CƠ sở lý LUẬN về TRÍ TUỆ cảm xúc của SINH VIÊN có các KIỂU NHÂN CÁCH KHÁC NHAU CƠ sở lý LUẬN về TRÍ TUỆ cảm xúc của SINH VIÊN có các KIỂU NHÂN CÁCH KHÁC NHAU CƠ sở lý LUẬN về TRÍ TUỆ cảm xúc của SINH VIÊN có các KIỂU NHÂN CÁCH KHÁC NHAU CƠ sở lý LUẬN về TRÍ TUỆ cảm xúc của SINH VIÊN có các KIỂU NHÂN CÁCH KHÁC NHAU
Trang 1CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRÍ TUỆ CẢM XÚC CỦA SINH VIÊN CÓ CÁC KIỂU NHÂN CÁCH KHÁC NHAU
Tổng quan nghiên cứu vấn đề
Các công trình ở nước ngoài
Trí tuệ của con người là đối tượng nghiên cứu được rấtnhiều nhà khoa học trong lĩnh vực tâm lý học và giáo dụchọc quan tâm Với sự đa dạng của các lý thuyết khác nhau
về trí tuệ, các nhà khoa học trên thế giới đã đi sâu nghiêncứu trí tuệ của con người Có thế chia ra thành các lý thuyết
về đơn trí tuệ và các thuyết đa trí tuệ
Sau một thời gian dài chỉ tập trung nghiên cứu và đánhgiá con người dựa trên trí thông minh (IQ) đơn thuần, cácnhà khoa học nhận ra chỉ số IQ cao chưa thể đánh giá và dựđoán được sự thành công của con người trong tương lai Để
có được thành công trong cuộc sống, điều quan trọng và cầntiết phải là một chỉ số cảm xúc cao Cũng bởi vậy mà thờigian gần đây, các nhà khoa học đã đặc biệt chú ý và nghiêncứu về TTCX của con người
Howard Gardnen (1983) được biết đến là cha đẻ củahọc thuyết đa trí tuệ, đã đề cập đến một loại trí thông minh
về tương tác xã hội (Interpersonal Intelligence) Nó là các
Trang 2năng lực của cá nhân về việc hiểu và cư xử với những ngườixung quanh, họ có khả năng quản lí, duy trì những mốiquan hệ, giải quyết tốt những mâu thuẫn có thể xảy ra.Trong các mối quan hệ, những người sở hữu chỉ số cao vềloại trí tuệ này thường sẽ là những người hiểu và có khảnăng đáp ứng các tâm trạng, khí chất, động cơ và nhu cầucủa người khác một cách hợp lí Dù không nhắc đến thuậtngữ TTCX, nhưng Howard Gardnen đã chỉ ra tầm quantrọng của việc biết, hiểu và áp dụng được những kỹ năngđời sống xúc cảm trong hoạt động thích ứng và trí tuệ
Thuật ngữ TTCX lần đầu tiên xuất hiện trong một bàibáo của hai tác giả người Mỹ, Peter Salovey và John Mayervào năm 1990 Bài báo cho rằng TTCX là khả năng làmchủ, điều khiển, kiểm soát cảm xúc của chính bản thânmình và của những người xung quanh [18;79]
Đến năm 1995, nhà TLH người Mỹ Daniel Goleman
đã khẳng định trong cuốn “Trí tuệ cảm xúc” mà ông xuấtbản như sau: “Chúng ta có hai hình thức khác nhau của trítuệ: trí tuệ lý trí và trí tuệ cảm xúc Cách chúng ta hướngdẫn cuộc sống của mình được quyết định bởi hai thứ trí tuệ
ấy Trí tuệ cảm xúc cũng quan trọng như trí thông minh.Trên thực tế, không có trí tuệ cảm xúc thì trí tuệ lý trí không
Trang 3thể hoạt động một cách thích đáng.” [6;57] Ba năm sau,Goleman xuất bản thêm cuốn sách “Làm việc với trí tuệcảm xúc” So với những quan điểm đã đưa ra ở cuốn sách
“Trí tuệ cảm xúc”, ông đã bổ sung thêm 5 năng lực cảm xúc
và xã hội cơ bản là: Năng lực ý thức, năng lực tự điềuchỉnh, năng lực thúc đẩy, năng lực đồng cảm và các kỹnăng xã hội
Bên cạnh các công trình nghiên cứu lý luận, các nhàkhoa học cũng cho ra mắt rất nhiều bộ công cụ đo lườngTTCX Chẳng hạn như Trắc nghiệm EQ mà Pieger nêu ra vàonăm 1990 hay của tác giả Daniel Goleman đưa ra vào năm
1995 Vào năm 1997, Bar-On cho xuất bản bộ trắc nghiệmđầu tiền về TTCX – EQ-I (Emotional Quotient Inventory).Bài trắc nghiệm này được thiết kế để đo lường một loạt cácnăng lực liên quan đến nhận thức, đo các khả năng và kĩ năng
mà Bar-On cho rằng chúng sẽ ảnh hưởng đến năng lực củamột cá nhân đương đầu một cách có hiệu quả với những đòihỏi của môi trường và áp lực, sức ép trong cuộc sống
Mayer, Salovey và Caruso thiết kế 2 thang đo làThang đo trí tuệ cảm xúc đa nhân tố (Mutilfactor EmotionalIntelligence Scale) viết tắt là MEIS và phiên bản được chỉnhsửa sau đó là Trắc nghiệm trí tuệ cảm xúc của Mayer-
Trang 4Salovey-Caruso (Mayer- Salovey- Caruso EmotionalIntelligence Test, 2002) viết tắt là MSCEIT, để đo lường trítuệ cảm xúc, liên quan đến đến quá trình xử lý thông tin vàsuy luận về cảm xúc Điểm số của EI đánh giá một người vềkhả năng tri giác, sự phản hồi và cách trả lời về nhữngthông tin cảm xúc mà không nhất thiết hiểu biết rõ chúng.Thang đo này chỉ báo khả năng hoạt động của người được
đo dưới ảnh hưởng của những cảm xúc khác nhau
Tóm lại , các nhà TLH trên thế giới vẫn đang tiếp tụcquá trình hoàn thiện về lý thuyết và các bảng công cụ đoTTCX
Bên cạnh đó, vấn đề nhân cách nói chung và vấn đềkiểu nhân cách nói riêng đã, đang và vẫn đang là vấn đềđược nhiều nhà TLH quan tâm và nghiên cứu
Trong TLH phương Tây, nhân cách được nghiên cứudựa trên cơ sở của nhiều lý thuyết Trong đó có 3 dòng hay
Trang 5Đại diện cho lực lượng TLH nhân văn gồm có: A.Maslow, C Rogers
Các nhà TLH Macxit mà đại diện là K.K.Platonov,A.N.Leonchiev,… cũng đưa ra các quan điểm về nhân cách
và cấu trúc tâm lý của nhân cách Các định nghĩa, quanđiểm đều chú trọng đến hoạt động có ý thức của nhân cáchcon người và đặt nó trong các mối quan hệ xã hội
Quan điểm về Kiểu nhân cách cũng được các nhà TLHquan tâm, nghiên cứu từ nhiều góc độ khác nhau Đặc biệt làtrong TLH ở phương Tây có các đại diện như:
Drucker nghiên cứu và phân loại kiểu nhân cách dựavào mẫu người và đưa ra 5 mẫu người;
Nhà TLH người Đức Sparanger căn cứ vào các địnhhướng giá trị trong hoạt động sống của cá nhân để nghiêncứu và phân loại;
Mayer – Brigg nghiên cứu và đưa ra 16 kiểu nhân cáchkhác nhau của con người: Hướng nội (Introvert – I) hoặchướng ngoại (Extrovert – E); Cảm giác (Sensing – S) hoặctrực giác (Intuition – N); Tư duy (Thinking – T) hoặc tìnhcảm (Feeling – F); Đánh giá (Judging – J) hoặc nhận thức(Perception – P)
Trang 6H.J.Eysenck nghiên cứu kiểu nhân cách con người dựavào các hoạt động và giao lưu và đưa ra 3 kiểu nhân cách:Nhân cách hướng nội, Nhân cách hướng ngoại, Nhân cáchtrung gian
Các công trình ở trong nước
Hiên nay, TTCX của con người đã dần trở thành vấn
đề được nhiều nhà khoa học ở Việt Nam quan tâm vànghiên cứu Tuy lượng tài liệu chủ yếu là tài liệu được dich
từ các tài liệu của nước ngoài, nhưng các nghiên cứu cũng
đã có những bước phát triển rõ rệt
Trên tạp chí khoa học nói chung và tạp chí Tâm lý họcnói riêng đã cho đăng nhiều bài viết về vấn đề TTCX củamột số tác giả như: Nguyễn Công Khanh, Nguyễn QuangUẩn, Nguyễn Huy Tú và một số tác giả khác
Năm 2002, tác giả Nguyễn Thị Dung tiến hành nghiêncứu TTCX của giáo viên tiểu học để đánh giá xem IQ hay
EQ tác động và ảnh hưởng nhiều hơn đến quá trình công tácchủ nhiệm [4] Đến năm 2004, tác giả Dương Thị HoàngYến nghiên cứu về TTCX của giáo viên tiểu học [25] Năm
2005, đề tài nghiên cứu của PGS Trần Trọng Thủy đã tiếnhành đo chỉ số TTCX của sinh viên hai trường Đại học Sưphạm Hà Nội và Đại học Sư phạm Thái Nguyên [18]
Trang 7Các nghiên cứu về vấn đề kiểu nhân cách ở Việt Nam
đã có một số tác giả nghiên cứu
Năm 2004, tác giả Nguyễn Thành Đoàn đã nghiên cứumột số kiểu nhân cách sinh viên trường ĐHSP [6] Năm
2008, tác giả Hứa Hoàng Anh nghiên cứu về các kiểu nhâncách của nữ sinh viên trường ĐHSP
Tuy nhiên, việc nghiên cứu mối tương quan giữaTTCX và các kiểu nhân cách khác nhau của sinh viên chưađược đề cập nhiều Việc tôi chọn đề tài nghiên cứu “Trí tuệcảm xúc của sinh viên khoa Tâm lý – Giáo dục học TrườngĐại học Sư Phạm Hà Nội có các kiểu nhân cách khácnhau.” nhằm góp phần làm phong phú thêm những nghiêncứu về TTCX, kiểu nhân cách, thêm vào đó đề tài của tôi sẽ
cố gắng tìm ra mối tương quan giữa TTCX và KNC trêncùng một nghiệm thể
Trang 8J.Eysenck, B.Cattell), thuyết nhân cách của các nhà TLH
Xô Viết (A.N.Lêônchiev, A.V.Petrovxki,…) và rất nhiều lýthuyết khác Dưới góc độ nghiên cứu của mình, các lýthuyết đều đưa ra những định nghĩa khác nhau về nhâncách
Có một số lý thuyết đề cao phần sinh học trong quátrình nghiên cứu về nhân cách như bản năng vô thức, đặcđiểm hình thể, thể trạng cơ thể,… Bên cạnh đó cùng có rấtnhiều lý thuyết lại cho rằng phần xã hội mới là yếu tố quantrọng cần phải nghiên cứu về nhân cách con người nhưthuyết tương tác xã hội (H.Mead), thuyết liên nhân cách(R.Sears),…
TLH Macxit cho rằng “Nhân cách là một phạm trù xãhội, có bản chất xã hội – lịch sử” nghĩa là nhân cách conngười chịu ảnh hưởng của các điều kiện xã hội, lịch sử.Chính quá trình con người sinh sống, hoạt động và giao tiếptrong môi trường xã hội đã dần hình thành các kiểu nhâncách của từng người [21]
Theo A.N.Leonchiev cho rằng: “Nhân cách là một cấutạo tâm lý mới được hình thành trong các quan hệ sống của
cá nhân do kết quả hoạt động cải tạo của người đó.” [2;129]
Trang 9Hay theo K.K.Platonov: “Nhân cách con người có ýthức, có ý chí, có ngôn ngữ, có lao động.” và “Nhân cách làcon người với tư cách là vật mang ý thức.” Các định nghĩanói trên đều nhấn mạnh tới hoạt động có ý thức của nhâncách và đặt nó trong những mối quan hệ xã hội nhất định
Ở Việt Nam, theo GS.TS Nguyễn Quang Uẩn chorằng: “Nhân cách là tổ hợp những đặc điểm, những thuộctính tâm lý của cá nhân quy định bản sắc và giá trị xã hộicủa con người.” [22] Quan điểm này không xem xét conngười trên tất cả các đặc điểm về tự nhiên, về cái bẩm sinh– di truyền của chúng ta mà xem xét chúng ta như một cánhân trong tập thể, trong xã hội Nhân cách cũng khôngphải là một nét, một phẩm chất riêng biệt, nó có cấu tạo và
là tổng hợp của những đặc điểm tâm lý đặc trưng Chínhnhờ đó mà mỗi người ở những cộng đồng khác nhau lạimang một cái riêng, cái khác biệt và duy nhất Tuy nhiên nóvẫn thống nhất với cái chung, cái phổ biến ở cộng đồng mà
cá nhân đó thuộc về
Các tác giả Phạm Minh Hạc, Lê Khanh, Trần TrọngThủy khi nói đến nhân cách của con người, ta xem xét conngười đó với tư cách là một cá nhân trong xã hội, là chủ thể
Trang 10của các mối quan hệ con người, của hoạt động có ý thức vàgiao lưu.
Việc xuất hiện nhiều các lý thuyết, quan điểm về nhâncách cho ta thấy vấn đề về nhân cách con người đã được cácnhà TLH xem xét ở rất nhiều khía cạnh khác nhau Tác giảTrần Trọng Thủy đã từng có nhận định như sau “ mỗi lýthuyết đều có sự phiến diện, do đó không đưa lại một phứchợp các luận điểm được luận chứng đầy đủ về cấu tạo vàbản chất tâm lý của nhân cách.” [18]
Định nghĩa về nhân cách cần bao gồm cả quá trình màcác yếu tố tự nhiên, sinh học của con người chịu ảnh hưởngcủa các điều kiện xã hội để tạo thành các kiểu nhân cáchkhác nhau Nhân cách được hình thành thông qua hoạt động
và giao tiếp, đồng thời quan hoạt động và giao tiếp mỗi cánhân lại bộc lộ nhan cách của mình với tư cách là chủ thểcủa hoạt động Quá trình này diễn ra liên tục và kéo dài suốtcuộc đời mỗi người Nhân cách sẽ quy định hành vi và hoạtđộng của con người để khẳng định giá trị xã hội của bảnthân mình trong cuộc sống
Kiểu nhân cách
Những vấn đề lí luận về kiểu nhân cách
Trang 11Muốn đánh giá về nhân cách, chúng ta thường nhìnvào hành vi của cá nhân Tuy nhiên chỉ nhìn vào hành vi đểđánh giá nhân cách con người thì là chưa đầy đủ Hành vicủa con người nhìn từ bên ngoài thì có thể thấy là giốngnhau nhưng nhìn từ phía bên trong, những lý do, động cơthúc đẩy con người xuất hiện hành vi đó có thể là khácnhau Bởi vậy mà việc hiểu về kiểu nhân cách sẽ giúpchúng ta hiểu con người và nhân cách con người từ phíatrong Từ đó, chúng ta hiểu và có cách ứng xử phù hợp vớimỗi người
Qua cách phân loại của các kiểu nhân cách, ta có thểnhận thấy rằng: Kiểu nhân cách là cách thức mỗi người thểhiện, trải nghiệm và hoàn thiện bản thân trong quá trìnhsống, hoạt động và giao tiếp với môi trường xung quanh.Mỗi người, với những điều kiện sống khác nhau, cách nhìnnhận để đưa ra quyết định cho một hành vi nào đó là khácnhau, sẽ mang những kiểu nhân cách khác nhau Kiểu nhâncách được thể hiện bằng những đặc trưng riêng biệt thôngqua các hành vi của mỗi cá nhân ở từng trường hợp nhấtđịnh
Các cách phân loại kiểu nhân cách
Trang 12Quan điểm về các các kiểu nhân cách đã xuất hiện hơn
25 thế kỷ và đã có nhiều cách phân loại khác nhau, tuỳthuộc vào quan điểm lí thuyết và vào tiêu chí phân loại.Chúng ta có thể kể đến một sổ kiểu phân loại như sau:
*Phân loại kiểu nhân cách theo định hướng giá trị
Nhà TLH người Đức, Sparanger đã căn cứ vào địnhhướng giá trị trong hoạt động sống của cá nhân và phân loạicác kiểu nhân cách như sau:
Nhà TLH người Mỹ Karen Horney theo trường pháiPhân tâm đã chia thành ba kiểu nhân cách sau:
Trang 13Kiểu người nhường nhịn (bị áp đảo)
Kiểu người công kích (mạnh mẽ)
Kiểu người hờ hững (lạnh lùng)
*Phân loại kiểu nhân cách thông qua giao tiếp
Người thích sống bằng nội tâm
Người thích giao tiếp bằng hình thức
Người nhạy cảm
Người ba hoa
*Phân loại kiểu nhân cách theo chức năng (K.Jung)
K.Jung đưa ra 8 kiểu nhân cách cơ bản như sau:
Tư duy hướng nội
Tình cảm hướng nội
Cảm giác hướng nội
Trực giác hướng nội
Tư duy hướng ngoại
Tình cảm hướng ngoại
Cảm giác hướng ngoại
Trực giác hướng ngoại
Trang 14Ông phân loại ra 8 kiểu nhân cách theo 4 chức năng về
“tinh thần”, bao gồm có 2 chức năng về “nhận thức” và 2chức năng về “đánh giá” K.Jung cho rằng bất kì ai cũng sẽlựa chọn 1 trong 4 chức năng đầu tiên nói trên và sử dụngchức năng đó có thể là hướng ngoại hoặc hướng nội
*Phân loại kiểu nhân cách theo Enneagram
Enneagram đưa ra 9 kiểu nhân cách cơ bản như sau:Kiểu cải cách
Kiểu hòa giải
*Phân loại nhân cách qua sự bộc lộ của bản thân trong hoạt động và giao lưu
Trang 15H.J Eysenck đã đưa ra 3 kiểu nhân cách cơ bản thôngqua sự bộc lộ của mỗi cá nhân trong hoạt động và giao lưucác mối quan hệ như sau:
Kiểu nhân cách hướng nội,
Kiểu nhân cách hướng ngoại
Kiểu nhân cách trung gian
Trong hoạt động và giao lưu, có người sẽ rất hăng hái,sôi nổi, hào hứng, vui vẻ, dễ dàng tiếp nhận và xử lí côngviệc trong thời gian ngắn, họ thích nghi rất nhanh khi phảibước vào môi trường mới, dễ hình thành các mối quan hệ.Bên cạnh đó, có những người ngược lại, họ nhút nhát, rụt rètrong giao tiếp với mọi người, chậm rãi, cẩn thận và tỉ mỉtrong công việc, họ gặp nhiều khó khăn hơn trong việc làmquen, thời gian để thích nghi với môi trường mới Sở dĩ có
sự khác biệt như vậy là do họ có những kiểu nhân cách khácnhau
Kiểu nhân cách hướng ngoại có đặc điểm là rất cởi
mở, phản ứng nhanh, dễ dàng thích nghi và nhanh chóngxây dựng được những mối quan hệ khi ở trong một môitrường mới Họ sẽ là người thích làm việc với tập thể, họ có
cơ hội để giao tiếp, chia sẻ với mọi người Tuy nhiên, họ lại
là người dễ bị kích động, xung đột cũng từ đó có thể xuất
Trang 16hiện do họ có thích sự thẳng thắn, rõ ràng và kiên quyếttrong mọi tình huống Xúc cảm của họ cũng khó ổn định,mạnh nhưng thiếu độ sâu Kiểu người hướng ngoại thíchvận động, tự do, ít khi chú ý đến chất lượng của các mốiquan hệ xung quanh và hiếm khi giữ chuyện gì đó ở tronglòng.
Kiểu nhân cách hướng nội có xu hướng trầm tĩnh,điềm đạm, rụt rè, khép mình Ngược lại với kiểu hướngngoại, những người có kiểu nhân cách hướng nội thích ởmột mình, thích tự mình giải quyết các công việc Họ suynghĩ thấu đáo, cẩn thận trước khi hành động và bắt đầu mộtmối quan hệ với người khác và thường là khép mình, ít khichia sẻ về mình Họ bình tĩnh hơn do đó cũng hiếm khi xảy
ra xung đột trong đời sống Đôi khi, họ có khả năng đồngcảm, thấu cảm với những xúc cảm của mọi người xungquanh Các mối quan hệ của họ thường rất có chất lượng
Kiểu nhân cách trung gian có biểu hiện của sự phatrộn giữa hai kiểu nhân cách nói trên Họ vừa có thể hănghái, cởi mở, dễ dàng thích nghi và hòa nhập nhưng họ cũngsuy nghĩ rất thấu đáo, bình tĩnh trong hành vi và ứng xử vớimọi người Trong từng trường hợp khác nhau, họ lại chothấy sự pha trộn giữa người ngoại và hướng nội, có lúc họ
Trang 17rất vui vẻ, hào hứng, thích đám đông nhưng cũng có lúc họthích một mình, trầm lặng và khép mình
Cách phân loại của Eysenck đã chỉ ra một cách rất rõràng và logic về 3 kiểu nhân cách cơ bản dựa trên việc xemxét các hành vi, hành động, thái độ và cách mọi người giaotiếp và ứng xử với các mối quan hệ xã hội Trong phạm vicủa đề tài này, tôi chỉ sử dụng cách phân loại nói trên củaH.J Eysenck dựa trên sự bộc lộ bản thân trong hoạt động vàgiao lưu
Trí tuệ cảm xúc của sinh viên có các kiểu nhân cách khác nhau
Trí tuệ cảm xúc
Định nghĩa và các mô hình trí tuệ cảm xúc
Từ năm 1990, đã có một số nhà khoa học đưa ra một
số khái niệm về Trí tuệ cảm xúc
*Theo quan điểm của Peter Salovey và John Mayer.
Hai nhà Tâm lý học Peter Salovey và John Mayer cho
rằng: “Trí tuệ cảm xúc được quan niệm là khả năng hiểu rõ cảm xúc bản thân, thấu hiểu cảm xúc của người khác, phân
Trang 18biện được chúng và sử dụng những thông tin ấy để hưởng dẫn suy nghĩ và hành động của mình” [19;79]
Khái niệm nói trên được đưa ra vào năm 1990 của hainhà Tâm lý học mới chỉ đề cập đến việc tiếp nhận cảm xúcchứ không đề cấp đến việc quản lý cảm xúc Do đó, đếnnăm 1997, hai ông đã nghiên cứu theo quan điểm TTCXtheo kiểu thuần năng lực và đưa ra định nghĩa mới, mà theo
đó: “Trí tuệ cảm xúc là năng lực nhận biết và bày tỏ xúc cảm, hòa xúc cảm vào suy nghĩ, hiểu và suy luận với xúc cảm và điều khiển, quản lý xúc cảm của mình và của người
khác.” [19;80] Từ quan điểm trên trên, năm 1997, Salovey
và Mayer cùng David Caruso đưa ra mô hình TTCX thuầnnăng lực bao gồm 4 năng lực sau:
Sự nhận thức, bày tỏ xúc cảm, thể hiện ở năng lựcnhận ra và bày tỏ xúc cảm của chính bản thân mình Bêncạnh đó, thông qua biểu cảm nét mặt, cơ thể, ngôn ngữ,…chúng ta nhận ra được xúc cảm của người khác, từ đó bộc lộ
sự đồng cảm, thấu cảm
Từ sự nhận thức nói trên, chúng ta hiểu và để xúc cảm
hỗ trợ quá trình tư duy để có thể hỗ trợ cho quá trình phánđoán và ghi nhớ
Trang 19Thấu hiểu và phân tích xúc cảm bao gồm hai năng lực:Năng lực gọi tên xúc cảm của mình và người khác; Nănglực hiểu các mối quan hệ dãn đến những thay đổi của xúccảm
Năng lực điều khiển cảm xúc và kiếm soát cảm xúcmột cách hợp lí để phát triển trí tuệ và xúc cảm
Theo quan điểm của Bar-On
Bar-On xem xét TTCX theo kiểu tổ hợp hay hỗn hợp.Dựa trên cơ sở hiểu biết cảm xúc và xã hội có ảnh hưởngđến khả năng đối phó có hiệu quả của con người đối với
môi trường và hoàn cảnh, ông cho rằng: “Trí tuệ cảm xúc
là một dãy các năng lực phi nhận thức và những kỹ năng ảnh hưởng đến năng lực một người thành công trong hoàn cảnh phải đương đầu với những yêu cầu và sức ép từ môi trường.” Theo quan điểm của mình, nhà TLH người Mỹ
này tiếp cận TTCX dưới góc độ nhân cách và đưa ra môhình TTCX nhiều yếu tố, mở rộng ý nghĩa của cấu trúc nhưsau:
Kỹ năng làm chủ cảm xúc của mình, thể hiện ở sự tựnhận thức được xúc cảm của bản thân mình, ở tính chủđộng, tính độc lập và sự tự hiện thực hóa
Trang 20Kỹ năng điều khiển cảm xúc bên ngoài cá nhân mình,thể hiện trong các mối quan hệ cá nhân, trong trách nhiệm
xã hội và ở sự đồng cảm với người khác
Khả năng thích ứng thể hiện trong giải quyết vấn đềtrong kiểm soát xúc cảm và tính mềm dẻo của tư duy khikiềm chế các stress
Khả năng sự chịu đựng, giải quyết và kiểm soát đượcbản thân khi gặp stress
Khả năng giữ tâm trạng chung cân bằng thể hiện ở sựhạnh phúc, tinh thần lạc quan [8;30]
Theo quan điểm của Daniel Goleman.
Cũng theo hướng tiếp cận theo kiểu hỗn hợp như trên,vào năm 1995, Daniel Goleman đã đưa ra quan điểm của
mình như sau: “Trí tuệ cảm xúc bao gồm năng lực tự kiềm chế, kiểm soát nhiệt tình, kiên trì và năng lực tự thôi thúc bản thân mình.” Từ đó, Goleman đưa ra mô hình TTCX
bao gồm 5 năng lực (1995)
Hiểu biết về cảm xúc của mình thể hiện ở sự tự nhậnbiết những xúc cảm trong các trường hợp