1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài giảng Công tác xã hội với người khuyết tật: Bài 11 - Trần Văn Kham

44 52 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh giá trong công tác xã hội khuyết tật
Trường học Trường Đại Học Xã Hội và Nhân Văn
Chuyên ngành Công tác xã hội
Thể loại bài giảng
Định dạng
Số trang 44
Dung lượng 542,82 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài giảng Công tác xã hội với người khuyết tật - Bài 11: Đánh giá trong Công tác xã hội khuyết tật trình bày các lý thuyết cần có trong đánh giá người khuyết tật, các hình thức đánh giá trong công tác xã hội khuyết tật, công cụ đánh giá định lượng, công cụ đánh giá định tính và bài tập thực hành.

Trang 1

Bài 11 Đánh giá trong công tác xã hội khuyết tật

Trang 2

11.1 Đánh giá trong công tác xã hội khuyết tật

Tiến trình đánh giá bắt đầu ở lần gặp đầu tiên và tiếp tục

thông qua các buổi gặp mặt Tiến trình này bao gồm quan niệm về sự chú ý hay phác hoạ các giới hạn xung quanh các lĩnh vực phù hợp của việc nghiên cứu Nó cũng bao gồm việc tập hợp thông tin phù hợp với bối cảnh và quá trình tư duy, thông qua đó nhân viên và thân chủ cố gắng tạo được ý

nghĩa về thông tin thu thập được

(Hartman, 1994, tr.27)

Trang 3

11.1 Đánh giá trong công tác xã hội khuyết tật

Meyer (1995b, tr.268) ghi nhận lại rằng có 5 bước để thực hiện tiến trình đánh giá:

Thu thập thông tin về dữ liệu và về tổ chức để hiểu được hệ thống;

Can thiệp, một tiến trình mà qua đó nhân viên xã hội sử dụng các tri thức và phán xét để hiểu được những điều cần thu thập trong giai đoạn 1;

Đánh giá về chức năng của thân chủ;

Sự đồng thuận giữa nhân viên xã hội và thân chủ liên quan đến những điều gì sẽ được giải quyết;

Phát triển một kế hoạch can thiệp.

Trang 4

11.1 Đánh giá trong công tác xã hội khuyết tật

Tiến trình đánh giá có thể giúp nhân viên xã hội và thân chủ đạt được cách hiểu về đời sống của thân chủ, về các nhu cầu

và vấn đề cần phải giải quyết

Giống như mọi hoạt động thực hành công tác xã hội, đánh giá được xem là tiến trình trợ giúp lẫn nhau: cả nhân viên xã hội và thân chủ đều có vai trò quan trọng trong việc cung cấp thông tin, trong trải nghiệm, chia sẻ quan điểm, và các cách tiếp cận

Trang 5

11.1 Đánh giá trong công tác xã hội khuyết tật

để hiểu về các cá nhân và những trải nghiệm cuộc sống; tri thức về sự phát triển con người;

hiểu về vai trò của văn hoá, dân tộc, các hệ thống niềm tin,

và về những trải nghiệm của áp lực,

hiểu về tác động của mọi trải nghiệm trong cuộc sống và các

sự kiện về sự phát triển sinh tâm xã; kiến thức về các nguồn lực cộng đồng và các mạng lưới trợ giúp để có thể giúp một

cá nhân giải quyết, xác định, ổn định hoá hay xoá bỏ các vấn

đề của bản thân

Trang 6

11.1 Đánh giá trong công tác xã hội khuyết tật

 Trong tiến trình đánh giá với người khuyết tật, vì khuyết tật có thể phức hợp hay làm phức tạp mối

quan hệ giữa cá nhân và môi trường sống xung

quanh, điều thiết yếu là cần cẩn trọng phát triển và hình thành các công cụ lượng giá

 Các cá nhân khuyết tật phải giải quyết các vấn đề tương tự của cuộc sống như người không khuyết tật, với những hình thức khó khăn khác mà được xem là

bị ảnh hưởng nguy hại qua những điều kiện khuyết tật.

Trang 7

11.2 Các hình thức đánh giá trong công tác xã

hội khuyết tật

Các hình thức đánh giá:

Đánh giá công tác xã hội được hiểu thông qua mô hình cá nhân trong môi trường, một cách tiếp cận sinh thái kéo theo cách

hiểu và đánh giá về sự phù hợp tốt đẹp giữa một cá nhân và

môi trường sống xung quanh (Meyer, 1995b, tr.263)

Trang 8

11.2.1.Đánh giá môi trường sống

Xem xét sự phù hợp của cá nhân trong môi trường sống

Luận điểm này cũng chuyển trọng tâm từ các vấn đề của cá nhân sang cộng đồng và về các vấn đề của cá nhân trong cộng đồng

Cá nhân và cộng đồng được nhìn nhận như thể từng chủ thể

đồng thời ảnh hưởng và bị ảnh hưởng bởi chủ thể kia và do đó được hiểu là có tác động qua lại lẫn nhau.

cả hai “luôn thường xuyên hay có khả năng tương thích với

nhau và qua đó sự can thiệp có thể được thực hiện ở từng phía đều được và có thể được xem là có tác động đến phía kia”

(Meyer, 1995b, tr.19)

Trang 9

11.2.1.Đánh giá môi trường sống

Nhu cầu và năng lực đáp ứng trong môi trường sống không

phải lúc nào cũng cân bằng: Điều này dễ dẫn đến những vấn đề

áp lực, căng thẳng;

Germain và Gitterman cũng ghi nhận rằng áp lực có thể xảy ra

ở ba lĩnh vực:

Trong giai đoạn chuyển đổi và khủng hoảng;

Dưới áp lực của môi trường, như các tổ chức không đáp ứng

được và cấu trúc xã hội;

Thông qua tiến trình cá nhân kém thích ứng.

Trang 10

11.2.1.Đánh giá môi trường sống

Lưu ý về nhận diện tình trạng khuyết tật của thân chủ: mới

diễn ra hay diễn ra trong thời gian dài;

Sự can thiệp chuyên môn của nhân viên công tác xã hội nhằm phục hồi sự cân bằng, khuyến khích hoặc đào tạo thêm những

kỹ năng mới và phát triển mạng lưới các nguồn lực nhằm đáp ứng những nhu cầu mới của thân chủ

Các thành viên trong gia đình và các cá nhân khác có trong hệ thống mối quan hệ của thân chủ đều có thể giúp cho việc phục hồi sự cân bằng và đưa ra các giải pháp giảm thiểu áp lực

Trang 11

11.2.1.Đánh giá môi trường sống

Đánh giá có thể bao gồm những dữ liệu thu được từ các hệ

thống sinh thái mà qua đó thân chủ tương tác như gia đình,

nhà trường, nơi làm việc; …

Đánh giá có thể bao gồm những dữ liệu thu được từ các hệ

thống sinh thái mà qua đó thân chủ tương tác như gia đình,

nhà trường, nơi làm việc; …

Nguồn thông tin có thể bao gồm thân chủ, những cá nhân

quan trọng khác trong hệ thống thân chủ và sự quan sát của

nhân viên xã hội;

Nguồn thông tin có thể bao gồm thân chủ, những cá nhân

quan trọng khác trong hệ thống thân chủ và sự quan sát của

nhân viên xã hội;

Mọi sự khác biệt mà mô tả được thân chủ và tình huống có thể được đánh giá, cả về cá nhân (nhân cách, điều kiện thể chất) và về môi trường;

Mọi sự khác biệt mà mô tả được thân chủ và tình huống có thể được đánh giá, cả về cá nhân (nhân cách, điều kiện thể chất) và về môi trường;

Thông tin nên toàn diện nếu có thể;

Dữ liệu cần được tổ chức theo cách thức dễ hiểu nhất;

Allen-Meares và Law (1993,tr.8-10) có đưa ra mô hình đánh giá:

Trang 12

11.2.1.Đánh giá môi trường sống

Bản đồ sinh thái cổ điển

 Bản đồ này bao gồm một vòng tròn trung tâm và đó là vấn đề trọng tâm của bản đồ

 Đấy thường là tên của một cá nhân nhưng cũng có thể là tên các thành viên trong gia đình và các mối quan hệ của họ với nhau, với cộng đồng hay những cá nhân khác ở các điều kiện khác nhau hay

về điều kiện khuyết tật

 Xung quanh vòng tròn trung tâm này là các vòng tròn khác, mỗi vòng tròn đều mô tả một mối quan hệ giữa vòng tròn trung tâm và các vòng tròn khác

 Các hình thức khác biệt về sự quan trọng và về mối quan hệ được chỉ ra theo ít nhất ba cách: kích cỡ của vòng tròn, qua vị trí của

vòng tròn, và qua độ đậm nét của đườjng tròn được mở rộng ra từ vòng tròn trung tâm.

Trang 14

11.2.1.Đánh giá môi trường sống

Bản đồ bánh (pie)

Bản đồ hình bánh (PIE) được xem là một hình thức thay thế bản

đồ sinh thái Ở đây, trung tâm của vòng tròn là một vòng tròn nhỏ hơn, ở đó là tên của thân chủ, nhóm hay cộng đồng.

Khi bản đồ bánh sử dụng mô hình cá nhân trong môi trường, mối quan hệ giữa các thành tố được chỉ ra là khác nhau Thân chủ và nhân viên xã hội có thể phát triển danh mục các cá nhân, điều

kiện, sự kiện và các vấn đề khác được xem là thiết yếu đối với cuộc sống của thân chủ

Hệ thống bánh này có thể dễ dàng sử dụng trong việc đánh giá những quan điểm của thân chủ về vai trò của khuyết tật trong đời sống cá nhân

Trang 16

11.2.1.Đánh giá môi trường sống

Ở phía ngoài vòng rộng nhất là về mạng lưới duy trì sự tồn tại.

Trang 18

11.2.2.Đánh giá về điểm mạnh của thân

chủ

 Luận điểm về sức mạnh cũng thực sự hữu ích trong việc đánh giá người khuyết tật Mọi mô hình đánh giá, các luận điểm lý thuyết và các mô hình thực hành về công tác xã hội có bao gồm các quan điểm về sức mạnh đều coi sức mạnh như là một chiều kích quan trọng

 Thực hành công tác xã hội từ luận điểm sức mạnh cũng tối ưu các vấn đề sức mạnh của thân chủ trong mọi giai đoạn của tiến trình công tác xã hội

 Trợ giúp cho thân chủ, kể các câu chuyện của bản thân nhằm xác định vị trí của thân chủ ở chỗ có thể kiểm soát và làm chủ được

 Luận điểm về sức mạnh là mang tính trao quyền, nó khuyến khích sự tự quyết của thân chủ và các hình thức trợ giúp về phẩm giá và về sự tôn

trọng của thân chủ được xem là những giá trị chuyên môn nền tảng.

Trang 19

11.2.2.Đánh giá về điểm mạnh của thân chủ

Cách tiếp cận về sức mạnh bắt đầu cùng với thân chủ khi nói

về những câu chuyện của bản thân, với sự trợ giúp và sự

khuyến khích từ nhân viên xã hội (Cowger, 1991, tr.141)

Nhân viên xã hội giải thích và mô tả về vấn đề với thân chủ, về

sự chọn lựa các bối cảnh được xem là phù hợp với tiến trình,

và đó là một tiến trình trao quyền

Nó cho biết việc thân chủ “sở hữu” sự kiểm soát được chia sẻ điều gì và chia sẻ ra sao

Trang 20

11.2.2.Đánh giá về điểm mạnh của thân chủ

Vấn đề được xác định theo luận điểm này cho thấy có sự bất cân bằng giữa các nhu cầu của thân chủ với yêu cầu và các

nguồn lực của môi trường (Cowger, tr.142)

Chẳng có sự phán xét có giá trị nào được tạo ra ở đây mà có tác động tiêu cực đến thân chủ khuyết tật, chẳng có vấn đề

hàm ý nào, mà vấn đề nằm ở phía thân chủ hơn là phía môi

trường

Thân chủ và nhân viên xã hội có thể chuyển hướng khám phá những điểm mạnh có khả năng thể hiện ra của thân chủ và môi trường xung quanh, mà có thể được huy động để giải quyết

vấn đề

Trang 21

11.2.2.Đánh giá về điểm mạnh của thân chủ

Quan điểm về sức mạnh tận dụng được một mô hình đơn giản như là một công cụ đánh giá;

Hai trục cắt nhau tạo thành bốn phần Một trục mô tả các yếu

tố cá nhân và môi trường, trong khi trục thứ hai mô tả về sức mạnh và nhu cầu hoặc sự thiếu hụt ;

Từng phần thể hiện hai nhân tố được ghi nhận ở phần cuối của từng trục:

Sức mạnh của môi trường,

Sức mạnh của cá nhân,

Sự thiếu hụt của môi trường,

Sự thiếu hụt cá nhân

Trang 22

11.2.2.Đánh giá về điểm mạnh của thân chủ

Nhân viên xã hội và thân chủ cùng nhau nhập dữ liệu vào từng phần Trong bốn phần được yêu cầu phát triển một sự đánh giá toàn diện, có phần tập trung vào sức mạnh của thân chủ được

xem là quan trọng nhất, để phát triển nhận thức về trao quyền sức mạnh cho thân chủ và cũng là cách trợ giúp nhân viên xã hội khẳng định được khả năng của thân chủ để giải quyết các vấn đề

Sức mạnh cần được đưa vào bao gồm sức mạnh nhận thức, sức mạnh xúc cảm, sức mạnh động cơ, sức mạnh đối đầu và sức

mạnh liên cá nhân (Cowger, tr.144-46)

Những loại sức mạnh như vậy được xem là sẵn có đối với từng

cá nhân, có hay không có khuyết tật làm hạn chế một số khía

cạnh thực hiện chức năng vận động hay tinh thần

Trang 23

11.2.2.Đánh giá về điểm mạnh của thân chủ

Luận điểm sức mạnh đưa ra một số giả định:

Tất cả mọi người và môi trường đều có khả năng cải thiện

được chất lượng sống của thân chủ;

Nhấn mạnh đến sức mạnh làm giảm động cơ của thân chủ

hướng đến xác định và giải quyết các vấn đề;

Việc khám phá sức mạnh của thân chủ cũng kéo theo tiến trình trợ giúp lẫn nhau giữa thân chủ và nhân viên xã hội;

Việc nhấn mạnh đến sức mạnh của thân chủ cũng làm giảm khả năng “phàn nàn về nạn nhân” và gia tăng sự quan tâm đến cách hiểu các kỹ năng tồn tại của thân chủ;

Mọi nguồn lực môi trường có thể được huy động nhằm giải quyết vấn đề của thân chủ (De Jong và Miller, 1995, tr.729)

Trang 24

hệ thân thuộc Sẵn sàng làm điều gì đó mà cá nhân không thích

Khả năng định hướng Đạt kết quả tốt ở trường học

Cha mẹ có khả năng trợ giúp Anh trai Trung

Giang Môi trường trợ giúp trường học

Sự đa dạng các dịch vụ cho người khiếm thính

Trường học dạy nhào lộn có các học sinh cùng lứa tuổi với Trang Những người bạn không khiếm thị

ở nơi ở MÔI

TRƯỜNG

Không có khả năng giao tiếp với người nói chuyện về ngôn ngữ ký hiệu

Sợ thế giới không khiếm thị khi không có cha mẹ và Trung

Không thích mạo hiểm

Không có bạn bè không khiếm thính

Không có nơi nào cho người khiếm thính và không khiếm thính gặp gỡ và tương tác

Anh trai Thùy

Sợ những người lớn không khiếm thính hơn là các thành viên khác trong gia đình

SỰ THIẾU HỤT

Trang 25

11.2.3.Đánh giá sinh lý-tâm lý-xã hội

Cách đánh giá sinh - tâm – xã hội xác định các khía cạnh sinh học, tâm lý học và xã hội của thân chủ, của hệ thống thân chủ

để hiểu được các vấn đề và các nhu cầu

Lum lưu ý rằng trong quá trình làm việc cùng các thân chủ đa dạng văn hoá, điều quan trọng là cần xác định các khía cạnh văn hoá và tinh thần (Lum 1999, tr.39)

Đánh giá về văn hoá và tinh thần chính là một vấn đề quan

trọng cho mọi thân chủ nhưng đặc biệt hơn là cho các thân chủ khuyết tật

Trang 26

11.2.3.Đánh giá sinh lý-tâm lý-xã hội

Các chiều kích về đánh giá theo mô hình này có thể bao gồm:

Sinh học: thực hiện chức năng thể xác

Tâm lý học: bên trong, tinh thần, xúc cảm

Xã hội: bên ngoài, mối quan hệ, môi trường

Văn hoá: bên ngoài, dân tộc, chủng tộc, khu vực

Tinh thần: siêu nghiệm, tôn giáo, hệ thống niềm tin

Trang 27

11.2.3.Đánh giá sinh lý-tâm lý-xã hội

Mô hình sinh - tâm - xã được xem là hữu ích trong quá trình làm việc với các thân chủ trong lĩnh vực khuyết tật, vì nó cung cấp

một vị trí rõ ràng về đánh giá các chức năng sinh học và cơ hội để bàn luận, đánh giá về việc thực hiện chức năng thể chất hay sự chậm chễ phát triển với các thân chủ, những người tránh bàn luận

về một điều kiện làm hạn chế việc thực hiện chức năng trong môi trường của thân chủ

Việc đưa cách đánh giá tâm lý học vào khung đánh giá cũng giúp giới thiệu các vấn đề tâm thần và lịch sử các vấn đề tâm thần hay những thương tật nhận thức

Trang 28

11.2.3.Đánh giá sinh lý-tâm lý-xã hội

Cách đánh giá tâm xã nhấn mạnh đến các kỹ năng đối mặt của thân chủ với những áp lực

Thân chủ có khả năng quản lý những vấn đề gây căng thẳng mà

họ đã trải nghiệm qua Khuyết tật bất ngờ xảy ra có thể chôn vùi mọi kỹ năng đối mặt của thân chủ và tạo nên một mức độ rất cao

về căng thẳng

Mô hình can thiệp khủng hoảng có thể giúp nhân viên xã hội trợ giúp thân chủ phát triển một loạt kỹ năng đối mặt mới hay các kỹ năng đối mặt với sự chuyển đổi, hay sự tự thích ứng những kỹ năng cũ nhằm bao quát được điều kiện mới

Trang 29

11.2.3.Đánh giá sinh lý-tâm lý-xã hội

Tóm lại ta có thể hiểu rằng mô hình sinh tâm xã là một mô

hình mở rộng nhằm gộp các yếu tố quan trọng về đánh giá văn hoá và tinh thần, có thể tạo được những nội dung có ý nghĩa đối với thân chủ và nhân viên xã hội

Trọng tâm về sinh học được xem là một trong những thành tố thiết yếu về đánh giá nó giúp cho điều kiện khuyết tật được đề cập vào tiến trình đánh giá là theo khía cạnh chuẩn mực chứ không phải là khía cạnh đặc biệt

Vị trí tâm lý về đánh giá cũng rất rõ ràng bao hàm được những vấn đề bệnh tâm thần và những điều kiện tinh thần và cảm xúc khác theo một hình thức bình thường tương tự

Trang 30

11.2.4.Đánh giá về sức khoẻ tâm thần

Thang đánh giá tâm thần tối thiểu (MMSE) cho biết thân chủ suy giảm nhận thức ở mức độ nào: nặng, vừa, nhẹ hay không

Thang này bao gồm các nội dung đánh giá về định hướng, đánh giá khả năng ghi nhận, sự chú ý và tính toán, khả năng hồi ức nhớ lại, đánh giá về ngôn ngữ, khả năng tưởng tượng, trừu tượng

Cuối cùng, nhân viên xã hội tổng kết số điểm đánh giá và đưa ra kết luận chẩn đoán.

Trang 31

11.2.4.Đánh giá về sức khoẻ tâm thần

Thang đánh giá lo âu Zung (SAS) lại đưa ra 20 câu phát biểu

mô tả một số triệu chứng của cơ thể và các mức độ thời gian theo chiều hướng tăng dần để thân chủ lựa chọn mức độ phù hợp

Thang này giúp nhân viên đánh giá được sự lo âu của thân chủ ở mức độ nào, từ đó có cách thức điều trị hợp lý.

Trang 32

11.2.4.Đánh giá về sức khoẻ tâm thần

Thang đánh giá lo âu – trầm cảm – stress (DASS21) cũng

giống như thang đánh giá lo âu Zung đưa ra 21 câu phát biểu

mô tả các triệu chứng cơ thể, bên cạnh là các mức độ đánh giá tương ứng với các thang điểm từ 0 đến 3

Thông qua cách tính điểm nhân viên xã hội có thể đánh giá được các mức độ lo âu – trầm cảm – stress của thân chủ là bình thường, nhẹ, vừa, nặng hay rất nặng.

Ngày đăng: 19/05/2021, 12:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w