1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quyền về đời sống riêng tư cá nhân theo pháp luật việt nam

111 11 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 1,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính điều này đã gây ra nhiều khó khăn trong quá trình xác định, áp dụng các quy định pháp luật liên quan đến việc bảo vệ quyền đời sống riêng tư cá nhân, từ đó dẫn đến tình trạng quyền

Trang 1

NGUYỄN QUỐC HUY

QUYỀN VỀ ĐỜI SỐNG RIÊNG TƯ CÁ NHÂN

THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH LUẬT DÂN SỰ VÀ TỐ TỤNG DÂN SỰ

ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU

TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2020

Trang 2

QUYỀN VỀ ĐỜI SỐNG RIÊNG TƢ CÁ NHÂN

THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

Chuyên ngành: Luật Dân sự và Tố tụng Dân sự

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan các nội dung trong Luận văn này hoàn toàn do chính tôi

nghiên cứu thực hiện, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Nguyễn Hồ Bích Hằng,

Giảng viên Khoa Luật Dân sự, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh

Trong luận văn tôi có trích dẫn, sử dụng số liệu của một số bài báo, ý kiến, quan điểm của một số tác giả, nhà nghiên cứu, bản án của Tòa án Sự trích dẫn này được thể hiện cụ thể trong Danh mục tài liệu tham khảo

Tôi xin chịu trách nhiệm về tính trung thực, chính xác của các thông tin, số liệu, ý kiến, quan điểm khoa học đã trình bày trong luận văn

Tác giả luận văn

Nguyễn Quốc Huy

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 10

NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUYỀN ĐỜI SỐNG RIÊNG TƯ CÁ NHÂN 10

1.1 Khái quát về quyền đời sống riêng tư cá nhân 10

1.1.1 Khái niệm quyền đời sống riêng tư cá nhân 10

1.1.2 Đặc điểm quyền đời sống riêng tư cá nhân 11

1.1.3 Các hành vi xâm hại quyền đời sống riêng tư cá nhân 16

1.2 Nội dung về quyền đời sống riêng tư cá nhân 26

1.2.1 Quyền đời sống riêng tư cá nhân là bất khả xâm phạm 26

1.2.2 Quyền đời sống riêng tư cá nhân được bảo đảm an toàn và bí mật 28

1.2.3 Quyền đời sống riêng tư cá nhân có thể bị giới hạn 30

1.3 Quy định về quyền đời sống riêng tư cá nhân trên thế giới và Việt Nam 31

1.3.1 Lịch sử phát triển về quyền đời sống riêng tư cá nhân 31

1.3.2 Quy định về quyền đời sống riêng tư cá nhân của một số quốc gia trên thế giới 33

1.3.3 Quy định về quyền đời sống riêng tư cá nhân trong pháp luật Việt Nam 39

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 44

CHƯƠNG 2 45

BẤT CẬP VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT 45

VỀ QUYỀN ĐỜI SỐNG RIÊNG TƯ CÁ NHÂN 45

2.1 Bất cập và giải pháp hoàn thiện trong quy định pháp luật về quyền đời sống riêng tư cá nhân 45

2.1.1 Bất cập 45

2.1.2 Một số giải pháp hoàn thiện 51

2.2 Bất cập và giải pháp hoàn thiện trong thực tiễn áp dụng pháp luật về quyền đời sống riêng tư cá nhân 55

Trang 6

2.2.1 Bất cập trong thực tiễn áp dụng pháp luật về quyền đời sống riêng

tư cá nhân 55

2.2.2 Một số giải pháp hoàn thiện 61

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 66

KẾT LUẬN 67

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 69 PHỤ LỤC

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Bảo đảm quyền con người luôn là nỗi khát khao và quan tâm của toàn nhân loại Cộng đồng quốc tế đã cùng nhau xây dựng nhiều văn bản pháp lý quan trọng như Tuyên ngôn nhân quyền của Liên hợp quốc năm 1948, Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị của Liên hợp quốc năm 1966, Công ước về quyền trẻ em năm 1989… làm cơ sở pháp lý để bảo vệ các quyền con người Khi xã hội ngày càng phát triển thì vấn đề quyền con người càng được các quốc gia quan tâm và Việt Nam cũng không nằm ngoài xu hướng chung đó Trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay, một trong những mục tiêu hàng đầu là hoàn thiện các quy định pháp luật nhằm bảo vệ các quyền cơ bản của công dân, trong đó có quyền đời sống riêng tư cá nhân

Quyền đời sống riêng tư cá nhân là một trong những quyền hiến định cơ bản

và quan trọng của con người Điều 21 Hiến pháp năm 2013 quy định “Mọi người có

quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình; có quyền bảo vệ danh dự, uy tín của mình Thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình được pháp luật bảo đảm an toàn” Bộ luật Dân sự năm 2015

cũng đã cụ thể hóa quy định này tại Điều 38, theo đó: “Đời sống riêng tư, bí mật cá

nhân, bí mật gia đình là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ” Ngoài ra,

một số văn bản pháp luật chuyên ngành khác như: Luật khám, chữa bệnh năm 2009, Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm

2010, Luật An toàn thông tin mạng năm 2015, Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi,

bổ sung năm 2017), Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, Luật Báo chí năm 2016, … cũng điều chỉnh một cách trực tiếp hoặc gián tiếp đến vấn đề bảo vệ quyền đời sống riêng tư cá nhân Như vậy, có thể thấy rằng hiện nay hệ thống pháp luật Việt Nam

đã ghi nhận và từng bước hoàn thiện các quy định hướng đến bảo vệ và đảm bảo thực thi quyền đời sống riêng tư cá nhân

Tuy nhiên, trong thời đại công nghệ thông tin phát triển mạnh mẽ như hiện nay, việc chúng ta đưa các thông tin đời sống riêng tư cá nhân của mình lên các trang mạng xã hội hay sử dụng vào các giao dịch trực tuyến đã dần trở nên quen thuộc Việc làm này một mặt giúp thuận tiện hơn trong việc sử dụng các dịch vụ

xã hội, tuy nhiên mặt trái của nó là tồn tại những nguy cơ bị người khác đánh cắp

Trang 8

thông tin đời sống riêng tư cá nhân để sử dụng vào mục đích trái pháp luật Cùng

đó, với sự phát triển nhanh chóng của internet cũng không khó để tìm kiếm được các thông tin đời sống riêng tư cá nhân của một chủ thể nào đó trong xã hội, đặc biệt là những đối tượng nổi tiếng như diễn viên, ca sĩ, người mẫu, chính trị gia Hiện nay, vấn đề xâm phạm quyền đời sống riêng tư cá nhân đã và đang diễn ra khá phổ biến, thực tế chỉ với vài cú nhấp chuột thông tin bí mật đời sống riêng tư của cá nhân đã bị phơi bày, tiết lộ một cách tràn lan, không thể kiểm soát Tình trạng nhiều tờ báo, mạng xã hội với nhiều lý do khác nhau đã tiến hành thu thập, cập nhật, đăng tải nhiều thông tin thuộc về bí mật đời sống riêng tư cá nhân của các chủ thể trong xã hội một cách công khai mà không màng đến hậu quả Khi các thông tin đời sống riêng tư cá nhân bị đăng tải như vậy luôn tiềm ẩn những nguy

cơ dẫn đến tổn hại về tinh thần, danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân người trong cuộc và gây ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống riêng tư của mỗi người Chính vì vậy, việc xác định và hiểu rõ được các phạm trù pháp lý liên quan đến quyền đời sống riêng tư cá nhân là điều hết sức quan trọng và cần thiết cho các chủ thể trong xã hội trước nguy cơ bị xâm hại

Tại Việt Nam, tuy quyền đời sống riêng tư cá nhân đã được Hiến pháp năm

2013, Bộ luật Dân sự năm 2015 và một số văn bản pháp luật chuyên ngành ghi nhận

và bảo vệ, nhưng về mặt lý luận cũng như trong thực tiễn xét xử các quy định này vẫn còn mang tính chất chung chung và chưa thực sự rõ ràng Chính điều này đã gây ra nhiều khó khăn trong quá trình xác định, áp dụng các quy định pháp luật liên quan đến việc bảo vệ quyền đời sống riêng tư cá nhân, từ đó dẫn đến tình trạng quyền đời sống riêng tư cá nhân của các chủ thể bị xâm hại nhưng vẫn chưa được bảo vệ kịp thời trong thời gian qua Vì vậy, việc nghiên cứu, phân tích, đánh giá làm

rõ các vấn đề hạn chế, bất cập trong quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật về quyền đời sống riêng tư cá nhân để từ đó đưa ra những giải pháp kiến nghị hoàn thiện là điều rất quan trọng, cấp thiết trong giai đoạn hiện nay Xuất phát từ những

lý do trên, tác giả chọn đề tài “Quyền về đời sống riêng tư cá nhân theo pháp luật

Việt Nam” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Liên quan đến tình hình nghiên cứu quyền về đời sống riêng tư cá nhân đã

có một số công trình cứu của một số tác giả được tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau như:

Trang 9

- Về nhóm tài liệu giáo trình, sách chuyên khảo:

+ Thái Thị Tuyết Dung (2012), “Quyền tiếp cận thông tin và quyền riêng tư

ở Việt Nam và một số quốc gia”, Nxb Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh

Tác giả đưa ra khái niệm và nội dung của “quyền riêng tư”, đánh giá pháp luật về quyền riêng tư ở Việt Nam và một số quốc gia, mối quan hệ giữa quyền tiếp cận thông tin và quyền riêng tư, từ đó đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về quyền riêng tư

+ Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh (2014), “Quyền con người trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam”, Nxb Hồng Đức - Hội luật gia Việt Nam

Tài liệu đánh giá nội dung “quyền riêng tư” qua tiếp cận Tuyên ngôn toàn thế giới

về quyền con người (UDHR) và Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị (ICCPR), từ đó chỉ ra được những nội dung của “quyền riêng tư” dưới góc độ pháp luật quốc tế

+ Nguyễn Văn Cừ, Trần Thị Huệ (2017) “Bình luận khoa học Bộ luật dân sự

năm 2015 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, Nxb Công an nhân

dân Trong phạm vi công trình nghiên cứu, tác giả đã đưa ra cách hiểu về “quyền riêng tư”, “bí mật cá nhân, bí mật gia đình”, tuy nhiên tác giả cũng chỉ mới dừng lại

ở việc đánh giá chung chứ chưa đi sâu phân tích các nội hàm về quyền đời sống riêng tư cá nhân

- Về nhóm tài liệu luận văn, luận án:

+ Lê Đình Nghị (2009), “Quyền bí mật đời tư theo quy định của pháp luật

Việt Nam”, Luận án Tiến sĩ, Trường Đại học Luật Hà Nội Trong luận án tác giả

đã nghiên cứu quyền bí mật đời tư theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005, Hiến pháp năm 1992, đưa ra khái niệm “bí mật đời tư” cũng như đề xuất các giải pháp nhằm bảo vệ quyền bí mật đời tư của cá nhân Thông qua luận án, tác giả đã khái quát cụ thể được các vấn đề về quyền nhân thân và vị trí của quyền bí mật đời tư trong hệ thống các quyền nhân thân và bản chất pháp lý, thực tiễn của việc bảo vệ quyền bí mật đời tư Tuy nhiên, trong công trình của mình tác giả chỉ mới tập trung vào việc nghiên cứu ở góc độ là “quyền bí mật đời tư” theo quy định của

Bộ luật Dân sự năm 2005 mà chưa có sự đề cập, phân tích, đánh giá và làm rõ các vấn đề về “Quyền đời sống riêng tư cá nhân” theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015

Trang 10

+ Nguyễn Thị Huyền Trang (2014), “Quyền được bảo vệ đời tư trong pháp

luật quốc tế và pháp luật Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ, Khoa Luật - Đại học Quốc

gia Hà Nội Nội dung luận văn đã nghiên cứu so sánh các quy định pháp luật quốc

tế và pháp luật Việt Nam về quyền được bảo vệ đời tư và thực tiễn áp dụng quyền này ở Việt Nam, đánh giá thực trạng, lý giải nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế trong việc bảo vệ quyền này, từ đó đưa ra các giải pháp kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền đời tư ở Việt Nam Tuy nhiên, trong phạm vi công trình, tác giả cũng chỉ chủ yếu tập trung vào việc phân tích, so sánh, đánh giá

về quyền được bảo vệ đời tư trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam mà chưa có sự đề cập nhiều đến quyền đời sống riêng tư cá nhân trong hệ thống pháp luật Việt Nam

+ Hoàng Lê Minh (2016), “Quyền bí mật đời tư trong Hiến pháp năm 2013

và thực tiễn tại Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Luật Hà Nội Công

trình nghiên cứu của tác giả đã làm sáng tỏ được một số vấn đề lý luận như khái niệm, đặc điểm, nội dung và lịch sử phát triển của quyền bí mật đời tư trong các bản Hiến pháp Làm rõ được nội hàm của quyền bí mật đời tư trong luật nhân quyền quốc tế thông qua việc nghiên cứu, đánh giá các quy định có liên quan đến các điều ước quốc tế như: Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người năm 1948 (UDHR), Công ước về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 (ICCPR), Công ước về quyền trẻ em năm 1989 (CRC)…; làm rõ được nội hàm của quyền bí mật đời tư trong pháp luật Việt Nam thông qua Hiến pháp, Bộ luật Dân sự, Bộ luật Hình sự, Luật Báo chí, Luật Khám chữa bệnh, từ đó đánh giá được sự tương thích giữa pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế khi quy định về vấn đề này Ngoài

ra, tác giả cũng đã phân tích, đánh giá được các vấn đề thực trạng bảo vệ quyền bí mật đời tư ở Việt Nam, qua đó đề ra được một số giải pháp xây dựng, hoàn thiện pháp luật, cũng như các giải pháp nâng cao hiệu quả việc bảo vệ quyền này Tuy nhiên, trong phạm vi công trình của mình, tác giả chỉ chủ yếu tập trung nghiên cứu những vấn đề xung quanh quyền bí mật đời tư dưới góc độ quyền con người được quy định trong Hiến pháp mà chưa đi sâu vào nghiên cứu các vấn đề về quyền đời sống riêng tư cá nhân được quy định trong Bộ luật Dân sự 2015 và các văn bản pháp luật có liên quan

+ Trần Hoàng Đức (2016), “Quyền riêng tư dưới góc độ lý luận và pháp

luật thực định”, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Luật Hà Nội Tác giả tập trung

Trang 11

phân tích quyền riêng tư dưới góc độ lý luận, chỉ ra những ưu nhược điểm của hệ thống quy định pháp luật Việt Nam về bảo vệ quyền riêng tư, phân tích những yếu

tố ảnh hưởng đến quyền riêng tư trong thời kỳ mới, từ đó kiến nghị những đường lối, giải pháp tăng cường bảo vệ quyền riêng tư cá nhân tại Việt Nam Bên cạnh

đó, tác giả cũng làm sáng tỏ được bản chất của quyền riêng tư, sự giống và khác nhau giữa quan niệm về quyền riêng tư tại Việt Nam và thế giới, làm rõ ý nghĩa và tầm quan trọng của quyền riêng tư, từ đó nâng cao nhận thức của mỗi cá nhân cũng như toàn xã hội trong việc bảo vệ quyền riêng Mặc dù, trong công trình nghiên cứu của mình tác giả có đề cập đến quyền đời sống riêng tư cá nhân, tuy nhiên việc đề cập này chỉ dừng lại ở mức độ sơ lược, chưa có sự nghiên cứu, phân tích chuyên sâu về quyền này

+ Trịnh Minh Tuấn (2018), “Bảo vệ quyền nhân thân đối với đời sống riêng

tư, bí mật gia đình”, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Kinh tế - Luật Công trình

của tác giả tập trung vào việc làm rõ một số vấn đề lý luận về bảo vệ quyền nhân thân nói chung và bảo vệ quyền đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình nói riêng Tác giả đã phân tích, đánh giá được các vấn đề về thực trạng bảo vệ quyền nhân thân đối với đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình ở Việt Nam từ đó chỉ ra một số bất cập, hạn chế và đưa ra một số giải pháp kiến nghị nhằm hoàn thiện về vấn đề này Tuy nhiên, trong phạm vi công trình nghiên cứu của mình, tác giả chỉ tập trung vào nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về bảo

vệ quyền nhân thân đối với đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình mà chưa tập trung nghiên cứu đi sâu vào các vấn đề liên quan đến quyền đời sống riêng

tư cá nhân

- Nhóm các bài viết trên tạp chí, kỷ yếu hội thảo:

+ Thái Thị Tuyết Dung (2012), “Quyền riêng tư trong thời đại công nghệ thông tin”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 9(217) Trong bài viết, tác giả đã trình

bày sơ lược về lịch sử phát triển của quyền riêng tư, một số quan điểm của các học giả nước ngoài về khái niệm “quyền riêng tư”, nội dung, mối quan hệ của quyền riêng tư và quyền tiếp cận thông tin, các mô hình bảo vệ quyền riêng tư trên thế giới

và quyền riêng tư trong các văn bản quốc tế

+ Nguyễn Thị Ánh Hồng (2014), “Bảo vệ quyền đảm bảo bí mật, an toàn thư

tín, điện thoại, điện tín của công dân trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt

Trang 12

Nam” Tạp chí Khoa học pháp lý, số 2/2014 Trong bài viết, tác giả nghiên cứu về

quyền đảm bảo bí mật, an toàn thư tín, điện thoại, điện tín dưới góc độ Điều 125 Bộ luật hình sự năm 1999, có so sánh với pháp luật một số nước trên thế giới

+ Lê Hà Huy Phát, Nguyễn Ngọc Hồng Phượng (2015),“Những điểm mới về

quyền nhân thân của cá nhân trong dự thảo bộ luật dân sự sửa đổi - so sánh với bộ luật dân sự năm 2005”, Kỷ yếu tọa đàm dự thảo bộ luật dân sự (sửa đổi 2015) do

Khoa Luật dân sự Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh tổ chức năm 2015 Trong bài viết, các tác giả đặt ra các vấn đề về khái niệm “quyền bí mật đời tư” hay “quyền của cá nhân đối với đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình” chưa được làm rõ trong Bộ luật dân sự năm 2015, cũng theo các tác giả thì hai khái niệm trên có sự đồng nhất nhau

+ Lê Văn Sua (2016), “Quyền bí mật đời tư cần được hướng dẫn”, Tạp chí

Luật sư Việt Nam, số 5/2016 Trong bài viết tác giả nghiên cứu về khái niệm “bí mật

đời tư”, “quyền bí mật đời tư” và đưa ra quan điểm cá nhân về hai khái niệm này

+ Vũ Công Giao, Phạm Thị Hậu (2017), “Pháp luật bảo vệ quyền bí mật dữ liệu cá nhân trên thế giới và Việt Nam”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số

02/2017 Các tác giả đã nghiên cứu về khía cạnh dữ liệu, quyền bảo vệ bí mật dữ liệu cá nhân trong luật nhân quyền quốc tế, quyền bảo vệ bí mật dữ liệu cá nhân trong pháp luật của một số quốc gia và pháp luật Việt Nam, từ đó đưa ra một số gợi

mở cho Việt Nam

+ Thái Vĩnh Thắng (2017),“Bảo vệ quyền riêng tư ở Hoa Kỳ, Pháp và những kinh nghiệm cho Việt Nam”, Tạp chí Luật học, số 8/2017 Bài viết phân tích cơ sở

lí luận pháp luật và thực tiễn bảo vệ quyền riêng tư ở Hoa Kỳ, Pháp và những kinh nghiệm có thể áp dụng cho Việt Nam

Nhìn chung các công trình nêu trên đã nghiên cứu, đánh giá một cách chung nhất về quyền bí mật đời tư, quyền riêng tư, quyền bí mật dữ liệu cá nhân ở nước ta

và một số quốc gia trên thế giới, trong đó các tác giả đã có những đóng góp khoa học quan trọng như: đưa ra khái niệm và cách tiếp cận về quyền riêng tư; phân biệt quyền riêng tư và bí mật đời tư; các mô hình bảo vệ quyền riêng tư trên thế giới; khái quát về lịch sử phát triển về quyền bí mật đời tư ở Việt Nam; tìm hiểu về việc ghi nhận và bảo hộ quyền bí mật đời tư ở một số quốc gia trên thế giới… Tuy nhiên, nhìn nhận một cách khách quan, các công trình nêu trên mới chỉ dừng lại ở việc

Trang 13

đánh giá chung nhất về quyền riêng tư, bí mật đời tư dưới góc độ quyền con người Hơn nữa, đa phần các công trình nghiên cứu được thực hiện dựa trên các quy định pháp luật đã hết hiệu lực như Hiến pháp năm 1992, Bộ luật Dân sự năm 2005… và hiện nay các văn bản này đã được thay thế bởi các văn bản hiện hành với nhiều quy định thay đổi Vì vậy, các vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền đời sống riêng tư cá nhân chưa được các tác giả nghiên cứu một cách chuyên sâu, cụ thể và tương ứng

Trong khuôn khổ đề tài của mình, tác giả kế thừa có chọn lọc các công trình nghiên cứu trên và có sự đánh giá, phân tích, nghiên cứu sâu hơn quyền về đời sống riêng tư cá nhân trên cơ sở các quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 và các văn bản pháp luật có liên quan

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

- Mục đích nghiên cứu: Tìm ra điểm hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật điều chỉnh về quyền đời sống riêng tư cá nhân, chỉ ra những vướng mắc trong việc áp dụng quyền này trên thực tế, từ đó đưa ra một số giải pháp hoàn thiện

- Nhiệm vụ nghiên cứu: Làm rõ được các vấn đề về khái niệm, đặc điểm và các hành vi xâm hại quyền đời sống riêng tư cá nhân; xác định được các nội dung của quyền đời sống riêng tư cá nhân, cũng như làm rõ được các quy định về quyền đời sống riêng tư cá nhân trên thế giới và Việt Nam Đánh giá được thực trạng và chỉ ra được những điểm hạn chế, bất cập, vướng mắc trong quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng quyền đời sống riêng tư cá nhân, từ đó đưa ra được một số giải pháp nhằm hoàn thiện về quyền này ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

4 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Quyền đời sống riêng tư cá nhân trong hệ thống pháp luật Việt Nam

- Phạm vi nghiên cứu:

+ Về không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu quyền đời sống riêng tư cá nhân theo quy định của pháp luật Việt Nam trên cơ sở kết hợp nghiên cứu, trích dẫn, so sánh, đối chiếu với các quy định có liên quan của một số quốc gia trên thế giới

+ Về thời gian: Đề tài tập trung nghiên cứu các quy định về quyền đời sống riêng tư cá nhân trong các quy định pháp luật hiện hành trên cơ sở kết hợp so sánh, đối chiếu với một số văn bản quy phạm pháp luật trước đây

Trang 14

+ Về nội dung: Trong phạm vi đề tài, tác giả sẽ tập trung đi sâu nghiên cứu các khía cạnh về mặt lý luận, quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn thi hành quyền đời sống riêng tư cá nhân theo quy định của pháp luật

5 Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu, tác giả sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau Cụ thể:

- Phương pháp phân tích: Được sử dụng để phân tích các khái niệm, dữ liệu, đặc điểm, quan điểm khoa học, các quy định pháp luật về quyền đời sống riêng tư

cá nhân Phương pháp này được dùng chủ yếu và phổ biến ở các chương

- Phương pháp so sánh: Dùng để so sánh giữa các quy định pháp luật có liên quan, so sánh giữa các quy định pháp luật hiện hành với các quy định pháp luật trước đây, giữa pháp luật Việt Nam với pháp luật thế giới về quyền đời sống riêng

tư cá nhân Phương pháp này được sử dụng ở cả hai chương của luận văn

- Phương pháp thống kê: Được sử dụng để cung cấp các thông tin, số liệu và

dữ liệu liên quan đến quyền đời sống riêng tư cá nhân để phục vụ cho việc thực hiện

đề tài… Phương pháp này được sử dụng ở cả hai chương của luận văn

- Phương pháp chứng minh: Được dùng để chứng minh cho những nhận định

và kiến nghị của tác giả về thực trạng pháp luật, chứng minh tính cần thiết, tính khả thi của các kiến nghị Phương pháp này được tác giả sử dụng chủ yếu ở chương 2

- Phương pháp tổng hợp: Dùng để tổng hợp các kết quả phân tích, đánh giá từ

đó đưa ra kết luận Phương pháp này được sử dụng ở cả hai chương

- Phương pháp phân tích bản án, phương pháp logic pháp lý: Được sử dụng

để đánh giá các vấn đề pháp lý trong các bản án có liên quan đến đề tài của luận văn, đồng thời đánh giá việc áp dụng pháp luật trong bản án

6 Kết quả thu được sau khi nghiên cứu đề tài

- Về điểm mới: Luận văn là một công trình nghiên cứu chuyên sâu các vấn đề pháp lý liên quan đến quyền đời sống riêng tư cá nhân Hệ thống hóa được các quy định pháp luật liên quan đến việc điều chỉnh quyền đời sống riêng tư cá nhân Chỉ ra được những ưu điểm, hạn chế trong quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng về quyền đời sống riêng tư cá nhân, từ đó đưa ra được các kiến nghị hoàn thiện

Trang 15

- Đóng góp về mặt lý luận, thực tiễn: Với những kết quả nghiên cứu đạt được, Luận văn là một công trình khoa học nghiên cứu một cách có hệ thống các quy định về quyền đời sống riêng tư cá nhân, góp phần hoàn thiện pháp luật về quyền đời sống riêng tư cá nhân nói riêng và quyền nhân thân nói chung Đồng thời, kết quả nghiên cứu cũng có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan, doanh nghiệp và những cá nhân, tổ chức có nhu cầu nghiên cứu, tìm hiểu về quyền đời sống riêng tư cá nhân

7 Bố cục đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, Luận văn gồm 02 chương như sau:

- Chương 1: Những vấn đề cơ bản về quyền đời sống riêng tư cá nhân

- Chương 2: Thực trạng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về quyền đời sống

riêng tư cá nhân

Trang 16

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUYỀN ĐỜI SỐNG RIÊNG TƯ CÁ NHÂN 1.1 Khái quát về quyền đời sống riêng tư cá nhân

1.1.1 Khái niệm quyền đời sống riêng tư cá nhân

Quyền đời sống riêng tư cá nhân (QĐSRTCN) là một trong những quyền cơ bản và quan trọng của con người được ghi nhận tại Hiến pháp (HP) năm 20131 và

Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015.2 Mỗi người đều có QĐSRTCN, điều này được

pháp luật bảo vệ và không ai được phép xâm phạm Tuy nhiên, hiện nay chưa có một văn bản pháp luật nào tại Việt Nam đưa ra khái niệm về QĐSRTCN Trong các quyền của con người, có lẽ QĐSRTCN là một trong những quyền khó định nghĩa, điều này phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau Trong bối cảnh hiện nay, việc ghi nhận bảo vệ QĐSRTCN được xem là một cách để hướng dẫn các chủ thể trong xã

hội hạn chế can thiệp, xâm phạm vào đời sống riêng tư cá nhân của mỗi người

Theo cách định nghĩa của từ điển Tiếng Việt “đời sống được hiểu là không gian sống, cách sống, cách sinh hoạt, còn riêng tư là thuộc về một cá nhân, không chung đụng với người khác”.3 Như vậy, đời sống riêng tư được hiểu là những việc thuộc về một cá nhân trong cuộc sống hằng ngày Đời sống riêng tư cá nhân gắn liền với mỗi cá nhân, đó có thể là những thông tin về hình ảnh, cuộc sống gia đình, tình cảm, con cái, tên gọi, các mối quan hệ, các loại thư tín… Mỗi người đều có một đời sống riêng tư cá nhân riêng và được quyền tự quyết định đối với đời sống riêng

tư cá nhân của mình mà không phải chịu bất kỳ sự can thiệp nào từ những người xung quanh bởi đời sống riêng tư cá nhân bao gồm những lợi ích tinh thần của cá nhân có mối liên hệ với tài sản hoặc không có mối liên hệ với tài sản và là quyền nhân thân của mỗi người

Đời sống riêng tư là khái niệm rộng, bao gồm tập hợp các yếu tố tạo thành nét riêng biệt đặc thù, độc lập của mỗi cá nhân, không thể trộn lẫn và hòa tan vào đời sống riêng của người khác.4

Đời sống riêng tư cá nhân được hình thành trong quá trình sống, thời gian sống, sự trải nghiệm trong các quan hệ xã hội và mang dấu

1

Điều 21 HP năm 2013

2 Điều 38 BLDS năm 2015

3 Từ điển Tiếng Việt (1999), Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, tr.58

4 Phùng Trung Lập (2019), “Cơ sở pháp lý bảo đảm quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia

đình”, Tạp chí dân chủ và pháp luật, số 7 (328), tr.14

Trang 17

ấn riêng của cá nhân Bản thân của mỗi cá nhân thường chủ động trong đời sống riêng tư của mình thông qua việc tự mình quyết định thực hiện các hành vi khác nhau để phục vụ cho đời sống của riêng mình và thường không muốn chia sẻ, bộc lộ cho người khác biết và người khác cũng không được phép tác động vào đời sống riêng tư của mỗi cá nhân Tính chất đời sống riêng tư của mỗi cá nhân là không giống nhau cho dù có thể cùng chung sống trong một môi trường, hoàn cảnh xã hội như nhau Việc xác định các yếu tố tạo nên đời sống riêng tư cá nhân sẽ là căn cứ để xác định được những quyền riêng tư của cá nhân được pháp luật bảo vệ và đảm bảo thực hiện

Quyền về đời sống riêng tư cá nhân là quyền do luật định, việc thực hiện quyền này và mức độ thực hiện đến đâu là do chính cá nhân tự định đoạt bằng hành vi của chính mình, vì mình và tự do hưởng dụng những lợi ích nào đó cho riêng mình, chỉ là của mình và không ai được xâm phạm Với quyền này, cá nhân được sống như mong muốn của mình mà không phải chịu ảnh hưởng, tác động từ các chủ thể, trừ những trường hợp luật định Cá nhân được phép giữ kín những thông tin, tư liệu, dữ liệu gắn liền với cuộc sống riêng tư của mình, được quyền bất khả xâm phạm về thân thể, về nơi ở, thư tín, điện thoại, điện tín và các thông tin điện tử khác mà không một chủ thể nào có quyền tiếp cận, công khai trừ trường hợp được chính người này đồng ý hoặc được bằng quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Từ những nội dung đề cập phân tích đánh giá nêu trên có thể hiểu QĐSRTCN

là một phạm trù pháp lý nhằm đảm bảo cho cá nhân thực hiện được các lựa chọn cho mình cách sống, cách thể hiện chức năng để đạt được ước vọng, điều kiện sống nhằm thỏa mãn những nhu cầu sống trên cơ sở hành động phù hợp với quy định của pháp luật về đời sống riêng tư cá nhân Hiểu một cách cụ thể hơn, QĐSRTCN là quyền của

cá nhân tự mình hành xử các hành vi nhằm đáp ứng trực tiếp nhu cầu sống độc lập theo cách lựa chọn của bản thân mà không ai được phép can thiệp, tác động

1.1.2 Đặc điểm quyền đời sống riêng tư cá nhân

Như đã phân tích ở phần khái niệm, QĐSRTCN là một trong những quyền cơ bản và quan trọng của mỗi người Thông qua quyền này mỗi cá nhân được quyền tự quyết định đời sống riêng tư của mình trên cơ sở phù hợp với quy định pháp luật và không bị can thiệp, xâm hại bởi bất cứ chủ thể nào nếu việc can thiệp đó là trái với

Trang 18

quy định pháp luật Do đó, việc xác định, nhận diện các đặc điểm của QĐSRTCN rất quan trọng và cần thiết, là cơ sở để giúp các chủ thể phân biệt được QĐSRTCN với các quyền dân sự khác Từ bản chất của quyền này, có thể rút ra được QĐSRTCN có những đặc điểm nhận dạng sau:

Thứ nhất: QĐSRTCN là quyền nhân thân, gắn liền với mỗi cá nhân

QĐSRTCN là quyền mang tính chất vô hình, không định dạng ở một trạng thái vật chất và khi đã hình thành thì sẽ ghi đậm dấu ấn của cá nhân QĐSRTCN có thể vĩnh viễn, bất biến và có giá trị về nhân thân gắn liền với mỗi cá nhân và không xác định được bằng tiền Về cơ bản chủ sở hữu QĐSRTCN thường chỉ được hưởng lợi ích tinh thần mà không được hưởng các lợi ích vật chất, những lợi ích vật chất mà chủ thể được hưởng do giá trị tinh thần mang lại QĐSRTCN thường được xác lập dựa trên những cơ sở quy định của pháp luật và các chủ thể có nghĩa vụ tôn trọng giá trị đời sống riêng tư được bảo vệ của mỗi cá nhân Mỗi cá nhân có một đời sống riêng tư riêng, đó là quyền của họ và không chuyển giao cho các chủ thể khác bởi đời sống riêng tư cá nhân là những yếu tố xác định tạo nên dấu ấn cá nhân không thể trộn lẫn, không thể hòa nhập với đời sống riêng tư của cá nhân khác QĐSRTCN gắn liền với bản thân và cuộc sống riêng tư của mỗi cá nhân có liên quan mật thiết đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của người đó Vì vậy, QĐSRTCN do mỗi cá nhân tự lựa chọn và quyết định, điều này phụ thuộc vào quan niệm sống của từng cá nhân, cá nhân có thể lựa chọn cho mình một cách sống, cách thể hiện để tự thỏa mãn, đáp ứng được nhu cầu sống độc lập riêng tư của bản thân

Thứ hai: QĐSRTCN chứa đựng những thông tin mang tính bí mật Tính bí

mật của thông tin đời sống riêng tư cá nhân này có thể được xác định theo nhiều tiêu chí khác nhau như:5

(i) Xác định theo bản chất của thông tin đó hoặc thông qua những hình thức chứa đựng thông tin, truyền thông tin cụ thể để xác định đó là thông tin bí mật Ví dụ như cảm xúc vui buồn của một cá nhân được thể hiện trực tiếp trước các chủ thể thì không được xem là bí mật đời sống riêng tư cá nhân nhưng nếu cảm xúc đó được cá nhân ghi vào nhật ký thì đây được coi là bí mật đời sống riêng tư cá nhân và không được phép công bố Hoặc khi hai cá nhân nói chuyện điện thoại, gửi thư cho nhau thì mặc nhiên nội dung của cuộc điện thoại hoặc những bức thư là mang tính bí mật

5 Hoàng Lê Minh (2016), Bí mật đời tư trong Hiến pháp năm 2013 và thực tiễn tại Việt Nam, Luận văn thạc

sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr12-14

Trang 19

(ii) Xác định theo quy định của pháp luật Hiện nay, pháp luật không thể dự liệu và liệt kê được toàn bộ những thông tin liên quan đến đời sống riêng tư cá nhân mà chỉ có thể khái quát và cụ thể hóa trong một số trường hợp cụ thể Chẳng hạn như tại khoản 5 Điều 8 Luật Phòng, chống nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS) năm 2006 quy định nghiêm cấm hành vi công khai tên, địa chỉ, hình ảnh của người nhiễm HIV hoặc tiết lộ cho người khác biết việc một người nhiễm HIV khi chưa được sự đồng ý của người

đó, trừ trường hợp luật định Hay tại Điều 8 Luật Khám chữa bệnh năm 2009 quy định người bệnh có quyền được giữ bí mật thông tin về tình trạng sức khỏe và đời

tư được ghi trong hồ sơ bệnh án và các thông tin này chỉ được phép công bố khi người bệnh đồng ý hoặc để chia sẻ thông tin, kinh nghiệm nhằm nâng cao chất lượng chẩn đoán, chăm sóc, điều trị người bệnh giữa những người hành nghề trong nhóm trực tiếp điều trị cho người bệnh hoặc trong trường hợp khác được pháp luật quy định Hoặc tại khoản 3 Điều 33 Luật Phòng chống bệnh truyền nhiễm năm 2007 quy định thầy thuốc và nhân viên y tế trong phòng lây nhiễm bệnh truyền nhiễm tại các cơ sở khám chữa bệnh phải có trách nhiệm giữ bí mật thông tin liên quan đến người bệnh Ở khía cạnh này có một vấn đề đặt ra là các thông tin về tên tuổi, hình ảnh, lịch trình đi lại của các cá nhân bị dương tính với Covid-19 có được xem là thông tin thuộc về đời sống riêng tư cá nhân và có bắt buộc phải giữ bí mật hay không Câu trả lời ở đây là có bởi vì các thông tin về tên tuổi, hình ảnh, lịch trình đi lại là những thông tin riêng tư cá nhân của mỗi người,

họ có quyền được giữ bí mật và được pháp luật bảo vệ, các chủ thể khác phải tôn trọng và không được tự ý công bố công khai nếu như không có sự đồng ý của họ Điều này là cần thiết và phù hợp với những chủ thể có ý thức tuân thủ pháp luật về phòng chống dịch bệnh truyền nhiễm, còn đối với các chủ thể không chủ động, trung thực và cố tình trốn tránh trách nhiệm phòng chống bệnh tật thì vấn để đảm bảo QĐSRTCN của họ trong trường hợp này cần phải được hạn chế bởi dịch Covid-19 là một đại dịch toàn cầu, có tốc độ lây lan nhanh và tính chất nguy hiểm rất cao vì vậy đòi hỏi các quốc gia trong đó có Việt Nam cần phải có sự kiểm soát chặt chẽ để hạn chế thấp nhất mức thiệt hại có thể xảy ra Chính vì vậy, trong trường hợp này việc công bố các thông tin về người bị dương tính với Covid-19 là điều cần thiết bởi nếu không công bố kịp thời thì có thể sẽ gây nguy hại cho cộng đồng, xã hội Tuy nhiên, việc công bố thông tin ở đây là phải nhằm vào mục đích phục vụ cho việc phòng tránh, kiểm soát dịch bệnh chứ không phải nhằm vào mục

Trang 20

đích xúc phạm, lăng mạ, sỉ nhục người có thông tin bị công bố hoặc phục vụ vào các mục đích xấu khác Như vậy, có thể thấy rằng QĐSRTCN là quyền lợi hợp pháp, chính đáng của mỗi cá nhân và cần phải được bảo vệ, tuy nhiên cũng cần phải đảm bảo rằng lợi ích cá nhân phải đặt trong mối quan hệ với lợi ích cộng đồng, lợi ích quốc gia nên việc công bố thông tin cá nhân của những người bị dương tính Covid-19 trong trường hợp những người này cố tình trốn tránh thực hiện trách nhiệm và nghĩa vụ của mình trong việc phòng chống dịch bệnh truyền nhiễm là điều cần thiết và phù hợp

(iii) Xác định khi chủ sở hữu thông tin áp dụng các biện pháp bảo mật Biện pháp bảo mật được hiểu là các cách thức mà người sở hữu thông tin sử dụng để chống lại sự tiếp cận, xâm nhập và can thiệp trái phép các thông tin đời sống riêng

tư cá nhân của họ từ các chủ thể khác Trường hợp chủ sở hữu cho rằng người khác cung cấp, tiết lộ thông tin đời sống riêng tư cá nhân nhưng không được sự đồng ý của họ thì việc cung cấp, tiết lộ này được xem là hành vi xâm phạm bí mật đời sống riêng tư cá nhân của chủ sở hữu thông tin Bởi bản thân của chủ sở hữu thông tin trong trường hợp này không muốn cho người khác tiếp cận, cung cấp, công bố, tiết

lộ các thông tin liên quan đến đời sống riêng tư cá nhân của họ, việc có tiết lộ hay không do chính bản thân chủ sở hữu đó quyết định

(iv) Xác định thông qua quan hệ nghĩa vụ giữa chủ sở hữu thông tin đời sống riêng tư cá nhân với các chủ thể khác Trong quan hệ nghĩa vụ này giữa chủ sở hữu thông tin và những người biết được thông tin đó có sự thỏa thuận về nghĩa vụ bảo mật Theo đó, những người biết được thông tin đời sống riêng tư cá nhân do chủ sở hữu cung cấp phải có nghĩa vụ giữ bí mật thông tin mình đã biết, tuyệt đối không được tự ý cung cấp, công khai các thông tin do chủ sở hữu cung cấp khi chưa có sự đồng ý của họ Ví dụ như khi tham gia vào các quan hệ xác lập, thực hiện hợp đồng, các bên trong hợp đồng không được tiết lộ thông tin về đời sống riêng tư cá nhân của nhau mà mình đã biết được trong quá trình xác lập, thực hiện hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác;6 hoặc khi tham gia vào quan hệ hợp đồng dịch vụ, bên cung ứng có nghĩa vụ phải giữ bí mật thông tin mà mình biết được trong thời gian thực hiện công việc, hoặc trong quan hệ ủy quyền bên được ủy quyền phải giữ

bí mật thông tin mà mình biết được trong khi thực hiện việc ủy quyền7

Trang 21

Những thông tin đời sống riêng tư cá nhân sẽ không được coi là bí mật nếu

có ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích công cộng, lợi ích quốc gia, đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác Trong những trường hợp này, việc công bố thông tin đời sống riêng tư cá nhân mặc dù không được sự cho phép của chủ sở hữu thông tin nhưng vẫn được xem là không vi phạm QĐSRTCN, thậm chí trong những trường hợp trên nếu thông tin không được bộc lộ thì có thể bị xem là cố ý che giấu và bị coi

là hành vi phạm tội

Thứ ba: QĐSRTCN chứa đựng những thông tin, tư liệu có ý nghĩa đối với cá

nhân chủ sở hữu, việc công bố, tiết lộ những thông tin, tư liệu về đời sống riêng tư

cá nhân sẽ tạo ra sự bất lợi đối với chủ thể sở hữu Các thông tin dữ liệu liên quan đến QĐSRTCN đóng vai trò rất quan trọng đối với mỗi chủ thể Mức độ xác định tầm quan trọng của các thông tin, tư liệu đối với các cá nhân là khác nhau, điều này tùy thuộc vào quan niệm sống, phong tục, tập quán, văn hóa, nghề nghiệp của mỗi người Có thể đối với người này thì thông tin, tư liệu đó được xác định là không quan trọng nhưng đối với người khác thì lại đóng vai trò rất quan trọng vì có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống riêng tư cá nhân của họ Do đó, việc công bố, tiết lộ các thông tin, tư liệu đời sống riêng tư cá nhân sẽ gây ra nhiều bất lợi khác nhau cho chủ sở hữu, đó có thể là những bất lợi về kinh tế, bất lợi trong sinh hoạt cuộc sống hằng ngày hoặc bất lợi trong công việc Ví dụ như khi bí mật thông tin đời sống riêng tư cá nhân bị tiết lộ có thể làm cho bản thân người có thông tin bị tiết lộ bị giảm sút thu nhập, gánh chịu áp lực dư luận, khủng hoảng tinh thần, mất việc, thậm chí gặp nhiều khó khăn trong quan hệ với đồng nghiệp, gia đình và những người

liên quan, cuộc sống bị xáo trộn

Thứ tư: QĐSRTCN được pháp luật bảo vệ Đây là quyền nhân thân bất khả

xâm phạm của mỗi cá nhân, không ai được xâm phạm đến đời sống riêng tư cá nhân khi chưa được cá nhân đó đồng ý và cho phép Hiện nay, QĐSRTCN được cả pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế ghi nhận và bảo vệ Tại Việt Nam, QĐSRTCN đã được ghi nhận và bảo vệ trong HP năm 2013, BLDS năm 2015 và một số văn bản pháp luật chuyên ngành Có thể thấy rằng, QĐSRTCN không những được ghi nhận là một quyền dân sự, mà còn là khả năng khách quan để mọi cá nhân được hưởng các quyền này QĐSRTCN được pháp luật bảo vệ ở một khoảng không gian rất rộng, theo đó QĐSRTCN được bảo vệ không chỉ trong cuộc sống hằng ngày tại không gian

cư trú mà còn có thể được đảm bảo ở môi trường xung quanh Với sự ghi nhận và bảo

Trang 22

vệ, trong phạm vi QĐSRTCN, cá nhân được tự mình hành xử các hành vi nhằm đáp ứng trực tiếp nhu cầu sống độc lập theo cách lựa chọn của bản thân trên cơ sở không làm phiền ai và không muốn ai làm phiền mình Đồng thời, cá nhân được tự ngăn chặn các hành vi cản trở đến đời sống riêng tư của mình và có quyền khởi kiện khi đời sống riêng tư của mình bị người khác cản trở xâm hại Hơn nữa, QĐSRTCN còn được ghi nhận và bảo vệ trong suốt cuộc đời của mỗi cá nhân và ngay kể khi cá nhân

đã chết hoặc bị tuyên bố là đã chết Khi cá nhân chết những thông tin, tư liệu về đời sống riêng tư liên quan đến cá nhân này vẫn được pháp luật bảo vệ bởi điều đó có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống, sinh hoạt của những người thân thích của họ Việc thu thập, công bố thông tin, tư liệu đời sống riêng tư của cá nhân đã chết chỉ được thực hiện khi được cha, mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên hoặc người đại diện của người

đó đồng ý

Như vậy, so với các quyền dân sự khác, QĐSRTCN là một quyền nhân thân, gắn liền với mỗi cá nhân, chứa đựng những thông tin bí mật có ý nghĩa quan trọng đối với người sở hữu và được pháp luật bảo vệ Đây cũng chính là những đặc điểm

để giúp nhận diện, xác định được QĐSRTCN so với các quyền dân sự khác

1.1.3 Các hành vi xâm hại quyền đời sống riêng tư cá nhân

QĐSRTCN là một quyền dân sự có phạm vi rất rộng và được ghi nhận trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau Căn cứ theo Điều 38 BLDS năm 2015, các hành

vi vi phạm QĐSRTCN gồm:

(1) Hành vi thu thập, lưu giữ, sử dụng, công khai thông tin liên quan đến đời sống riêng tư cá nhân nhưng không được sự đồng ý của người đó

Đời sống riêng tư cá nhân là những sự việc, thông tin, quan hệ liên quan đến

cá nhân mà người đó giữ cho riêng mình QĐSRTCN của mỗi người được thể hiện thông qua sự chủ động, tự do và tự mình thực hiện các hành vi để phục vụ cho đời sống của riêng họ Sự khép kín đời sống riêng tư của mỗi cá nhân được thể hiện ở việc cá nhân không muốn chia sẻ, bộc lộ cho người khác biết về những thông tin liên quan đến đời sống riêng tư của mình Theo đó, mỗi cá nhân sẽ tự mình quyết định việc có công khai các thông tin đời sống riêng tư cá nhân của mình hay không Việc công khai này sẽ phụ thuộc vào ý chí của các cá nhân mà không ai được quyền can thiệp, tác động hoặc xâm phạm bởi đời sống riêng tư cá nhân là quyền nhân thân gắn liền với mỗi cá nhân nên sẽ do các cá nhân tự quyết định

Trang 23

Ví dụ theo như bản án số 287/2019/DS-ST ngày 21/10/2019 về việc tranh chấp bồi thường thiệt hại do danh dự nhân phẩm uy tín bị xâm hại giữa bà Nguyễn Thị C với Bệnh viện Y Với vai trò là bị đơn bà C cho rằng Bệnh viện Y đã vi phạm quyền đời sống riêng tư bí mật cá nhân của bà Theo đó, ngày 26/06/2018, Bệnh viện Y tổ chức họp báo vào lúc 15:00 công bố toàn bộ hồ sơ bệnh án và thông tin cá nhân của bà C cho các cơ quan báo chí và phương tiện truyền thông mà chưa có bất

kỳ sự đồng ý nào của bà C Theo bà C việc Bệnh viện Y tự ý công bố hồ sơ bệnh án

và thông tin cá nhân của bệnh nhân đã vi phạm nghiêm trọng nguyên tắt khám bệnh, chữa bệnh tại khoản 2 Điều 3 của Luật Khám chữa bệnh năm 2009 và Quyền được tôn trọng bí mật đời sống riêng tư cá nhân Tuy nhiên, sau đó Tòa án đã bác bỏ và cho rằng đây không phải là thông tin bí mật đời sống riêng tư cá nhân vì bà C là người đầu tiên và là người chủ động tiết lộ các thông tin cá nhân, tình trạng bệnh, quá trình điều trị của mình tại bệnh viện Y lên Facebook cá nhân để mọi người chia

sẻ, lan truyền các thông tin này nên không còn là thông tin bảo mật/bí mật đời sống riêng tư.8 Tuy nhiên, theo quan điểm của mình, tác giả không đồng tình với quan điểm của Tòa án bởi theo quy định tại Điều 8 Luật Khám chữa bệnh năm 2009 thì người bệnh có quyền được giữ bí mật thông tin về tình trạng sức khỏe và đời tư được ghi trong hồ sơ bệnh án và các thông tin này chỉ được phép công bố khi người bệnh đồng ý hoặc để chia sẻ thông tin, kinh nghiệm nhằm nâng cao chất lượng chẩn đoán, chăm sóc, điều trị người bệnh giữa những người hành nghề trong nhóm trực tiếp điều trị cho người bệnh Đồng thời, theo quy định tại Điều 59 Luật Khám chữa bệnh năm 2009 thì hồ sơ bệnh án là tài liệu y học, y tế và pháp lý; mỗi người bệnh chỉ có một hồ sơ bệnh án trong mỗi lần khám bệnh, chữa bệnh tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và sẽ được lưu trữ theo các cấp độ mật của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước Như vậy, có thể thấy rằng hồ sơ bệnh án là thông tin cực kỳ bí mật và nhạy cảm của mỗi cá nhân, do đó, việc bệnh viện Y cung cấp thông tin bệnh án của

bà C trên báo chí mà không được sự đồng ý của bà là vi phạm nghiêm trọng quyền

và lợi ích hợp pháp của bà C Còn việc Tòa án cho rằng bà C là người chủ động tiết

lộ thông tin về tình trạng bệnh nên khi bệnh viện Y công bố hồ sơ bệnh án của bà C

là không còn vi phạm về quyền đảm bảo bí mật đời sống riêng tư cá nhân là không phù hợp bởi lẽ những thông tin trong hồ sơ bệnh án là thông tin thuộc về bí mật riêng tư của bà C và điều này cần phải được giữ bí mật theo quy định tại Điều 8 Luật Khám chữa bệnh năm 2009 vì vậy bệnh viện không được tự ý thực hiện

8

Xem nội dung Bản án tại Phụ lục số 1

Trang 24

Về nguyên tắc, các chủ thể khác không được phép tùy tiện tự ý thực hiện các hành vi thu thập, lưu giữ, sử dụng, công khai các thông tin liên quan đến đời sống riêng tư của một cá nhân, trừ những trường hợp được pháp luật cho phép thu thập, công bố thông tin, tư liệu về đời tư của cá nhân để phục vụ cho các lợi ích hợp pháp khác cao hơn Tuy nhiên, đối với các trường hợp được pháp luật cho phép thì cũng không được phép thực hiện một cách tùy tiện mà chỉ được thực hiện khi có quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và khi công bố thông tin đời sống riêng

tư của cá nhân trong trường hợp này thì cũng luôn phải tuân thủ nguyên tắc tôn trọng, bảo vệ quyền dân sự, trong đó có quyền bảo vệ danh dự, nhân phẩm của cá nhân đó theo quy định tại Điều 34 BLDS năm 2015 Hiện nay, trên thực tế, với tốc

độ phát triển nhanh chóng của mạng xã hội đã dẫn đến tình trạng xâm phạm đến QĐSRTCN diễn ra khá phổ biến, nhiều chủ thể lợi dụng quyền tự do ngôn luận, tự

do báo chí đã tiến hành tự ý thu thập sử dụng, công khai các thông tin liên quan đến

đời sống riêng tư của các cá nhân Điều này không chỉ gây ảnh hưởng, xáo trộn đến đời sống riêng tư của mỗi người mà còn xâm phạm đến quyền lợi chính đáng của cá nhân được pháp luật bảo vệ

Tiêu biểu như trường hợp của ông Ngô Văn Khánh - Phó Tổng Thanh tra Chính phủ bị báo Người cao tuổi tự ý thu thập sử dụng, công khai các thông tin liên quan đến đời sống riêng tư của ông Khánh mà không có cơ sở rõ ràng và cũng không được sự đồng ý của ông Khánh Theo đó, ngày 15/1/2014, báo Người cao

tuổi số 9 (1326) có đăng bài “Về kết luận thanh tra Tập đoàn Điện lực Việt Nam

(EVN)” có dẫn ông Ngô Văn Khánh, Phó Tổng Thanh tra Chính phủ “cắt giảm” hơn

6.000 tỉ đồng vi phạm Ngày 21/1/2014 báo tiếp tục đăng bài trên số 12 (1329) “Kí

kết luận thanh tra, ông Ngô Văn Khánh, Phó Tổng TTCP cắt giảm những khoản gì trong vi phạm của EVN cần xử lý?” Báo dẫn ra rằng ông Ngô Văn Khánh đã kê

khai ông và gia đình sở hữu các bất động sản gồm hai ngôi nhà và một mảnh đất Hai nhà được nói là của ông đều ở quận Hoàng Mai, Hà Nội và đều đã xây 5 tầng: nhà thứ nhất diện tích 114m2 đất, và nhà thứ hai diện tích 248m2 đất Còn mảnh đất của ông Ngô Văn Khánh rộng tới 1.800m2

, nằm trong khuôn khổ dự án Mê Linh gần đền Hai Bà Trưng, Hà Nội, giá đất tại Mê Linh trong thời điểm hiện nay là 10 triệu – 15 triệu đồng/m2

; có nghĩa riêng mảnh đất này đã có giá trị ít nhất 18 tỷ đồng Ông Khánh còn có tài khoản trị giá trên 7 tỷ đồng tiền gửi tại Ngân hàng VIB

và nhiều cổ phiếu tại bốn ngân hàng và hai công ty khác Báo cũng đăng kèm hình

Trang 25

ảnh các ngôi nhà của ông Khánh tuy nhiên báo không dẫn được nguồn về các thông tin trên.9 Trước sức ép của dư luận, đại diện báo này cũng kiên trì lập luận báo chí đang đi theo tinh thần nghị quyết Trung ương 3, Trung ương 5 về phòng chống tham nhũng của Đảng và xuất phát từ nhiệm vụ của báo chí là giám sát và phản biện

xã hội Từ vụ việc trên có thể thấy rằng việc đăng bài công khai về các thông tin của ông Ngô Văn Khánh của báo Người cao tuổi đã vi phạm nghiêm trọng QĐSRTCN của ông Khánh Bởi các thông tin về tài sản của ông Khánh được báo thu thập, sử dụng, công bố công khai nhưng không có sự đồng ý của ông Khánh, cũng không được sự cho phép của cơ quan tổ chức có thẩm quyền do đó trong trường hợp này báo người cao tuổi đã vi phạm QĐSRTCN của ông Khánh Theo quy định tại khoản

5 Điều 9 Luật Báo chí năm 2016, hành vi tiết lộ thông tin bí mật đời tư của cá nhân

mà không được sự cho phép của cá nhân đó hoặc của các cơ quan có thẩm quyền thì được xem là hành vị bị nghiêm cấm Tuy nhiên, ở đây phải chăng báo chí nhầm lẫn giữa 2 loại quyền tự do thông tin và quyền đời tư cá nhân hay lợi dụng sự giao thoa của 2 quyền này để viện cớ vào tinh thần chống tham nhũng của Đảng để can thiệp vào đời tư người dân nhằm mục đích khác Hơn nữa, ở đây mặc dù nêu ra các thông tin nhưng báo lại không dẫn được nguồn điều này chứng tỏ các thông tin do báo đưa

ra chưa có cơ sở khẳng định là đúng, là chính thức điều này gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống riêng tư của ông Khánh Như vậy, có thể thấy rằng báo chí có quyền nhận diện, phanh phui các hành vi vi phạm nhưng phải trong khuôn khổ của pháp luật tránh hiện tượng xâm phạm đến QĐSRTCN như trên

Hay trường hợp trên mạng xã hội xuất hiện Giấy chứng nhận kết hôn của bà

Lê Thị Thu S (61 tuổi) và chồng là ông Triệu Hoa C (26 tuổi) thường trú tại phường Sông Bằng, TP Cao Bằng Vì độ chênh lệch tuổi tác quá lớn nên việc kết hôn giữa bà S và ông C đã trở thành đề tài khiến dân mạng bàn tán sôi nổi, trong đó

có không ít những bình luận khiếm nhã, ác ý, miệt thị Điện thoại của hai người liên tục bị số máy lạ gọi đến quấy rối, đời sống riêng tư của họ bị xâm hại nặng nề Điều này đã làm cho người trong cuộc bị suy sụp tinh thần vì phải gánh chịu áp lực quá lớn từ dư luận Cuối cùng vì quá bức xúc, bà S cùng chồng đã làm đơn tố cáo cán

bộ tư pháp phường Sông Bằng vì cho rằng người này đã để lộ hình ảnh Giấy chứng nhận kết hôn của vợ chồng bà trên mạng xã hội, trong khi vợ chồng bà còn chưa

9 Văn Quang, “Đến lượt Phó tổng thanh tra đương chức bị tố”, https://www.luanhoan.net/VanQuang /html/vq106.htm, truy cập lần cuối ngày 08/11/2019

Trang 26

được cầm tờ giấy này.10 Hành vi làm lộ hình ảnh Giấy chứng nhận kết hôn của vợ chồng bà trên mạng xã hội nêu trên không chỉ làm tổn thương, xúc phạm đến uy tín, danh dự, nhân phẩm của người khác mà còn vi phạm pháp luật Điều này đã làm xáo trộn và ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống riêng tư cá nhân của các chủ thể trong xã hội

(2) Hành vi xâm phạm bất hợp pháp thư tín, điện thoại, điện tín, cơ sở dữ liệu điện tử và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của cá nhân

Thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của cá nhân là những kênh thông tin liên lạc rất quan trọng của mỗi cá nhân và trong đó có chứa nhiều thông tin thuộc bí mật đời sống riêng tư của mỗi người Vì vậy, pháp luật của các quốc gia trên thế giới nói chung và của Việt Nam nói riêng cũng đã quy định về việc bảo vệ thư tín, điện thoại, điện tín khá nghiêm ngặt Ở nước ta, nguyên tắc bảo vệ thư tín, điện thoại, điện tín còn trở thành một nguyên tắc

hiến định tại Điều 21 HP năm 2013: “Mọi người có quyền bí mật thư tín, điện thoại,

điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác Không ai được bóc mở, kiểm soát, thu giữ trái luật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư của người khác” Việc bảo vệ này tiếp tục được khẳng định tại

Khoản 3 Điều 38 BLDS năm 2015, theo đó: “Thư tín, điện thoại, điện tín, cơ sở dữ

liệu điện tử và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của cá nhân được bảo đảm an toàn và bí mật.” Thư tín, điện tín được nêu ở khoản 3 Điều 38 BLDS năm

2015 kể trên bao gồm thư tín, điện tín đang trong quá trình chuyển từ người gửi đến người nhận và những thư tín, điện tín đã nhận xong, đọc xong của người có thư vẫn đang cất giữ không cho người khác biết; thư tín cũng bao gồm những thư điện tử được truyền qua mạng thông tin máy tính Việc tiếp cận, kiểm soát, sử dụng, công khai các thông tin đời sống riêng tư cá nhân trong thư tín, điện thoại điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của cá nhân chỉ được thực hiện trong những trường hợp pháp luật cho phép hoặc được cá nhân đó đồng ý Mọi hành vi tự

ý tiếp cận, kiểm soát, sử dụng thư tín, điện thoại điện tín để từ đó công khai các thông tin đời sống riêng tư cá nhân mà không được sự đồng ý của người đó thì bị xem là vi phạm pháp luật bởi điều này có khả năng xâm phạm đến các lợi ích riêng

tư của cá nhân đó trước những thông tin bị lộ

10 Luật Việt Nam, “Người làm lộ giấy chứng nhận kết hôn của cô dâu 61 tuổi bị phạt ra sao”, https://luatvietnam.vn/tin-phap-luat/nguoi-lam-lo-giay-chung-nhan-ket-hon-cua-co-dau-61-tuoi-bi-phat-ra- sao-230-16962-article.html, truy cập lần cuối ngày 27/11/2019

Trang 27

Hành vi xâm phạm bất hợp pháp thư tín, điện thoại, điện tín, cơ sở dữ liệu

điện tử và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của cá nhân bao gồm các

hành vi như: Tự ý bóc mở, tráo đổi thư, bưu kiện, bưu phẩm của cá nhân; đọc, nghe trộm, thu trộm thông tin trên mạng viễn thông, trộm cắp, sử dụng trái phép mật khẩu, khóa mật mã và thông tin riêng của cá nhân khác; công khai tiết lộ nội dung thông tin cho chủ thể khác hoặc dùng thiết bị làm nhiễu sóng vô hiệu hóa các phương tiện thông tin, phát tán virus để phá hoại thông tin liên lạc thông qua các phương tiện điện tử; chiếm đoạt, làm mất, tiêu hủy thư tín, điện tín của cá nhân 11

Những hành vi trên đây có thể được thực hiện với bất cứ động cơ, mục đích gì tuy nhiên vẫn được xác định là hành vi xâm phạm QĐSRTCN Đơn cử như vụ việc Kỹ

sư Lê Văn Tạch đã nộp đơn khởi kiện Toyota về hành vi xâm phạm bí mật thư tín

Vụ kiện bắt nguồn từ việc Công ty Toyota Việt Nam (TMV) trong phiên họp ngày 24/8/2011 đã công bố: “Phòng hệ thống Công ty ô tô TMV đã tiến hành kiểm tra nội dung hộp thư nội bộ có địa chỉ là prtachlv@toyotavn.com.vn được lưu trên mạng nội bộ của công ty Kết quả kiểm tra cho thấy ông Lê Văn Tạch đã viết hàng chục bức thư tình gửi cho người phụ nữ có địa chỉ email là: hoa @gmail.com mà ông Lê Văn Tạch đã quan hệ ngoài vợ chồng từ năm 2009 Trong đó có những bức thư hẹn hò và nhắc lại việc hai người đã đi chơi Sài Gòn, Vũng Tàu, Hà Nội, những ngày ông Lê Văn Tạch hẹn hò đi sinh nhật với người phụ nữ này khi vợ ông đang chuẩn bị sinh con trai thứ hai.12 Trong trường hợp này có thể thấy rằng, việc Phòng

hệ thống Công ty ô tô TMV đã tự động vào email của kỹ sư Tạch khi chưa có sự đồng ý của anh để lấy thông tin cá nhân rồi coi đó là bằng chứng để đưa ra hình thức kỷ luật và công khai như trên là vi phạm pháp luật Ở đây Công ty TMV đã có dấu hiệu vi phạm quyền bí mật đời sống riêng tư cá nhân của kỹ sư Tạch Mặc dù địa chỉ email của kỹ sư Tạch do TMV cấp (mail nội bộ) được xem là tài sản công ty nhưng TMV cũng không có quyền được phép tự tiện tiếp cận, thu thập nội dung của từng thư điện tử đã gửi hoặc nhận từ hộp thư này, bởi trong hộp thư này có chứa các thông tin đời sống riêng tư cá nhân của kỹ sư Tạch và hơn nữa lúc này kỹ sư Tạch vẫn còn đang làm việc tại Công ty TMV Chỉ khi nào kỹ sư Tạch chấm dứt làm việc

ở công ty thì khi đó TMV mới có quyền xóa tất cả những email có trong hộp thư vì

11

Nguyễn Thị Vinh Hương, “Từ quyền bí mật đời tư đến quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình”, http://tuphaptamky.gov.vn/2014/news/Linh-vuc-dan-su/Tu-quyen-bi-mat-doi-tu-den-quyen-ve- doi-song-rieng-tu-bi-mat-ca-nhan-bi-mat-gia-dinh-4594.html, truy cập lần cuối ngày 20/11/2019

12 Hoàng Lan, “Kỹ sư Tạch chính thức kiện Toyota vì bị xâm hại”, toyota-vi-bi-xam-hai-d50973.html, truy cập lần cuối ngày 29/11/2019

Trang 28

https://vtc.vn/ky-su-tach-chinh-thuc-kien-đây là mail nội bộ thuộc tài sản của công ty Mặt khác, việc lãnh đạo TMV công khai nội dung thư điện tử trong mail nội bộ của anh Tạch tại cuộc họp mà không được sự đồng ý của anh cũng là hành vi vi phạm pháp luật dân sự về quyền bí mật đời sống riêng tư cá nhân Điều này không chỉ gây ảnh hưởng đến uy tín, danh dự, nhân phẩm mà còn có thể làm xáo trộn cuộc sống riêng tư của kỹ sư Tạch trước những thông tin đời sống riêng tư cá nhân của mình bị công khai trái pháp luật

Trên thực tế, nếu thư tín, điện thoại điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của cá nhân không được pháp luật bảo vệ thì tình trạng xâm phạm

sẽ diễn ra phổ biến, từ đó gây ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống của các chủ thể trong xã hội bởi các thông tin đời sống riêng tư cá nhân của họ bị tiếp cận, kiểm soát, công khai trái phép Do đó, có thể thấy rằng, hiện nay thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của cá nhân được pháp luật bảo

vệ rất chặt chẽ và không chủ thể nào được phép xâm phạm đến bởi các phương tiện liên lạc này chứa đựng rất nhiều các thông tin bí mật về đời sống riêng tư của mỗi

cá nhân và chỉ có cá nhân đó mới có quyền được biết, được quyết định việc mở và

sử dụng hay không

Bên cạnh đó, cũng giống như thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao

đổi thông tin riêng tư khác, cơ sở dữ liệu điện tử của cá nhân cũng chứa đựng rất nhiều thông tin liên quan đến đời sống riêng tư cá nhân và chỉ có cá nhân đó mới được phép tiếp cận, sử dụng và các chủ thể khác không được xâm phạm các cơ sở dự liệu này nếu không có sự đồng ý của cá nhân đang sở hữu cơ sở dữ liệu điện tử đó Hiện nay, với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ thông tin nên cơ sở

dữ liệu điện tử cá nhân rất dễ bị xâm phạm trái phép hoặc thậm chí bị đánh cấp vì nhiều mục đích khác nhau Tiêu biểu như trường hợp 29 triệu tài khoản Facebook bị

đánh cắp dự liệu, nhóm hacker đã sử dụng lỗ hổng trong tính năng “view as” của Facebook để đánh cắp mã token và truy cập trái phép vào hàng chục triệu tài khoản người dùng mạng xã hội này Tin tặc đã lấy được tên, số điện thoại và địa chỉ thư điện tử của 15 triệu tài khoản, trong đó có khoảng 14 triệu tài khoản bị lấy cắp nhiều thông tin hơn như về giới tính, tôn giáo, sở thích và những nơi vừa ghé thăm.13 Hay trường hợp Facebook đã chia sẻ cơ sở dữ liệu điện tử của cá nhân người dùng (tên,

13 Minh Nguyệt, “29 triệu tài khoản Facebook bị đánh cắp dự liệu: Làm sao để phòng ngừa tin tặc hiệu quả”, https://baomoi.com/29-trieu-tai-khoan-facebook-bi-danh-cap-du-lieu-lam-sao-de-phong-ngua-tin-tac-hieu- qua/c/28168187.epi, truy cập lần cuối ngày 29/11/2019

Trang 29

danh sách bạn bè) cho các công ty quảng cáo chuyên nghiệp Một cuộc điều tra của Wall Street Journal cho thấy khoảng 10 triệu nguời dùng đã bị ảnh hưởng bởi việc này, bao gồm cả những thành viên Facebook có thiết lập chế độ riêng tư ở mức cao nhất.14 Hoặc tại Việt Nam vấn đề đánh cắp dữ liệu điện tử cá nhân diễn ra cũng khá phổ biến, tiêu biểu một số vụ có thể kể đến như việc Công ty VNG để lộ hơn 163 triệu tài khoản khách hàng; Công ty Thế giới di động và Điện máy xanh để lộ hơn 5 triệu email và hàng chục nghìn thông tin thẻ thanh toán như Visa, thẻ tín dụng của khách hàng; tin tặc đã tấn công vào hệ thống máy chủ của Vietnam Airlines, đăng tải lên Internet 411.000 tài khoản khách hàng thành viên của chương trình Bông Sen Vàng; tình trạng để lộ thông tin khách hàng để các công ty môi giới dịch vụ taxi của Việt Nam sử dụng để mời chào khách hàng qua tin nhắn SMS; dữ liệu khách hàng của Công ty FPT bị đăng tải công khai trên mạng…15

Tất cả những điều trên đã tác động và gây ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống của những cá nhân có tài khoản bị đánh cắp do các cơ sở dữ liệu điện tử cá nhân bị bộc lộ Vì cơ sở dữ liệu là một tập hợp các bản ghi hoặc tệp có mối liên hệ logic với nhau được lưu giữ trên máy tính và dễ bị lạm dụng, do đó cơ sở dữ liệu điện tử liên quan đến cá nhân được pháp luật bảo hộ và các chủ thể không được phép xâm phạm trái phép

Ở đây cần lưu ý rằng, thư tín, điện thoại, điện tín, cơ sở dữ liệu điện tử và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của cá nhân được bảo đảm an toàn và bí

mật Tuy nhiên, trong trường hợp để phục vụ cho việc bảo đảm an ninh quốc gia về

các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, đối ngoại và quốc phòng như theo dõi các đối tượng

có âm mưu gây thiệt hại cho lợi ích quốc gia, lợi ích của tổ chức và cá nhân hoặc theo dõi cá nhân có nguy cơ phạm tội hoặc nhằm chống khủng bố thì Nhà nước và các cơ quan chức năng được quyền thực hiện việc bóc mở, kiểm soát, thu giữ thư tín, điện thoại, điện tín, cơ sở dữ liệu điện tử của cá nhân Hoặc trong trường hợp người có điện thoại, điện tín, thư tín (gồm cả người nhận và người gửi) đang liên quan đến vụ án hình sự, nếu thấy cần thiết cơ quan điều tra có thể áp dụng các biện pháp kiểm soát, thu giữ điện thoại, điện tín, thư tín, cơ sở dữ liệu cá nhân và các hình thức trao đổi thông tin khác để phục vụ cho hoạt động điều tra và trong trường hợp này không được xem là hành vi xâm phạm bất hợp pháp

Trang 30

Như vậy, việc xâm phạm phạm bất hợp pháp thư tín, điện thoại, điện tín, cơ

sở dữ liệu điện tử và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của cá nhân được xem là một trong những hành vi vi phạm đời sống riêng tư cá nhân bởi chúng chứa đựng nhiều thông tin bí mật đời sống riêng tư của mỗi người Do đó, chỉ có cá nhân đó mới có quyền được tiếp cận, kiểm soát, sử dụng, còn các chủ thể khác thì không được phép trừ một số trường hợp luật định thì mới được phép tiếp cận, kiểm

soát, thu giữ

(3) Hành vi tiết lộ thông tin về đời sống riêng tư cá nhân đã biết được trong quá trình xác lập, thực hiện hợp đồng

Trong quá trình xác lập, thực hiện hợp đồng các chủ thể thường phải cung cấp các thông tin cá nhân liên quan đến đời sống riêng tư của mình do đó đòi hỏi các bên trong hợp đồng phải tôn trọng, đảm bảo giữ bí mật thông tin về đời sống riêng tư cá nhân của bên đã cung cấp Các bên không được cung cấp thông tin đời sống riêng tư cá nhân của bên còn lại nếu không được sự đồng ý của người đó hoặc không có sự thỏa thuận khác Với việc quy định các bên trong hợp đồng không được

tiết lộ thông tin về đời sống riêng tư cá nhân mà mình đã biết được trong quá trình xác lập, thực hiện hợp đồng là nhằm ngăn chặn tình trạng lạm dụng lòng tin của nhau trong quan hệ hợp đồng để cung cấp các thông tin đời sống riêng tư cá nhân nhằm mục đích trục lợi hoặc nhằm mục đích không trong sáng, gây thiệt hại về danh dự, uy tín của cá nhân là chủ thể xác lập, thực hiện hợp đồng Theo đó, yêu cầu đặt ra cho các bên khi tham gia vào việc xác lập, thực hiện hợp đồng là phải có trách nhiệm đảm bảo bí mật thông tin và không được sử dụng thông tin cho mục đích riêng của mình hoặc cho mục đích trái pháp luật khác trong quá trình giao kết hợp đồng Bên cung ứng dịch vụ có nghĩa vụ giữ bí mật thông tin mà mình biết được trong thời gian thực hiện công việc, bên được ủy quyền có nghĩa vụ giữ bí mật thông tin mà mình biết được trong khi thực hiện việc uỷ quyền… Một trong các bên trong hợp đồng chỉ được phép cung cấp các thông tin liên quan đến đời sống riêng

tư cá nhân khi cá nhân có thông tin và các bên đã có sự thỏa thuận và đồng ý về việc tiết lộ này Còn trong trường hợp không có sự thỏa thuận về việc công bố, tiết

lộ các thông tin đời sống riêng tư cá nhân giữa các bên tham gia giao kết, thực hiện trong hợp đồng mà các bên tự ý công bố, tiết lộ thông tin là hành vi vi phạm pháp luật và bị xử lý bởi lúc này việc cung cấp tiết lộ các thông tin như vậy sẽ làm ảnh hưởng đến đời sống riêng tư cá nhân của ngươi có thông tin bị tiết lộ, xâm phạm

Trang 31

đến QĐSRTCN của họ Trên thực tế, tùy theo pháp luật quy định hoặc do các bên thỏa thuận mà có rất nhiều loại hợp đồng khác nhau khi được các bên thiết lập thường đặt ra vấn đề bảo mật về thông tin đời sống riêng tư cá nhân Ví dụ, khi thiết lập hợp đồng dịch vụ pháp lý, luật sư phải có trách nhiệm đảm bảo giữ bí mật thông tin cá nhân, bí mật đời tư của khách hàng mà luật sư có được thông qua hợp đồng dịch vụ pháp lý Vấn đề này được ghi nhận và thể hiện rõ trong Luật Luật sư năm

2006, sửa đổi bổ sung năm 2012, theo đó tại Điều 25 Luật Luật sư hiện hành quy định rõ “Luật sư không được tiết lộ thông tin về vụ, việc, về khách hàng mà mình biết được trong khi hành nghề, trừ trường hợp được khách hàng đồng ý bằng văn bản hoặc pháp luật có quy định khác và cũng không được sử dung các thông tin này vào mục đích xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân; tổ chức hành nghề luật sư có trách nhiệm bảo đảm các nhân viên trong tổ chức hành nghề không tiết lộ thông tin về vụ, việc, về khách hàng của mình” Ngoài ra vấn đề giữ bí mật thông tin khách hàng còn được quy định tại các Bộ quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp của Luật sư Việt Nam Tại quy tắc số 7 được Ban hành kèm theo Quyết định số 201/QĐ-HĐLSTQ ngày 13/12/2019 của Hội đồng luật sư toàn quốc về việc ban hành quy tắc đạo đức và

ứng xử nghề nghiệp Luật sư Việt Nam quy định rõ:“Luật sư có nghĩa vụ giữ bí mật

thông tin của khách hàng khi thực hiện dịch vụ pháp lý và sau khi đã kết thúc dịch

vụ đó, trừ trường hợp được khách hàng đồng ý hoặc theo quy định của pháp luật; luật sư có trách nhiệm yêu cầu các đồng nghiệp có liên quan và nhân viên trong tổ chức hành nghề của mình cam kết không tiết lộ những bí mật thông tin mà họ biết được và luật sư có trách nhiệm giải thích rõ nếu tiết lộ thì phải chịu trách nhiệm trước pháp luật” Có thể thấy, việc đảm bảo giữ bí mật thông tin về khách hàng của luật sư không chỉ là vấn đề đạo đức, ứng xử nghề nghiệp mà còn là một vấn đề mang tính pháp lý, được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật, là nghĩa

vụ pháp lý của luật sư Chính vì vậy, trong quá trình thực hiện cung cấp các dịch vụ pháp lý cho khách hàng luật sư phải đảm bảo được các yêu cầu bảo mật này

Hoặc đối với loại Hợp đồng tín dụng được thiết lập giữa khách hàng với các tổ chức tín dụng thì vấn đề bảo mật thông tin riêng tư của khách hàng vẫn phải được đảm bảo, theo đó các tổ chức tín dụng có trách nhiệm phải đảm bảo giữ bí mật thông tin riêng tư cá nhân của khách hàng Về nguyên tắc, các tổ chức tín dụng chỉ được phép cung cấp các thông tin cá nhân riêng tư của khách hàng liên quan đến các khoản

Trang 32

tín dụng khi được khách hàng đồng ý hoặc được pháp luật quy định trong một số trường hợp đặc biệt Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 cũng đã quy định rõ về vấn

đề này, theo đó: “Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải bảo đảm bí mật thông tin liên quan đến tài khoản, tiền gửi, tài sản gửi và các giao dịch của khách hàng tại tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài không được cung cấp thông tin liên quan đến tài khoản, tiền gửi, tài sản gửi, các giao dịch của khách hàng tại tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cho tổ chức, cá nhân khác, trừ trường hợp có yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật hoặc được sự chấp thuận của khách hàng”.16

Như vậy, yêu cầu đặt ra ở đây lả khi các bên thiết lập hợp đồng tín dụng thì các tổ chức tín dụng phải có trách nhiệm bảo mật thông tin cho khách hàng

và không được phép tự ý công bố khi chưa được khách hàng đồng ý

1.2 Nội dung về quyền đời sống riêng tƣ cá nhân

1.2.1 Quyền đời sống riêng tư cá nhân là bất khả xâm phạm

QĐSRTCN là một trong những quyền quan trọng của con người, gắn liền với mỗi cá nhân Đời sống riêng tư cá nhân có thể là những suy nghĩ, hành động được giữ

bí mật hoặc không bí mật và có ý nghĩa rất lớn đối với từng cá nhân bởi chúng giúp khẳng định giá trị bản thân và tạo ra sự tự do cũng như nhiều lợi ích cho chính cá nhân đó Do đó, các thông tin liên quan đến đời sống riêng tư cá nhân phải được tôn trọng bởi đó là quyền hiến định Điều 38 BLDS năm 2015 đã nhấn mạnh về QĐSRTCN và yêu cầu sự tôn trọng tuyệt đối đối với quyền này trên cơ sở được pháp luật bảo vệ Việc xâm phạm đến QĐSRTCN trong nhiều trường hợp có thể tạo ra những bất lợi cho chính cá nhân có đời sống riêng tư bị tác động xâm hại, bất lợi đó

có thể là về kinh tế, về sinh hoạt thường ngày, hoặc cũng có thể là về công việc, về quan hệ với đồng nghiệp và những người xung quanh Vì vậy, QĐSRTCN được pháp luật bảo vệ ngay cả khi cá nhân đó còn sống, đã chết hoặc bị tuyên bố là đã chết Bất

cứ cá nhân nào cũng được pháp luật bảo vệ đời sống riêng tư cá nhân, phạm vi của QĐSRTCN được bảo vệ rất rộng, có thể là tình trạng sức khỏe, đời sống tình cảm, trạng thái tâm lý, hình ảnh bản thân,… Việc bảo vệ QĐSRTCN không chỉ được đảm bảo trong cuộc sống hằng ngày của cá nhân tại nơi cư trú mà còn được đảm bảo ở môi trường xung quanh, quan hệ giữa cá nhân với mọi người trong xã hội Thông

16

Khoản 2, 3 Điều 14 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010

Trang 33

thường, mỗi cá nhân có quyền giữ kín những thông tin, tư liệu, sự kiện, hoàn cảnh

liên quan đến đời tư của mình và không có nghĩa vụ phải công khai Cá nhân và các chủ thể khác không được tự ý tiếp cận và công bố các thông tin về đời sống riêng tư

cá nhân khi chưa được sự đồng ý của cá nhân đó hoặc sự cho phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Khi có hành vi xâm phạm, cá nhân có quyền áp dụng các phương thức do pháp luật quy định để bảo vệ quyền lợi của mình

Bên cạnh đó, QĐSRTCN là quyền của mỗi người, mỗi người có quyền được

tự quyết định việc khai thác, sử dụng các thông tin và các vấn đề liên quan đến đời sống riêng tư cá nhân của họ mà không chủ thể nào được phép tác động, đe dọa, cản trở Đời sống riêng tư cá nhân gắn liền với lợi ích của mỗi cá nhân, lợi ích này bao gồm cả lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần, lợi ích này có ảnh hưởng đến cuộc sống

và chất lượng cuộc sống của từng cá nhân Hơn nữa, QĐSRTCN cũng là một trong những quyền nhân thân gắn liền với mỗi người nên chỉ có những cá nhân là chủ sở hữu đời sống riêng tư cá nhân đó mới được phép khai thác, sử dụng đời sống riêng

tư của chính mình để phục vụ cho các mục đích và nhu cầu khác nhau của bản thân Trong trường hợp bản thân của mỗi cá nhân không thể tự mình quyết định được việc khai thác, sử dụng QĐSRTCN của chính mình do bị mất năng lực hành vi dân

sự, hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc người chưa thành niên thì việc khai thác

sử dụng đời sống riêng tư cá nhân của các chủ thể này sẽ do những người đại diện hoặc giám hộ hợp pháp của họ quyết định và không được ai hạn chế, cản trở điều này Còn các chủ thể khác muốn được thu thập, lưu giữ, khai thác, sử dụng, công khai các thông tin liên quan đến đời sống riêng tư cá nhân thì phải được cá nhân đó đồng ý, cho phép Điều này hướng tới việc tôn trọng đời sống riêng tư của mỗi cá nhân, theo đó cá nhân có quyền công bố hoặc không công bố các thông tin liên quan đến sự riêng tư của họ, khi họ không công bố điều đó có nghĩa là các thông tin này được coi là bí mật và lúc này các chủ thể khác không được phép xâm phạm đến thông tin đời sống riêng tư cá nhân của họ

Ngoài ra, BLDS năm 2015 còn quy định việc đảm bảo QĐSRTCN trong quá trình xác lập, thực hiện hợp đồng Cụ thể, tại khoản 4 Điều 38 BLDS năm 2015 quy định rõ: “Các bên trong hợp đồng không được tiết lộ thông tin về đời sống riêng tư,

bí mật cá nhân, bí mật gia đình của nhau mà mình đã biết được trong quá trình xác lập, thực hiện hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.” Khi giao kết hợp đồng, trường hợp một bên nhận được thông tin bí mật của bên kia trong quá trình giao kết

Trang 34

hợp đồng thì có trách nhiệm bảo mật thông tin và không được sử dụng thông tin đó cho mục đích riêng của mình hoặc cho mục đích trái pháp luật khác.17 Đối với các hợp đồng dịch vụ, bên cung ứng dịch vụ có nghĩa vụ giữ bí mật thông tin mà mình biết được trong thời gian thực hiện công việc, nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định, trong trường hợp bên cung ứng dịch vụ tiết lộ thông tin và gây thiệt hại cho bên sử dụng dịch vụ thì phải có trách nhiệm bồi thường18 Hoặc trong hợp đồng

ủy quyền, bên được ủy quyền phải có nghĩa vụ giữ bí mật thông tin mà mình biết được trong khi thực hiện việc ủy quyền19 Như vậy, thông thường, khi tham gia vào quan hệ hợp đồng, các bên thường tồn tại cam kết là bên được cung cấp thông tin cần phải giữ kín những thông tin tiếp nhận được từ chủ sở hữu trong quá trình xác

lập, thực hiện hợp đồng Các bên không được cung cấp thông tin đời sống riêng tư

cá nhân của bên còn lại nếu không được sự đồng ý của người đó và không có sự thỏa thuận khác Việc quy định như vậy nhằm ngăn chặn tình trạng lợi dụng quan hệ

hợp đồng để cung cấp các thông tin liên quan đến đời tư cá nhân nhằm mục đích trục lợi hoặc các mục đích bất chính khác

1.2.2 Quyền đời sống riêng tư cá nhân được bảo đảm an toàn và bí mật

Ngày nay, với sự phát triển nhanh chóng của xã hội, việc trao đổi thông tin được thực hiện bằng nhiều cách thức khác nhau Thư tín, điện thoại điện tín, cơ sở

dữ liệu điện tử và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của cá nhân là một trong những phương tiện truyền tải hoặc lưu giữ thông tin liên lạc giữa cá nhân với những người khác Trong số những thông tin được chuyển tải có thể chứa đựng những thông tin bí mật đời sống riêng tư của cá nhân, đó có thể là những hình ảnh

dữ liệu cá nhân, một nội dung công việc hay bất kỳ một nội dung nào khác mà bản thân cá nhân người đó chỉ muốn giữ riêng cho mình và không muốn người khác biết Suy cho cùng, dù thông tin đó là gì thì cũng không thể bị người khác tự tiện xâm hại bởi đây là quyền tự do chính đáng của mọi công dân Việc cá nhân được bảo đảm an toàn và bí mật đối với thư tín, điện thoại, điện tín, cơ sở dữ liệu điện tử

và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của mình không chỉ được ghi nhận

và bảo vệ trong HP năm 2013, BLDS năm 2015 mà còn được ghi nhận trong Luật Bưu chính năm 2010, Luật Viễn thông năm 2009 Cụ thể, tại khoản 2 Điều 4 Luật

17 Khoản 2 Điều 387 BLDS năm 2015

18 Khoản 5, 6 Điều 517 BLDS năm 2015

19

Khoản 4 Điều 565 BLDS năm 2015

Trang 35

Bưu chính năm 2010 quy định rõ một trong những nguyên tắc hoạt động của bưu chính là phải “bảo đảm bí mật thư theo quy định pháp luật” và tại khoản 4 Điều 6 Luật Viễn thông năm 2009 cũng quy định rõ vấn đề đảm bảo bí mật thông tin, theo đó: “Doanh nghiệp viễn thông không được tiết lộ thông tin riêng liên quan đến người sử dụng dịch vụ viễn thông, bao gồm tên, địa chỉ, số máy gọi, số máy được gọi, vị trí máy gọi, vị trí máy được gọi, thời gian gọi và thông tin riêng khác mà người sử dụng đã cung cấp khi giao kết hợp đồng với doanh nghiệp, trừ các trường hợp người sử dụng dịch vụ viễn thông đồng ý cung cấp thông tin; hoặc các doanh nghiệp viễn thông có thỏa thuận bằng văn bản với nhau về việc trao đổi cung cấp thông tin liên quan đến người sử dụng dịch vụ viễn thông để phục vụ cho việc tính giá cước, lập hóa đơn và ngăn chặn hành vi trốn tránh thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng; hoặc khi có yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật” Như vậy, có thể thấy rằng Luật Viễn thông năm 2009, Luật Bưu chính năm 2010 cũng đã đưa ra được các quy định điều chỉnh về vấn đề bảo mật thư tín, điện tín, cơ sở dữ liệu điện tử và các hình thức trao đổi thông tin đời sống riêng tư khác của cá nhân trong hoạt động bưu chính, viễn thông Chính vì vậy, các chủ thể khác không được tự ý tiếp cận và công bố các thông tin về đời tư cũng như không được kiểm soát, bóc mở, thu giữ trái luật thư tín, điện thoại, điện tín, các thông tin điện tử khác của cá nhân một cách trái luật20 hoặc khi chưa được sự đồng ý của chủ

sở hữu hoặc sự cho phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Trong trường hợp pháp luật cho phép hoặc các bên có sự thỏa thuận, thì có thể tiến hành thu thập thông tin đời sống riêng tư cá nhân thông qua việc tiếp cận, kiểm soát, thu giữ, sử dụng thư tín, điện thoại điện tín, cơ sở dữ liệu điện tử và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của cá nhân tuy nhiên cũng phải đảm bảo cho cá nhân bị thu thập thông tin biết về việc thông tin của họ đang bị thu thập Ngoài ra, người bị thu thập thông tin cũng được biết về mục đích của việc thu thập thông tin, tên, địa chỉ của người thu thập và người sẽ giữ thông tin đó để họ có thể kiểm soát và tự bảo vệ được QĐSRTCN của bản thân trước những nguy cơ bị xâm phạm có khả năng xảy

ra Đối với những hành vi xâm phạm đến vấn đề bảo đảm an toàn và bí mật đối với thư tín, điện thoại, điện tín, cơ sở dữ liệu điện tử và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của cá nhân thì có thể bị xử phạt vi phạm hành chính, chịu trách nhiệm dân sự hoặc có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự

20 Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh (2017), “Giáo trình Luật Hiến pháp Việt Nam”, Nxb Hồng Đức –

Hội Luật gia Việt Nam, tr.151

Trang 36

1.2.3 Quyền đời sống riêng tư cá nhân có thể bị giới hạn

QĐSRTCN không phải là một quyền tuyệt đối, nó có thể bị hạn chế để bảo vệ các lợi ích hợp pháp và chính đáng của cộng đồng, xã hội, của pháp luật và của các cá nhân khác Điều này xuất phát từ quan điểm lợi ích của cá nhân phải đặt trong lợi ích của Nhà nước, quyền lợi của cá nhân phải đặt trong quyền lợi của cộng đồng do đó QĐSRTCN sẽ bị giới hạn trong một số trường hợp nhất định.21 Tại khoản 2 Điều 2 và khoản 4 Điều 3 BLDS năm 2015 đã xác định rõ: “Quyền dân sự có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật

tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng Việc xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự không được xâm phạm đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác” Như vậy, QĐSRTCN cũng là quyền dân sự vì vậy khi rơi vào những trường hợp nêu trên, các cơ quan chức năng có đầy đủ thẩm quyền được quyền tiến hành thu thập, lưu giữ, sử dụng, công khai thông tin liên quan đến đời sống riêng tư cá nhân hoặc nếu thấy cần thiết cơ quan điều tra có thể áp dụng các biện pháp kiểm soát, thu giữ điện thoại, điện tín, thư tín, cơ sở dữ liệu cá nhân và các hình thức trao đổi thông tin khác để phục vụ cho hoạt động điều tra

và trong trường hợp này không được xem là hành vi vi phạm QĐSRTCN Điều này là hoàn toàn cần thiết bởi nó mang lại ý nghĩa lớn trong việc đảm bảo chức năng quản lý

xã hội của Nhà nước một cách hiệu quả và minh bạch, hài hòa mối quan hệ lợi ích giữa Nhà nước - cá nhân - cộng đồng, đồng thời hạn chế nguy cơ các nhà chức trách lạm dụng quyền lực nhà nước để xâm phạm QĐSRTCN một cách tùy tiện.22 Ví dụ như trường hợp một cá nhân nào đó được xác định là thủ phạm có liên quan đến mạng lưới khủng bố xuyên quốc gia, như vậy trong trường hợp này nhằm để phục vụ hiệu quả cho việc điều tra, theo dõi, khống chế tội phạm khủng bố thì các cơ quan chức năng có quyền thực hiện các hoạt động thu thập, lưu giữ, sử dụng, công khai thông tin liên quan đến đời sống riêng tư cá nhân mà không cần phải chờ có được sự đồng ý của người đó Việc giới hạn QĐSRTCN trong trường hợp nêu trên là hoàn toàn cần thiết, bởi điều này giúp phục vụ hiệu quả, kịp thời cho hoạt động phòng chống tội phạm nhằm góp phần bảo vệ lợi ích chung của xã hội Tuy nhiên, mặc dù trong một số giới hạn luật định, việc thu thập, tiếp cận, kiểm soát, sử dụng, công bố các thông tin đời sống riêng

tư cá nhân là hợp pháp nhưng cũng cần phải có căn cứ xác đáng để thực hiện các vấn

21 Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh (2017), “Giáo trình những quy định chung về Luật dân sự”, Nxb

Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, tr.113

22

Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh, tlđd (20), tr.153

Trang 37

đề trên nhằm ngăn ngừa việc các chủ thể lạm dụng sự giới hạn của QĐSRTCN để tùy tiện xâm phạm đến quyền này của mọi người

Như vậy, có thể thấy rằng QĐSRTCN là quyền cơ bản chính đáng của mỗi người, được pháp luật bảo vệ, mọi người phải tôn trọng và không được ai xâm phạm Tuy nhiên, QĐSRTCN không phải là một quyền tuyệt đối mà nó có thể bị

pháp luật giới hạn trong một số trường hợp để phục vụ hiệu quả cho việc bảo đảm

lợi ích an ninh quốc gia, lợi ích của tổ chức cá nhân hoặc để phục vụ cho các hoạt động phòng chống tội phạm

1.3 Quy định về quyền đời sống riêng tư cá nhân trên thế giới và Việt Nam

1.3.1 Lịch sử phát triển về quyền đời sống riêng tư cá nhân

Lịch sử phát triển về QĐSRTCN là một quá trình lâu dài với nhiều biến đổi.23

Trong thời kỳ đầu phát triển của xã hội loài người, QĐSRTCN chưa được ghi nhận một cách trực tiếp và cụ thể, lúc này quyền riêng tư được coi là một “đặc quyền” mà chỉ có các tầng lớp cao quý trong xã hội (chủ nô, lãnh chúa phong kiến…) mới được hưởng. 24

Đến những năm 40 của thế kỷ 20, những tư tưởng về quyền về đời sống riêng

tư bắt đầu phát triển cực thịnh cùng với sự phát triển của tư tưởng về các quyền cơ bản của con người.25 Ngày 10/12/1948, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã thông qua bản Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền, trong đó Điều 12 Tuyên ngôn này có ghi nhận về

quyền riêng tư của cá nhân: “Không một ai bị xâm phạm một cách độc đoán về đời

sống riêng tư, gia đình, nhà ở, hay thư tín, cũng như bị xúc phạm danh dự hay tiếng tăm của mình Mọi người đều có quyền được pháp luật bảo vệ, trước những xâm phạm và xúc phạm như vậy” Để cụ thể hóa chế định này, ngày 16/12/1966 Công ước

quốc tế về các quyền dân sự chính trị26 đã ra đời và tiếp tục tái khẳng định quyền này

23

Trần Hoàng Đức (2016), “Quyền riêng tư dưới góc độ lý luận và pháp luật thực định”, Luận văn thạc sĩ

Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr.28

24 Thái Thị Tuyết Dung (2012), “Quyền riêng tư trong thời đại công nghệ thông tin”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Văn phòng quốc hội, số 9(217), tr.15

Trang 38

Theo đó, tại Điều 17 của Công ước đã khẳng định: “Không ai bị can thiệp một cách

tùy tiện hoặc bất hợp pháp vào đời sống riêng tư, gia đình, nhà ở, thư tín, hoặc bị xâm phạm bất hợp pháp đến danh dự và uy tín Mọi người đều có quyền được pháp luật bảo vệ chống lại những can thiệp hoặc xâm phạm như vậy”

Đến giai đoạn thập kỷ 70 và khoảng thời gian sau này là thời kỳ nở rộ của QĐSRTCN trên bình diện quốc tế, rất nhiều quốc gia ban hành những đạo luật nhằm bảo vệ dữ liệu điện tử và quyền đời sống riêng tư, có thể kể đến như: Năm

1974, Quốc hội Hoa Kỳ thông qua đạo luật về quyền riêng tư The Privacy Act; năm 1977, nước Đức cho ban hành đạo luật Liên bang về bảo vệ thông tin (Federal Data Protection Act); năm 1978, tại Pháp, Đạo luật bảo vệ thông tin dữ liệu ra đời; năm 1981, Isarel ban hành Luật về quyền riêng tư; năm 1988 đến lượt Australia ban hành Đạo luật về quyền riêng tư; năm 1992 là Thụy Sỹ và năm 1998

là Vương quốc Anh

Tại Việt Nam, do tình hình chiến tranh kéo dài, mọi nguồn lực đều tập trung vào công cuộc đấu tranh giải phóng đất nước nên so với thế giới tính pháp lý của QĐSRTCN ở Việt Nam được công nhận tương đối muộn Những khía cạnh pháp lý của QĐSRTCN tại Việt Nam lần đầu tiên được ghi nhận tại Điều 11 trong bản HP năm 1946 và sau đó được tiếp tục ghi nhận tại Điều 28 HP năm 1959 Tuy nhiên, so với hiện nay, các quy định về khía cạnh của QĐSRTCN được thể hiện trong bản HP năm 1946 và năm 1959 còn khá đơn giản bởi xuất phát từ điều kiện lịch sử Đến bản HP năm 1980, tại Điều 71 đã có sự bổ sung phạm vi được bảo mật đó là ngoài thư tín thì còn có điện thoại và điện tín, tuy nhiên trong bản HP này cũng chưa ghi nhận công dân có quyền được giữ bí mật đối với các thông tin, tư liệu liên quan đến đời tư của mình Khi HP năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) ra đời thay thế cho

HP năm 1980, Điều 73 HP năm 1992 đã tiếp tục quy định: “Công dân có quyền bất

khả xâm phạm về chỗ ở Không ai được tự ý vào chỗ ở của người khác nếu người

đó không đông ý, trừ trường hợp được pháp luật cho phép Thư tín, điện thoại, điện tín của công dân được đảm bảo an toàn và bí mật Việc khám xét chỗ ở, kiểm soát, thu giữ thư tín, điện tín của công dân phải do người có thẩm quyền tiến hành theo quy định của pháp luật” Như vậy, thông qua các quy định trên trong các bản HP có

thể thấy rằng mặc dù các quy định không đề cập trực tiếp đến QĐSRTCN nhưng dựa vào nội dung các quy định đó thì có thể khẳng định QĐSRTCN ở Việt Nam đã được chính thức công nhận và bảo vệ kể từ thời điểm năm 1946

Trang 39

Bên cạnh đó, trong BLDS năm 1995, năm 2005 và các hệ thống văn bản pháp luật chuyên ngành của Việt Nam cũng có đề cập các vấn đề liên quan đến QĐSRTCN tuy nhiên chỉ mới dừng lại ở một số quy định có liên quan gián tiếp chứ chưa có sự ghi nhận và quy định trực tiếp.27

Đến khi HP năm 2013 và BLDS năm

2015 được Quốc hội thông qua thì vấn đề QĐSRTCN tại Việt Nam mới được chính thức ghi nhận và quy định trực tiếp vào trong HP và BLDS, điều này sẽ được tác giả làm rõ ở mục 1.3.3 của luận văn

Như vậy, có thể thấy rằng, lịch sử phát triển của QĐSRTCN là một quá trình lâu dài gắn liền với các thời kỳ, giai đoạn lịch sử khác nhau Mặc dù, các khía cạnh liên quan đến QĐSRTCN có mầm mống xuất hiện từ thời kỳ cổ đại nhưng mãi đến thời kỳ tư bản chủ nghĩa phát triển thì lúc này quyền về đời sống riêng tư cá nhân mới được xác lập, thừa nhận và bảo vệ rộng rãi tại các quốc gia khác nhau trên thế giới Tại Việt Nam, do đất nước rơi vào tình trạng chiến tranh, mọi nguồn lực đều phải tập trung cho công cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc nên các vấn đề liên quan đến QĐSRTCN bắt đầu được ghi nhận và bảo vệ lần đầu tiên trong bản HP năm 1946 và sau đó tiếp tục ghi nhận và phát triển trong các bản HP tiếp theo Đồng thời, các vấn đề liên quan đến quyền này cũng được ghi nhận trong BLDS và một

số văn bản pháp luật chuyên ngành Tuy nhiên, đến khi HP năm 2013 và BLDS năm 2015 ra đời và có hiệu lực thi hành thì QĐSRTCN tại Việt Nam mới chính thức thức được ghi nhận và quy định trực tiếp, cụ thể

1.3.2 Quy định về quyền đời sống riêng tư cá nhân của một số quốc gia trên thế giới

Hiện nay, trên thế giới, việc ghi nhận QĐSRTCN được thể hiện trong văn bản pháp luật thành văn hoặc các hệ thống án lệ hoặc là cả hai, điều này tùy thuộc vào việc quốc gia đó theo hệ thông pháp luật Common Law hoặc Civil Law Đối với những quốc gia theo hệ thống pháp luật Civil Law, QĐSRTCN được ghi nhận, quy định trong HP, pháp luật dân sự và các luật chuyên ngành như Pháp, Trung Quốc, Liên Bang Nga ; còn các quốc gia theo hệ thống pháp luật Common Law,

27 Ví dụ như: Điều 25 Luật Bảo vệ sức khoẻ nhân dân năm 1989 quy định về trách nhiệm của thầy thuốc phải giữ bí mật về những điều có liên quan đến bệnh tật hoặc đời tư mà mình được biết về người bệnh; khoản 2 Điều 46 Luật Giao dịch điện tử năm 2005 quy định: “Cơ quan, tổ chức, cá nhân không được sử dụng, cung cấp hoặc tiết lộ thông tin về bí mật đời tư hoặc thông tin của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác mà mình tiếp cận hoặc kiểm soát được trong giao dịch điện tử nếu không được sự đồng ý của họ, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”

Trang 40

QĐSRTCN được xây dựng thông qua các hệ thống án lệ cũng như pháp luật thành văn, tiêu biểu như Hoa Kỳ Quy định về QĐSRTCN có một số quốc gia trên thế giới được thể hiện và ghi nhận như sau:

a Hoa Kỳ

Hiến pháp Hoa Kỳ năm 1787 không có quy định cụ thể nào về quyền đời sống riêng tư của công dân (thậm chí chữ riêng tư - Privacy chưa bao giờ được nhắc đến trong hiến pháp Hoa Kỳ).28 Tuy nhiên, việc không quy định trực tiếp các quyền đời sống riêng tư trong HP liên bang không đồng nghĩa với việc quyền đời sống riêng tư ở Hoa Kỳ không được công nhận và bảo vệ Các tu chính án của hiến pháp

đã khắc phục hạn chế này, cụ thể tại tu chính án thứ hai đã ghi nhận sự bảo vệ quyền riêng tư và bất khả xâm phạm về nhà ở của cá nhân chống lại sự xâm phạm

tùy tiện của quân đội: “Không một quân nhân nào trong thời bình được đóng quân

trong bất cứ nhà dân nào nếu không được sự đồng ý của chủ nhà và ngay trong thời

riêng tư của cá nhân, nhà cửa, giấy tờ và tài sản quy định: “Quyền của con người

được đảm bảo về cá nhân, nhà cửa, giấy tờ và tài sản khỏi mọi sự khám xét và bắt giam, quyền này sẽ không bị vi phạm Không có lệnh, trát nào được cấp nếu không

có lý do xác đáng căn cứ vào lời tuyên thệ hoặc sự xác nhận, đặc biệt cần miêu tả

đã ban hành nhiều đạo luật liên quan tới bảo vệ dữ liệu cá nhân trong các lĩnh vực

có tính nhạy cảm cao như: Đạo luật Gramm-Leach-Bliley năm 1999 về hiện đại hóa dịch vụ tài chính, đạo luật Bảo vệ quyền riêng tư của trẻ em trên mạng năm 1988, đạo luật về báo cáo tín dụng trung thực; đạo luật Sarbanes Oxley năm 2002 về bảo

vệ việc cải cách các công ty nhà nước về kiểm toán và nhà đầu tư; đạo luật về Hội đồng Thương mại Liên bang năm 1934 giao Hội đồng Thương mại liên bang điều tra và khởi tố các doanh nghiệp có những hành vi thương mại không công bằng và lừa đảo do không tuân thủ, thực hiện những cam kết về bảo vệ thông tin cá nhân trong các chính sách bảo vệ quyền riêng tư mà doanh nghiệp đã công bố công khai

Đặc biệt là Đạo luật Bảo mật của Hoa Kỳ năm 1974 ghi nhận: “Không ai được phép

28

Thái Thị Tuyết Dung (2012), Quyền tiếp cận thông tin và quyền riêng tư ở Việt Nam và một số quốc gia,

Nxb Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh, tr.154

29 Khoa luật Đại học Quốc gia Hà Nội (2012), “Tuyển tập hiến pháp một số quốc gia”, Nxb Hồng Đức, Hà

Nội, tr 541

30

Khoa luật Đại học Quốc gia Hà Nội (2012), tlđd (29), tr 541

Ngày đăng: 19/05/2021, 09:34

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w