy lùng tội phạm của INTERPOL Việt Nam, Bài viết đăng trên Tạp chí An ninh thế giới, ngày 01/02/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những cuộc truy lùng tội phạm của INTERPOL Việt Nam

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w