1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Một số giải pháp khi vận dụng kiến thức mở rộng phần phân bào vào việc giải bài tập trong dạy học sinh học 9 ở trường THCS chu văn an nga sơn

17 19 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 200,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hơn nữa các kiến thức về di truyền và biến dị nói chung và phần phân bào nói riêng học sinh lớp 9 mới bắt đầu được làm quen với lí thuyết ở chương trình sách giáo khoa không sâu rộng, nh

Trang 1

1 Mở đầu

1.1 Lý do chọn đề tài

Xuất phát từ tình hình thực tế hiện nay nhiều học sinh có tư tưởng học lệch Các em chỉ chú trọng một số môn như: Toán, Lí, Hóa, Tiếng Anh, mà còn xem nhẹ một số môn học trong đó có môn sinh học Hơn nữa các kiến thức

về di truyền và biến dị nói chung và phần phân bào nói riêng học sinh lớp 9 mới bắt đầu được làm quen với lí thuyết ở chương trình sách giáo khoa không sâu rộng, nhưng khi học sinh ôn thi học sinh giỏi các cấp lại gặp rất nhiều dạng bài tập khác nhau Nhiệm vụ bồi dưỡng học sinh giỏi các cấp ở trường trung học cơ

sở Chu Văn An cũng là một trong những nhiệm vụ quan trọng, góp phần cùng với việc giáo dục toàn diện cho học sinh giúp nhà trường hoàn thành nhiệm vụ

mà Đảng và nhân dân Huyện Nga Sơn luôn tin tưởng và giao phó

Trong các đề thi chọn học sinh giỏi các cấp cũng như thi tuyển vào các trường chuyên các kiến thức phần phân bào rất đa dạng và ở nhiều cấp độ Song việc biết cách vận dụng kiến thức đã học vào giải quyết các bài tập vận dụng kiến thức phần phân bào nhiều em còn rất lúng túng

Việc các em chưa biết cách vận dụng bài tập vì đây là những kiến thức còn khá mới mẻ với học sinh, do vậy các em còn lúng túng và chưa nắm được các dạng một cách tổng quát Vì vậy các em thiếu đi sự linh hoạt và sáng tạo trong việc giải các bài tập phần phân bào

Xuất phát từ những lí do trên, tôi đã mạnh dạn chọn sáng kiến kinh

nghiệm với chủ đề: “Một số giải pháp khi vận dụng kiến thức mở rộng phần phân bào vào việc giải bài tập trong dạy học Sinh học 9 ở trường THCS Chu Văn An” Với chuyên đề này tôi mong muốn góp một phần nhỏ bé của mình

vào việc hoàn thành yêu cầu giảng dạy bộ môn sinh học 9 ở trường trung học cơ

sở Chu Văn An Đặc biệt là hoàn thành nhiệm vụ bồi dưỡng học sinh giỏi các cấp mà nhà trường và phòng giáo dục đã tin tưởng và giao phó

1.2 Mục đích nghiên cứu

- Nhằm định hướng cho HS hiểu và biết cách vận dụng được một số kiến thức mở rộng về phân bào vào việc giải quyết các bài tập cơ bản và nâng cao có liên quan trực tiếp tới quá trình dạy và học môn Sinh học ở trường THCS Chu Văn An

- Giúp mỗi học sinh nhận thức rõ nhiệm vụ học tập của mình để tự giác tích cực hơn trong mỗi tiết học sinh học nói riêng cũng như toàn bộ những môn học nói chung

- Giúp học sinh ham mê, yêu thích bộ môn sinh học

- Đối với giáo viên: nâng cao ý thức tự học tự bồi dưỡng, tự đổi mới phương pháp dạy học cho phù hợp với từng đối tượng học sinh góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả giảng dạy

1.3 Đối tượng nghiên cứu

- Áp dụng cho các bài ở môn sinh học 9 đặc biệt là phần chủ đề: “phân bào” sinh học 9 Trường THCS Chu Văn An

- Đối tượng: toàn bộ học sinh khối 9 học tập môn sinh học 9 ở trường THCS Chu Văn An

Trang 2

- Đội tuyển sinh 9 của trường THCS Chu Văn An.

1.4 Phương pháp nghiên cứu

Trong qúa trình thực hiện sáng kiến kinh nghiệm bản thân tôi đã sử dụng

và kết hợp các phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu

- Phương pháp trực quan

- Phương pháp khai thác kinh nghiệm thực tế để giáo dục

- Phương pháp dạy học đặt và giải quyết vấn đề

- Phương pháp tổ chức hoạt động nhóm của học sinh

1.5 Những điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm

- Giúp cho HS hiểu và ý thức được việc hiểu và nắm vững kiến thức về

chủ đề phân bào là cơ sở để các em nắm chắc hơn kiến thức về tế bào cũng như phần di truyền Vấn đề đó có liên quan trực tiếp tới quá trình học tập môn Sinh học nói chung và môn Sinh học 9 nói riêng

- Biết cách vận dụng lí thuyết vào việc giải quyết các bài tập di truyền nói

riêng và bài tập sinh học 9 nói chung

- Đưa ra được phương pháp phù hợp với phần phân bào Trong từng dạng đều có phần lí thuyết rồi có các công thức cơ bản, sau đó là bài tập vận dụng, mức độ khó của bài tập tăng dần Từ đó giúp các em nắm chắc kiến thức, hiểu rõ được phương pháp giải bài tập và áp dụng một cách có hiệu quả

2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm

2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm

Sinh học là một bộ môn khoa học thực nghiệm được gắn liền với đời sống Để thực hiện có hiệu quả việc vận dụng kiến thức lí thuyết vào việc xử lí

các dạng bài tập giáo viên cần xác định :

- Mục tiêu của chuyên đề

- Nội dung, phương pháp, hình thức giảng dạy

- Đối tượng học tập

Tuy nhiên dù đưa nội dung nào trong giảng dạy người giáo viên cũng phải thực hiện nghiêm túc kiến thức cơ bản của môn học biết cách liên hệ và gắn liền giữa lí thuyết và thực tiễn, các công thức đưa ra phải ngắn gọn, chính xác không đưa ra những vấn đề quá khó vượt quá khả năng tiếp thu của học sinh và làm nặng nề giờ học

Đối với bài học mà toàn bộ nội dung có liên quan đến phân bào trong chương trình sinh học lớp 9 Giáo viên phải giúp học sinh nắm các kiến thức một cách đầy đủ, chính xác Đối với những bài khác có liên quan cần dẫn dắt học sinh tìm ra bản chất của sự liên quan Có nghĩa là giáo viên và học sinh cùng nhau học tập và nghiên cứu các kiến thức

2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm

a Về phía giáo viên

- Do chương trình sinh học 9 có nhiều bài kiến thức còn dài nên đôi lúc giáo viên chưa có nhiều thời gian để khắc sâu các kiến thức cho học sinh cũng như hướng dẫn các em vận dụng kiến thức vào làm bài tập

Trang 3

- Các kiến thức mở rộng phần phân bào vừa mới vừa khó, thời gian giảng dạy ở mỗi tiết học còn hạn chế nên giáo viên cũng chưa hướng dẫn cho học sinh học tập một cách có hiệu quả

- Thông thường giáo viên chỉ thiết kế nội dung bài học theo SGK học sinh

sẽ cảm thấy chán học vì học sinh hiện nay còn có tư tưởng học lệch: SGK nói những gì thì học sinh biết điều đó hoặc giáo viên phải cung cấp thông tin Từ đó dẫn tới việc giảng dạy cho các em chưa đạt được hiệu quả cao

Từ những lý do đó mà giáo viên chưa nâng cao được hiệu quả học tập cho học sinh Vậy chúng ta cần phải tìm ra biện pháp để khắc phục vấn đề này

b Về phía học sinh.

- Nhiều học sinh còn có tư tưởng học lệch nhất là học sinh lớp 9, các em

chủ yếu quan tâm đến các môn toán, lí, hóa, mà chưa dành thời gian cho việc học môn sinh học Vì vậy các em còn rất lung túng khi gặp phải các kiến thức

mở rộng và vận dụng phần phân bào

- Nhiều học sinh chỉ học thiên lệch về lí thuyết, còn việc vận dụng vào làm bài tập cũng như thực tế còn ít hoặc kém hiệu quả

- Bản thân một số học sinh cũng có đam mê với môn học nhưng khả năng phân tích, nhận dạng các kiến thức mở rộng phần phân bào còn hạn chế Vì vậy khi gặp những vấn đề phức tạp các em thường nản, mất tập trung nên không giải quyết được một số bài tập nhất là phần mở rộng và nâng cao

- Hiện nay một số học sinh lớp 9 trường THCS Chu Văn An còn hạn chế trong các kỹ năng thu nhận thông tin từ các phương tiện thông tin đại chúng, chưa chịu khó nghiên cứu tài liệu làm vốn kiến thức để vận dụng kiến thức thực

tế vào bài học Vì vậy hiệu quả học tập bộ môn của một số học sinh là chưa cao

- Đó chính là lí do thúc đẩy tôi tìm ra biện pháp khắc phục vấn đề này

2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề

2.3.1 Giải pháp chung

a Giáo viên có thể giúp học sinh nắm chắc phần lí thuyết khi dạy chủ

đề phân bào

- Xác định những kiến thức cơ bản, trọng tâm của chủ đề:

+ Chu kì tế bào gồm: kì trung gian và quá trình nguyên phân

Nguyên phân gồm: kì đầu; kì giữa; kì sau; kì cuối

+ Diễn biến cơ bản của nhiễm sắc thể trong nguyên phân:

Kì đầu: NST bắt đầu đóng xoắn và co ngắn Các NST kép bắt đầu đính vào các sợi tơ của thoi phân bào tại tâm động

Kì giữa: các NST đóng xoắn và co ngắn cực đại, các NST kép xếp thành 1 hàng trên mặt phẳng xích đạo của thoi phân bào

Kì sau: 2 cromatit trong từng NST kép tách nhau tại tâm động thành 2 NST đơn rồi phân li về 2 cực của tế bào

Kì cuối: Các NST đơn duỗi xoắn và dài ra ở dạng sợi mảnh

+ Diễn biến cơ bản của NST trong giảm phân:

Kì đầu I: Các NST kép trong cặp tương đồng tiếp hợp theo chiều dọc, có thể xảy ra trao đổi chéo từng đoạn

Trang 4

Kì giũa I: Các NST kép xếp thành 2 hàng trên mặt phẳng xích đạo của thoi phân bào

Kì sau I: Các NST kép trong cặp tương đồng tách nhau ra và phân li độc lập về 2 cực của tế bào

Kì cuối I: các NST kép nằm gọn trong 2 nhân mới được tạo thành với số lượng là bộ đơn bội kép

Giảm phân II: Diễn biến của NST ở từng kì giống như ở nguyên phân

*Chú ý:

+ Bắt đầu vào phân bào nguyên phân và giảm phân màng nhân và nhân con biến mất, thoi phân bào xuất hiện Ở kì sau khi NST phân chia xong thì thoi phân bào lại biến mất, màng nhân và nhân con lại xuất hiện

+ Số lượng NST trong các kì của nguyên phân lần lượt là 2n kép, 2n kép, 4n đơn, 2n đơn Trong giảm phân I là: 2n kép, 2n kép, 2n kép, n kép Trong giảm phân II là: n kép, n kép, 2n đơn, n đơn

b Định hướng phương pháp giảng dạy bài học có liên quan tới kiến thức phân bào

Để giảng dạy kiến thức có liên quan đến phân bào, giáo viên cần tích hợp một cách có hệ thống các kiến thức phân bào với kiến thức môn học thành nội dung thống nhất, gắn bó chặt chẽ với nhau dựa trên mối liên hệ lí luận và thực tiễn được đề cập trong bài học Vì vậy kiến thức giáo phân bào không phải muốn đưa vào lúc nào cũng được, mà phải căn cứ vào nội dung của bài học có liên quan với vẫn đề phân bào mới có thể tìm chỗ thích hợp để đưa vào Đối với môn Sinh học có thể áp dụng hai dạng khác nhau:

* Dạng lồng ghép

- Ở dạng này, các kiến thức phân bào đã có trong chương trình SGK và trở thành một phần kiến thức nền móng cho phần di truyền Trong SGK Sinh học 9 nội dung này có thể chiếm một số bài

Ví dụ: Bài 11: Phát sinh giao tử và thụ tinh Phần I ở các giai đoạn sinh sản và giai đoạn chin của tế bào sinh dục các kiến thức hoàn toàn liên quan đến nguyên phân và giảm phân Giáo viên có thể khái quát và lồng ghép các kiến thức phân bào vào để giúp học sinh hiểu them bản chất của phân bào, từ đó có thể vận dụng kiến thức khi làm bài tập mở rộng và nâng cao

* Dạng liên hệ

- Ở dạng này các kiến thức phân bào không được đưa vào chương trình và SGK nhưng dựa vào nội dung bài học, giáo viên có thể bổ sung kiến thức phân bào có liên quan với bài học qua giờ lên lớp

Trong SGK sinh 9 có nhiều bài có khả năng liện hệ kiến thức phân bào Tuy nhiên, giáo viên cần xác định các bài học có khả năng lồng ghép và lựa chọn các kiến thức và vị trí có thể đưa nội dung kiến thức vào bài một cách hợp

lí Muốn làm được điều này đòi hỏi giáo viên phải luôn cập nhật các kiến thức

về phân bào và lồng ghép nội dung vào các bài học một cách hợp lí

Để giảng dạy kiến thức phân bào đối với môn Sinh học lớp 9 người giáo viên có thể vận dụng nhiều phương pháp khác nhau sao cho phù hợp mục tiêu bài học các phương pháp thường sử dụng như: phương pháp trực quan, phương

Trang 5

pháp dạy học đặt và giải quyết vấn đề, phương pháp tổ chức hoạt động nhóm, phương pháp hỏi đáp, phương pháp nghiên cứu tài liệu…

Ví dụ : Bài 24: Đột biến số lượng nhiễm sắc thể.

Muốn thực hiện nội dung này ta giao nhiệm vụ hoạt động cho từng nhóm

- Nhóm nói về nguyên nhân dẫn đến thể đa bội

- Nhóm nói về cơ chế hình thành thể đa bội

Trong đó: Mỗi nội dung phải nêu được:

- Nguyên nhân và cơ chế trên có liên quan gì đến phân bào nguyên phân

và giảm phân không?

Sau đó nhóm trình bày, nhóm khác nhận xét bổ sung và cho điểm

Song để thực hiện được nội dung này yêu cầu người giáo viên phải có vốn kiến thức sâu rộng về phân bào và biết cách tổ chức hoạt động và giao nhiệm vụ trước cho học sinh

2.3.2 Giải pháp cụ thể

a Xác định phương pháp giảng dạy bài học có liên quan tới phân bào.

Đối với học sinh THCS, cần giáo dục ý thức quan tâm đến môi trường, trang bị cho các em những hiểu biết và kĩ năng cần thiết để các em có khả năng

sử lý một số vấn đề môi trường cụ thể

Việc lựa chọn phương pháp dạy phù hợp để học sinh lĩnh hội kiến thức một cách tích cực, chủ động

Ví dụ: Bài 9,10: chủ đề: Sự phân bào

Để thực hiện nội dung bài học này thì giáo viên phải giao nhiệm vụ cho học sinh kẻ bảng 9,10 vào phiếu học tập Bản thân giáo viên cũng chuẩn bị một

số tranh ảnh về phân bào nguyên phân và giảm phân.và cho các nhóm thảo luận

để hoàn thành các bảng

Giáo viên sử dụng các phương pháp phù hợp để giúp học sinh nắm vững các kiến thức về nguyên phân và giảm phân như: diễn biến của NST, số nhiễm sắc thể trong từng kì, sự hình thành thoi phân bào,…

b Vận dụng kiến thức phân bào vào giải bài tập.

* Một số dạng bài tập về nguyên phân:

- Dạng 1: Tính số tế bào con sau nguyên phân

- Dạng 2: Tính số NST môi trường cung cấp

- Dạng 3: Tính số lượng và hình thái NST ở mỗi giai đoạn khác nhau của quá trình nguyên phân

* Một số dạng bài tập về giảm phân:

- Dạng 1: Xác định số NST đơn, số NST kép, số sợi cromatit, số tâm động qua các kì giảm phân

- Dạng 2: Xác định số thoi phân bào xuất hiện và bị phá hủy trong quá trình giảm phân

- Dạng 3: Xác định số NST môi trường cung cấp cho quá trình giảm phân

- Dạng 4: Một số dạng bài tập tổng hợp về nguyên phân, giảm phân

* Phương pháp giải bài tập về nguyên phân:

- Dạng 1: Tính số tế bào con sau nguyên phân

+) Kiến thức bổ sung:

Trang 6

Nếu 1 tế bào mẹ nguyên phân k lần liên tiếp thì tạo ra 2k tế bào con

Gọi a là số tế bào mẹ, k là số lần nguyên phân thì tổng số tế bào con tạo ra là: a.2k

+) Phương pháp giải

Tùy vào yêu cầu đề bài, có 3 bước cơ bản sau:

Bước 1: Xác định số tế bào tham gia nguyên phân

Bước 2: Xác định số lần nguyên phân

Bước 3: Xác định công thức tính số tế bào con

+) Các ví dụ cụ thể:

Ví dụ 1: Bốn hợp tử của cùng một loài nguyên phân liên tiếp 4 đợt bằng nhau Tổng số tế bào con được tạo thành là bao nhiêu?

Giải:

Số tế bào con được tạo ra là: 4.24 = 64 tế bào

Ví dụ 2: Ba tế bào A, B, C có tổng số lần nguyên phân là 10, sau các lần nguyên phân tạo ra tổng số 36 tế bào con Biết số lần nguyên phân của tế bào B gấp đôi số lần nguyên phân của tế bào A Tìm số lần nguyên phân và số tế bào con tạo ra từ mỗi tế bào A, B, C

Giải:

Gọi a, b, c lần lượt là số lần nguyên phân của tế bào A, B, C ( điều kiện a,

b, c nguyên dương )

Nếu a = 4 thì b = 8 ta có a + b = 12 lớn hơn 10 điều này không thỏa mãn

đề bài Vậy a = 1 hoặc a = 2 hoặc a = 3

Mặt khác số tế bào con tạo ra sau nguyên phân của 3 tế bào là: 2a + 2b + 2c = 36 Nếu a= 1 thì b = 2, c = 7 Do đó 21 + 22 + 27 = 134 lớn hơn 36 nên trường hợp này không thỏa mãn đề bài

Nếu a = 3 thì b = 6, c = 1 thì 23 + 26 + 21 = 74 lớn hơn 36 nên trường hợp này cũng không thỏa mãn đề bài

Nếu a = 2 thì b = 4, c = 4 do đó 22 + 24 + 2 4 = 36 thỏa mãn điều kiện đề bài Vậy số lần nguyên phân của tế bào A, B, C lần lượt là: 2, 4, 4

Số tế bào con tạo ra từ tế bào A= 22 = 4

Số tế bào con tạo ra từ tế bào B = 24 = 16

Số tế bào con tạo ra từ tế bào C = 24 = 16

Ví dụ 3: Có 3 hợp tử nguyên phân một số lần không bằng nhau và đã tạo

ra tất cả 28 tế bào con Biết theo thứ tự các hợp tử I, II, III thì lần lượt có số lần nguyên phân hơn nhau 1 lần Xác đinh số lần nguyên phân và số tế bào con của mỗi hợp tử

Giải:

Gọi số lần nguyên phân của hợp tử 1 là k1

Số lần nguyên phân của hợp tử 2 là k2

Số lần nguyên phân của hợp tử 3 là k3

Ta có : k2 = k1 + 1

K3 = k1 + 2

Số tế bào của 3 hợp tử là 28 nên : 2k1 + 2k2 + 2k3 = 28

Số tế bào của 3 hợp tử là 28 nên : 2k1 + 2k2 + 2k3 = 28

Trang 7

2k1 + 2.2k1 + 4.2k1 = 28

k1 = 2, k2 = 3, k3 = 4

Vậy số tế bào con của hợp tử 1 là: 22 = 4

Vậy số tế bào con của hợp tử 2 là: 23 = 8

Vậy số tế bào con của hợp tử 3 là: 24 = 16

- Dạng 2: Tính số NST môi trường cung cấp

+) Kiến thức bổ sung:

- Có 1 TB ( chứa 2n NST ) nguyên phân x lần tạo ra 2x tế bào con

Số NST trong các tế bào con là 2n.2x

Số NST tương đương với số nguyên liệu môi trường cung cấp bằng tổng

số NST trong các tế bào con trừ đi số NST trong tế bào mẹ ban đầu: 2x.2n – 2n = 2n(2x -1)

- Có a tế bào nguyên phân các số lần không bằng nhau trong đó x tế bào nguyên phân k1 lần, y tế bào nguyên phân k2 lần… Tổng số tế bào con sinh ra là: x.2k1 + y.2k2 + …

Số NST mới hoàn toàn do môi trường cung cấp là:

x.2n(2k1 -2) + y.2n (2k2 - 2) + …

+) Phương pháp giải:

Tùy vào dữ kiện đề bài có các bước cơ bản sau:

Bước 1: Xác định số tế bào nguyên phân

Bước 2: Xác định số lần nguyên phân và số tế bào con tạo ra

Bước 3: Áp dụng công thức tính số NST

+) Các ví dụ cụ thể:

Ví dụ 1: Có 10 hợp tử của cùng một loài nguyên phân một số lần bằng nhau và đã sử dụng của môi trường nội bào nguyên liệu tương đương 2480 NST đơn Trong các tế bào con được tạo thành, số NST mới hoàn toàn được tạo ra từ nguyên liệu môi trường là 2400 Xác định:

- Tên loài

- Số lần nguyên phân của mỗi hợp tử

Giải:

Gọi x là số lần nguyên phân của mỗi hợp tử ( x nguyên, dương)

Số NST môi trường cung cấp là: 10.2n.( 2x – 1) = 2480 (1)

Số NST mới hoàn toàn do môi trường nội bào cung cấp là:

10.2n.(2x – 2) = 2400 (2)

Từ (1) và (2) ta được 2n = 8 nên đây là ruồi giấm

Thay vào ta được 10.8.(2x – 1) = 2480

Giải ra ta được: x = 5

Ví dụ 2: Quá trình nguyên phân liên tiếp từ một tế bào lưỡng bội của loài

A tạo được 4 tế bào mới với 64 NST ở trạng thái chưa nhân đôi Xác định số lượng NST trong bộ lưỡng bội của loài

Giải:

Vì 4 tế bào mới có chứa 64 NST nên ta có: 4.2n = 64

Giải ra ta được 2n = 16

Trang 8

- Dạng 3: Tính Số lượng và hình thái NST ở mỗi giai đoạn khác nhau của

quá trình nguyên phân

+) Kiến thức bổ sung:

Quá trình nguyên phân gồm 4 kì Số lượng và trang thái NST trong tế bào được thể hiện qua sơ đồ sau:

+) Phương pháp giải:

Bước 1: Xác định số tế bào nguyên phân, số lần nguyên phân

Bước 2: Xác định tế bào đang ở kì nào của lần nguyên phân thứ mấy Bước 3: Áp dụng công thức tính

+) Các ví dụ cụ thể:

Ví dụ 1: Quá trình nguyên phân từ một hợp tử ruồi giấm tạo ra được 8 tế

bào mới

- Xác định số đợt nguyên phân của hợp tử

- Ở kì giữa của lần nguyên phân thứ 3 tổng số NST, cromatit và tâm động trong các tế bào là bao nhiêu?

Giải:

- Gọi x là số lần nguyên phân của hợp tử trên

Ta có: 2x = 8, suy ra 23 = 8, x = 2

Vậy hợp tử trên nguyên phân 3 lần

- Ở kì giữa của lần nguyên phân thứ 3 số tế bào là 22 = 4

Số NST là: 8 x 4 = 32

Số cromatit là: 32 x 2 = 64

Số tâm động là: 32

Ví dụ 2: Một nhóm tế bào của gà đang phân bào nguyên phân, người ta

đếm được có 1248 NST kép đang xếp thành 1 hàng trên mặt phẳng xích đạo của thoi phân bào

- Các tế bào trên đang ở kì nào của quá trình phân bào, số lượng tế bào của nhóm là bao nhiêu?

- Khi các tế bào trên kết thúc đợt phân bào trên thì số tế bào tạo ra là bao nhiêu?

Giải:

- Vì các NST kép trên đang xếp thành 1 hàng trên mặt phẳng xích đạo nên các TB trên đang ở kì giữa của nguyên phân

- Số tế bào của nhóm là: 1248 : 78 = 16 (tế bào)

- Khi kết thúc đợt giảm phân số tế bào tạo ra là: 16 x 2 = 32 (TB)

* Phương pháp giải bài tập về giảm phân:

- Dạng 1: Xác định số NST đơn, số NST kép, số sợi cromatit, số tâm động qua

+) Kiến thức bổ sung:

Trang 9

Dựa vào sự biến đổi hình thái của NST qua các kì của giảm phân, ta có số NST và trạng thái của chúng trong TB như sau b ng sau:ảng sau:

+) Phương pháp giải:

Bước 1: Xác định được các tế bào sinh dục đang ở kì nào của quá trình giảm phân

Bước 2: Áp dụng kiến thức để xác định đúng số lượng thành phần NST Bước 3: Tính số lượng cụ thể

+) Ví dụ minh họa: Một tế bào của lợn có 2n = 38 Quan sát 1 nhóm tế bào của lợn đang tiến hành phân bào người ta thấy có 304 NST kép đang xếp thành 2 hàng trên mặt phẳng xích đạo của thoi phân bào Hãy xác định:

- Nhóm tế bào trên đang ở kì nào của quá trình phân bào? Tính số lượng

tế bào của nhóm?

- Tính số NST, số cromatit và số tâm động trong mỗi tế bào ở các kì của quá trình phân bào trên?

Giải:

- Vì các TB trên có các NST kép đang xếp thành 1 hàng trên mặt phẳng xích đạo của thoi phân bào nên các tế bào trên đang thuộc kì giữa của quá trình giảm phân I Số lượng tế bào của nhóm là: 304 : 38 = 8 TB

- S NST, s cromatit v s tâm ố NST, số cromatit và số tâm động trong các kì của mỗi TB là: ố NST, số cromatit và số tâm động trong các kì của mỗi TB là: à số tâm động trong các kì của mỗi TB là: ố NST, số cromatit và số tâm động trong các kì của mỗi TB là: động trong các kì của mỗi TB là:ng trong các kì c a m i TB l :ủa mỗi TB là: ỗi TB là: à số tâm động trong các kì của mỗi TB là:

- Dạng 2: Xác định số thoi phân bào xuất hiện và bị phá hủy trong quá trình giảm phân

+) Kiến thức bổ sung:

- Mỗi tế bào sinh tinh và sinh trứng qua 2 lần phân bào của giảm phân xuất hiện 3 thoi phân bào

- a tế bào giảm phân thì sẽ xuất hiện hoặc bị phá hủy 3a thoi phân bào

Trang 10

+) Phương pháp giải:

Bước 1: Xác định số tế bào sinh tinh, số tế bào sinh trứng

Bước 2: Áp dụng công thức tính

+) Ví dụ minh họa: Ở gà có bộ NST lưỡng bội trong tế bào là 78 Có 4 tế bào sinh dục sơ khai ở vùng sinh sản đều nguyên phân liên tiếp 5 đợt Tất cả các

tế bào con đều tham gia giảm phân tạo giao tử Tính số thoi phân bào xuất hiện

và bị phá hủy trong quá trình giảm phân của các tế bào nói trên?

Giải:

- Số tế bào sinh giao tử được tạo ra là: 4 25 = 128

- Số thoi phân bào được hình thành và bị phá hủy là: 128 x 3 = 384 (thoi)

- Dạng 3: Xác định số NST môi trường cung cấp cho quá trình giảm phân +) Kiến thức bổ sung:

Số NST môi trường cung cấp cho quá trình giảm phân sinh giao tử bằng chính số NST trong các tế bào sinh giao tử

+) Phương pháp giải:

Bước 1: Xác định bộ NST lưỡng bội của loài

Bước 2: Xác định số lượng tế bào sinh dục chín tham gia vào quá trình giảm phân

Bước 3: Áp dụng công thức tính số lượng NST môi trường cung cấp cho giảm phân

+) Các ví dụ minh họa:

Ví dụ 1: Ở gà có bộ NST 2n = 78 Có 4 tế bào sinh dục sơ khai ở vùng sinh sản đều nguyên phân liên tiếp 3 lần 50% số tế bào con trải qua giảm phân tạo giao tử Xác định số NST đơn môi trường cần cung cấp cho quá trình giảm phân tạo giao tử?

Giải:

- Số tế bào con tạo ra sau nguyên phân là: 4 23 = 32

- Số tế bào tham gia giảm phân là: 32 x 50% = 16

- Số NST môi trường cung cấp cho quá trình giảm phân là: 16 x 78 =

1248 NST

Ví dụ 2: Tại vùng sinh sản của một loài động vật có 5 tế bào sinh dục sơ khai đều nguyên phân 4 đợt Các tế bào con tạo ra đều trở thành tế bào sinh trứng Các tế bào này chuyển chuyển sang vùng chín tiếp tục nhận của môi trường 6240 NST đơn Tính bộ NST lưỡng bội của loài nói trên?

Giải:

- Số tế bào con tạo ra sau nguyên phân là: 5 x 24 = 80 tế bào

- 80 tế bào tham gia giảm phân nhận của môi trường 6240 NST, như vậy

số NST trong các tế bào tham gia giảm phân cũng là 6240

- Bộ NST lưỡng bội của loài nói trên là: 6240 : 80 = 78 ( NST )

- Dạng 4: Một số dạng bài tập tổng hợp về nguyên phân, giảm phân

Ví dụ 1: Một loài có bộ NST lưỡng bội 2n = 6 Xét một tế bào ở vùng sinh sản, trải qua nguyên phân liên tiếp 10 đợt sinh ra một số tế bào con Một nửa số tế bào con phát triển thành tinh nguyên bào đều tham gia vào quá trình giảm phân Xác định:

Ngày đăng: 19/05/2021, 12:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w