Ở tất cả các quốc gia, trong đó có Việt Nam, đất nông nghiệp là tài sản quý giá nhất, nguồn lực quyết định để người nông dân tồn tại và phát triển. Tuy nhiên, quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa ở Việt Nam, mà cụ thể là ở khu vực ven đô Hà Nội trong hơn hai thập kỷ vừa qua đã kèm theo quá trình chuyển đổi diện tích rất lớn đất nông nghiệp thành đất phi nông nghiệp để phục vụ các mục tiêu phát triển, làm cho diện tích đất nông nghiệp tính trên đầu người và quy mô ruộng đất ở các làng giảm đi nhanh chóng, đồng nghĩa với vị trí nền tảng của nền nông nghiệp bị mất dần và tỷ trọng của nó ngày càng bị thu hẹp.
Trang 1sự SUY GIẢM SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP ở MỘT LÀNG VEN ĐÕ HÀ NỘI
DƯỚI TÁC ĐỘNG CỦA CỔNG NGHIỆP HÓA- ĐỠ THỊ HÓA• • •
P h an Thi Ngoe'
Tóm tắt: Ở tất cả các quốc gia, trong đó có Việt Nam, đất nông nghiệp là tài sản quý giá nhất, nguồn lực quyết định để người nông dân tồn tại và phát triển Tuy nhiên, quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa ở Việt Nam, mà cụ thể là ở khu vực ven đô Hà Nội trong hơn hai thập kỷ vừa qua đã kèm theo quá trình chuyển đổi diện tích rất lớn đất nông nghiệp thành đất phi nông nghiệp để phục vụ các mục tiêu phát triển, làm cho diện tích đất nông nghiệp tính trên đầu người và quy mô ruộng đất ở các làng giảm đi nhanh chóng, đồng nghĩa với vị trí nền tảng của nền nông nghiệp bị mất dần và tỷ trọng của nó ngày càng bị thu hẹp Câu hỏi đặt ra là, trong điều kiện diện tích đất nông nghiệp còn lại ít ỏi, bị xen ghép với các hoạt động sinh kế khác và hệ thống thủy lợi không còn hoạt động thì người nông dân sẽ duy trì hoạt động canh tác nốn% nghiệp như thế nào, sự biến đổi của
"nghề nông" ở các vùng ra sao và đối tượng duy trì làm nghề nông là những ai? Một số vấn đề sẽ được luận giải qua trường hợp nghiên cứu một làng ven đô cụ thể của Hà Nội.
Từ khóa: Vùng ven đô, thu hồi đất, nông nghiệp ven đô, sinh kế.
1 MỞ ĐẨU
Ở m ột quốc gia n ô n g n g h iệp n h ư Việt N am , đ ất n ô n g n g h iệ p là tài sản quý giá n h ất, n g u ồ n lực quyết đ ịn h để người n ô n g d â n tồn tại và p h á t triển Tuy n h iên , quá trìn h công n g h iệp hóa - đ ô thị h ó a ở Việt N am nói chung, k h u vực các làng ven đô H à N ội nói riên g (cụ thể
là làng Gia Trung, h u y ện Mê Linh, th à n h p h ố H à Nội) tro n g k h o ản g hai th ập kỷ vừa qua đã kèm theo quá trình ch u y ển đổi diện tích rất lớn đất n ô n g nghiệp để p h ụ c vụ m ục tiêu xây d ự n g các k h u công nghiệp,
kh u đô thị và các hoạt đ ộ n g p h i n ô n g n g h iệp khác D ẫn đ ế n diện tích
* Bảo tàng Nhân học, Trường ĐHKHXH&NV, ĐHQGHN
Trang 2s ự S U Y GIẢM SẢ N XUẤT NÔNG N G H IỆP ở M ỘT LÀNG VEN ĐÔ HÀ NỘI 213
đất nôn g n g h iệp tính trên đ ầ u người và quy m ô ru ộ n g đ ất ở các làng
giảm n h a n h chóng, đồng nghĩa với vị trí nền tảng của sản xuất nôn g
nghiệp bị m ất d ần và tỷ trọ n g ngày càng bị thu hẹp Điều này hàm
nghĩa, dưới sự thúc đẩy của quá trình công nghiệp hóa - đô thị hóa,
nền n ô n g n g h iệp ven đô - p h ư ơ n g thức sinh kế truyền th ố n g của người
nông d ân sẽ ngày càng bị b iến đổi và suy giảm Tùy theo vị trí và n ăng
lực tự thân m à người n ô n g d â n chuyển sang làm nhiều loại h ìn h sinh
kế m ới (công n hân, kinh d o a n h nh à trọ, buôn bán dịch vụ v.v), trong
khi còn m ột bộ p h ậ n n ô n g d â n vẫn d u y trì và bám lấy n ghề n ô n g n h ư
một p h ư ơ n g thức m ư u sinh "không dễ từ bỏ"
Câu hỏi đặt ra là, trong điều kiện diện tích đ ất n ô n g nghiệp còn
lại ít ỏi, bị xen g hép với các h o ạt đ ộ n g sinh kế khác và hệ th ố n g thủy
lợi không còn h o ạt đ ộ n g thì người n ô n g d ân sẽ d uy trì hoạt đ ộng canh
tác nôn g n g h iệp n h ư thế nào, sự biến đổi của "nghề nông" ra sao và
đối tư ợ ng d u y trì làm nghề n ô n g là n h ữ n g ai? Báo cáo này m ong m uốn
khảo sát n h ữ n g biến đổi của hoạt độn g sản xuất n ô n g nghiệp, của
nghề n ô n g trong chiến lược sinh kế với tham chiếu là n h ữ n g người
nông dân sống ở các làng v en đô H à Nội qua vấn đề n g h iên cứu "S ự
su y giảm sản xuất nồng nghiệp ở một làng ven đô Hà N ội dưới tác động của
công nghiệp hóa - đô thị hóa".
2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ KHẮI NIỆM
2.1 Tinh hình nghiên cứu
Cho đ ế n nay, tầm q u an trọng của đất nôn g nghiệp và n h ữ n g
biến đổi của đất n ô n g n g h iệp đã được đề cập trong các nghiên cứu
của n h iều tác giả khác n h a u trên thế giới Lungisile N tsebeza (2010)
qua n g h iê n cứu "L and an d Livelihoods in rural South Aírica: W hat prospects for agricultural activities" chỉ ra rằng, N am Phi cho đ ến nay
là ví d ụ rõ ràng n h ấ t cho việc diễn ra quá trình th u hồi đ ất đai Trong
n h ữ n g th ậ p kỷ đ ầu của thế kỷ XX, ở đ ất nước này, h ơ n 90% đ ấ t đai của d ân bản địa bị cưỡng chế th u hồi, làm giảm số lượng lớn nông dân N h ữ n g người còn lại tro n g k h u vực nôn g th ô n đã buộc p h ải dựa
vào các h o ạt đ ộ n g phi n ô n g n g h iệp chủ yếu dưới h ìn h thức tiền gửi
Trang 3214 Phan Thị Ngọc
từ n h ữ n g lao độn g di cư m ang lại Tinh trạn g thiếu đ ất sản xuất là tác
n h â n ngăn cản sự n g ư n g trệ của sản xuất n ô n g nghiệp, d ẫ n đ ến hiện
tư ợng di cư ồ ạt đ ến các k hu vực đô thị Vai trò của đ ấ t n h ư m ột chiến lược sinh kế của người n ô n g d ân ngày càng ít q uan trọng Sự suy giảm giá trị của đ ất cũng được n h ìn thấy trong b ản chất và h ìn h thức tổ chức và đấu tran h chống lại chế độ thực d â n và p h ân biệt ch ủ n g tộc ở
N am Phi N ăm 1994, N am Phi bắt tay vào ch ư ơ n g trình cải cách ru ộ n g đất, về m ặt lý thuyết, nó tạo ra m ột tình h u ố n g để người da đ en -
n h ữ n g người trước đây đã chán n ản các h o ạt đ ộng n ô n g nghiệp, bây giờ có thể tiếp cập được đ ất đai, tạo cơ hội sinh kế cho h à n g triệu người
đ an g sinh sống tại các v ù n g n ông thôn Tuy n h iê n trong lời kết bài báo, tác giả đưa ra cảnh báo: cải cách ru ộ n g đ ất ở N am Phi k h ô n g phải là thuốc chữa bách b ện h cho vấn đề thất n g h iệp trước sự bất lực trong việc giải quyết việc làm ở kh u vực đô thị
Dưới m ột góc n h ìn khác, nghiên cứu "L and, íarm ing, livelihoods
an d poverty: R ethinking the links in the ru ra l South, Jo n ath an Rigg (2009) lại chỉ ra xu h ư ớ n g p h á t triển hiện nay của sản xuất n ông nghiệp
ở k hu vực n ông th ô n p h ư ơ n g N am , đó là cuộc sống và sinh kế của người n ông d â n ở n ô n g th ô n p h ư ơ n g N am ngày càng tách rời khỏi
đ ất đai và n ô n g nghiệp Theo tác giả, sinh kế ở nhiều nơi và của nhiều
hộ gia đ ìn h ở nôn g th ô n p h ư ơ n g N am từ trước đến n ay chủ yếu p h ụ thuộc vào n ô n g nghiệp sản xuất nhỏ Tuy n h iên , tro n g vài thập thập
kỷ trở lại đây, các h o ạt đ ộ n g phi n ô n g nghiệp ngày càng giữ vai trò chi phối trong n ền kinh tế và đời sống người n ô n g dân M inh chứ ng m à nghiên cứu đư a ra là n h ữ n g kinh nghiệm lịch sử tro n g sự biến đổi của
n ô n g nghiệp ở N h ật Bản, Đài Loan và H àn Q uốc, nơi cản h q uan nôn g
th ô n đ ã được ch u y ển hóa sâu sắc trong 30 h ay 40 năm trước
Ngoài ra, Tổ chức Lương thực và N ô n g nghiệp Liên H ợp Quốc (FAO) trong n h ữ n g năm vừa qua đã tổ chức n h iều chư ơ ng trìn h nghiên cứu về n ô n g nghiệp, n h ấ t là nôn g nghiệp ven đô ở n h iề u k h u vực trên
th ế giới th ô n g qua các n g h iên cứu trường h ợ p , nhằm cu n g cấp chính sách và hỗ trợ kỹ th u ật, và bắt đầu xây d ự n g m ột cơ sở th ô n g tin về đặc điểm của nền n ô n g n g h iệp ở k hu vực ven đ ô và đô thị Các nghiên cứu
Trang 4s ự S U Y GIẢM SẢN XUẤT NÔNG N G H IỆP ở M ỘT LÀNG VEN ĐÔ HÀ NỘI 215
đã đ ó n g góp cho sự hiểu biết hơn về các vấn đề và đặc trư ng của nông
nghiệp ven đô và đô thị (FAO, 2007)
Có thể thấy, các nghiên cứu về hoạt động sản xuất nông nghiệp có đối
tượng chủ yếu là vùng nôn g thôn khu vực Nam Bán cầu, bao gồm vùng nông thôn châu Phi và châu Á, nơi mà nông nghiệp giữ vai trò nguồn sinh
kế quan trọng và hình th à n h bản sắc văn hóa của người nông dân Dù là
phát triển theo xu hướng nào thì đất đai và sản xuất nông nghiệp ở các
khu vực trên đều đã và đ an g bị biến đổi, ngày càng bị thu hẹp, vị trí và vai
trò của người nông dân ngày càng giảm và xu hướng hoạt động phi nông
nghiệp ngày càng gia tăng và chiếm vị trí quan trọng
Ở Việt N am thời gian qua, m ột số nghiên cứu về khu vực ven đô
H à Nội th ư ờ n g bàn về n h ữ n g tác đ ộ n g của quá trình th u hồi đất nông
nghiệp đ ến đời sống người n ô n g d ân và trong các công trình nghiên
cứu, sách ch u y ên khảo về k h u vực ven đô cũng thư ờ ng nhắc đ ến các
từ khóa n h ư "n ô n g n g h iệ p ven đô", "đất nông nghiệp", "nông dân"
Tuy nhiên, tro n g bối cảnh th u hồi đ ất nôn g nghiệp ồ ạt để p h ụ c vụ m ục tiêu p h át triển công ng h iệp , đô thị ở k hu vực ven đô hiện nay thì nền
"n ô n g n g h iệp ven đô" sẽ n h ư thế nào, "đất nông nghiệp" bị biến động
đ ến đâu và cuộc sống của người "nông dân" m ất đất ra sao thì n h ữ n g
d ẫn chứ ng đ ư a ra chưa đú cụ thể, vừa chưa đ ủ sâu sắc để đ á n h giá
khách q uan giả th u y ết n g h iê n cứu đưa ra
Công trìn h n g h iên cứu "Biến đổi kinh tế - xã hội ở v ù n g ven đô Hà
N ội trong quá trình đô thị hóa" của N guyễn H ữu M inh và đồn g nghiệp
ngay từ 2005 đã k h ẳn g đ ịn h có sự dịch chuyển cơ cấu nghề nghiệp, cơ cấu n g u ồ n th u và m ức sống của người n ô n g dân sau khi bị th u hồi đất
Xu h ư ớ n g ch u y ển đổi n g h ề n g h iệp đ ang hư ớ ng đ ến các hoạt động
h ư ở n g lư ơng và trợ cấp, sản xuất thủ công và buô n bán dịch vụ Đ ồng thời cũng chỉ ra sản xuất n ô n g nghiệp ở các v ù n g ven đô vẫn giữ m ột
vị trí đ án g kể tro n g hoạt đ ộ n g sinh kế của nông dân Tuy nhiên, vị trí của nền n ô n g n g h iệp ven đô được d u y trì và sản xuất n h ư thế nào thì nghiên cứu n ày chưa đề cập tới
N g h iê n cứ u " S ử dụ n g vốn xã hội trong chiến lược sinh kế của nông dân
ven đô Hà N ội dưới tác động của đô thị hóa" (2007), N guyễn D uy Thắng
Trang 5216 Phan Thị Ngọc
cho rằng công nghiệp hóa, đô thị hóa là để p h á t triển, n h ư n g sự p h á t triển này cũng tạo sức ép và thách thức cho nôn g d â n v e n đô Việc th u hồi đ ất đã dẫn đến số hộ th u ầ n nôn g giảm m ạnh T h àn h p h ố đã có chính sách đền bù, hỗ trợ n h ằm chuyển đổi nghề cho các hộ bị th u hồi đất lu y nhiên, việc đào tạo n ghề m ang lại hiệu quả k h ô n g cao, đặc biệt
là n h ữ n g lao đ ộng n ữ độ tuổi từ 35 đến 40
N hiều thảo luận về vị trí và xu h ư ớ n g p h á t triển của n ô n g n g h iệp ven đô cũng được bàn luận, n g h iên cứu "N ông nghiệp và phát triển đô thị tại Hà Nội" của D enis Sautier, Đào Thế A nh, P hạm C ông N ghiệp,
N guyễn Ngọc Mai (2013) đã thừa n h ận vai trò tích cực của n ô n g n g h iệp ven đô trong việc giải quyết việc làm, cung cấp thực p h ẩm và các dịch
vụ p hục vụ cho toàn đô thị Vì vậy, cần d u y trì hoạt đ ộ n g n ô n g n g h iệp
ở v ù n g ven đô, đây là v ấn đề q u an trọ n g không chỉ về m ặt k in h tế m à
cả về xã hội
Có thể thấy, các vấn đ ề liên quan đ ến đ ất đai và n ền n ô n g nghiệp ven đô được cả xã hội q uan tâm và nghiên cứu với n h iều h ư ớ n g tiếp cận
khác n h a u (kinh tế học, xã h ộ i học, q u ả n lý V.V.) Tuy n h iên , v ẫ n c h ư a có
nhiều các công trình nghiên cứu Dân tộc học - N h ân học về vấn đề này Khảo sát của tôi tại địa bàn nghiên cứu cho thấy, các chủ trương, chính sách p h át triển của N hà nước có n h ữ n g tác đ ộ n g tích cực đ ến đời sống người nông dân làng Gia Trung, song việc th u hồi h ơ n 70% diện tích đất nôn g nghiệp của làng đã khiến cho nền n ô n g nghiệp ở đây bị sụt giảm nghiêm trọng, thậm chí bị "chững lại" Để hiểu được hiện trạng
và xu hư ớ ng p h át triển của n ô n g nghiệp hiện nay ở Gia Trung, tôi tập tru n g nghiên cứu vào n h ữ n g biến độn g đất đai của làng tro n g lịch sử, đặc điểm của nông nghiệp và vị trí của người nông d ân Gia Trung trong khoảng hơn m ột th ập kỷ vừa qua Trong nghiên cứu này, tôi tiến h àn h điền dã dân tộc học ở địa bàn nghiên cứu Trên thực địa, các p h ư ơ n g
p h áp nghiên cứu cơ bản của n gành học n h ư quan sát tham gia, p h ỏng vấn sâu được sử d ụ n g để khai thác và thu thập tài liệu d â n tộc học Ngoài ra, tôi cũng đã khảo sát và khai thác các nguồn tài liệu th à n h văn
là các văn bản của các cấp chính quyền N hà nước và các tổ chức chính trị - xã hội ở địa phương N guồn tài liệu này cho p h ép tôi có được n h ữ n g
Trang 6s ự SU Y GIẢM SẢN XUẤT NÔNG N G H IỆP ở M Ộ T LÀNG VEN Đ ô HÀ NỘI. 217
thông tin đ ịn h lượng, n h ư m ột số số liệu thống kê, để kết hợp với các tài
liệu đ ịn h tín h thu được từ q u an sát tham gia và phỏng vấn
2.2 Một số khái niệm
* Làng ven đô
Trong nghiên cứu về làng Việt và những biến đổi kinh tế và xã hội ở
làng Việt truyền thống và hiện đại trong gần hai thập kỷ trở lại đây, khái
niệm làng không còn là vấn đề mới, nhưng 'làng ven đô' là một khái niệm mới, thể hiện sự giới hạn của các làng Việt thuộc vùng ven các đô thị mà cụ
thể trong nghiên cứu này là của thành phố Hà Nội Bản chất biến đổi của
nó là m ột trong n h ữ n g đặc điểm quan trọng nhất để định nghĩa về ven đô
Khi n g h iên cứu về v ù n g v en đô trong quá trình tái lãnh thổ ở
Đ ông N am Á, M icheal Leaf cho rằn g v ù n g ven đô Đ ông N am Á có thể coi là n h ữ n g địa giới theo ít n h ấ t 3 nghĩa
T hứ nhất, ch ú n g là n h ữ n g địa giới của sự đô thị hóa theo nghĩa rộng n h ấ t của từ này, bắt n g u ồ n từ sự m ở rộng ra bên ngoài của cái thư ờ ng gọi là n h ữ n g chức n ă n g đô thị trên k h ắp các k hu vực với đà gia tăn g k h ô n g ngừng
T hứ hai, sự gia tă n g n h a n h c h ó n g các h o ạt đ ộ n g p h i n ô n g n g h iệp
Thứ ba, vùng ven đỏ còn là đ ư ờ n g ran h giới, địa giới h àn h chính Đây là kết quả của quá trình tái lãnh thổ do N hà nước thực hiện thông qua chính q uyền địa phương Theo kiểu xác định lại ran h giới đô thị hạt nhân, hoặc được tiến h àn h theo kiểu tăng thêm (trường hợp các quận mới vốn thuộc v ù n g nôn g th ô n của th àn h phố Hồ Chí Minh), hoặc theo kiểu sáp n h ập các tỉnh p h ụ cận n h ư chính quyền th àn h p hố H à Nội đã thực hiện vào th án g 8 năm 2008 (Michael Leaf, 2008, tr.461-481)
D ưới góc độ q u ản lý, các n h à hoạch đ ịn h chính sách đã đưa ra m ột
số đ ịn h nghĩa về v ù n g ven đô, có thể tóm tắt n h ư sau: "về m ặt địa lý,
v ù n g ven đô được h iểu là k h u vực kế cận với th à n h phố V ùng ven đô
là nơi vừa có các h o ạt đ ộ n g đặc trư n g cho nông th ô n vừa có các hoạt
đ ộ n g m a n g tín h chất đô thị V ùng ven đô không tồn tại độc lập m à
n ằm tro n g m ột m iền liên th ô n g n ô n g th ô n - ven đô - đô thị Các mối
Trang 7218 Phan Thị Ngọc
q uan hệ tương tác lẫn n h a u của các bộ p h ận hợp th à n h hệ th ố n g n ô n g thôn - ven đô - đô thị được thể hiện ở chỗ nôn g th ô n và ven đô là nơi cung cấp thư ờng xuyên, lâu dài lương thực thực phẩm , n g u ồ n n g u y ê n liệu và n g u ồ n lao đ ộ n g cho đô thị, ngược lại đô thị tạo ra thị trư ờ n g để tiêu th ụ các sản p h ẩm n ô n g nghiệp, tạo cơ hội việc làm và nơi ở cho các
d òng di dân từ nôn g th ô n đ ế n đô thị và cung cấp các sản p h ẩm p h ụ c
vụ cho sản xuất n ô n g nghiệp (N guyễn D uy Thắng, 2009, tr.80)
N ếu xem xét từ tiêu chí địa giới h àn h chính thì: "Làng ven đô ở đây được hiểu bao gồm ngoài các làng thuộc các huyện ngoại th à n h n h ư Thanh Trì, Gia Lâm, Sóc Sơn, Đ ông Anh, Từ Liêm còn có tất cả các làng thuộc các quận: c ầ u Giấy, Tầy Hồ, T hanh Xuân, H oàng Mai và Long Biên, vốn là các làng (thuộc xã, huyện) được chuyển thành các làng trong phư ờng (thuộc quận) trong khoảng thời gian mươi năm trở lại đây" (Ngô Văn Giá, 2007, tr.7) Theo quan niệm này thì toàn bộ các làng thuộc các huyện mới sáp n h ập năm 2008 của tỉnh Hà lầ y và h u y ệ n Mê Linh được xác đ ịn h là ranh giới mới của các làng ven đô M ột lần nữa, địa giới các làng ven đô của H à Nội được m ở rộng về biên độ và q uy mô
N h ư vậy, khái niệm làng ven đô được hiểu m ột cách tư ơ n g đối là các làng thuộc k h u vực ngoại th à n h của th àn h ph ố Hà Nội T heo đó,
v ù n g ven đô là m ột k h u vực có địa giới h àn h chính k h ông ổ n đ ịn h , có thể biến đổi theo hư ớ n g được tách ra, n h ập vào hoặc điều ch ỉn h dưới tác độn g của chính sách và kế hoạch p h át triển của N hà nước
* N ô n g nghiệp ven đô
Hiện nay, vẫn chưa có khái niệm thống n h ất về "nông nghiệp ven đô" Trong các chương t ì n h nghiên cứu về nông nghiệp ở k hu vực ven
đô và đô thị trên thế giới, Tổ chức Lương thực và N ông nghiệp Liên H ợp Quốc (FAO) thường xuyên sử dụn g thuật ngữ "UPA" - để chỉ hoạt động nông nghiệp ở khu vực đô thị và khu vực ven đô Trong đó, "nông nghiệp ven đô là hoạt động sản xuất nông nghiệp diễn ra ở ngoại vi các thành phố, có xu hướng thay đổi m ạnh m ẽ trong thời gian qua; gắn với dòng dân di cư từ nông thôn vào kh u vực đô thị; giá đất nông nghiệp tăng và ngày càng bị thu hẹp N hữ ng thay đổi này ảnh hưởng đến hệ th ố n g sản xuất nông nghiệp, trong đó rõ nhất là sự chuyển đổi từ cây trồng chủ lực
Trang 8s ự SU Y GIẢM SẢN XUẤT NÔNG N G H IỆP ở M ỘT LÀNG VEN ĐÔ HÀ NỘI. 219
(cây lúa) sang các loại cây rau m àu và sản xuất thực phẩm (thịt, trứng, sữa)
gắn với đời sống đỏ thị" (FAO, 2007, tr.5)
Ở Việt N am , "nông nghiệp ven đô" là chỉ khu vực nôn g nghiệp ven
các đô thị hay ven các k hu công nghiệp, cụm công nghiệp, vùn g có đông dân cư Đặc điểm của n ô n g nghiệp ven đô là ít đất sản xuất trong khi thừa lao đ ộ n g (do lao đ ộ n g nông nghiệp chưa chuyển kịp sang ngành nghề khác bởi nhiều nguyên n h ân khác nhau) N ông nghiệp ven đô cực
kỳ có ý nghĩa với đô thị, hay k hu công nghiệp vì sản phẩm nông nghiệp làm ra sẽ cung cấp trực tiếp cho dân cư vùng đó [http://vi.wikipedia.org]
Q uá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa diễn ra m ạnh m ẽ ở nhiều làng ven đô đ an g đặt ra vấn đề cấp bách là phải xây dự ng các mô hình sản xuất nôn g nghiệp p h ù hợp với điều kiện đất đai, thị trường v.v giúp người dân ổn định cuộc sống N h ữ n g quan sát đương đại trong thời gian qua cho thấy, các lãnh thổ nôn g nghiệp và hoạt động sản xuất nông nghiệp ở m ột số làng ven đô Hà Nội đang có n hữ ng chuyển dịch theo hướng nông nghiệp đô thị, sản xuất thực phẩm chất lượng cao, trồng hoa, cây cảnh để cung cấp cho H à Nội Đơn cử, tại m ột số xã/phường như Phú Lãm, Biên Giang, Văn Q uán, Mê Linh v.v cùng với các ngành nghề dịch vụ, buôn bán, việc p h át triển các mô hình trồng rau an toàn, hoa, cây cảnh không chỉ tạo việc làm, mà còn góp p h ần đ áng kể tăng thu nhập cho nông dân H ay xu hướng "trồng cỏ" để trang trí nhà cửa, biệt thực, khách sạn v.v của nôn g dân huyện Từ Liêm đã tìm được mô hình nông nghiệp p h ù hợp trong bối cảnh đất chật người đông Từ n h ữ n g thành công này, nhiều hộ nông dân sau thu hồi đất đã tìm được các
mô hình sản xuất, kinh d o an h p h ù hợp, hiệu quả cao N h ư vậy, nông nghiệp ven đô là m ột n ề n nôn g nghiệp sản xuất h àng hoá cung cấp cho khu vực đô thị, có ý nghĩa quan trọng với khu vực đô thị
3 LÀNG GIA TRUNG VÀ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP TRƯỚC KHI THU HỐI ĐẮT
3.1 Lịch sử biến đổi hành chính làng Gia Trung
Trong lịch sử, chỉ riên g tên gọi và lịch sử h ìn h th à n h làng Gia Trung đã cho th ấy có n h iề u biến đổi C ăn cứ theo 'Phả k ý ' của họ
N g u y ễn (họ có n h iều đời n h ấ t làng), theo n h ữ n g sắc p h o n g th à n h
ho àn g còn lại của đ ìn h làng và theo bia "Hậu phật bi ký" ghi ở chùa
Trang 9220 P h a n ĩh ị Ngọc
Đại Bi của làng thì Gia Trung được th à n h lập năm C h ín h H òa 11 n h à
Lê (1690) với tên th ô n Hạ, xã Gia Thượng, h u y ện Kim H oa (năm 1841, đổi tên là h u y ệ n Kim A nh), p h ủ Bắc Hà, trấn K inh Bắc (nay là tỉn h Bắc N inh) N ăm Q u ý Tỵ, niên hiệu T hành Thái th ứ 5 (1893), làn g thuộc xã Gia Trung gồm th ô n H è và th ô n Đồng Thời P h á p th u ộ c,
n ăm 1901, ch ín h q u y ền thực d â n P h áp th à n h lập tỉn h P hù Lỗ N g ày 10/12/1903, tỉn h P hù Lỗ đổi tê n th à n h tỉnh Phúc Yên, h u y ệ n Kim A nh thuộc về tỉn h m ới này
Từ sau Cách m ạn g th án g 8, địa giới h ành chính của làng có n h iề u thay đổi T háng 4/1946, lúc này có tên Gia Trung, làng được sáp n h ậ p với các làng bên bờ nam sông Cà Lồ th àn h lập xã Đại Đ ồng Cuối 1954, làng thuộc xã H oà Bình N ăm 1956, làng sáp n h ập vào xã Q u a n g M inh
N ăm 1978, xã Q u an g M inh và m ột số xã nằm bên bờ sông Cà Lồ của
h u y ện Kim Anh (cũ) được sáp n h ậ p vào huyện Mê Linh, h u y ện ngoại
th à n h H à Nội Đ ến th án g 7 năm 1991, toàn bộ h u y ện Mê Linh tách khỏi
H à N ội trở về tỉn h V ĩnh P hú (nay là tỉnh Vĩnh Phúc) N gày 29/5/2008, toàn bộ h u y ện Mê Linh được sáp n h ập vào th àn h p h ố H à Nội, là n g Gia Trung được đổi th à n h tổ d ân p h ố 6 và 7 thị trấn Q u an g M inh1, h u y ệ n
Mê Linh, H à Nội
Trước khi diễn ra quá trìn h th u hồi đất nôn g n g h iệp và bị sáp n h ập vào H à Nội, cảnh q u an làng Gia Trung m ang n h ữ n g n ét đặc trư n g của
n ô n g th ô n Việt K huôn viên của làng chia làm hai k h u chính: k h u cư trú (xóm/đội) và k h u canh tác (đồng ruộng) Trong đó, k hu d â n cư có chiều dài k h oảng lk m (từ k h u vư ờn c ầ u - đầu làng phía Tầy đ ế n cổng
C hùa - đ ầu làng phía Đ ông), chiều n gang khoảng 400m, trước m ặ t có các cánh đồng H ư ớ ng p h á t triển lúc đầu của làng là từ Tầy sang Đ ông
và m ỗi họ th ư ờ n g quây q u ần tro n g m ột khu dân cư nhỏ; khi d â n cư đã
tư ơng đối đôn g thì chia làm hai k hu vực, lấy con đ ư ờ n g chạy d ọ c giữa làng làm d an h giới, nửa làng phía Bắc gọi là mái sau, nửa là n g phía
1 D ù có đ iề u c h in h v ề m ặ t đ ịa g iớ i h à n h c h ín h , n h ư n g v ớ i n g ư ờ i d â n , G ia T ru n g
v ẫ n là m ộ t là n g T ro n g n g h i ê n c ứ u n à y , tôi coi G ia T ru n g là m ộ t c ộ n g đ ồ n g là n g
c h ứ k h ô n g s ử d ụ n g t ê n gọi h à n h c h ín h m ới.
Trang 10s ự SUY G IẢ M SẢN XUẤT NÔNG N G H IỆ P ở MỘT LÀNG VEN ĐÔ HÀ NỘI 221
Nam gọi là m ái trước, d â n cư mái sau đ ô n g hơn mái trước, về sau gọi
là đ ằn g Đ ình (nay là tổ d â n p hố số 6) và đ ằn g C hùa (tổ dân p h ố số 7Ỵ.
N h ư vậy, lịch sử h ìn h th à n h của làng Gia Trung là quá trình p h át triển trải qua n h iều biến đổi về h àn h chính, m ột quá trình p h á t triển liên tục n h ư n g hay bị đ ứ t quãng N ếu tính từ khi lập làng (năm C hính Hòa 1690) cho đ ến thời N g u y ễn và P háp thuộc (trên 300 năm ), Gia
Trung chỉ có 2 lần thay đổi địa giới h àn h chính thực sự, thì từ năm 1946 đến năm 2008 (khoảng 50 năm ), làng đã chứng kiến đ ến 6 lần thay đổi lớn nhỏ Đây vừa là quá trình có tính cưỡng bức vừa có tính định hướng, đ ồ n g thời bản th â n cộng đ ồ n g làng cũng k h ô n g n g ừ n g tự điều chỉnh đ ể thích n g h i với n h ữ n g điều kiện mới
3.2 Biến đông đất đai và một số đặc điểm của sản xuất nông nghiệp ở Gia Trung trước khi
thu hồi đất
* S ự biến động đất đai làng Gia Trung trước khi thu hồi đất
Vào đ ầu th ế kỷ XIX, diện tích đ ất tự n h iên (còn gọi đ ấ t bao đạc) của làng Gia Trung là 252,36 ha (701 m ẫu Bắc Bộ)2, gồm 30,96 ha (86 mẫu) đ ất thổ cư và 221,76 ha (616 m ẫu) đ ất trồng trọt Riêng ru ộ n g đất trồng trọt được p h â n bổ n h ư sau:
1 Theo Nghị định số 39/2008/N Đ -C P của Chính phủ về việc điều chỉnh
đ ịa g iớ i h à n h c h ín h xã, p h ư ờ n g , t h à n h lậ p th ị tr ấ n , p h ư ờ n g th u ộ c h u y ệ n
M ê L in h , H à N ộ i T h à n h l ậ p th ị tr ấ n C h i Đ ô n g th u ộ c h u y ệ n M ê L in h t r ê n c ơ sở
đ iề u c h ỉ n h 486 h a d i ệ n tíc h tự n h i ê n v à 9.861 n h â n k h ẩ u c ủ a xã Q u a n g M in h ;
t h à n h lậ p th ị t r ấ n Q u a n g M in h t h u ộ c h u y ệ n M ê L in h t r ê n c ơ s ở 889,6 h a d iệ n tíc h tự n h i ê n v à 19.126 n h â n k h ẩ u c ò n lại c ủ a xã T h ị tr ấ n Q u a n g M in h h iệ n n a y
là s ự h ợ p n h ấ t 6 t h ô n / l à n g c ủ a x ã Q u a n g M in h trư ớ c kia: G ia i L ạc, Ấ p Tre, G ia
T ần, G ia T ru n g , G ia T h ư ợ n g v à th ô n Đ ồ n g
2 Mẫu là một đ ơ n v ị đ o lường diện tíc h c ũ c ủ a m ộ t s ố nước như T r u n g Quốc v à Việt
N a m T ro n g h ệ t h ố n g đ o l ư ờ n g cổ c ủ a V iệt N a m , m ẫ u là m ộ t đ ơ n vị đ o diện tích
M ộ t m ẫ u b ằ n g 10 s à o h a y b ằ n g 10 c ô n g (1 c ô n g = 1 sà o ), 1 c ô n g h a y 1 s à o đ ấ t
N a m b ộ là 1000 m 2, T r u n g b ộ là 500 m 2, Bắc b ộ là 360 m 2 T ù y th e o t ừ n g v ù n g m à
đ ơ n vị đ o lư ờ n g c ủ a m ẫ u đ ư ợ c t ín h k h á c n h a u , c h ẳ n g h ạ n , 1 m ẫ u ở B ắc B ộ =
3600 m2, Trung Bộ = 4.970 m 2, Nam Bộ = 10.000 m 2.