1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quyền của người phạm tội trong pháp luật nhà hậu lê những giá trị cần tham khảo

69 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 880,59 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong khi đó, ở nhà nước phong kiến Việt Nam thời Lê thế kỷ XV – XVIII, pháp luật hình sự và tố tụng hình sự có nhiều quy định tiến bộ về việc bảo vệ quyền của người phạm tội.. Từ thực t

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP.HCM

KHOA LUẬT HÀNH CHÍNH

-*** -

NGUYỄN THỊ DƯƠNG MSSV: 1353801014026

QUYỀN CỦA NGƯỜI PHẠM TỘI TRONG PHÁP LUẬT NHÀ

HẬU LÊ – NHỮNG GIÁ TRỊ CẦN THAM KHẢO

Khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật Niên khóa: 2013 - 2017

GVHD: THẠC SĨ TRẦN QUANG TRUNG Giảng viên khoa Luật Hành chính – Nhà nước

TP.HCM – Năm 2017

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trải qua hơn hai tháng tìm hiểu nghiên cứu, cuối cùng tôi đã hoàn thành khóa

luận tốt nghiệp của mình với đề tài: QUYỀN CỦA NGƯỜI PHẠM TỘI TRONG

PHÁP LUẬT NHÀ HẬU LÊ – NHỮNG GIÁ TRỊ CẦN THAM KHẢO Ngày hôm

nay, tôi muốn gửi lời cảm ơn chân thành đến tất cả những sự quan tâm mà tôi nhận

được trong suốt quá trình thực hiện Đặc biệt:

- Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với Thạc sĩ Trần Quang Trung –

Giảng viên khoa Luật Hành chính – Nhà nước, Trường Đại học Luật TP

Hồ Chí Minh, người thầy đã luôn nhiệt tình hướng dẫn tôi từ ngày đầu tiên

lựa chọn đề tài cho đến hiện tại với kết quả là một công trình hoàn thiện

Nếu không có sự theo dõi sát sao và những lời góp ý hết sức quan trọng

của thầy, tôi sẽ khó lòng đạt được kết quả như hôm nay

- Tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình đã luôn bên cạnh động viên và giúp đỡ

tôi về mặt tinh thần để tôi vượt qua những thời điểm khó khăn nhất

- Tôi xin cảm ơn tất cả những giảng viên khoa Luật Hành chính – Nhà nước

nói riêng và Trường Đại học Luật TPHCM nói chung đã truyền đạt kiến

thức nền tảng vững chắc để tôi và các bạn đồng khóa tự tin hơn trước khi

vào đời

- Bên cạnh đó, tôi cũng xin cảm ơn bạn bè và những người xung quanh đã hỗ

trợ tôi trong quá trình hoàn thành khóa luận này, cảm ơn Thư viện trường

Đại học Luật TP Hồ Chí Minh đã cung cấp nguồn tài liệu tham khảo rất

quý giá

Một lần nữa, tôi chân thành cảm ơn tất cả đã cùng tôi đi đến chặng đường cuối

cùng của thời sinh viên

Người thực hiện NGUYỄN THỊ DƯƠNG

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan khóa luận này là kết quả nghiên cứu của tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn của Thạc sĩ Trần Quang Trung – Giảng viên khoa Luật Hành chính - Nhà nước Toàn bộ nội dung đảm bảo tính trung thực và tuân thủ các quy định về trích dẫn nguồn, chú thích tài liệu tham khảo

Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này

Sinh viên thực hiện

NGUYỄN THỊ DƯƠNG

Trang 4

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN 1

LỜI CAM ĐOAN 3

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 4

LỜI NÓI ĐẦU 3

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu của đề tài 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 2

5 Ý nghĩa của đề tài 2

6 Bố cục của đề tài 2

CHƯƠNG 1 4

NHẬN THỨC CHUNG VỀ QUYỀN CON NGƯỜI VÀ VẤN ĐỀ QUYỀN CỦA NGƯỜI PHẠM TỘI THỜI HẬU LÊ 4

1.1 Nhận thức chung về quyền con người 4

1.1.1 Quan niệm về quyền con người 4

1.1.2 Phân loại quyền con người 6

1.2 Khái quát quyền con người trong pháp luật thời Hậu Lê 8

1.2.1 Khái quát lịch sử và tình hình pháp luật thời Hậu Lê 8

1.2.2 Quyền con người trong pháp luật thời Hậu Lê 16

1.3 Cơ sở lý luận về quyền con người của người phạm tội trong pháp luật thời Hậu Lê 20

1.3.1 Quan niệm tội phạm 20

1.3.2 Quy trình xử lý tội phạm 22

1.3.3 Sự cần thiết của việc quy định và bảo vệ quyền của người phạm tội 24

1.4 Cơ sở xác lập quyền của người phạm tội 26

1.4.1 Quyền của người phạm tội được xác lập dựa trên thực trạng trong quá trình áp dụng pháp luật vào đời sống để giải quyết các tranh chấp 27

Trang 6

1.4.2 Quyền của người phạm tội được xác lập dựa trên ý thức chung về vấn

đề quyền con người ngày càng được đề cao 27

1.4.3 Quyền của người phạm tội được xác lập dựa trên sự tác động của tư tưởng Nho giáo 28

CHƯƠNG 2 30

QUYỀN CỦA NGƯỜI PHẠM TỘI TRONG PHÁP LUẬT THỜI HẬU LÊ - NHỮNG GIÁ TRỊ CẦN THAM KHẢO 30

2.1 Cơ sở pháp lý về quyền của người phạm tội 30

2.1.1 Quốc triều Hình luật 30

2.1.2 Quốc triều khám tụng điều lệ 31

2.1.3 Các văn bản pháp luật khác 32

2.2 Các quyền cơ bản của người phạm tội trong pháp luật hình sự 32

2.2.1 Quyền miễn hoặc giảm trách nhiệm hình sự 32

2.2.2 Quyền được dùng tiền chuộc tội (Thục tội) 37

2.2.3 Quyền được con cháu chịu tội thay cho ông, bà, cha, mẹ phạm tội 38

2.3 Quyền của người phạm tội trong pháp luật tố tụng hình sự 39

2.3.1 Quyền của người phạm tội trong giai đoạn bị bắt 39

2.3.2 Quyền của người phạm tội trong giai đoạn tra hỏi, thẩm vấn 41

2.3.3 Quyền của người phạm tội trong giai đoạn xét xử, luận tội 43

2.3.4 Quyền của người phạm tội trong giai đoạn thi hành án 46

2.4 Cơ chế bảo đảm quyền con người của người phạm tội 47

2.5 Những giá trị cần tham khảo 50

2.5.1 Thực trạng vấn đề xâm phạm quyền của người phạm tội trong giai đoạn hiện nay 50

2.5.2 Những giá trị cần tham khảo từ pháp luật thời Hậu Lê về việc bảo vệ quyền của người phạm tội đối với pháp luật Việt Nam hiện nay 54

KẾT LUẬN 60

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 61

Tiếng Việt: 61

Trang 7

Tiếng nước ngoài: 62

Trang 8

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Quyền con người là một vấn không quá mới nhưng luôn mang tính thời sự cao, nhất là trước xu hướng hội nhập quốc tế diễn ra ngày càng sôi động, mạnh mẽ Dọc theo chiều dài lịch sử nhân loại, vấn đề quyền con người từ những nhận thức sơ khai ban đầu được mở rộng, phát triển thành hệ tư tưởng có vị trí quan trọng trong

xã hội hiện đại Ở Việt Nam hiện nay, vấn đề quyền con người được nghiên cứu khá toàn diện, có sự phát triển gắn liền với nhiều công trình có giá trị khoa học lớn Việc khảo cứu quyền con người thể hiện trên nhiều khía cạnh như: triết học, lý luận, chính trị, lịch sử… thể hiện tính chất đa ngành khoa học xã hội và liên ngành luật học về vấn đề này Trong đó, nhiều công trình nghiên cứu quyền con người của nền

cổ luật Việt Nam bao gồm cả thời kỳ nhà Hậu Lê gây được sự chú ý đáng kể Tuy nhiên, đa phần những công trình này đều tập trung nghiên cứu quyền con người trong một số lĩnh vực như chính trị, dân sự, các quyền của phụ nữ… mà chưa có bất

cứ công trình nào nghiên cứu riêng biệt về vấn đề “Quyền của người phạm tội”

Một vài báo cáo khoa học, bình luận đăng tạp chí,… cũng có đề cập đến nhưng chưa thật sự sâu sắc, toàn diện về vấn đề này

Xét trong tình hình thực tiễn hiện nay, việc bảo vệ và thực thi quyền con người, nhất là quyền của bị can, bị cáo vẫn còn nhiều hạn chế, ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng và kết quả của các bản án hình sự nói riêng và hoạt động của ngành

tư pháp nói chung Nhiều bản án, quyết định của toà án có oan sai xuất phát từ việc không tôn trọng các quy định về việc bảo vệ quyền của người phạm tội Điều đó dẫn đến tình trạng vụ án không được giải quyết công bằng, thỏa đáng, gây thiệt hại

cả về vật chất và tinh thần cho người bị buộc tội, làm mất niềm tin của nhân dân vào công lý và sự lãnh đạo của Đảng, nhà nước Trong khi đó, ở nhà nước phong kiến Việt Nam thời Lê (thế kỷ XV – XVIII), pháp luật hình sự và tố tụng hình sự có nhiều quy định tiến bộ về việc bảo vệ quyền của người phạm tội

Từ thực tiễn ấy, có thể thấy việc nghiên cứu, chắt lọc những giá trị tốt đẹp trong các quy định về quyền của người phạm tội trong pháp luật nhà Hậu Lê để xây dựng và hoàn thiện bộ máy pháp luật hiện nay là một nhu cầu cấp thiết trong công cuộc cải cách tư pháp, nâng cao chất lượng hoạt động xét xử Đó là lý do mà tác giả chọn đề tài này để nghiên cứu trong khóa luận tốt nghiệp của mình

Trang 9

2 Mục tiêu của đề tài

Mục tiêu của đề tài là nghiên cứu chuyên sâu những quy định của pháp luật về hình sự và tố tụng hình sự cũng như những biện pháp bảo đảm thực thi quyền của người phạm tội trong xã hội phong kiến thời Lê (thế kỷ XV - XVIII) Qua đó rút ra những nội dung tiến bộ, còn phù hợp với giai đoạn hiện nay để tham khảo, kế thừa nhằm hoàn thiện hệ thống các quy định của pháp luật hình sự và tố tụng hình sự trong việc bảo vệ quyền của người phạm tội Đây là những nội dung trọng tâm đề tài cần giải quyết và cũng chính là mục tiêu cần đạt được

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Tác giả tập trung nghiên cứu những quy định tiến

bộ về quyền của người phạm tội trong pháp luật nhà Hậu Lê, chủ yếu trong Quốc triều Hình luật và Quốc triều khám tụng điều lệ

- Phạm vi nghiên cứu: Để làm rõ vấn đề này, tác giả đã nghiên cứu hai nội dung chính: Quyền con người trong pháp luật hình sự và quyền con người trong pháp luật tố tụng hình sự, đồng thời chỉ ra cơ sở xác lập các quyền này, nội hàm cụ thể, cơ sở pháp lý, cơ chế bảo đảm việc thi hành những quyền này

4 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu chính được tác giả sử dụng trong khóa luận này chính là phương pháp phân tích – tổng hợp, ngoài ra còn có sự kết hợp với một số phương pháp khác bổ trợ như so sánh, liệt kê, suy luận logic… Thông qua việc phân tích các quy định của pháp luật nhà Hậu Lê về quyền của người phạm tội, kết hợp với việc so sánh đối chiếu với những quy định hiện tại, tác giả chỉ ra những nội dung cần tham khảo, kế thừa để hoàn thiện pháp luật

5 Ý nghĩa của đề tài

Đề tài là một công trình nghiên cứu cụ thể về một vấn đề còn mới mẻ so với những công trình trước đó, do vậy có giá trị phục vụ nhu cầu học tập, tham khảo chung Với những giá trị đã rút ra trong quá trình nghiên cứu, tác giả hy vọng nội dung đề tài sẽ có sự tác động nhất định đối với nhận thức của xã hội về vấn đề bảo

vệ quyền của người phạm tội trong hoạt động tư pháp hiện nay

6 Bố cục của đề tài

Đề tài gồm có hai chương:

Trang 10

- Chương 1: Nhận thức chung về quyền con người và vấn đề quyền của người phạm tội thời Hậu Lê

- Chương 2: Quyền của người phạm tội trong pháp luật thời Hậu Lê và những giá trị cần tham khảo

Trang 11

CHƯƠNG 1 NHẬN THỨC CHUNG VỀ QUYỀN CON NGƯỜI VÀ VẤN ĐỀ

QUYỀN CỦA NGƯỜI PHẠM TỘI THỜI HẬU LÊ

Nhận thức chung về quyền con người

1.1.

1.1.1 Quan niệm về quyền con người

Trong tiến trình phát triển xã hội loài người, tư tưởng về quyền con người xuất hiện từ rất sớm và được xem là một giá trị nhân văn tiến bộ của nhân loại Từ thời

cổ đại, ý niệm quyền con người đã thể hiện qua những quy tắc pháp lý do các nhà nước văn minh cổ đại đặt ra Tiêu biểu có thể kể đến những văn bản luật với mục đích bảo vệ con người bằng công lý, bảo vệ quyền được sống trong một xã hội công bằng hơn như bộ luật Hammurabi của vua xứ Babylon vào khoảng năm 1780 Trước Công nguyên (TCN); bộ luật do đại đế Cyrus (người sáng lập nhà nước Iran) ban hành vào các năm 576 – 529 TCN; bộ luật do nhà vua Ashoka (Đế quốc Maurya) ban hành khoảng năm 272 – 271 TCN; Hiến pháp Medina do nhà tiên tri Muhammad sáng lập vào năm 6221 Thời kỳ Trung cổ, hiến chương Magna Carta ra đời ở châu Âu được coi là một trong những tài liệu pháp lý đầu tiên ghi nhận quyền con người với các quy định mang tính bước ngoặt về sở hữu, thừa kế tài sản, tự do buôn bán… Đặc biệt, với tư tưởng chủ đạo đề cao con người, thời kỳ Phục hưng đã trở thành giai đoạn phát triển rực rỡ của các học thuyết về quyền con người Điều

đó thể hiện qua những quan điểm, ý kiến, tranh cãi của các nhà triết học nổi tiếng đương thời như Thomas Hobbes (1588 – 1679), John Locke (1632 – 1704), Montesquier (1689 – 1755), Thomas Paine (1731 – 1809), George Wilhelm Frederich Hegel (1770 – 1831), John Stuart Mill ( 1806 -1873), Henry David Thoreau (1817 – 1862)… Chính tư tưởng, quan điểm của các tác giả này đã tác động to lớn đến sự ra đời của những văn kiện pháp lý quan trọng về quyền con

người ở thế kỷ XVIII như “Tuyên ngôn độc lập” của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ 1776

và “Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền” của Cộng hòa Pháp 1789 Kể từ đó, quyền con người được thế giới biết đến với những khẳng định nổi tiếng: “Mọi

người sinh ra đều bình đẳng Tạo hóa đã cho họ những quyền mà không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền đó có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” “Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền” của nước Pháp cũng

ghi nhận một cách rõ ràng: “Con người sinh ra và sống tự do và bình đẳng về các

1

Trường ĐH Luật TPHCM (2014), Quyền con người trong Luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, NXB Hồng

Đức, Hà Nội, tr.26

Trang 12

quyền” Tư tưởng về quyền con người tiếp tục phát triển trong suốt thế kỷ XIX, thế

kỷ XX theo hướng ngày càng mở rộng và hoàn thiện hơn Sau khi kết thúc chiến tranh thế giới thứ hai, tư tưởng này đã phát triển lên tầm cao mới, được đánh dấu thông qua việc quy định trong hàng loạt văn bản pháp lý có giá trị toàn cầu như

Hiến chương Liên hợp quốc 1945, Tuyên ngôn thế giới về quyền con người 1948, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị và Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa 1966… Như vậy, cùng với sự phát triển của xã hội,

con người đã không ngừng đấu tranh, từng bước yêu cầu được công nhận các quyền lợi cơ bản và quy ước như những giá trị phổ biến mà không có bất cứ sự phân biệt nào về phân biệt giai cấp, tôn giáo, dân tộc, chế độ chính trị, trình độ phát triển Có thể nói, đây là một trong những bước tiến vĩ đại góp phần hình thành xã hội loài người văn minh, tiến bộ, ổn định, bền vững

Trong suốt quá trình phát triển, khái niệm về quyền con người chủ yếu chịu ảnh hưởng của hai học thuyết: Học thuyết về quyền tự nhiên và Học thuyết về các quyền pháp lý

Những học giả theo trường phái tự nhiên như Thomas Hobbes (1588 – 1679), John Locke (1632 – 1704), Thomas Paine (1731 – 1809)… thì cho rằng quyền con người là những quyền bẩm sinh, tự nhiên, vốn có của con người Theo các học giả

này, quyền tự nhiên của con người là “được sử dụng quyền lực của chính mình để

bảo đảm cuộc sống của chính mình, và do đó được làm bất cứ điều gì mà mình cho

là đúng đắn và hợp lý” 2

Vì thế, trường phái tự nhiên phủ nhận sự phụ thuộc của các quyền con người vào phong tục, tập quán cũng như ý chí của bất cứ cá nhân, tổ chức nào, kể cả nhà nước

Ngược lại với học thuyết tự nhiên, các học giả ủng hộ học thuyết về các quyền pháp lý tiêu biểu như Edmund Burke (1729 – 1797), Jeremy Bentham (1784 – 1832) lại cho rằng quyền con người không phải là bẩm sinh vốn có mà do nhà nước quy định và pháp điển hóa thành các quy phạm pháp luật, buộc mọi người phải tuân theo Theo học thuyết này, quyền con người bị chi phối bởi ý chí của giai cấp thống trị và các yếu tố tác động như phong tục, tập quán, truyền thống văn hóa… Các quyền pháp lý còn được gọi là các quyền dân sự (civil rights) hoặc các quyền luật định

Theo thống kê của Liên hợp quốc, hiện nay có khoảng 50 định nghĩa về

“Quyền con người” (Human rights) được công bố, mỗi định nghĩa tiếp cận ở một

2 Trường ĐH Luật TPHCM (2014), tlđd (1), tr.18

Trang 13

góc độ khác nhau Tuy nhiên, định nghĩa thường được trích dẫn bởi các nhà nghiên

cứu và các học giả là của Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc: “Quyền con người là

những bảo đảm pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép và tự do cơ bản của con người”3 Bên cạnh đó, quyền con người còn được hiểu một cách khái quát là những quyền bẩm sinh vốn có của con người mà nếu không có những quyền ấy thì chúng ta không thể sống như một con người4 Trong các giáo trình và tài liệu nghiên cứu ở Việt Nam, khái niệm quyền con người được

hiểu khá thống nhất Cụ thể, Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người

của khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội định nghĩa “quyền con người” được hiểu

là “những nhu cầu, lợi ích tự nhiên vốn có và khách quan của con người được ghi

nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế”5 Dưới

góc độ tiếp cận đa ngành và liên ngành khoa học xã hội, “quyền con người là nhân

phẩm, các nhu cầu về vật chất và tinh thần, lợi ích cùng với nghĩa vụ của con người được thể chế hóa trong các quy định của pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia”6

1.1.2 Phân loại quyền con người

Ý nghĩa của việc phân loại quyền con người là giúp các chủ thể liên quan hiểu

rõ và thực thi tốt hơn những quy định về quyền con người Về phía nhà nước, việc

Trang 14

phân loại này là cơ sở để hoạch định các chính sách liên quan đến quyền con người Trên phương diện khoa học pháp lý, việc phân loại sẽ tạo điều kiện để tìm hiểu sâu hơn về các khía cạnh của quyền con người, từ đó đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật Trên thực tế, quyền con người thường được phân loại dựa trên

hai căn cứ sau đây:

1.1.2.1 Phân loại quyền con người theo lĩnh vực

Một trong những tiêu chí phân loại quyền con người phổ biến nhất là dựa vào lĩnh vực đời sống chia thành hai nhóm chính: nhóm các quyền dân sự - chính trị và nhóm các quyền kinh tế - xã hội - văn hóa Đây cũng là cơ sở mà Liên hiệp quốc

dựa vào đó để soạn thảo hai Công ước quốc tế về quyền con người: Công ước quốc

tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 và Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm 1966

Nhóm quyền chính trị - dân sự bao gồm những quyền nhằm đảm bảo cho con người đủ khả năng tham gia vào các hoạt động dân sự và chính trị trong đời sống xã hội, chống lại sự xâm phạm, đàn áp, phân biệt của cơ quan quyền lực nhà nước Đó

là các quyền cơ bản như quyền sống, quyền bất khả xâm phạm về thân thể, danh dự, nhân phẩm; quyền tự do đi lại; các quyền liên quan đến nhân thân, tài sản, quyền không bị phân biệt đối xử, được thừa nhận và bình đẳng trước pháp luật, tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo…Một bộ phận quan trọng trong nhóm quyền chính trị - dân

sự là những quyền tham gia vào đời sống chính trị như quyền bầu cử, ứng cử, tự do ngôn luận, tự do lập hội…

Nhóm các quyền kinh tế - văn hóa - xã hội bao gồm những quyền như tự do kinh doanh, tự do lao động; quyền được hưởng an sinh xã hội, quyền được giáo dục

và được tham gia vào đời sống văn hóa, quyền được hưởng các thành tựu khoa học của nhân loại… Trải qua quá trình soạn thảo với nhiều tranh cãi kéo dài, việc thông

qua Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm 1966 đã đặt nền

tảng quan trọng cho nhóm quyền này về mặt lý luận, là cơ sở pháp lý vững chắc để các thành viên nội luật hóa trong pháp luật quốc gia

1.1.2.2 Phân loại quyền con người theo hình thức thể hiện

Đây là cách phân loại dựa vào đặc điểm chung về đối tượng được bảo vệ của nhóm quyền, cụ thể quyền con người được phân thành hai nhóm: quyền nhân thân

và quyền tài sản

Nhóm quyền nhân thân bao gồm những quyền cơ bản gắn bó với đặc thù cá nhân mỗi người mà không thể chuyển đổi hoặc thay thế như: quyền được bảo vệ

Trang 15

tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm; quyền được giáo dục, được lao động, bầu cử…

Quyền tài sản là nhóm quyền có đối tượng được bảo vệ liên quan đến chế độ

sở hữu trong xã hội như các quyền được sở hữu tài sản hợp pháp, sở hữu đất đai…

và được nhà nước bảo vệ quyền sở hữu đó trước mọi hành vi xâm phạm bất hợp pháp

Có thể nói, trong bất cứ hoàn cảnh nào con người cũng đều cần những quyền

cơ bản để tồn tại và được thừa nhận với tư cách sinh vật phát triển bậc cao nhất trên Trái Đất Do đó, con người chính là chủ thể trung tâm của quyền con người Mọi hoạt động bảo vệ quyền con người đều phải hướng tới xây dựng một cuộc sống hạnh phúc, tốt đẹp hơn cho chính con người đang sống trong xã hội ấy Tuy nhiên, tùy thuộc vào điều kiện và hoàn cảnh cụ thể mà phạm vi và mức độ các quyền con người được hưởng cũng khác nhau để đạt được sự phù hợp với đời sống Kể cả trong trường hợp họ là người phạm tội, mặc dù bị hạn chế một số quyền nhưng pháp luật vẫn quy định cho họ được phép hưởng những quyền cơ bản nhằm đảm bảo cân bằng giữa lợi ích chung của xã hội và lợi ích của cá nhân người phạm tội Không chỉ trong pháp luật hiện đại mà ngay từ thời nhà Hậu Lê, các nhà lập pháp cũng đã thể hiện sự quan tâm đến việc đảm bảo quyền con người nói chung, quyền của người phạm tội nói riêng thông qua những quy định cụ thể về quyền của người phạm tội

Khái quát quyền con người trong pháp luật thời Hậu Lê

Trang 16

giá cao vì tầm nhìn vượt thời nhưng trong tình hình đất nước bấy giờ, với những biện pháp còn mang tính chủ quan, cuộc cải cách của Hồ Quý Ly đã không thành

công

Sau khi cuộc kháng chiến của nhà Hồ thất bại, nhiều cuộc khởi nghĩa khác vẫn tiếp tục nổ ra nhằm lật đổ ách đô hộ của nhà Minh Mùa xuân năm Mậu Tuất (1418), Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa ở vùng núi Lam Sơn (Thanh Hóa), xưng là Bình Định Vương và phát đi lời kêu gọi toàn dân đồng lòng đánh đuổi quân Minh Cuộc kháng chiến kéo dài suốt 10 năm “nếm mật nằm gai” với sự trợ giúp đắc lực của nhiều trung thần tài giỏi như Nguyễn Trãi, Nguyễn Xí, Đinh Liệt… cuối cùng đã dành được chiến thắng vẻ vang Nguyễn Trãi viết “Bình Ngô đại cáo” khép lại giai đoạn đau thương nhưng oai hùng của dân tộc và mở ra một trang sử mới với một triều đại mới trong lịch sử phong kiến Việt Nam:

Xã tắc từ nay vững bền

Giang sơn từ nay đổi mới

Càn khôn bĩ rồi lại thái

Nhật nguyệt hối rồi lại minh

Nhà Hậu Lê kéo dài hơn ba thế kỷ, trải qua hai thời kỳ: thời Lê sơ (1428 –

1527) và thời Lê trung hưng (1527 – 1789)

 Thời Lê sơ: 1428 – 1527

Thời Lê sơ được xem là một trong những giai đoạn phát triển rực rỡ nhất của nhà nước phong kiến Việt Nam, tiêu biểu là thời kỳ đỉnh cao dưới triều vua Lê Thánh Tông (1460 - 1497) Kể từ thời điểm Lê Thái Tổ lập quốc đến trước thời điểm Lê Thánh Tông lên ngôi, nhà Lê đã trải qua những biến cố chính trị về việc tranh giành ngôi vua Triều đình chia phe phái xâu xé lẫn nhau tranh giành quyền lực và sự ảnh hưởng, nhiều công thần từng theo phò tá Lê Lợi năm xưa đã bị sát hại Sau khi Lê Thánh Tông lên ngôi, ngay lập tức ông tiến hành xây dựng bộ máy nhà nước theo chính thể quân chủ tuyệt đối Quyền lực được tập trung tối cao vào tay vua, cải cách toàn bộ chính quyền từ trung ương đến địa phương, xây dựng pháp luật và thực hiện nhiều chính sách tiến bộ nhằm ổn định đời sống xã hội Dưới thời vua Lê Thánh Tông, Đại Việt trở thành một cường quốc trong khu vực với sự phát

triển vượt bậc về mọi mặt

Sau thời kỳ thịnh trị của triều vua Lê Thánh Tông (1460 - 1497), nhà Lê bước

vào giai đoạn suy yếu “Gần ¼ thế kỷ lâm vào tình trạng tranh giành quyền lợi giữa

Trang 17

các phe cánh (giữa các anh em trong hoàng tộc, giữa hoàng tộc và ngoại thích…)

đã lần lượt đưa ngai vàng vào tay những “vua quỷ” (Lê Uy Mục: 1505 - 1509),

“vua lợn” (Lê Tương Dực: 1510 - 1516), Lê Chiêu Tông, Lê Cung Hoàng ”7 Đến đầu thế kỷ thứ XVI, sự mục nát của nhà Lê đã đạt đến cực điểm Mạc Đăng Dung lúc bấy giờ đang giữ chức thái sư tiến hành phế bỏ Lê Cung Hoàng để lập ra nhà Mạc, chấm dứt triều Lê sơ và bắt đầu một giai đoạn đầy biến cố trong lịch sử Việt Nam

 Thời Lê trung hưng: 1528 – 1789

Thời Lê trung hưng (1528 – 1789) được biết đến là thời kỳ nội chiến phân liệt, đất nước rơi vào tình trạng chiến tranh liên miên giữa các tập đoàn cát cứ phong

kiến Sau khi lập ra nhà Mạc, Mạc Đăng Dung đối mặt với tình trạng đất nước nhiều

khó khăn và sự chống đối của đông đảo cựu thần nhà Lê Năm 1533, Nguyễn Kim đứng đầu một nhóm cựu thần nhà Lê lập Lê Duy Ninh (tức Lê Trang Tông) lên làm vua, nêu cao khẩu hiệu “Phù Lê diệt Mạc” và chiếm giữ vùng đất từ Thanh Hóa trở vào Nam (Nam triều) Trong khi đó, triều Mạc chiếm giữ vùng đất từ Ninh Bình trở

ra Bắc (Bắc triều) Nguyễn Kim được phong Thượng phụ Thái sư Hưng quốc công

và nắm nhiều quyền lực nhất, sau khi Nguyễn Kim bị mưu sát thì Trịnh Kiểm (con rể) lên thay Năm 1592, con trai Trịnh Kiểm là Trịnh Tùng đánh bại nhà Mạc, chấm dứt chiến tranh Nam - Bắc triều nhưng lại khơi mào cho một cuộc nội chiến mới

xuất phát từ mâu thuẫn giữa hai nhà Trịnh - Nguyễn

Trong lúc họ Trịnh đang giao tranh cùng nhà Mạc, năm 1558, con trai Nguyễn Kim là Nguyễn Hoàng đã xin vua Lê cho vào khai phá vùng đất Thuận Hóa (từ Quảng Trị trở vào) Từ đấy, họ Nguyễn đã xây dựng thành một giang sơn riêng của mình với tiềm lực mạnh mẽ về kinh tế và quân sự, đối đầu với họ Trịnh ở phía Bắc Mâu thuẫn giữa Trịnh - Nguyễn ngày càng gia tăng dẫn đến hệ quả xảy ra nhiều cuộc giao tranh vũ trang rất ác liệt kéo dài liên tục 45 năm (1627 - 1672) nhưng bất phân thắng bại Cuối cùng hai bên đi đến thỏa hiệp là lấy sông Gianh (Quảng Bình) làm ranh giới phân đôi đất nước Từ sông Gianh trở ra thuộc lãnh thổ Lê – Trịnh, gọi là Đàng Ngoài; từ sông Gianh trở vào thuộc quản lý của nhà Nguyễn, gọi là

Đàng Trong

Năm 1771, phong trào Tây Sơn bùng nổ dưới sự lãnh đạo của ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ và đến 1777 thì giành chiến thắng trước nhà Nguyễn Trên đà thắng lợi, ông tiến quân ra Bắc đánh bại quân Trịnh, lập lại

7

Trường Đại học Luật TPHCM (2013), Giáo trình lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam, NXB Hồng Đức,

Hà Nội, tr.151

Trang 18

vua Lê, chỉnh đốn chính sự Bắc Hà và rồi sau đó chính ông là người đã chấm dứt

thời kỳ nội chiến phân liệt kéo dài gần 300 năm

1.2.1.2 Tình hình pháp luật

Việc xây dựng một hệ thống pháp luật vững chắc để cai trị đất nước và quản lý

xã hội là vấn đề được coi trọng dưới thời Lê Hoạt động ban hành pháp luật diễn ra liên tục, xuyên suốt từ thời Lê sơ (1428 - 1527) đến hết thời Lê trung hưng (cuối thế

kỷ XVIII) thông qua việc ban hành, hiệu đính, sửa chữa, bổ sung hoặc hệ thống hóa hàng loạt văn bản dưới nhiều hình thức Nhìn chung, pháp luật nhà Lê tồn tại dưới hai hình thức cơ bản là tập quán pháp và văn bản quy phạm pháp luật Đối với hình thức tiền lệ pháp (án lệ), hiện có nhiều nhận định cho rằng chưa đủ tư liệu để kết luận có hay không có hình thức pháp luật này

 Tập quán pháp:

Nhiều tập quán được thừa nhận trong các quan hệ chính trị - xã hội hoặc trong đời sống dân sự Có những tập quán tiếp tục tồn tại ở dạng bất thành văn nhưng cũng có những tập quán được pháp điển hóa và ghi nhận trong các văn bản pháp luật Trong sinh hoạt chính trị của nhà Lê, những tập quán được thừa nhận như: tập quán truyền ngôi vua (truyền tử theo dòng trưởng nam), tập quán vua Lê chúa Trịnh cùng trị vì (sử cũ gọi là chế độ cai trị lưỡng đầu), tập quán thế tập (tập ấm - cha làm quan con cái được học hành để cùng làm quan)… Trong đời sống dân sự và hôn nhân gia đình, có nhiều tập quán được thừa nhận là tập quán pháp như tập quán canh tác của người Việt được sử dụng trong các quan hệ vay mượn tài sản; tập quán phân biệt đẳng cấp hay trọng nam khinh nữ ít nhiều được thừa nhận trong các quan

hệ hôn nhân và gia đình; tập quán phân chia và sở hữu ruộng đất hay phát canh thu

tô trong quan hệ sở hữu về ruộng đất8…

 Văn bản pháp luật:

Đây là hình thức pháp luật được sử dụng phổ biến nhất với hệ thống pháp luật

đa dạng, phong phú, điều chỉnh một cách tương đối bao quát các quan hệ trong đời sống xã hội Tuy chưa có sự chia các ngành, lĩnh vực như pháp luật hiện đại nhưng pháp luật nhà Lê đã bước đầu tạo ra sự khác biệt về nội dung điều chỉnh trong các văn bản pháp luật Từ đó, người nghiên cứu có thể tiếp cận ở các góc độ khác nhau

để so sánh những nét tương đồng với pháp luật hiện đại về luật tố tụng cũng như luật nội dung Những văn bản pháp luật do nhà Lê ban hành còn tồn tại cho đến ngày nay đã giúp hậu thế hình dung được sự phát triển rực rỡ của pháp luật thời kỳ

8 Trường Đại học Luật TPHCM (2013), tlđd (7), tr.222

Trang 19

này cả về kỹ thuật lập pháp và nội dung điều chỉnh Cụ thể, có thể kể đến những văn bản tiêu biểu như:

- Lê triều hội điển: văn bản này đến nay vẫn chưa được xác định chính xác

năm ban hành Từ những tư liệu còn lại, các nhà nghiên cứu tổng hợp được hai nội dung cơ bản là quy định về các sắc thuế và phân định thẩm quyền, vai trò của Lục bộ

- Thiên nam dư hạ tập: ban hành vào niên hiệu Hồng Đức đời vua Lê

Thánh Tông Đây là bộ sách mang tính chất của một bộ hội yếu, ghi chép

về điển chương chế độ thời kỳ đầu nhà Lê

- Lê triều quan chế: ban hành thời vua Lê Thánh Tông, quy định về lương,

ngạch, các chế độ bổng lộc cũng như vai trò, nhiệm vụ của đội ngũ quan lại

- Hồng Đức thiện chính thư: đây là một trong những văn bản cổ luật rất

được quan tâm, ban hành dưới triều vua Lê Thánh Tông niên hiệu Hồng Đức với các điều luật chủ yếu về hôn nhân gia đình và điền sản

- Quốc triều thư khế thể thức: ban hành thời vua Lê Cung Hoàng năm

1522, nội dung chủ yếu cung cấp các mẫu văn bản về hợp đồng, di chúc

- Quốc triều chiếu lệnh thiện chính: ban hành thời vua Lê Dụ Tông (1705 -

1729), là những quy định sửa đổi, bổ sung về cơ cấu tổ chức và thẩm quyền của Lục bộ

- Quốc triều khám tụng điều lệ: Cho đến nay vẫn còn nhiều ý kiến tranh

cãi về năm ban hành của QTKTĐL Theo “Điển chế và pháp luật Việt Nam

thời trung đại Tập 1” của Viện nghiên cứu Hán Nôm thì đây là tuyển tập

do chúa Trịnh Sâm tập hợp các lệ, lệnh được ban hành từ trước đó Sau đó ông cho sắp xếp, sửa đổi, điều chỉnh tùy theo tính chất từng loại án kiện9 để quy định về trình tự thủ tục giải quyết các vụ án hình sự và dân sự Dựa vào văn bản còn được lưu giữ, QTKTĐL gồm 31 chương được sắp xếp

tương đối hợp lý, mở đầu bằng chương “Thông lệ về khám tụng” quy định

chung về thẩm quyền xét xử cho từng nhóm vụ việc bao gồm: các việc về ruộng đất, công tư, hôn nhân, tài sản thuộc về tạp tụng; các vụ án mạng do thù sát, dâm sát, ẩu sát; các vụ trộm cướp, giết người cướp của… Các

chương sau có những quy định cụ thể cho từng loại vụ việc như Lệ kiện

9

Nguyễn Ngọc Nhuận (Chủ biên) (2011), Điển chế và pháp luật Việt Nam thời Trung đại Tập I, NXB Khoa

học xã hội, Hà Nội, tr.709

Trang 20

tụng về nhân mạng, Lệ kiện tụng về trộm cướp, Lệ kiện tụng về ruộng đất… Bên cạnh đó, QTKTĐL còn quy định về thời hạn xét xử cũng như

những thủ tục trong hoạt động tố tụng, điều tra giải quyết vụ án như thủ tục bắt người, quy định về việc có mặt tại phiên xét xử… Đây được coi là một trong những thành tựu nổi bật nhất của hoạt động lập pháp nhà Lê bởi nó đánh dấu cho việc phân tách hệ thống pháp luật thành luật nội dung và luật hình thức Có thể nói, với sự ra đời của QTKTĐL, nền tư pháp Đại Việt đã vượt lên trên các quốc gia trong khu vực Á Đông (kể cả Trung Quốc) về trình độ lập pháp

- Quốc triều Hình luật: Theo những tư liệu còn lưu trữ, QTHL (Bộ luật

Hồng Đức) là bộ luật lớn gồm 6 quyển, khởi thảo từ rất sớm và hoàn chỉnh vào thời vua Lê Thánh Tông Các đời vua sau tiếp tục kế thừa và sửa đổi,

bổ sung những quy định của bộ luật này để hoàn thiện Đây là bộ hình luật đầy đủ và cổ nhất còn được lưu giữ ở nước ta cho đến nay

Về cấu trúc, Bộ luật này có 722 điều quy định về hầu hết các quan hệ của đời sống xã hội như các quan hệ chính trị, hôn nhân gia đình, ruộng đất, các thủ tục bắt người và xét xử trong thủ tục tố tụng… QTHL đã kế thừa các thành tựu lập pháp từ thời Lý - Trần như giữ lại hệ thống hình phạt ngũ hình (xuy, trượng, đồ, lưu, tử) nhưng có sửa đổi, bổ sung thêm đối với hình phạt đồ, lưu10

QTHL cũng quy định chặt chẽ, cụ thể, tập trung hơn đối với những nguyên tắc xuất hiện rải rác trong pháp luật thời Lý - Trần như nguyên tắc chuộc tội bằng tiền, nguyên tắc cho phép người thân che giấu tội, nguyên tắc liên đới chịu trách nhiệm hình sự Ngoài ra, QTHL còn thể hiện sự tiếp thu pháp luật Trung Quốc với việc tham khảo kết cấu và cách thức quy định của bộ luật nhà Đường Về mặt nội dung, ngoài những điều khoản tương tự như pháp luật Trung Quốc, QTHL đã bổ sung những quy định mang tính sáng tạo độc đáo phù hợp với chế độ chính trị, kinh tế và những yêu cầu của xã hội đương thời Đó là các quy định nhằm hạn chế sự lạm quyền, bất trung của quan lại, thể hiện vai trò của vua và triều đình trong hoạt động cai trị đất nước QTHL cũng chịu sự ảnh hưởng sâu rộng từ tư tưởng Nho giáo và các phong tục, tập quán

cổ truyền của dân tộc Điều này thể hiện qua những quy định trong lĩnh vực hôn nhân gia đình, quan hệ thừa kế điền sản và ruộng hương hỏa Điểm nổi bật của QTHL chính là tư tưởng bảo vệ quyền con người thể hiện qua những quy định ở nhiều lĩnh vực như hôn nhân gia đình, thừa kế, hình sự, tố tụng hình sự… Trong đó,

10

TS Lê Thị Sơn (2004), Quốc triều Hình luật – Lịch sử hình thành, nội dung và giá trị, NXB Khoa học xã

hội, Hà Nội, tr.56

Trang 21

các chủ thể đặc biệt như phụ nữ, trẻ em, người khuyết tật, người cao tuổi thường được bảo vệ bằng những quy định tiến bộ, thậm chí vượt khỏi định kiến đương thời như cho phép phụ nữ được quyền ly hôn chồng, thừa nhận vai trò của con gái trong quan hệ thừa kế… Tóm lại, bằng việc kế thừa thành tựu pháp luật của các triều đại

Lý - Trần và giao thoa những nền tư pháp của các nước láng giềng, QTHL đã đáp ứng những đòi hỏi của thực tiễn

Pháp luật phong kiến nói chung và pháp luật thời Hậu Lê nói riêng chưa có sự phân chia thành các ngành, lĩnh vực riêng biệt như pháp luật hiện đại Tuy nhiên, nhìn tổng quan, pháp luật nhà Lê đã chứa đựng các quy định điều chỉnh một cách khá đầy đủ các lĩnh vực trong đời sống xã hội Cụ thể, về mặt nội dung có thể khái quát thành các lĩnh vực chính:

- Hành chính:

Đối với hoạt động quản lý hành chính, pháp luật nhà Lê quy định các tội gây cản trở, làm sai lệch các hoạt động bình thường của cơ quan nhà nước liên quan đến chế độ công vụ, quản lý hộ khẩu, đất đai… được quy định cụ thể tại các chương Vi chế, Hộ hôn, Điền sản Cụ thể như hành vi chậm trễ trong việc duyệt sổ đinh (Điều

150 QTHL), quan lại duyệt hộ khẩu sai lầm (Điều 151 QTHL), tự tiện xé tờ cáo thị (Điều 149 QTHL)… Các hành vi xâm phạm trật tự công cộng hoặc không tuân thủ thể thức, lễ nghi của triều đình cũng được xếp vào nhóm làm mất trật tự quản lý hành chính của nhà nước Pháp luật nhà Lê có xu hướng bảo vệ trật tự quản lý hành chính thông qua việc quy định chế tài hình sự đối với quan lại nhằm tăng cường trách nhiệm, hạn chế sai sót và nâng cao hiệu quả của các cơ quan công quyền

- Hình sự:

Nhìn chung, pháp luật nhà Lê theo xu hướng hình sự hóa các quan hệ xã hội như các triều đại trước nên đa số tội phạm khắp các lĩnh vực đều bị xử lý theo chế tài hình sự Trong đó, nhóm tội phạm chịu trách nhiệm hình sự nặng nhất gồm tội thập ác, các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người, xâm phạm an ninh quốc gia và trật tự an toàn của chế độ phong kiến Pháp luật hình sự nhà Lê đã có những điểm tiến bộ vượt bậc với các quy định phân biệt trách nhiệm hình sự dựa vào tính

cố ý, có sự áp dụng linh hoạt các chế định miễn giảm trách nhiệm hình sự đồng thời thể hiện rõ nét những nguyên tắc tiến bộ như nguyên tắc vô luật bất hình, nguyên tắc chiếu cố khoan hồng…

Trang 22

- Dân sự:

Pháp luật dân sự thời Lê có sự phân chia thành các nhóm quan hệ khác nhau như quan hệ sở hữu ruộng đất, quan hệ hợp đồng, thừa kế, hôn nhân gia đình Đối với các quan hệ sở hữu ruộng đất, pháp luật quy định tương đối cụ thể về việc áp dụng các chính sách ruộng đất công và những quy định về việc sử dụng, bảo vệ ruộng đất Các vấn đề tô, thuế, các chế tài áp dụng đối với hành vi xâm hại tới ruộng đất công và bảo vệ quyền lợi của chủ sở hữu hợp pháp cũng được thể hiện rõ ràng Đối với các quan hệ hợp đồng, thừa kế, hôn nhân gia đình, pháp luật cho thấy

sự tiến bộ vượt bậc trong quy định về hình thức hợp đồng, nguyên tắc thực hiện hợp đồng; hình thức di chúc và cách thức chia thừa kế; các quy định bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ trong hôn nhân gia đình… Mặc dù sự ảnh hưởng của Nho giáo vẫn còn lớn nhưng trong bối cảnh lịch sử - xã hội bây giờ, pháp luật dân sự nói riêng và toàn bộ hệ thống pháp luật nói chung đã thể hiện tầm nhìn, sự sáng tạo, trí tuệ và tinh thần nhân đạo của các bậc tiền nhân

- Tố tụng:

Lĩnh vực tố tụng đặc biệt được đánh giá cao với những quy định mang tính bước ngoặt trong các giai đoạn của hoạt động giải quyết vụ án Pháp luật nhà Lê đã

có sự phân chia cấp xét xử và có sự phân loại vụ án khác nhau bằng việc phân thành

các “Lệ” trong QTKTĐL Đặc biệt, cả QTHL và QTKTĐL đều quy định khá rõ

ràng về những giới hạn của người thi hành công quyền trong quá trình tố tụng nhằm hạn chế tình trạng lạm quyền Cụ thể, trong từng thủ tục như bắt người, tra khảo, hỏi cung, xét xử và thi hành án, pháp luật đều đề ra những quy định mang tính ràng buộc với trách nhiệm pháp lý tùy mức độ vi phạm Nhìn tổng quát, pháp luật tố tụng nhà Lê đã tạo ra được một quy trình tố tụng tương đối hoàn chỉnh với chuỗi hoạt động nối tiếp nhau, bổ sung, hỗ trợ nhau trong quá trình giải quyết vụ án Đây là một trong những lý do mà nền tư pháp nhà Lê được đánh giá cao hơn các quốc gia trong khu vực ở cùng thời kỳ

Nhìn chung, nhà Lê từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII là một bức tranh lịch sử đầy biến động, dấu ấn của nhà Lê để lại trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, tư tưởng, pháp luật… vô cùng đặc sắc Một trong những thành tựu nổi bật nhất

là việc chắt lọc giá trị cao đẹp về quyền con người để áp dụng trong các quy định của pháp luật, trong đó bao gồm những quy định về quyền của người phạm tội

Trang 23

1.2.2 Quyền con người trong pháp luật thời Hậu Lê

1.2.2.1 Cơ sở lý luận về quyền con người trong xã hội phong kiến Việt Nam

Pháp luật phong kiến Việt Nam chưa ghi nhận thuật ngữ “quyền con người” một cách chính thức trong các văn bản pháp luật nhưng nội hàm của nó đã thể hiện qua những tư tưởng, giá trị trong các quy định cụ thể của pháp luật từng thời kỳ Nghiên cứu về phạm trù quyền con người trong pháp luật phong kiến nói chung và

pháp luật nhà Hậu Lê nói riêng có thể rút ra một số đặc tính cơ bản như sau:

Thứ nhất: Quyền con người không tách rời lợi ích của cộng đồng Xuất phát

từ nhu cầu giải quyết vấn đề trị thủy và chiến đấu chống chiến tranh xâm lược đã hình thành nên tính cộng đồng mạnh mẽ, ăn sâu vào đời sống của người Việt Chính

vì vậy, trong xã hội, lợi ích của cộng đồng luôn được đặt lên trên lợi ích cá nhân Các quyền sống, quyền tự do, lao động sản xuất, tham gia các hoạt động chung của làng nước đều không thể thực hiện được nếu tách mình khỏi cộng đồng11

Thứ hai: Quyền con người mang tính bất bình đẳng Đây là đặc điểm chung

của xã hội phong kiến Việt Nam, nơi mà tư tưởng Nho giáo chi phối hầu hết các giá trị và quan niệm chung của con người Trong lĩnh vực pháp luật, tính bất bình đẳng thể hiện ở việc pháp luật quy định cho một hoặc một số nhóm chủ thể nhất định được hưởng những quyền lợi riêng mà các chủ thể còn lại không có Ví dụ: quyền học hành, thi cử và tham gia các hoạt động chính trị chỉ dành cho nam giới mà

không dành cho nữ giới

Thứ ba: Quyền con người vừa mang tính phổ biến vừa mang tính đặc thù

Tính phổ biến thể hiện qua việc pháp luật nhà Lê đã có quy định tiến bộ về những nhóm quyền được áp dụng một cách bình đẳng cho mọi chủ thể mà không có bất kỳ

sự phân biệt nào về chủng tộc, tôn giáo, giới tính, lứa tuổi, thành phần xuất thân Đó

là các quyền được sống, quyền sở hữu tài sản, quyền được bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm… Tuy nhiên, bên cạnh các quyền mang tính phổ biến nói trên, quyền con người còn mang tính đặc thù, có sự khác biệt nhất định chứ không đồng nhất Tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, trình độ dân trí, chế độ chính trị của mỗi quốc gia hoặc trong cùng quốc gia nhưng ở vào mỗi giai đoạn lịch sử cụ thể mà pháp luật của quốc gia đó sẽ quy định khác nhau về mức độ, phạm vi và cơ chế bảo đảm quyền con người Dưới thời Lê sơ, nền kinh tế chủ đạo là nông nghiệp, cùng với sự ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo và những hủ tục, tập quán lạc hậu

11

Th.S Trần Quang Trung (2010), Quyền phụ nữ trong pháp luật thời Lê sơ (thế kỷ XV) – Những kinh

nghiệm cần kế thừa, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường, Trường Đại học Luật TPHCM, tr.9

Trang 24

còn tồn tại dẫn đến hệ quả việc ghi nhận các giá trị về quyền con người cũng chịu

sự tác động không nhỏ của các yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội

Lịch sử phong kiến Việt Nam ghi nhận vấn đề quyền con người đã được đề cập trong các văn bản pháp luật với những mức độ, giới hạn khác nhau Dưới các triều đại Lý, Trần, Lê, Nguyễn, các nội dung liên quan đến quyền con người đã đạt được những tiến bộ nhất định, đặc biệt thể hiện rõ nét trong pháp luật nhà Hậu Lê Dưới thời nhà Lý, nền pháp luật có bước tiến lớn với thành tựu nổi bật là sự ra đời của bộ luật thành văn đầu tiên của nước - Bộ luật Hình thư (được ban hành năm

1042 dưới thời nhà Lý) Sách “Đại Việt sử ký toàn thư” chép:

“Trước kia, trong nước việc kiện tụng phiền nhiễu, quan giữ việc hình câu nệ

luật văn, cốt làm khắc nghiệt, thâm chí bị oan uổng Vua lấy làm thương xót, sai Trung thư sửa định luật lệnh, châm chước cho thích dụng với thời bấy giờ, chia ra môn loại, biên ra điều khoản, làm sách Hình luật của một triều đại để cho người xem dễ hiểu Sách làm xong, xuống chiếu ban hành, dân lấy làm tiện”12

Như vậy, mặc dù Bộ luật Hình thư đến nay đã thất truyền nhưng dựa vào mục đích ban hành qua ghi chép của sử sách vẫn thể hiện được sự tiến bộ, tinh thần nhân đạo và sự đề cao quyền con người Đây cũng là nội dung nổi bật nhất trong thành tựu lập pháp ở thời nhà Lê Pháp luật được đánh giá cao không chỉ bởi phạm vi điều chỉnh khái quát, nội dung chặt chẽ, kỹ thuật lập pháp cao mà còn bởi tính nhân văn thể hiện ở nhiều quy định, tập trung chủ yếu trong QTHL Xuyên suốt QTHL có thể tìm thấy rất nhiều điều luật bảo vệ các quyền nhân thân của con người như quyền sống, quyền được làm dân tự do, chống lại tình trạng nô tỳ hóa, quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, tính mạng, sức khỏe… Đặc biệt, pháp luật nhà Lê thể hiện tầm nhìn và tinh thần nhân đạo của nhà lập pháp thông qua các quy định bảo vệ quyền của những chủ thể đặc biệt như phụ nữ, trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật

1.2.2.2 Quyền con người trong pháp luật thời Hậu Lê

Dựa vào hình thức thể hiện, quyền con người bao gồm hai nhóm: Quyền nhân thân và quyền tài sản Dưới thời nhà Lê (thế kỷ XV – thế kỷ XVIII), cả hai nhóm quyền này đều được coi trọng thông qua những quy định tiến bộ lấy dân làm gốc, lấy con người trung tâm trong pháp luật Xã hội phong kiến mặc dù có sự phân chia

tầng lớp, giai cấp nhưng quyền nhân thân của con người vẫn được đề cao Mọi

hành vi giết người, xâm phạm quyền sống của người khác đều bị pháp luật nghiêm trị không có sự phân biệt giới tính, tôn giáo, giai cấp, giàu nghèo Trong quan hệ

12 Ngô Sĩ Liên (2006), Đại Việt sử ký toàn thư, tập I, NXB Văn hóa thông tin, tr.98

Trang 25

hôn nhân gia đình, quyền nhân thân gắn với nghĩa vụ của cha mẹ đối với con cái, giữa vợ chồng với nhau, hoặc giữa con cái đối với ông bà cha mẹ… Trong đời sống chính trị xã hội, quyền nhân thân thể hiện qua việc ý phản ánh về tình hình quản lý nhà nước ở địa phương, tố cáo những hành vi vi phạm pháp luật Chính quyền phong kiến đã có sự tiếp thu, lắng nghe và hành động nhằm xây dựng bộ máy cai trị hoạt động hiệu quả

Về quyền tài sản, điểm nổi bật nhất là những chế định trong lĩnh vực dân sự

liên quan đến hợp đồng, thừa kế, đất đai… Pháp luật nhà Hậu Lê cho phép người dân có quyền tư hữu đối với điền sản và những tài sản khác Đối với tài sản thuộc

sở hữu của mình, người dân có quyền mua bán, tặng cho, để lại thừa kế… và được pháp luật bảo vệ những giao dịch hợp pháp đó trong quá trình chuyển giao quyền sở hữu Bằng những quy định nghiêm khắc đối với những hành vi xâm phạm quyền sở hữu của người khác, pháp luật đã thể hiện được vai trò trong việc khẳng định quyền tài sản của con người

Một trong những điểm nổi bật về quyền con người của pháp luật thời Hậu Lê chính là tập hợp quy định bảo vệ một số nhóm đối tượng dễ bị tổn thương trong xã hội Cụ thể:

- Bảo vệ quyền lợi của trẻ em:

Đây là nhóm đối tượng chưa phát triển đầy đủ về thể chất và nhận thức, do đó

dễ bị xâm phạm những quyền lợi cơ bản trong quá trình trưởng thành Mặc dù xã hội phong kiến trọng nam khinh nữ nhưng những quy định pháp luật nhà Hậu Lê liên quan đến quyền lợi của trẻ em đã thể hiện tính công bằng tương đối, hạn chế sự phân biệt trai, gái Trong gia đình, con trai, con gái được đối xử bình đẳng trong nhiều quyền và nghĩa vụ Cha mẹ có nghĩa vụ yêu thương, chăm sóc, nuôi dạy con cái Pháp luật đặc biệt có quy định bảo vệ điền sản của trẻ em trong trường hợp mồ côi cha nhằm tránh xâm phạm tài sản riêng của trẻ em (Điều 377, 379 QTHL) Điều này đã hạn chế những rủi ro đối với tương lai của trẻ em, khi bản thân chưa đủ nhận thức để quyết định về tài sản của mình thì đã có pháp luật bảo vệ Liên quan tới hành vi hiếp dâm trẻ em, Điều 404 QTHL đã thể hiện sự tương đồng với pháp luật hiện đại về nguyên tắc khi cho rằng hành vi gian dâm với trẻ em từ 12 tuổi trở xuống dù thuận tình vẫn bị xử tội hiếp dâm Có thể thấy, pháp luật nhà Hậu Lê thực

sự coi trọng và nhận thức được vai trò của trẻ em đối với tương lai đất nước, do đó

đã luật hóa nhiều quy định nhằm đảm bảo điều kiện phát triển bình thường, lành mạnh của trẻ

Trang 26

- Bảo vệ quyền lợi của phụ nữ:

Chịu ảnh hưởng lớn của tư tưởng Nho giáo nhưng pháp luật nhà Hậu Lê đặc biệt được đánh giá cao trong những quy định liên quan đến quyền của phụ nữ Cụ thể: con gái trưởng được quyền thực hiện bổn phận thiêng liêng là giữ hương hỏa, thờ cúng tổ tông nếu không có con trai hay cháu nội; trong hầu hết các hình phạt áp dụng cho người phạm tội, phụ nữ thường được xử nhẹ hơn so với đàn ông; phụ nữ mang thai mà mắc tội tử hình sẽ được dời ngày thi hành án sau khi sinh con 100 ngày (Điều 680 QTHL) Trong quan hệ hôn nhân gia đình, quyền lợi của người phụ

nữ cũng được bảo vệ thông qua những quy định về việc cho phép người vợ kiện chồng yêu cầu thực hiện nghĩa vụ sống chung (Điều 308 QTHL); cho phép con gái hứa gả chồng được trả sính lễ (Điều 322 QTHL); đặc biệt cho phép người vợ được

ly hôn chồng trong một số trường hợp nhất định… Như vậy, có thể thấy, pháp luật nhà Lê một mặt tạo điều kiện để phụ nữ được lấy chồng, sinh con và yên bề gia thất, nhưng mặt khác cũng cho họ một lối thoát khỏi cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc Chính vì tính nhân văn ấy, pháp luật nhà Lê đã thể hiện sự tiếp thu một cách mềm dẻo hệ tư tưởng Nho giáo chứ không quá khe khắt, cứng nhắc như nguyên bản, làm thiệt thòi đến những quyền lợi của phụ nữ

- Bảo vệ quyền lợi của người già, người tàn tật, người cô đơn:

Đối với đối tượng là những người lớn tuổi, pháp luật thể hiện tinh thần nhân đạo thông qua những quy định bảo vệ quyền lợi của họ Cụ thể, người già có quyền được con cháu phụng dưỡng, chăm sóc, nếu không có con cháu thì các quan sở tại phải có nghĩa vụ chăm sóc Nếu người già phạm tội, họ được áp dụng nguyên tắc hồi tố để chịu hình phạt ở mức độ nhẹ nhất có thể, họ cũng có quyền nhờ con cháu chịu hình phạt thay mình

Pháp luật nhà Lê dựa trên tinh thần tương thân tương ái truyền thống của dân tộc, đã ghi nhận nghĩa vụ của chính quyền địa phương là thu nhận và nuôi dưỡng những người già, người tàn tật, góa phụ, người nghèo khổ không nơi nương tựa, không tự nuôi sống được bản thân (Điều 294, 295 QTHL) Nếu không thực hiện hoặc trong quá trình thực hiện nghĩa vụ có hành vi sai phạm như bỏ rơi, bớt xén phần chu cấp thì quan lại địa phương cũng phải chịu chế tài hình sự của pháp luật

- Bảo vệ quyền của người phạm tội:

Người phạm tội là chủ thể đặc biệt vì họ đã thực hiện hoặc bị cho là đã thực hiện hành vi chống lại pháp luật, phá vỡ trật tự xã hội mà pháp luật cố gắng gìn giữ Tuy nhiên, pháp luật nhà Lê vẫn thể hiện tính khoan dung khi dành cho người phạm

Trang 27

tội những quyền lợi đặc biệt để tự bảo vệ bản thân trong quá trình thụ lý, xét xử và thi hành án Đó là các quyền không bị người thi hành công vụ xâm phạm tính mạng, quyền được xét xử theo pháp luật, quyền kháng cáo, quyền bào chữa… Pháp luật cũng xem người phạm tội thuộc nhóm đối tượng dễ bị tổn thương bởi họ hoàn toàn yếu thế khi chống lại sự buộc tội của cơ quan công quyền

Tóm lại, trong pháp luật nhà Hậu Lê, quyền con người được thể hiện một cách nổi bật với những quy định có giá trị nhân văn cao đẹp, bảo vệ quyền và lợi ích của mọi tầng lớp, giai cấp trong xã hội mà đặc biệt là những đối tượng dễ bị xâm phạm

Cơ sở lý luận về quyền con người của người phạm tội trong pháp luật thời 1.3.

Hậu Lê

1.3.1 Quan niệm tội phạm

Khác với pháp luật hiện đại, quan niệm về tội phạm của các nhà làm luật phong kiến có phạm vi rất rộng Xuất phát từ việc hình sự hóa các quan hệ xã hội, khái niệm tội phạm được áp dụng không những trong quan hệ hình sự mà còn với

cả những hành vi vi phạm trong các lĩnh vực dân sự, hành chính, thuế khóa, ruộng đất và trong cả quan hệ đạo đức13 Nghiên cứu các quy định trong pháp luật nhà Lê,

có thể thấy pháp luật không đưa ra định nghĩa cụ thể về tội phạm Từng trường hợp phạm tội được mô tả tỉ mỉ kèm theo các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ với những mức chế tài áp dụng khác nhau trong mỗi điều luật Đây là cách làm khác với pháp luật hiện đại khi những quy định về tội phạm trong pháp luật hiện đại thường khái quát, mang đầy đủ các dấu hiệu chung của nhóm tội phạm Cách quy định như vậy mặc dù thiếu tính tổng quát nhưng lại phù hợp với điều kiện hoàn cảnh thời bấy giờ,

sự Như vậy, việc ghi nhận trong hệ thống pháp luật chính là căn cứ để phân biệt tội phạm và những hành vi không bị coi là tội phạm

Trong pháp luật nhà Lê, hành vi bị coi là tội phạm có thể được thực hiện ở dạng hành động hoặc không hành động Phần lớn các điều luật đều quy định tội

13

Trường Đại học Luật Hà Nội (2012), Giáo trình lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam, NXB Công an

nhân dân, Hà Nội, tr.198

Trang 28

phạm ở dạng hành động, tức người phạm tội phải thực hiện một hành vi cụ thể với các đặc điểm được pháp luật mô tả Điều luật liệt kê rõ ràng chế tài mà người phạm tội phải gánh chịu tương ứng với từng hành vi ở các mức độ khác nhau Ví dụ: đối với tội cố ý đánh chết người (Điều 467 QTHL), người thực hiện hành vi đánh nhau dẫn đến hậu quả chết người thì xử tội giảo, nếu có sử dụng gươm, giáo mà làm chết người thì xử tội cố ý giết người Có thể thấy, cùng là hành vi đánh người dẫn đến hậu quả chết người nhưng nếu sử dụng vũ khí nguy hiểm như gươm, giáo thì hình phạt mà người phạm tội phải chịu hoàn toàn khác so với việc không sử dụng vũ khí Như vậy, căn cứ vào mức độ của hành vi phạm tội kết hợp với nhiều yếu tố khác trong từng trường hợp mà pháp luật quy định các chế tài khác nhau Do đó, hành vi phạm tội phải được mô tả rõ ràng và người phạm tội phải thực hiện hành vi có đủ các dấu hiệu ấy thì mới bị coi là tội phạm – hay còn gọi là tội phạm được thực hiện dưới dạng hành động Tuy nhiên, pháp luật nhà Lê cũng đã có những quy định về hành vi phạm tội ở dạng không hành động Đó là các quy định về các tội liên quan đến an ninh quốc gia, tính mạng, sức khỏe của vua hoặc tính mạng của những người

có quan hệ đặc biệt với người phạm tội về mặt đạo đức (con cái mưu giết ông bà, cha mẹ; nô tỳ mưu giết chủ…) Người phạm tội trong trường hợp này dù chưa thực hiện hành vi, chỉ cần có âm mưu là đã cấu thành tội phạm và phải chịu hình phạt Ví

dụ các tội mưu phản, mưu đại nghịch, mưu bạn được xếp vào nhóm tội thập ác trong Điều 2 QTHL, tội mưu mô làm việc đại nghịch (Điều 411 QTHL), mưu mô theo giặc phản nước (Điều 412 QTHL), các tội về việc âm mưu cấu kết với thế lực bên ngoài để lật đổ chế độ cai trị của vua…

Trong QTHL, nhiều quy định thể hiện sự phân biệt về trách nhiệm hình sự của

các nhà làm luật đối với những hành vi mang tính cố ý Tư tưởng lập pháp ấy được

thể hiện trong những quy định về trách nhiệm hình sự nhẹ hơn cho trường hợp vô ý

và bắt tội nặng nếu chứng minh được sự cố ý Quan niệm về phạm tội cố ý và vô ý

cũng được tổng kết thành nguyên tắc quan trọng khẳng định rõ ở Điều 47 QTHL:

“Những người phạm tội, tuy tên gọi tội giống nhau nhưng phải phân biệt sự phạm

tội vì lầm lỡ hay cố ý, phải xét tội nặng nhẹ mà thêm bớt, không nên câu nệ để hợp

với ý nghĩa việc xét xử hình án: “Tha người lầm lỡ không kể tội nặng, bắt tội

người cố ý không kể tội nhẹ” Theo quy định này, rõ ràng pháp luật nhà Lê đã cho

thấy quan niệm về tính cố ý của hành vi là một yếu tố quan trọng khi xem xét các

hành vi bị coi là tội phạm Qua đó, pháp luật nhà Lê thể hiện sự phát triển khi xét đến các yếu tố tâm lý trong việc quy định tội phạm Bởi vì yếu tố tâm lý đóng vai trò quan trọng và tác động lớn đến hành vi phạm tội, chính tâm lý cố ý hay vô ý thể

Trang 29

hiện ý đồ phạm tội và ảnh hưởng lớn đến mức độ hậu quả xảy ra Do đó, việc dựa vào yếu tố cố ý hay vô ý mà quyết định hình phạt sẽ giúp cho hoạt động xét xử được công bằng, khách quan và hợp lý

đó, có thể nghiên cứu về quy trình xử lý tội phạm trong pháp luật nhà Hậu Lê thông qua việc tìm hiểu các hoạt động chính sau đây:

1.3.2.1 Hoạt động phát hiện tội phạm

Đây có thể coi là thủ tục đầu tiên trong quy trình xử lý tội phạm Việc phát hiện tội phạm có thể xuất phát từ hai hướng: một là từ hành vi kiện, tố cáo của những chủ thể có quyền, hai là do cơ quan công quyền tự phát hiện Trong trường hợp thứ nhất, tội phạm được phát hiện bởi các chủ thể có quyền kiện, tố cáo như người bị hại, thân nhân người bị hại hoặc những người không liên quan nhưng thuộc các trường hợp bắt buộc phải tố cáo Pháp luật cũng quy định những trường hợp không được tố cáo vì vi phạm những quan hệ đạo đức như con cháu tố cáo ông

bà, cha mẹ, vợ kiện cáo chồng Việc tố cáo phải xuất phát từ sự thật, pháp luật nghiêm trị những hành vi vu cáo Sự tham gia của những chủ thể này giúp cơ quan

có thẩm quyền phát hiện tội phạm thông qua đơn kiện, đơn tố cáo Dựa vào đó, cơ quan có thẩm quyền xem xét và tiến hành bước tiếp theo là thụ lý điều tra Đối với những trường hợp không có đơn kiện từ người dân mà cơ quan có thẩm quyền trực tiếp phát hiện tội phạm, nếu thỏa mãn các dấu hiệu quy định trong pháp luật thì sẽ vẫn bị xử lý theo trình tự Mặc dù căn cứ này không được nêu rõ trong nội hàm các điều luật nhưng dựa vào chức năng giải quyết vụ án và đảm bảo pháp luật được thực thi thì có thể suy luận rằng: các cơ quan có thẩm quyền hoàn toàn có quyền áp dụng pháp luật đối với những trường hợp phát hiện tội phạm, cụ thể như các trường hợp quả tang

Trang 30

1.3.2.2 Thụ lý điều tra:

Hoạt động thụ lý điều tra trải qua thủ tục thu thập chứng cứ, thủ tục bắt người

và thủ tục tra khảo (hỏi cung) Chứng cứ bao gồm vật chứng và nhân chứng Vật chứng là những hiện vật có liên quan đến vụ án được sử dụng để làm sáng tỏ nội dung vụ án (Điều 697, 705, 719 QTHL…) Nhân chứng là người biết về những tình tiết liên quan đến vụ án và được cơ quan xét xử triệu tập để lấy lời khai (Điều 667,

714, 716 QTHL…) Khi xem xét chứng cứ, pháp luật yêu cầu chính quan xử án chịu trách nhiệm khám xét, thu thập để đảm bảo tính trung thực và khách quan của

chứng cứ (Điều 673) Trong “Thiên nam dư hạ tập” quy định khi gặp vụ án mạng

thì báo với quan sở tại để làm thủ tục kiểm nghiệm rồi mới được chôn cất (lệ xác chết có vết thương); kiểm nghiệm (giám định) thương tích trong việc đánh nhau giao cho quan xã trưởng hay quan huyện; nếu các tranh chấp liên quan đến hợp đồng, di chúc thì phải nộp các hợp đồng, di chúc cho quan phủ huyện để khám xét Đối với chứng cứ là nhân chứng phải do quan xử án trực tiếp lấy khẩu cung (lời khai) để tìm hiểu sự thật (Điều 667 QTHL)14

Đối với thủ tục bắt người, pháp luật nhà Lê có sự quy định khá cụ thể trong QTHL và QTKTĐL Các quy định về thủ tục bắt người không có sự phân biệt giữa can phạm (người bị tình nghi có tội) và người phạm tội bỏ trốn Đối với can phạm, nếu phát hiện có đủ các dấu hiệu tội phạm thì cơ quan có thẩm quyền phải ra lệnh bắt (trát) và giao cho người có nhiệm vụ thực thi lệnh bắt Nguyên tắc bắt buộc của thủ tục bắt người là phải có trát (Điều 697 QTHL) Trong quá trình bắt người, người thi hành lệnh có một số quyền nhất định nhằm hoàn thành việc bắt và áp giải người

bị coi là có tội về phục vụ hoạt động xét xử Tuy nhiên, những quyền của người thi hành công quyền luôn bị giới hạn trong phạm vi luật định nhằm tránh lạm quyền và bảo vệ quyền của can phạm

Thủ tục tra khảo cũng được xếp vào giai đoạn thụ lý điều tra bởi vì đây là hoạt động thông thường diễn ra trước khi xét xử nhằm buộc can phạm nhận tội Lời nhận tội của can phạm là một chứng cứ quan trọng trong hoạt động xét xử, là một trong những căn cứ để quan xử án xem xét quyết định có hay không có hành vi phạm tội

Do đó, thủ tục tra khảo được quy định tương đối rõ ràng bao gồm những điều luật

về thời điểm, cách thức, mức độ tra khảo và những chế tài đối với quan lại vi phạm

trong hoạt động tra khảo Nguyên tắc chung áp dụng cho thủ tục tra khảo là phải

xem xét kỹ, tìm ra sự thật để buộc kẻ phạm tội phải nhận tội, không được hỏi quá rộng đến cả người ngoài để tìm chứng cứ bậy (Điều 667 QTHL) Những người có

14 Trường Đại học Luật TPHCM (2013), tlđd (7), tr.296

Trang 31

nhiệm vụ thực hiện việc tra khảo nếu trái quy định phải chịu các chế tài nghiêm khắc theo quy định

1.3.2.3 Hoạt động xét xử:

Đây là giai đoạn trung tâm trong quá trình xử lý tội phạm với thủ tục áp dụng các quy định của pháp luật nhằm tìm ra sự thật vụ án Những quy định về thời gian, địa điểm xử án cũng như phương pháp khi tiến hành xét xử đã được ghi nhận trong QTHL và cụ thể hơn trong QTKTĐL Theo đó, án phải được xét xử công khai ở

nha môn theo thời hạn quy định Nguyên tắc chung khi xét xử là “các quan phải hội

nhau để xét hỏi kỹ càng cho rõ phải, trái, cốt để mọi người đều yên lòng Nếu có điều chưa rõ phải thẩm xét lại, không được cố chấp riêng ý mình, bắt mọi người phải theo, bày ra lý này lý khác để có người mắc oan” (Điều 720 QTHL) Mọi hành

vi vi phạm trong hoạt động xử án như đứng ngồi không đúng phép quy định, quá thời hạn xét xử hoặc vi phạm nguyên tắc xét xử gây ra oan sai đều phải chịu các chế tài luật định

1.3.2.4 Hoạt động thi hành án:

Đây là giai đoạn cuối cùng trong quy trình xử lý tội phạm, được quy định chủ yếu trong chương Đoán ngục của QTHL Nội dung chủ yếu của các quy định này là chế độ giam giữ, cung cấp các điều kiện ăn ở và chăm sóc sức khỏe cho tù nhân trong thời gian thi hành án Trường hợp người phạm tội là phụ nữ có thai, việc thi hành án phải đợi sau khi sinh nở 100 ngày mới được thực hiện (Điều 680 QTHL) Trong giai đoạn thi hành án, tính nhân đạo của pháp luật được thể hiện rất rõ thông qua việc tôn trọng các nhu cầu cơ bản của con người dù cho họ đang là người phạm tội

Nhìn chung, quy trình xử lý tội phạm trong pháp luật thời Lê được thiết kế khá tương đồng với pháp luật hiện đại, giúp việc giải quyết vụ án được chặt chẽ, công bằng và nhanh chóng tìm ra sự thật của vụ án Đây là một minh chứng điển hình cho thành tựu xuất sắc của nền lập pháp đương thời

1.3.3 Sự cần thiết của việc quy định và bảo vệ quyền của người phạm tội

Việc quy định quyền của người phạm tội mang ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong hoạt động giải quyết vụ án bởi đó chính là công cụ để bảo vệ những quyền cơ bản của người phạm tội, đồng thời giải quyết vụ án chính xác, khách quan và hạn chế tình trạng oan sai

Trang 32

Về mặt lý luận, người phạm tội vẫn là một con người, mặc dù bị hạn chế nhiều quyền nhưng họ vẫn phải được hưởng những quyền cơ bản nhất trong hoạt động tố tụng như quyền được bảo vệ tính mạng, sức khỏe; quyền được ăn uống, cung cấp quần áo với nhu cầu tối thiểu cho sinh hoạt hàng ngày để duy trì cuộc sống… Trong quy trình xử lý tội phạm, người bị buộc tội đã bị hạn chế các quyền tự do thân thể,

cư trú… ngay từ giai đoạn điều tra với các thủ tục bắt người, giam giữ, hỏi cung Nếu không ghi nhận và bảo vệ quyền lợi của họ sẽ có nguy cơ dẫn đến hệ lụy rất nghiêm trọng, đó là trường hợp sau khi xét xử họ được quan xử án kết luận không phạm tội Bản thân họ - những người bị buộc tội đã phải chịu tra tấn, nhục hình đến mức tổn hại sức khỏe, thậm chí tính mạng Trong trường hợp này, hậu quả tổn hại sức khỏe, tính mạng của người bị buộc tội oan là không thể khắc phục, cơ quan công quyền cũng không chịu trách nhiệm bởi đó là những đặc quyền họ được pháp luật trao cho trong quá trình điều tra giải quyết vụ án

Xét trong mối quan hệ với cơ quan công quyền, người phạm tội rõ ràng ở vị trí yếu thế hơn Họ là những người đang bị buộc tội hoặc đã bị kết tội và đang chấp hành hình phạt của nhà nước, bị áp dụng nhiều biện pháp hạn chế các quyền cơ bản như quyền tự do cư trú, quyền học tập, lao động sản xuất… Trong khi đó, cơ quan công quyền, với chức năng và nhiệm vụ của mình đã được nhà nước trao cho nhiều quyền mang tính cưỡng chế Sự đối lập về mục đích và lợi ích trong hoạt động giải quyết vụ án giữa hai chủ thể này dẫn đến tình trạng cả hai phía đều cố gắng bảo vệ quyền lợi của mình bằng mọi cách Cơ quan công quyền sẽ tìm các phương thức để

tổ chức cưỡng chế, áp đặt quyền lực đối với người phạm tội, thậm chí ép buộc người bị buộc tội nhận tội để vụ án được giải quyết nhanh chóng Ngược lại, người phạm tội luôn cố gắng chống lại cơ quan công quyền để bảo vệ bản thân trước lời buộc tội và những biện pháp cưỡng chế xâm phạm tính mạng, sức khỏe Nếu không ghi nhận và bảo vệ quyền của người phạm tội sẽ dẫn đến tình trạng thiếu tính công bằng trong hoạt động giải quyết vụ án Một bên được trao quá nhiều quyền lực, một bên không được trao cho quyền hay bất cứ khả năng nào để chống lại bên kia Vì vậy, việc ghi nhận và bảo vệ quyền của người phạm tội cần thiết nhằm tạo ra sự cân bằng tương đối trong hoạt động tố tụng

Chính vì sự bất tương xứng về địa vị, quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể trong hoạt động tố tụng nên các cơ quan, cá nhân được nhà nước giao nhiệm vụ thường có

xu hướng sử dụng quyền lực vượt quá mức cần thiết, không chịu sự kiểm soát của pháp luật và các chủ thể khác Điều này dẫn đến tình trạng xâm phạm những quyền

cơ bản của người phạm tội như quyền được bảo vệ thân thể, tính mạng, danh dự, tự

Trang 33

do… Ví dụ, các cá nhân, cơ quan có thẩm quyền có thể ra lệnh bắt người và tổ chức thi hành lệnh bắt khi có chứng cứ về hành vi vi phạm pháp luật xảy ra Khi đó, người bị buộc tội bị tước quyền tự do thân thể, bị cưỡng chế áp giải về nơi xét xử và

có thể bị tước đoạt cả quyền tự do cư trú nếu bị giam giữ ở giai đoạn chờ xét xử Trong quá trình cưỡng chế và áp giải người bị bắt có thể xảy ra tình trạng người thi hành công vụ đánh chết hoặc bị thương người bị buộc tội; trong hoạt động điều tra - xét xử, người phạm tội có thể bị tra tấn, bức cung đến chết… Do vậy, việc quy định quyền của người phạm tội chính là trao cho người phạm tội “vũ khí” nhất định để

họ có thể tự bảo vệ mình Do đó, việc quy định rõ ràng, cụ thể các quyền của người

bị cho là phạm tội trong pháp luật trở thành cơ sở pháp lý vững chắc nhất để dựa vào đó, họ có thể chống lại sự lạm quyền của cơ quan công quyền

Trong hoạt động giải quyết vụ án hình sự, nếu không quy định bảo vệ quyền của người phạm tội và hạn chế tình trạng lạm quyền của cơ quan có thẩm quyền nhà nước sẽ dẫn đến hậu quả tất yếu là việc giải quyết vụ án thiếu tính chính xác, không khách quan, công bằng, thậm chí oan, sai Đó là các trường hợp người vô tội bị ép buộc nhận tội, người tội nhẹ bị xử thành tội nặng Rõ ràng khi người bị buộc tội không có khả năng bảo vệ bản thân mình trước lời buộc tội thì kết quả giải quyết vụ

án hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của cơ quan, người thực hiện công quyền Một khi

có quá nhiều quyền lực mà không bị ràng buộc, sự thật khách quan của vụ án dễ sai lệch, xảy ra tình trạng oan sai trong tố tụng do tính chủ quan, thiếu trách nhiệm của

cơ quan quyền lực nhà nước

Có thể nói, việc ghi nhận các quy định về bảo vệ người phạm tội trong pháp luật thời Lê chính là một điểm nổi bật trong những thành tựu về lập pháp của nhà Hậu Lê

Cơ sở xác lập quyền của người phạm tội

1.4.

Việc xác định những cơ sở xác lập quyền của người phạm tội cần căn cứ vào bối cảnh lịch sử, điều kiện chính trị, xã hội, tư tưởng và sự phát triển của pháp luật đương thời Dựa trên những đặc điểm khái quát hoàn cảnh lịch sử và tình hình pháp luật nhà Lê, tác giả rút ra những cơ sở xác lập quyền của người phạm tội bao gồm:

- Thực trạng thi hành pháp luật trong đời sống

- Ý thức về vấn đề quyền con người

- Sự tác động của Nho giáo

Trang 34

1.4.1 Quyền của người phạm tội được xác lập dựa trên thực trạng trong quá

trình áp dụng pháp luật vào đời sống để giải quyết các tranh chấp

Nhà Hậu Lê là thời kỳ xã hội Đại Việt có nhiều biến chuyển mạnh mẽ với việc kiến thiết đất nước và tập trung phát triển kinh tế Các mối quan hệ trong xã hội diễn ra sôi động, nhiều quan hệ mới được hình thành trong các hoạt động buôn bán, sản xuất Do đó, đời sống xã hội vừa phát triển, vừa đứng trước những thử thách phức tạp nên nhu cầu áp dụng pháp luật để giải quyết tranh chấp ngày càng nhiều Tuy nhiên, pháp luật trước thời kỳ nhà Hậu Lê dường như không đủ bao quát để điều chỉnh những quan hệ xã hội mới phát sinh Hoạt động áp dụng pháp luật chưa đạt được hiệu quả, tình trạng nhiều án oan sai, việc giải quyết và tìm ra sự thật vụ án gặp nhiều khó khăn do nguyên nhân chính là sự lạm quyền của các chủ thể mang quyền lực nhà nước Nhà lập pháp đã tìm ra phương pháp để hạn chế lạm quyền, giảm án oan sai bằng cách quy định trách nhiệm hình sự trực tiếp cho người thi hành công vụ mà vi phạm pháp luật Đây là cách gián tiếp trao cho người phạm tội quyền tự bảo vệ bản thân chống lại những hành vi vượt quá giới hạn của cơ quan công quyền và những người thực thi pháp luật Giải pháp này được coi là hữu hiệu

để nâng cao chất lượng của hoạt động áp dụng pháp luật và giảm thiểu tình trạng oan sai trong tố tụng Bởi vì một trong những cách thức bảo vệ quyền của người phạm tội chính là quy định trách nhiệm nghiêm khắc đối với các chủ thể có thẩm quyền không tuân thủ đúng quy định Điều này tạo nên sự thận trọng trong việc thực hiện quyền lực nhà nước, có sự tiết chế trong hành vi đối xử với người phạm tội

1.4.2 Quyền của người phạm tội được xác lập dựa trên ý thức chung về vấn đề

quyền con người ngày càng được đề cao

Hai mươi năm dưới ách đô hộ của nhà Minh, xã hội Đại Việt trải qua những giai đoạn cơ cực lầm than với chính sách cai trị hà khắc Tài nguyên bị khai thác, cư dân bị bóc lột một cách dã man nhằm phục vụ lợi ích của chính quyền đô hộ, do đó

con người gần như trở thành nô lệ Trong Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi đã phải thốt lên “Bại nhân nghĩa nát cả đất trời” khi mô tả tội ác của quân Minh bằng

những hình ảnh đầy ám ảnh:

Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn

Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ…

Độc ác thay, trúc Lam Sơn không ghi hết tội

Ngày đăng: 19/05/2021, 09:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ngô Sĩ Liên (2006), Đại Việt sử ký toàn thư, tập I, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Việt sử ký toàn thư, tập I
Tác giả: Ngô Sĩ Liên
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
Năm: 2006
2. Nguyễn Ngọc Nhuận (Chủ biên) (2011), Điển chế và pháp luật trung đại Việt Nam Tập I, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điển chế và pháp luật trung đại Việt Nam Tập I
Tác giả: Nguyễn Ngọc Nhuận (Chủ biên)
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2011
3. Nhà xuất bản Hồng Đức (2017), Luật Hình triều Lê – Những giá trị cần tham khảo, NXB Hồng Đức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Hình triều Lê – Những giá trị cần tham khảo
Tác giả: Nhà xuất bản Hồng Đức
Nhà XB: Nhà xuất bản Hồng Đức (2017)
Năm: 2017
4. Dương Hồng Thị Phi Phi (Chủ nhiệm đề tài) (2011), Quyền con người trong pháp luật tố tụng nhà Lê từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường, Trường Đại học Luật TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền con người trong pháp luật tố tụng nhà Lê từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII
Tác giả: Dương Hồng Thị Phi Phi (Chủ nhiệm đề tài)
Năm: 2011
5. TS. Lê Thị Sơn (2004), Quốc triều Hình luật – Lịch sử hình thành, nội dung và giá trị, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quốc triều Hình luật – Lịch sử hình thành, nội dung và giá trị
Tác giả: TS. Lê Thị Sơn
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2004
6. Trịnh Duy Thuyên (2015), Hoàn thiện quy định về tội “Dùng nhục hình” trong Bộ luật hình sự theo tinh thàn Công ước chống tra tấn, Tạp chí Kiểm sát, số 21 (tháng 11/2015) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện quy định về tội “Dùng nhục hình” "trong Bộ luật hình sự theo tinh thàn Công ước chống tra tấn
Tác giả: Trịnh Duy Thuyên
Năm: 2015
7. Ths. Trần Quang Trung (2010), Quyền phụ nữ trong pháp luật thời Lê sơ (thế kỷ XV) – Những kinh nghiệm cần kế thừa, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường, Trường Đại học Luật TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền phụ nữ trong pháp luật thời Lê sơ (thế kỷ XV) – Những kinh nghiệm cần kế thừa
Tác giả: Ths. Trần Quang Trung
Năm: 2010
8. Trường Đại học Quốc gia Hà Nội (2006), Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người
Tác giả: Trường Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2006
9. Trường Đại học Luật TPHCM (2013), Giáo trình Lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam, NXB Hồng Đức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam
Tác giả: Trường Đại học Luật TPHCM
Nhà XB: NXB Hồng Đức
Năm: 2013
10. Trường Đại học Luật TPHCM (2014), Quyền con người trong Luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, NXB Hồng Đức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền con người trong Luật quốc tế và pháp luật Việt Nam
Tác giả: Trường Đại học Luật TPHCM
Nhà XB: NXB Hồng Đức
Năm: 2014
11. Đào Trí Úc (1993), Mô hình lý luận về BLHS Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô hình lý luận về BLHS Việt Nam
Tác giả: Đào Trí Úc
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1993

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w