1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Một số biện pháp nhằm nâng cao thể lực cho học sinh lớp 4, 5 thông qua việc tổ chức các trò chơi vận động khi dạy học môn thể dục ở trường tiểu học

16 33 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 448,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

6 Giải pháp 1: Giáo viên cần nghiên cứu kĩ nội dung chương trình môn thể dục khối lớp 4, 5 để hệ thống các trò chơi vận động và thiết kế thêm các trò chơi khác giúp các em phát triển thể

Trang 1

Nội dung Trang

1 MỞ ĐẦU

1.1 Lí do chọn đề tài

2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm 2

2.3 Một số biện pháp nhằm nâng cao thể lực cho học sinh lớp 4, 5

thông qua việc tổ chức các trò chơi vận động khi dạy học môn Thể

dục ở Trường tiểu học

6

Giải pháp 1: Giáo viên cần nghiên cứu kĩ nội dung chương trình

môn thể dục khối lớp 4, 5 để hệ thống các trò chơi vận động và

thiết kế thêm các trò chơi khác giúp các em phát triển thể lực và

vận dụng các trò chơi vào bài học một cách hợp lý

6

Giải pháp 2: Thực hiện đổi mới phương pháp dạy học 6 Giải pháp 3: Nắm vững các bước tổ chức trò chơi vận động phát

triển thể lực

8

Giải pháp 4: Tăng cường công tác kiểm tra đánh giá hoạt động

Giáo dục thể chất trong nhà trường

9

Giải pháp 5: Phối hợp với các tổ chức đoàn thể trong nhà trường để

tổ chức tốt các hoạt động thể dục thể thao, các trò chơi vận động ở

các buổi hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh để tạo

hứng thú học tập và nâng cao thể lực cho học sinh

10

Giải pháp 6: Đầu tư trọng điểm công tác cải tạo xây dựng và tăng

cường các trang thiết bị, dụng cụ sân bãi thể dục thể thao

10

Giải pháp 8: Chọn trò chơi phù hợp với yêu cầu của bài học 11

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 MỞ ĐẦU

1.1 Lí do chọn đề tài.

Trong hệ thống giáo dục nói chung và giáo dục tiểu học nói riêng, mỗi môn học đều góp phần vào việc hình thành cơ sở ban đầu rất quan trọng trong

Trang 2

việc phát triển nhân cách ở học sinh Thể dục là một biện pháp tích cực, tác động nhiều đến sức khoẻ học sinh, nhằm cung cấp cho học sinh những kiến thức vận động cơ bản, làm cơ sở cho học sinh rèn luyện thân thể bồi dưỡng đạo đức tác phong con người mới Nó góp phần làm phong phú sinh hoạt văn hoá giáo dục con người phát triển toàn diện cả về Đức - Trí - Thể - Mĩ Chính vì vậy Đảng và Nhà nước luôn quan tâm đến công tác giáo dục thể chất trong nhà trường, coi sức khỏe là vốn quý nhất của con người chúng ta không thể có ngay một thế hệ thanh niên với sức khỏe dồi dào, thể chất cường tráng để tham gia vào các hoạt động lao động sản xuất, nghiên cứu khoa học để thúc đẩy phát triển đất nước Mà có được lực lao động trẻ, khỏe mạnh, sáng tạo đó thì ngay từ lứa tuổi thiếu niên, nhi đồng họ phải được giáo dục phát triển toàn diện, khỏe mạnh về thể chất, phẩm chất đạo đức trong sáng, phát triển trí tuệ để khi trưởng thành họ đáp ứng được vai trò to lớn của mình là lớp người kế tục sự nghiệp cách mạng vẽ vang của dân tộc, sẵn sàng bước vào cuộc sống lao động, xây dựng và bảo vệ tổ quốc Đây chính là mục tiêu của Đảng và nhà nước ta khi đưa

ra chương trình giáo dục thể chất vào hệ thống giáo dục trong các trường

Mục đích của giáo dục thể chất là giáo dục những kỹ năng vận động cơ bản của các em Nhưng bên cạnh đó, cũng có một điều quan trọng hơn đó là phát triển các tố chất thể lực như: tố chất sức nhanh, mạnh, bền, khéo léo, mềm dẻo, Đó là việc sử dụng các phương pháp giáo dục tố chất vận động cơ bản cho các em Ở cấp tiểu học, phương tiện được sử dụng rộng phổ biến và mang lại hiệu quả cao nhất chính là các bài tập trò chơi vận động Các trò chơi vận động được sử dụng trong quá trình giáo dục thể chất đều mang tính mục đích rõ ràng: hoàn thiện các năng lực vận động, tạo cho các em hứng thú và thực hiện các bài tập một cách tự giác tích cực, trong quá trình tham gia trò chơi, các em biểu lộ tình cảm rất rõ ràng, vui mừng khi chiến thắng, buồn bã khi thua Nên trong quá trình chơi, các em phải thể hiện hết mọi khả năng về sức lực, tập trung chú ý chí, trí thông minh, sự sáng tạo của mình để giúp cho đội thắng cuộc Đây chính là điểm thuận lợi trong quá trình giáo dục thể chất để nâng cao

và phát triển các tố chất thể lực của học sinh khi sử dụng các bài tập trò chơi vận động

Xuất phát từ ý nghĩa và tầm quan trọng của giáo dục thể chất, tác dụng của

trò chơi vận động Tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Một số biện pháp nhằm nâng cao thể lực cho học sinh lớp 4, 5 thông qua việc tổ chức các trò chơi vận động khi dạy học môn Thể dục ở Trường tiểu học”

1.2 Mục đích nghiên cứu:

Mục đích của đề tài này là tìm ra được hệ thống bài tập trò chơi để phát triển thể lực cho học sinh và ảnh hưởng của trò chơi vận động có tác dụng đến

sự phát triển thể lực cho học sinh

Trang 3

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu:

Nghiên cứu thực trạng và một số biện pháp nhằm nâng cao thể lực cho học sinh lớp 4, 5 thông qua việc tổ chức các trò chơi vận động khi dạy học môn Thể dục ở Trường tiểu học”

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu:

Nghiên cứu các trò chơi vận động trong chương trình môn thể dục ở lớp 4,5 nhằm phát triển thể lực cho học sinh

1.4 Phương pháp nghiên cứu:

- Phương pháp phân tích

- Đúc rút kinh nghiệm trong quá trình giảng dạy

- Đọc nghiên cứu các tài liệu

- Quan sát và điều tra tình hình tham gia học tập trước và sau khi thực hiện đề tài

2 NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN

2.1 Cơ sở lý luận:

Thể dục là một môn khoa học quan trọng trong hệ thống giáo dục phổ thông, là hoạt động chủ yếu trong công tác giáo dục thể chất trong giáo dục toàn diện của nhà trường, nhằm trang bị cho học sinh những kiến thức cần thiết những kĩ năng cơ bản để rèn luyện sức khoẻ và đặc biệt nhằm nâng cao sức nhanh, mạnh, bền, khéo léo cho học sinh

Trò chơi vận động là một nội dung kiên thức trong các tiết dạy môn thể dục nhằm rèn luyện và hoàn thiện các vận động cho học sinh Nó là phương tiện chủ yếu giáo dục thể lực cho các em, giải quyết các nhiệm vụ vận động dưới dạng trò chơi nên các em vận động tích cực và thoải mái hơn Trò chơi vận động là phương tiện chủ yếu giáo dục thể lực có hiệu quả cho học sinh

Trò chơi vận động là một trong những phương tiện giáo dục các phẩm chất đạo đức (dũng cảm, kiên trì, mạnh dạn…) và làm cho tình cảm bạn bè thêm thân thiện Trò chơi vận động còn là phương tiện chống lại sự mệt mỏi, căng thẳng của trẻ trong học tập (qua trò chơi vận động hình thành cho các em các phẩm chất thể lực như sự nhanh nhẹn, linh hoạt, dẻo dai)

Chính vì vậy trò chơi vận động là một nội dung rất quan trọng để phát triển thể lực và kích thích thái độ học tập của các em, giúp nâng cao chất lượng giáo dục nhà trường và giáo dục của đất nước ta trong giai đoạn phát triển kinh tế- xã hội hiện nay

Đối với các em học sinh TH ở độ tuổi từ 10 đến 12, việc lựa chọn bài tập thể dục và trò chơi có vận động hợp lý với lứa tuổi này là rất quan trọng Do vậy

Trang 4

đòi hỏi người giáo viên cần nắm vững đặc điểm tâm sinh lý và tâm lý lứa tuổi này

* Về đặc điểm sinh lý:

Hệ thần kinh: Quá trình thần kinh đã có sức mạnh và sự ổn định, Các em

có khả năng mô tả và tiếp thu bằng ngôn ngữ, hấp thụ các cảm giác vận động Những ảnh hưởng điều chỉnh các vỏ não đối với các vùng dưới não còn yếu vì vậy sự tập trung chú ý chưa bền

Quá trình trao đổi chất và năng lượng: Quá trình đồng hoá chiếm ưu thế

so với quá trình dị hoá Sự tiêu hao năng lượng nhiều hơn so với người lớn trong cùng một hoạt động

Hệ tuần hoàn: Khối lượng máu tỷ lệ với trọng lượng cơ thể cao hơn so

với người lớn Kích thích tuyệt đối và tương đối của tim tăng dần theo lứa tuổi Nhịp tim của các em không ổn định, tim mạch của cơ thể trẻ tỷ lệ với sự tăng công suất hoạt động, sự phụ hồi tim mạch sau hoạt động thể lực phụ thuộc vào

độ lớn của lượng vận động Sau hoạt động lượng vận động nhỏ cơ thể trẻ phụ hồi nhanh hơn người lớn Nhưng sau lượng vận động lớn cơ thể trẻ phục hồi chậm hơn người lớn

Huyết áp: Cũng tăng dần theo lứa tuổi, trẻ em sự tăng huyết áp yếu hơn so

với người lớn

Hệ hô hấp: Có đặc điểm thở nhanh và không ổn định, thở rộng và có tỷ lệ

thở ra hít vào bằng nhau Tầng số hô hấp vào khoảng 18 – 27 lần/1phút Dung tích của trẻ so với người lớn là lớn hơn Tuy nhiên nếu tính dung tích sống trên 1kg da của trẻ thấp hơn so với người lớn

* Về đặc điểm tâm lý:

Tri giác: Ở lứa tuổi từ 10 – 12 tuổi thường các em tri giác còn vội vàng,

thiếu chính xác Vì vậy, các em thực hiện động tác dễ sai sót Giáo viên cần sử dụng phương tiện trực quan, hình vẽ, biểu bảng với nội dung đơn giản, dễ hiểu cần nhấn mạnh những yếu tố cần thiết Do tri giác không gian chưa phát triển nên khi giảng dạy động tác, giáo viên cần xoay lưng cùng chiều với các em để thực hiện động tác hoặc sử dụng theo kiểu soi gương thì phải giải thích cho các

em biết như: Thầy bước chân phải thì các em nhìn theo và bước chân trái Tri giác về nhịp độ có đặc điểm riêng khi làm sai không tự nhận thấy mà chỉ nhờ nhịp điệu mới hoàn thành

Khả năng tập trung chú ý: Ở lứa tuổi này chú ý không chủ định chiếm ưu

thế sức tập trung, chú ý thấp Tuy nhiên cũng có nhiều em biết tập trung chú ý

Sự di chuyển chú ý chưa linh hoạt, khối lượng chú ý chưa lớn Sự phân phối chú

ý chưa đúng mức

Trang 5

Trí nhớ: Đặc điểm trí nhớ ở lứa tuổi này là trí nhớ trực quan hình tượng,

các em dễ dàng nhớ sự việc với những hình ảnh cụ thể Một đặc điểm nữa của trí nhớ trong lứa tuổi này là: tính không chủ định chiếm ưu thế, trí nhớ vận động chưa hoàn thiện, chưa chính xác, tiếp thu động tác máy móc không có phê phán… nên các em hay lẫn lộn với những động tác có cử động giống nhau, do

ức chế phân biệt của các em chưa phát triển, cần giải thích kỹ sự khác nhau giữa các động tác

Tư duy: Do có sự chuyển biến, từ tư duy cụ thể sang tư duy trừu tượng, có

thể dạy các em phân tích quá trình thực hiện động tác của bản thân và người khác

Tưởng tượng: Có những tiến bộ rõ rệt, quán trình tưởng tượng thường

phản ánh chủ quan được phát triển chủ yếu trong quá trình tập luyện và vui chơi

Cảm xúc: Cảm xúc phụ thuộc nhiều vào đặc điểm của hệ thần kinh Quá

trình hưng phấn chiếm ưu thế nên dễ mệt mỏi Do vậy, ảnh hưởng đến quá trình cảm xúc của các em Cảm xúc luôn xuất hiện trong vui chơi và tập luyện, thoải mái khi làm được bài, nghi ngờ khi gặp khó khăn Cảm xúc được biểu lộ ra bên ngoài, chưa biết che dấu, vui buồn nhất thời Tâm trang đó thường gặp và chuyển hoá qua lại rất nhanh Vì vậy giáo viên cần thận trọng nhận xét và phê bình bình về mặt tâm lý, cần gây cảm xúc tình cảm cho các em khi có nhiệm vụ vận động, cần có những tác dụng điều chỉnh cảm xúc, bài tập chuyên môn…

Ý thức: Ý thức của các em chưa phát triển đúng mức, do đó khó đặt ra cho

mình một mục đích hành động, sự sẵn sàng khắc phục khó khăn, tính kỉ luật, sự quyết tâm còn yếu Tính kiên trì chưa phát triển rõ rệt, các em chỉ dựa vào mục đích trước mắt còn mục đích lâu dài chưa xác định được Các em rất dũng cảm, biết khó cần thực hiện được, do chưa nhận thức được những khó khăn, nên dễ bị chấn thương Do vậy, khi giảng dạy giáo viên cần giải thích kỹ yêu cầu của từng động tác và và nêu ra yêu cầu sao cho phù hợp với khả năng của các em

Từ những đặc điểm sinh lý trên đây đối với các em học sinh TH khi giảng dạy thể dục cần chú ý những điểm sau:

Ở các em rất nhanh xuất hiện những mối liên hệ của các phản xạ có điều kiện đối với các hoạt động thực tế thường gặp trong cuộc sống Vì vậy đối với các em bài tập càng cụ thể nhiệm vụ hoạt động càng hẹp, bài tập càng dễ hiểu thì việc hoàn thành càng nhanh, phải chú ý đến đặc điểm phát triển của cơ thể,

cơ quan vận động, cần tránh những bài tập tĩnh, kéo dài và các bài tập chấn động

cơ thể mạnh

Trang 6

Cơ của các em giàu tính đàn hồi nhiều nước ít chất Anbumin và muối khoáng hơn người lớn, mà lực của các em lại còn yếu Vì vậy các bài tập đòi hỏi

sự hoạt động quá căng thẳng là không phù hợp với các em

Các bài tập dẻo cần phải hết sức chú ý đến đặc điểm phát triển cơ thể của các em, bởi vì các bài tập nếu làm quá mạnh, sẽ làm giản dây chằng, dẫn tới làm

tư thế bị sai lệch

Đối với các em ở lứa tuổi này cần phải phát triển một cách toàn diện và cân đối các tố chất thể lực, cần chú ý phát triển tố chất nhanh, linh hoạt mềm dẻo Vì vậy trong 10 – 12 tuổi cần cho các em nắm thật chắc những kĩ xảo vận động cơ bản Những kĩ năng, kĩ xảo vận động đã không chỉ có ý nghĩa thực dụng, mà còn có ý nghĩa chung Đối với các em ở lứa tuổi này cần phải phát dụng, mà còn có ý nghĩa chung Đối với các em ở lứa tuổi này cần phải phát triển một cách tuyệt đối các tố chất cần đặc biệt chú ý phát triển tố chất tốc độ, tính linh hoạt và mềm dẻo

Đối với các em 10 – 12 tuổi cần giải thích cụ thể và dễ hiểu, nhưng chủ yếu vẫn là làm mẫu để các em tập theo, ví dụ: bật xa tại chỗ thì cần lưu ý cho các em về tư thế chân trước khi giậm nhảy, tư thế tay khi dậm nhảy và rơi xuống đệm hoặc cát tiếp xúc bằng 2 chân và phối hợp khuỵ gối và tay để giữ thăng bằng

Điều cơ bản trong giảng dạy đối với các em ở lứa tuổi 10 – 12 là phải nghiêm chỉnh thực hiện các bài tập theo thứ tự (Từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp, dần dần nâng cao độ khó) Khi giảng dạy bài tập khó phải dạy theo từng phần sau đó mới tiến hành giảng dạy hoàn chỉnh Có như vậy, các em mới tiếp thu một cách hiệu quả những kĩ năng, kĩ xảo vận động trong chương trình học tập Bên cạnh đó khi giảng dạy thể dục và trò chơi vận động cần tính tới các đặc điểm của hệ thần kinh trung ương, hệ tuần hoàn và hô hấp

2.2 Thực trạng của vấn đề cần giải quyết

2.2.1 Giáo viên chưa dành thời gian nghiên cứu, suy nghĩ, tìm tòi, thiết kế thêm các trò chơi vận động giúp học sinh lớp 4, 5 phát triển thể lực

2.2.2 Giáo viên chưa tạo được hứng thú học tập cho học sinh khi tổ chức các trò chơi vận động cho học sinh

- Quá trình dạy học môn học thể dục còn cứng nhắc, chưa đáp ứng theo

sở thích, năng khiếu của học sinh Nội dung chương trình môn học thể dục nhiều khi còn đơn điệu, thiếu sinh động, lặp lại, nhàm chán không hấp dẫn học sinh, lượng vận động còn thấp, chủ yếu lặp lại là các nội dung của Điền kinh và Thể dục, chiếm 75% Công tác dạy học môn thể dục trong trường vẫn còn mang nặng tính hình thức,nên không gây được hứng thú cho học sinh trong giờ học

Trang 7

- Việc chuẩn bị đồ dùng, cơ sở vật chất trong tiết dạy còn sơ sài, qua loa,

thậm chí không có.

- Thời gian dành cho việc tổ chức các trò chơi trong tiết dạy còn bị cắt xén, không đủ thời gian

- GV còn sử dụng mệnh lệnh, ít có hình thức tuyên dương, khen thưởng học sinh

2.2.3 Học sinh chưa có hứng thú học môn thể dục:

Theo như chúng ta đã biết giờ học thể dục của các em rất quý giá và cần thiết sau một thời gian phải ngồi trên lớp và động não với nhiều môn thì các em lại muốn ra sân tập để chạy nhảy và thay đổi bầu không khí giảm đi sự căng thẳng

2.2.4 Thể lực học sinh chưa đạt được chỉ tiêu đề ra cả về cân nặng, chiều cao

Học sinh ở trường Tiểu học Nga Điền 1 đại đa số là con em nhà làm nông nghiệp, dân số đông nên điều kiện kinh tế còn nhiều khó khăn, gia đình chưa thực sự quan tâm chăm sóc đến chế độ ăn uống dinh dưỡng cho các em nên dẫn đến tầm vóc, chiều cao, cân nặng của nhiều em còn kém so với trường bạn và các bạn cùng lứa tuổi ở thành thị Thực tế giảng dạy thể dục trong nhà trường thì chưa giúp ích được nhiều cho các em, chưa lôi cuốn các em, các em vận động còn ít vì vậy thể lực các em vẫn còn yếu Vì vậy trong những năm qua, học sinh nhà trường tham gia dự thi học sinh giỏi môn thể dục thể thao cấp thành phố nhưng chưa đạt được kết quả cao như mong đợi vì thể lực của các em chưa đảm bảo

2.2.5 Cơ sở vật chất:

Các phương tiện dạy học, đồ dùng dạy học phục vụ thể dục còn thiếu thốn, sân bãi chưa đảm bảo chuẩn

2.3 Một số giải pháp nhằm nâng cao thể thể lực cho học sinh lớp 4, 5 thông qua việc tổ chức các trò chơi vận động khi dạy học môn thể dục ở trường tiểu học.

Giải pháp 1: Giáo viên cần nghiên cứu kĩ nội dung chương trình môn thể dục khối lớp 4, 5 để hệ thống các trò chơi vận động và thiết kế thêm các trò chơi khác giúp các em phát triển thể lực và vận dụng các trò chơi vào bài học một cách hợp lý.

Việc nghiên cứu các trò chơi vận động giúp giúp giáo viên nắm được mục đích của từng trò chơi và vận dụng vào bài dạy một cách phù hợp và hiệu quả hơn

Ví dụ: Một số trò chơi được lựa chọn nhằm phát triển thể lực cho học sinh

TH ở lớp 4, 5

Trang 8

TT Tên trò chơi Lượng

vận động Mục đích của trò chơi

Nhằm rèn luyện sự nhanh nhẹn, khéo léo linh hoạt và làm quen với cách dẫn bóng

Rèn luyện khả năng tập trung chú ý và

kĩ năng chạy, phát triển sức nhanh khả năng linh hoạt, tính nhanh nhẹn

3 Chạy nhanh theo

số

15’ Rèn phản xạ, kĩ năng chạy và phát triển

sức nhanh

4 Chuyền và bắt

bóng tiếp sức 15’

Nhằm rèn luyện kĩ năng di chuyển chuyền và bắt bóng, phát triển sức mạnh của tay, sự phối hợp khéo léo chính xác

5 Lăn bóng bằng tay 15’ Rèn luyện sự khéo léo, nhanh nhẹn

6 Lò cò tiếp sức 15’ Phát triển sức mạnh chân, khả năng

phối hợp nhanh nhẹn khéo léo

7 Mèo đuổi chuột 10’ Rèn luyện kĩ năng chạy, phát triển sức

nhanh, sự thông minh sáng tạo

8 Nhanh lên bạn ơi 15’ Rèn luyện kĩ năng chạy, phát triển sức

mạnh, sự khéo léo nhanh nhẹn

Rèn luyện kĩ năng chạy kết hộp với nhảy, phát triển sức nhanh, sức mạnh chân phối hợp với tay, thân, khéo léo chính xác

10 Nhảy lướt sóng 15’

Rèn luyện khả năng tập trung chú ý, phản xạ nhanh, phát triển sức bật và sức mạnh chân

11 Chuyển nhanh,

Rèn luyện sự khéo léo, nhanh nhẹn, phát triển sức mạnh của chân, giáo dục tinh thần tập thể

Ngoài các trò chơi trên, giáo viên còn có thể thiết kế thêm các trò chơi khác như trò chơi: Cướp cờ, vượt suối, ai nhanh ai khéo, …

Yêu cầu khi thiết kế trò chơi phải chú ý đến mục đích của trò chơi phụ thuộc vào nội dung của bài Thể dục đó Sau giờ học, trò chơi không chỉ để giải trí mà mục đích phải xác định: phát triển chủ yếu một tố chất hay nhiều tố chất

Trang 9

nào của học sinh Bên cạnh đó, trò chơi xây dựng phải có tác dụng giáo dục nhân cách cho học sinh tính cần cù, kiên nhẫn, tinh thần hợp tác tập thể…

Giải pháp 2: Thực hiện đổi mới phương pháp dạy học.

Ngay từ đầu năm học, giáo viên công bố mục tiêu, nội dung, kế hoạch học tập cho học sinh từng khối lớp, để học sinh chủ động lập kế hoạch học tập và ngoại khoá

Trong giờ dạy học: Giáo viên giảm tỷ lệ diễn giảng, tăng tỷ lệ tập luyện lên Thực hiện đổi mới phương pháp dạy học sao cho giờ học sinh động, hấp dẫn, học sinh hứng thú tập luyện đạt đến lượng vận động hợp lý Dạy theo hướng tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh bằng cách tăng cường sử dụng các phương pháp trò chơi, thi đấu

Tăng cường nâng cao hiệu quả tự tập của học sinh bằng cách phân nhóm hoặc quay vòng, có sự quản lí của giáo viên

Tăng cường sự giúp đỡ của giáo viên đối với học sinh yếu

Kết hợp giữa ý thức học tập của học sinh với năng lực thực sự của học sinh để đánh giá cho điểm theo tiêu chuẩn rèn luyện thể thao

Giải pháp 3: Nắm vững các bước tổ chức trò chơi vận động phát triển thể lực.

Để học sinh nắm vững được trò chơi và chơi tốt các trò chơi như: lăn bóng bằng tay, chạy tiếp sức ném bóng vào rổ, trò chơi dẫn bóng… Tôi đã tiến hành thực hiện các bước sau

- Bước 1: Giới thiệu tên trò chơi Nêu mục đích của trò chơi

- Bước 2: Nêu luật chơi, giải thích cho học sinh hiểu, ngôn từ rõ ràng mạch lạc chính xác

- Bước 3: Giáo viên làm mẫu cho học sinh quan sát, tư thế đứng làm mẫu phải để học sinh dễ quan sát phù hợp với địa điểm

- Bước 4: Giáo viên chia nhóm học sinh Cho học sinh chơi thử nếu học sinh vẫn chưa nắm bắt được thì giáo viên cho học sinh chơi thử lần 2 đồng thời giải thích rõ hơn, kỹ hơn

- Bước 5: Giáo viên tổ chức cho học sinh chơi thật, có thi đua và khen thưởng

Ví dụ 1: Trò chơi lăn bóng bằng tay (lớp 4) tôi hướng dẫn học sinh chơi trò chơi như sau:

Bước 1: Giới thiệu tên trò chơi: Lăn bóng bằng tay

Mục đích của trò chơi là nhằm rèn luyện sự khéo léo, nhanh nhẹn, làm quen cách di chuyển và tiếp xúc với bóng

Trang 10

Bước 2: Giáo viên nêu luật chơi, cách chơi và lần lượt các bước còn lại.

Ví dụ 2: Trò chơi chuyển nhanh nhảy nhanh (lớp 5)

Bước 1: Giới thiệu trò chơi chuyển nhanh nhảy nhanh

Mục đích của trò chơi: Nhằm rèn luyện sự nhanh nhẹn khéo léo, phát triển sức mạnh chân, giáo dục tinh thần tập thể của các em

Bước 2: Nêu luật chơi, giải thích cách chơi

Giải pháp 4: Tăng cường công tác kiểm tra đánh giá hoạt động Giáo dục thể chất trong nhà trường.

Việc kiểm tra đánh giá cần đảm bảo tính khoa học hệ thống và khách quan:

Kiểm tra thể lực sơ bộ ban đầu khi học sinh mới bước vào lớp 1 Kiểm tra chiều cao, cân nặng để khi học sinh học hết lớp 5 có thể đánh giá được sự phát triển của từng học sinh trong bốn năm học

Kiểm tra thường xuyên đối với học sinh bằng cách bắt mạch, kiểm tra vệ sinh răng miệng, mắt

Kiểm tra định kỳ về thể lực, sức khoẻ nhằm đạt cơ sở khoa học và thực tiễn công tác giáo dục thể chất

Ngày đăng: 19/05/2021, 11:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w