Điều quan trọng là GV phải nghiêncứu, đầu tư xây dựng phương pháp dạy và học, giao việc vừa sức cho từng đốitượng học sinh nhằm giúp học sinh tích cực trong hoạt động học tập và tiếp th
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
PHÒNG GD&ĐT THÀNH PHỐ THANH HOÁ
……… ﻙﻙﻙ ……….
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG BẬC HỌC SINH CHƯA
HOÀN THÀNH MÔN TOÁN Ở LỚP 4
Người thực hiện: Nguyễn Thị VânChức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Quảng Phú
SKKN thuộc lĩnh vực (môn): Toán
THANH HOÁ NĂM 2021
Trang 22 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm 2
2.3 Các giải pháp đã sử dụng để nâng bậc học sinh chưa hoàn
2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động
giáo dục, với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường 18
Trang 3nắm được kiến thức Toán học cơ bản mà còn là cơ sở học tốt các môn khác,giúp các em năng động, sáng tạo, tự tin và hình thành nhân cách con người laođộng Chương trình Toán lớp 4 là sự kế thừa, tiếp tục của toán 1, 2, 3 Nội dung
đã có những thay đổi, tăng cường thực hành, ứng dụng kiến thức mới giúp họcsinh phát huy được năng lực, tích cực hơn trong việc học, các bài tập vừa sứcvới học sinh Để đạt được mục tiêu chương trình đề ra, GV phải nắm chắc mụctiêu, nội dung đề khai thác trong từng bài Điều quan trọng là GV phải nghiêncứu, đầu tư xây dựng phương pháp dạy và học, giao việc vừa sức cho từng đốitượng học sinh nhằm giúp học sinh tích cực trong hoạt động học tập và tiếp thuđược những kiến thức và kĩ năng mà chương trình giáo dục Tiểu học quy định.Tuy nhiên, không phải mọi học sinh đều học tập dễ dàng như nhau, có nhữnghọc sinh nắm kiến thức rất nhanh và vận dụng làm bài tập tốt, trong khi đó một
số em khác lại không thể đạt được kết quả như vậy mặc dù đã cố gắng rất nhiều Năm học 2020 – 2021, tôi được nhà trường phân công chủ nhiệm lớp 4C.Vốn là một giáo viên Toán bậc THCS được cấp trên điều động, thuyên chuyển
về dạy Tiểu học, trong thời gian đầu tuy còn nhiều bỡ ngỡ, nhưng bằng lòng yêunghề, yêu trẻ, bản thân tôi đã kịp thời nắm bắt chương trình, học hỏi phươngpháp dạy học từ đồng nghiệp để giảng dạy học sinh hiệu quả Tuy thời gian làmquen với chương trình Tiểu học chưa nhiều, nhưng qua thời gian công tác gầnbốn năm, tôi nhận thấy học sinh lớp 4 tôi chủ nhiệm nhiều em tiếp thu bài cònchậm không nắm được kiến thức cơ bản Các em còn lơ là trong việc học Toánảnh hưởng đến giờ học của các em trong thời gian kế tiếp Các em thực hiện saiđối với những bài toán rất đơn giản, trên lớp các các em không hứng thú vớimôn học này Vì vậy, chất lượng môn Toán ở một số học sinh này chưa cao,việc dạy nâng bậc môn toán cho các em là một vấn đề không hề đơn giản
Xuất phát từ vị trí và tầm quan trọng của môn Toán ở Tiểu học, xuất phát
từ thực trạng dạy và học trong chương trình Toán 4, bản thân tôi không khỏi bănkhoăn, trăn trở, tìm cách tháo gỡ những vướng mắc trong việc giải Toán cho các
em, đồng thời tôi luôn tìm tòi, nghiên cứu để đưa ra những giải pháp tốt nhấtgiúp các em có kiến thức cơ bản về môn Toán lớp 4 để theo kịp chương trìnhlàm tiền đề cho việc tiếp thu kiến thức ở các lớp sau Bằng kinh nghiệm bản thântrong quá trình giảng dạy, tôi xin trao đổi và chia sẻ cùng đồng nghiệp đề tài:
“Một số giải pháp nâng bậc học sinh chưa hoàn thành môn Toán ở lớp 4”.
Với mong muốn góp phần ngăn ngừa và khắc phục tình trạng học sinh lớp 4chưa hoàn thành về môn Toán đồng thời góp phần nâng cao hiệu quả trong côngtác giảng dạy Toán ở Tiểu học
1.2 Mục đích nghiên cứu.
Khi thực hiện đề tài này, bản thân tôi mong muốn chia sẻ một kinh nghiệm nhỏ trong việc dạy các dạng toán lớp 4 cùng đồng nghiệp
Trang 4Giúp học sinh nắm được các kĩ năng tính toán, biết vận dụng kiến thứctổng hợp từ môn Toán, kiến thức xã hội, vốn sống, tư duy… để thực hành vàotính toán hiệu quả Xác định chính xác hơn trình độ, năng lực học tập môn Toáncủa học sinh nói chung, năng lực giải các dạng toán lớp 4 nói riêng.
Nghiên cứu tìm ra các giải pháp hữu hiệu nhất nhằm nâng cao hiệu quảcông tác giảng dạy nhằm nâng bậc cho các em môn Toán lớp 4 và thực hiện tốtmục tiêu giáo dục đào tạo của nhà trường
Tìm hiểu thực trạng chất lượng môn Toán lớp 4 của học sinh Tìm nguyênnhân và cách khắc phục những khó khăn, cản trở chất lượng học tập môn Toáncủa các em, từ đó đưa ra những quyết định cho các giai đoạn và hoạt động dạy -học tiếp theo: Điều chỉnh, hỗ trợ trên các phương tiện, nội dung, phương pháp,phương tiện dạy học…
1.3 Đối tượng nghiên cứu.
Tôi tập trung nghiên cứu nội dung kiến thức Toán lớp 4; yêu cầu chuẩnkiến thức, kĩ năng môn Toán học sinh cần đạt được và các giải pháp nâng bậchọc sinh chưa hoàn thành môn toán ở lớp 4
1.4 Phương pháp nghiên cứu.
Để thực hiện sáng kiến này, tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứusau:
Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lí thuyết: nghiên cứu các tài liệu líluận dạy học, tâm lí học và tài liệu khoa học có liên quan đến đề tài, đặc biệt lànghiên cứu kĩ nội dung chương trình Toán lớp 4
Phương pháp điều tra khảo sát tình hình thực tế dạy và học Toán của giáoviên và học sinh trường Tiểu học Quảng Phú
Phương pháp so sánh, phân tích, thống kê, xử lí số liệu,…
2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm.
2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.
Toán học là một môn khoa học đòi hỏi sự chính xác cao Khả năng giáodục nhiều mặt của môn toán rất to lớn, là tiền đề để phát triển tư duy logic đồngthời bồi dưỡng và phát triển những thao tác mang tính trí tuệ như: trừu tượnghóa, khái quát hóa, phân, tích tổng hợp, dự đoán, chứng minh, giải quyết vấn đề
có căn cứ khoa học, toàn diện, chính xác; có nhiều tác dụng trong việc phát triểntrí thông minh, tư duy độc lập, linh hoạt sáng tạo, góp phần giáo dục ý chí vànhững đức tính tốt như cần cù, nhẫn nại của con người
Trong chương trình Toán ở Tiểu học với các lớp 1, 2, 3 môn Toán chủ yếugồm các nội dung gần gũi với cuộc sống của trẻ, sử dụng các kinh nghiệm đờisống của trẻ, nhưng sang đến giai đoạn lớp 4 cấu trúc chương trình môn Toántập trung vào các nội dung có tính khái quát hơn, tính hệ thống và tính trừutượng hơn Do đó các em học sinh thường gặp rất nhiều khó khăn khi tiếp cậnkiến thức mới và phải nỗ lực rất nhiều mới có thể lĩnh hội được các kiến thức, kĩnăng của môn học
Trong chương trình Toán 4, với hầu hết học sinh lớp 4 mà tôi đã giảng dạytrong những năm vừa qua, các em đã làm tương đối tốt các phép tính với số tự
Trang 5nhiên, các phép tính với phân số, các yếu tố hình học và các dạng giải toán cólời văn (Toán Trung bình cộng, Toán về Tìm hai số khi biết Tổng và Hiệu, Tổng
và tỉ số, Hiệu và Tỉ số), Bên cạnh đó vẫn còn học sinh chưa bắt kịp vớichương trình, với các kiến thức và kĩ năng cần đạt được trong môn Toán lớp 4,nhất là những bài toán, dạng toán mang tính khái quát hơn, đòi hỏi tư duy caohơn các lớp dưới mà các em đã học Để khắc phục tình trạng đó, bản thân tôiluôn trăn trở điều chỉnh phương pháp, có những giải pháp riêng biệt để giúp các
em hoàn thành môn học Chính bởi lí do đó, tôi thấy việc “Nâng bậc học sinh
chưa hoàn thành môn Toán lớp 4” là rất cần thiết Đó cũng chính là động lực
để tôi nghiên cứu và viết đề tài này
- Khó khăn:
Là giáo viên THCS được điều chuyển xuống dạy Tiểu học, trong thời gianđầu, bản thân tôi không khỏi lúng túng trước sự nhận thức còn non nớt của họcsinh Đồng thời lại vừa phải tiếp cận đối tượng dạy học mới, vừa làm quen vớiphương pháp dạy học mới, quả là những khó khăn không nhỏ đối với tôi nóiriêng và nhiều đồng nghiệp như tôi nói chung
2.2.3 Đối với học sinh.
- Thuận lợi:
Học sinh ngoan, ham học, có đầy đủ sách vở, đồ dùng học tập Các em hầuhết đã nắm được mạch kiến thức các lớp học dưới Đa số các em có lòng say mêhọc toán, thích tìm tòi, khám phá điều mới lạ trong toán học, có ý thức học tập
Trang 6tốt, sáng tạo trong các bài toán cần đến sự suy luận lôgic, chủ động tiếp thu bài
2.2.4 Đối với phụ huynh.
- Thuận lợi:
Hầu hết các bậc phụ huynh quan tâm tới việc học tập của con em mình,thường xuyên trao đổi với GVCN lớp nắm bắt thông tin, từ đó có những điềuchỉnh nhằm giúp các em ngày càng tiến bộ hơn
- Khó khăn:
Một bộ phận phụ huynh chưa thực sự quan tâm đến việc học tập của concái, giao việc học tập của con em cho nhà trường Bên cạnh đó, phụ huynh chưanắm được phương pháp sư phạm, cách giải Toán ở Tiểu nên không thể hướngdẫn các em học được
2.2.5 Đối với nội dung chương trình.
- Khó khăn:
Chương trình Toán lớp 4 các em phải học một khối lượng kiến thức khó
và rộng hơn nhiều so với những gì mà các em đã học ở lớp 3 Với nhiều họcsinh, nhất là những học sinh có tư duy và khả năng tiếp thu chậm để nắm đượckiến thức, có những kĩ năng tính và giải toán mà yêu cầu chương trình đưa ra là
cả một vấn đề không đơn giản Đây chính là một nguyên nhân rất quan trọngdẫn tới nhiều học sinh lớp 4 có kết quả môn Toán chưa cao
Qua thực tế dạy học, xuất phát từ những thuận lợi và khó khăn trên, tôinhận thấy nhiệm vụ của người giáo viên dạy Toán không chỉ cung cấp cho các
em những kiến thức cơ bản trong sách giáo khoa, theo phân phối chương trình
mà còn phải rèn cho các em kĩ năng làm thuần thục các dạng bài toán, đặc biệt
là các dạng bài toán đòi hỏi sự suy luận logic và tư duy trìu tượng Ngay sau khinhận lớp, từ đầu tháng 9 tôi đã tiến hành ra đề để khảo sát năng lực của các em
Trang 7ĐỀ KHẢO SÁT MÔN TOÁN (Thời gian làm bài: 40 phút) Câu 1: Đặt tính rồi tính:
a) 57085 + 1750 b) 75897 – 18756 c) 437 x 6 d) 12357 : 3
Câu 2: Tìm x , biết:
a) 75405 + x = 94186 b) x - 1325 = 29100 c) 575 : x = 5 d)7 x
x = 105
Câu 3: Điền đáp số vào chỗ trống của mỗi bài toán sau:
a) Một hình chữ nhật có chiều rộng 18m, chiều dài gấp 3lần chiều rộng Chu vihình chữ nhật đó là: b) Diện tích hình vuông có cạnh 8cm là:
Câu 4: Một tổ công nhân trong 5 ngày làm được 375 sản phẩm Hỏi với mức
làm như thế thì trong 9 ngày tổ công nhân đó làm được bao nhiêu sản phẩm?
Hướng dẫn chấm bài kiểm tra
Câu 1 (3 điểm): Mỗi ý đúng yêu cầu cho 0,75 điểm
Câu 2 (3 điểm): Mỗi ý đúng yêu cầu cho 0,75 điểm
Câu 3 (2 điểm): Mỗi ý đúng cho 1 điểm
Câu 4 (2 điểm): Bài giải thực hiện đúng yêu cầu trình bày đầy đủ cho 2 điểm
Thông qua bài kiểm tra khảo sát, tôi nhận thấy đa số các em còn lúng túngkhi làm bài, các em còn vướng phải các lỗi sau: Còn chậm trong thực hành tínhtoán, chưa thuộc bảng cửu chương; cộng, trừ, nhân, chia có nhớ còn chậm, quênkhông nhớ; còn lẫn lộn, quên cách tìm thành phần chưa biết của phép tính; kỹnăng giải toán có lời văn còn chưa tốt Bởi thế, kết quả bài làm chưa cao
giải quyết, đó là đúc rút kinh nghiệm để: Nâng bậc học sinh chưa hoàn thành môn Toán.
2.3 Các giải pháp đã sử dụng để nâng bậc học sinh chưa hoàn thành môn Toán.
2.3.1 Giải pháp 1: Phân loại đối tượng học sinh.
Ngay từ đầu năm học, qua các bài học trên lớp, qua theo dõi tìm hiểu kếtquả học tập của học sinh các lớp dưới và kết quả bài khảo sát đầu năm, tôi đãsớm phát hiện ra các trường hợp học sinh có khó khăn trong học tập, đi sâu tìm
Trang 8hiểu, phân tích đúng nguyên nhân, tiến hành phân loại và lập danh sách ranhững học sinh cần giúp đỡ Tôi tập chung khảo sát và phân loại học sinh chưahoàn thành môn toán theo các nhóm nguyên nhân chủ yếu như sau:
+ Nhóm khả năng tiếp thu bài chậm, chưa chăm học, hổng kiến thức lớpdưới như: chưa thuộc bảng nhân, bảng chia, chưa biết tìm thành phần chưa biết
của phép tính, giải toán có lời văn còn chưa tốt (nhóm này có 7 em: Nguyễn
Khắc Anh; Nguyễn Văn Hiếu; Nguyễn Thị Mai; Nguyễn Duy Sơn; Mai Trung Kiên; Lâm Trung Kiên; Nguyễn Văn Thái).
+ Nhóm do hoàn cảnh gia đình và các nguyên nhân khác (nhóm này có 4
em: Nguyễn Thị Hà; Ngô Văn Huy; Nguyễn Sỹ Quốc; Nguyễn Trọng Vũ) Trong
nhóm này các em có khả năng tiếp thu bài tốt Nhưng vì điều kiện gia đình khókhăn không có người chăm lo, đôn đốc học tập nên các em chưa tích cực họctập, không hoàn thành nhiệm vụ học tập, dẫn đến kết quả học tập chưa cao.Sau khi đã phân phân loại các học sinh, tôi tiến hành sắp xếp vị trí chỗ ngồihợp lí để giáo viên tiện theo dõi và giúp đỡ
Hình ảnh lớp học được xếp vị trí ngồi theo nhóm năng lực.
2.3.2 Giải pháp 2: Cá biệt hoá từng đối tượng học sinh cần giúp đỡ
Xây dựng môi trường riêng cho mỗi cá nhân trong giờ học có vai trò quantrọng trong việc giúp các em lĩnh hội các kiến thức Do đó giáo viên cần nắmvững, cụ thể lực học của từng cá nhân trong tập thể lớp để từ đó xây dựng môitrường riêng, cách hướng dẫn riêng cho từng em
Ví dụ:
+ Đối với những học sinh do trí tuệ, tư duy kém ở các tiết học các em chậmhiểu, khó hoàn thành các bài tập, không theo kịp các bạn trong lớp Các đối
Trang 9tượng này, giáo viên cần chú ý nhiều hơn, cho các em ngồi lên phía trên, cần sựgiúp đỡ của thầy, cô, bạn bè một cách thường xuyên.
+ Có những học sinh do hoàn cảnh gia đình các em không được quan tâm,chăm sóc chu đáo, các em thường mặc cảm, rụt rè, giáo viên cần sử dụng biệnpháp linh hoạt, vui nhộn để động viên tinh thần cho các em, đồng thời cần có sựphối hợp giữa nhà trường, giáo viên và phụ huynh nhiều hơn
+ Đối với những học sinh chưa chú ý học, còn ham chơi, lơ đãng trong giờhọc Giáo viên nên áp dụng nhiều phương pháp dạy trong một tiết học và liêntục đưa ra những tình huống mới để lôi cuốn các em, giúp các em có thêm hứngthú học tập và ngày càng yêu thích môn Toán
Trang 10Hình ảnh giáo viên giúp đỡ học sinh trong các tiết học.
2.3.3 Giải pháp 3: Nghiên cứu nội dung chương trình, xây dựng các dạng bài tập phù hợp với đối tượng học sinh giúp đỡ.
Một việc làm rất quan trọng để giúp đỡ học sinh chưa hoàn thành mônToán lớp 4 là xây dựng hệ thống câu hỏi gợi mở, các dạng bài tập cho các em.Tôi đã nghiên cứu chương trình, nghiên cứu lỗ hổng kiến thức, kĩ năng mà họcsinh của mình hay mắc để xây dựng một hệ thống bài tập phù hợp theo dạng,theo thời điểm, theo mạch kiến thức, kĩ năng Tôi đã xây dựng các bài tập theocác dạng sau:
2.3.3.1 Xây dựng dạng bài tập lấp " lỗ hổng" kiến thức, kĩ năng ở các lớp dưới.
Trong chương trình môn Toán lớp 4, càng về sau, chương trình càng nặng
về kiến thức và kĩ năng Với những em có lỗ hổng kiến thức, tôi đã xây dựngnhững bài tập phù hợp để cho các em luyện tập thêm trong các tiết học tăngbuổi Các bài tập nhằm lấp lỗ hổng kiến thức cho học sinh cần phải kịp thời,đúng thời điểm và chủ yếu trong thời gian đầu năm học
Ví dụ: Trước khi dạy cho các em kĩ năng nhân (chia) với (cho) số có hai,
ba chữ số thì giáo viên cần xem trong lớp những em nào còn chưa thuộc bảngcửu chương, chưa nhân (chia) thành thạo với (cho) số có một chữ số hay chưatrừ nhẩm thành thạo thì cần có bài tập để lấp những lỗ hổng kiến thức này Cóthể ra các dạng bài tập để củng cố kiến thức, kĩ năng ở lớp 2, lớp 3 mặc dù các
Với các kiến thức trọng tâm nếu được ôn tập kĩ lưỡng, nhiều lần giúp các
em có thể vận dụng tốt vào những bài học mới tiếp theo Với lợi thế học sinhđược học hai buổi/ngày, tôi có thời gian để ôn lại cho các em vào các buổi hai
mà không ảnh hưởng đến chương trình chính khóa
2.3.3.2 Thiết kế dạng bài tập vừa sức, phù hợp với học sinh chưa đạt chuẩn kiến thức, kĩ năng.
Đối với môn Toán lớp 4, ngoài yêu cầu cần đạt về kiến thức kĩ năng, cònyêu cầu học sinh phải hoàn thiện các bài tập cụ thể trong mỗi tiết học Tuynhiên, với học sinh gặp khó khăn trong môn Toán, số lượng bài tập đó vẫn cònrất nặng, các em còn chưa thể làm ngay được Vì vậy, giáo viên nghiên cứu từngbài tập, thiết kế, bổ sung thêm các phương tiện dạy học giúp các em hoàn thànhđược bài tập
Trang 11Ví dụ: Ở tiết Luyện tập (trang 74), học sinh phải thực hiện 5 bài tập, trong
đó có bài tập sau:
Bài 3: Tính bằng cách thuận tiện nhất:
a) 142 x 12 + 142 x 18 b) 49 x 365 - 39 x 365 c) 4 x 18 x 25 Với bài tập này, những học sinh có tư duy tốt, các em sẽ làm rất nhanh dạng này (học sinh phải áp dụng những tính chất đã học, đồng thời cần quan sát, linh hoạt trong việc đổi chỗ các thừa số hay nhận ra thừa số chung) Nhưng với học sinh tiếp thu bài còn chậm, giáo viên có thể xây dựng trên phiếu của bài tập này nhưng dễ hơn để các em hoàn thành được bài tập trên sự định hướng ban đầu của giáo viên như sau:
Tính bằng cách thuận tiện nhất (Điền vào chỗ chấm)
a) 142 x 12 + 142 x 18 b) 49 x 365 - 39 x 365 c) 4 x 18 x 25
= 142 x (12 + 18) = = (4 x 25) x 18
= = =
= = =
* Hoặc sau khi học xong cách thực hiện giải bài toán tìm hai số khi bết hiệu và tỉ số của hai số đó, theo yêu cầu, học sinh phải hoàn thành bài tập sau: Bài 1: Số thứ nhất kém số thứ hai là 123, Tỉ số của hai số là 2 5 Tìm hai số đó Đối với đa số học sinh, chỉ cần dựa vào bài giảng của giáo viên các em có thể hoàn thành ngay được bài giải Song thực tế, vì đây là bài thực hành đâu tiên, nên để học sinh tiếp thu bài còn chậm hiểu rõ bản chất và giải luôn được các bài tập này là việc làm rất khó khăn Chính vì vậy, để giúp các em hoàn thành được, giáo viên cần biến đổi thành các bài tập phù hợp vào phiếu như sau: Bài 1: Số thứ nhất kém số thứ hai là 123, Tỉ số của hai số là 2 5 Tìm hai số đó Hãy điền vào chỗ trống để hoàn thiện bài giải: Bài giải: Ta có sơ đồ: Hiệu số phần bằng nhau là:
Qua các dạng bài tập cụ thể, từ những bài tập thực hành từ dễ đến khó, dưới sự hướng dẫn thêm của giáo viên, học sinh sẽ dần dần hình thành được kĩ
Trang 12năng giải toán Để làm được công việc này, đòi hỏi giáo viên phải thực sự đầu tư
về thời gian, trí tuệ, phải thực sự mong muốn học sinh của mình ngày càng tiếnbộ Đối với học sinh chưa hoàn thành môn học, tôi đã coi trọng tính vững chắccủa kiến thức, kĩ năng hơn là chạy theo mục tiêu đề cao, mở rộng kiến thức nên
đã dành thời gian để các em thực hành các bài tập vừa sức
2.3.3.3 Thiết kế các bài tập để học sinh dễ so sánh và phân biệt các kiến thức, kĩ năng hay nhầm lẫn.
Học sinh Tiểu học, nhanh nhớ nhưng cũng rất dễ quên Trong chương trìnhtoán 4, có một số kiến thức mà học sinh rất dễ lẫn như: chia một tích cho một số
và chia một tổng cho một số, các em hay lẫn lộn giữa các dạng toán có lời văn(Toán về Tìm hai số khi biết tổng và hiệu, Tổng và tỉ số, hiệu và tỉ số) Sau mỗidạng toán, các em có thể đã thành thạo, nhưng sau một thời gian lại quên dạng
và quên cách làm Giáo viên cần xây dựng các bài tập sao cho có thể phân biệtnhiều dạng bài khác nhau để học sinh linh hoạt hơn trong việc xác định dạngtoán, tránh lẫn dạng này với dạng khác
(21 x 35) : 7 = 21 : 7 x 35 : 7 = 3 x 5 = 15 (sai)
Như vậy, học sinh đã nhầm lẫn hai kiến thức này với nhau, áp dụng saikiến thức này cho kiến thức kia Chính vì vậy, tôi đã linh hoạt, ngoài ôn tậpriêng mỗi dạng, giáo viên còn nên ra thêm hai dạng này cùng một lúc, để họcsinh nhận biết, phân biệt rõ hơn
2.3.3.4 Thiết kế các bài tập theo chủ đề, theo mạch kiến thức để luyện tập những kiến thức, kĩ năng khó.
Với học sinh chưa hoàn thành môn học, khả năng tiếp thu của các em baogiờ cũng chậm hơn các bạn Chính vì vậy, sau mỗi kiến thức mới, các emthường không làm ngay được các bài tập vận dụng như các bạn khác mà cầnphải qua thời gian, qua nhiều lần thực hành, qua sự giúp đỡ của thầy, cô, bạn bè.Nắm được đặc điểm đó, giáo viên cần xác định những kiến thức các em cònhổng, kiến thức, kĩ năng trọng tâm và khó trong chương trình để xây dựng cácbài tập theo chủ đề, theo dạng toán, để đảm bảo các em được luyện tập thànhthạo, ghi nhớ chúng qua quá trình luyện tập
Ví dụ: Chia cho số có hai, ba chữ là kiến thức trọng tâm và khó trong
chương trình, trong các tiết luyện tập, giáo viên cần đưa ra các bài tập nhằmcủng cố kĩ năng chia cho số có hai, ba chữ số Chẳng hạn:
Bài 1: Đặt tính rồi tính:
a) 4575 : 56 b) 24357 : 234
Bài 2: Tìm x , biết:
a) x x 56 = 4144 b) 235 x x = 13630