MỘT SỐ KIẾN NGHỊ GÓP PHẦN XÂY DỰNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRỰC TUYẾN TRONG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TẠI VIỆT NAM……….…………56 3.1 Cơ sở pháp lý và thực tiễn cho việc xây d
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
TÔ THỊ PHƯƠNG
PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRỰC TUYẾN TRONG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ Ở MỘT SỐ QUỐC GIA
VÀ KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH LUẬT KINH TẾ
Trang 2PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRỰC TUYẾN TRONG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ Ở MỘT SỐ QUỐC GIA
VÀ KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 8380107
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS HÀ THỊ THANH BÌNH Học viên: TÔ THỊ PHƯƠNG - CHLKT - Khóa 25
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2020
Trang 3phố Hồ Chí Minh, xin cam đoan rằng Luận văn “Pháp luật về giải quyết tranh chấp
trực tuyến trong thương mại điện tử ở một số quốc gia và kinh nghiệm cho Việt Nam” này là công trình được nghiên cứu và soạn thảo bởi cá nhân tôi, không sao chép từ
bất kỳ nguồn nào khác, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Hà Thị Thanh Bình Mọi nội dung và dữ liệu được trích dẫn trong Luận văn đều được chú thích đầy đủ
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung cam đoan nêu trên
Hồ Chí Minh, ngày 26 tháng 10 năm 2020
Học viên thực hiện
Trang 4
Chí Minh đã cho tác giả cơ hội được thực hiện Luận văn này
Một lời cảm ơn sâu sắc mà tác giả muốn gửi đến PGS.TS Hà Thị Thanh Bình, người đã tận tình hướng dẫn và hỗ trợ cho tác giả trong quá trình thực hiện Luận văn này
Tác giả xin chân thành gửi lời cảm ơn đến luật sư Đỗ Đình Lâm đã hỗ trợ, tạo mọi điều kiện, ủng hộ và khích lệ tinh thần trong suốt thời gian hơn một năm qua để tác giả hoàn thiện công trình nghiên cứu
Mặc dù đã cố gắng rất nhiều, nhưng bài luận không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong nhận được sự thông cảm và đóng góp ý kiến của các thầy cô để luận văn được hoàn thiện hơn
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày _ tháng _ năm 2020
Tác giả
TÔ THỊ PHƯƠNG
Trang 5STT Chữ viết tắt Tiếng Việt
3 CNTT-TT Công nghệ thông tin và truyền thông
Trang 61 ADR Alternative Dispute
Resolution
Giải quyết tranh chấp ngoài tòa án bao gồm thương lượng, hòa giải, trọng tài
6 ODR Online Dispute Resolution Giải quyết tranh chấp trực tuyến
7 NADRAC National Alternative Dispute
Resolution Advisor Council
Hội đồng tư vấn quốc gia về các phương pháp giải quyết tranh chấp ngoài tòa án của Úc
8 UNCITRAL United Nations Commission
for International Trade Law
Ủy ban của Liên hợp quốc về Luật Thương mại Quốc tế
Trang 7TRONG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ……… ………8
1.1 Khái niệm tranh chấp trực tuyến trong thương mại điện tử 8
1.1.1 Khái niệm thương mại điện tử 8
1.1.2 Khái niệm về giải quyết tranh chấp trực tuyến trong thương mại điện tử … 10
1.1.3 Đặc điểm của giải quyết tranh chấp trực tuyến trong thương mại điện tử… 14
1.2 Các hình thức giải quyết tranh chấp trực tuyến trong thương mại điện tử 16
1.2.1 Thương lượng trực tuyến 16
1.2.2 Hòa giải trực tuyến 19
1.2.3 Trọng tài trực tuyến 20
1.2.4 Tòa án trực tuyến 21
1.3 Sự cần thiết của việc điều chỉnh bằng pháp luật đối với hoạt động giải quyết tranh chấp trực tuyến trong thương mại điện tử tại Việt Nam 22
1.4 Một số nội dung cần điều chỉnh bởi pháp luật để xây dựng phương thức giải quyết tranh chấp trực tuyến trong thương mại điện tử tại Việt Nam 28
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1……… 32
CHƯƠNG 2 PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRỰC TUYẾN TRONG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ Ở MỘT SỐ QUỐC GIA VÀ KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM……….… 33
2.1 Pháp luật về giải quyết tranh chấp trực tuyến trong thương mại điện tử tại
Liên Minh Châu Âu 33
2.1.1 Khái niệm nền tảng công nghệ cho giải quyết tranh chấp trực tuyến 34
2.1.2 Phạm vi điều chỉnh 36
2.1.3 Cơ quan giải quyết tranh chấp 37
Trang 82.1.5 Vấn đề giá trị pháp lý của kết quả giải quyết tranh chấp 39
2.1.6 Vấn đề tính minh bạch của hệ thống giải quyết tranh chấp trực tuyến 39
2.1.7 Vấn đề bảo mật thông tin trong quá trình giải quyết tranh chấp
trực tuyến……… 40
2.1.8 Một số kinh nghiệm cho Việt Nam 41
2.2 Pháp luật về giải quyết tranh chấp trực tuyến trong thương mại điện tử tại Trung Quốc……… 43
2.2.1 Khái niệm tòa án Internet 45
2.2.2 Phạm vi áp dụng của phương thức giải quyết tranh chấp trực tuyến theo mô hình
tòa án Internet 45
2.2.3 Các quy tắc tố tụng trực tuyến của tòa án Internet 46
2.2.4 Quy trình giải quyết tranh chấp trực tuyến theo mô hình tòa án Internet 50
2.2.5 Một số kinh nghiệm cho Việt Nam 53
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2……… 55
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ GÓP PHẦN XÂY DỰNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRỰC TUYẾN TRONG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TẠI VIỆT NAM……….…………56
3.1 Cơ sở pháp lý và thực tiễn cho việc xây dựng pháp luật điều chỉnh phương thức giải quyết tranh chấp trực tuyến trong thương mại điện tử tại Việt Nam ………56
3.2 Một số đề xuất cụ thể góp phần xây dựng các quy định pháp luật điều chỉnh phương thức giải quyết tranh chấp trực tuyến trong thương mại điện tử
tại Việt Nam 58
3.2.1 Sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật về thương mại điện tử và giải quyết
tranh chấp 58
Trang 9……… 62
3.2.4 Về nền tảng công nghệ thông tin chuyên biệt để áp dụng phương thức giải quyết tranh chấp trực tuyến trong thương mại điện tử 65
3.2.5 Quy định về tính minh bạch trong phương thức giải quyết tranh chấp trực tuyến trong thương mại điện tử 68
3.2.6 Về trình tự, thủ tục khi sử dụng phương thức giải quyết tranh chấp trực tuyến trong thương mại điện tử 69
3.2.7 Về chứng cứ chứng minh trong phương thức giải quyết tranh chấp trực tuyến trong thương mại điện tử 74
3.2.8 Vấn đề an toàn, bảo mật thông tin của phương thức giải quyết tranh chấp
trực tuyến trong thương mại điện tử 76
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 …….78
KẾT LUẬN 79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 10PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do cho chọn đề tài
Ngày nay, cuộc cách mạng công nghệ 4.0 đã và đang tác động rất lớn vào mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội, làm thay đổi cơ bản quá trình sản xuất, phân phối hàng hóa dịch vụ Theo đó hoạt động thương mại có sử dụng phương tiện điện tử
có kết nối với mạng Internet, mạng viễn thông di động hoặc các mạng mở khác, hay
còn gọi là thương mại điện tử (“TMĐT”), đang ngày càng phát triển, đem tới lợi ích to
lớn cho cả doanh nghiệp và người tiêu dùng Có thể nói, TMĐT đang dần trở thành phương thức kinh doanh chính, có khả năng thay thế dần các phương thức truyền thống với số lượng cũng như giá trị giao dịch ngày càng lớn và đang đóng góp không nhỏ vào
sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia Tuy nhiên, chính vì sự tăng trưởng nhanh chóng dẫn đến TMĐT phải đối mặt với nhiều vấn đề như an ninh mạng, thanh toán trực tuyến, giao hàng, giải quyết tranh chấp, khiếu nại v.v… trong đó vấn đề đáng lo ngại nhất là làm sao để giải quyết thành công các tranh chấp, khiếu nại phát sinh từ TMĐT
để duy trì lòng tin của khách hàng vào hình thức kinh doanh này
Hiện nay, các tranh chấp phát sinh từ giao dịch TMĐT đang ngày càng gia tăng, gây sức ép lên hệ thống tư pháp của các quốc gia Tòa án và các phương thức
giải quyết tranh chấp (“GQTC”) khác như thương lượng, hòa giải, trọng tài v.v…
thực hiện theo cách thức thông thường đang trở nên không còn phù hợp cũng như không theo kịp những thay đổi những tiến bộ về mặt kỹ thuật để giải quyết thành công và nhanh chóng các loại tranh chấp đặc biệt này Bởi lẽ, đặc trưng của TMĐT
là các giao dịch được thực hiện trên thị trường phi biên giới và chủ thể tham gia có thể đến từ bất kỳ quốc gia nào Do đó, tranh chấp TMĐT diễn ra vô cùng phức tạp với các quy mô khác nhau, từ đó dẫn đến những quan niệm truyền thống về lãnh thổ, thẩm quyền địa giới quốc gia đã không còn phù hợp Không những vậy, cách thức giao kết hợp đồng TMĐT được thực hiện bằng các phương tiện điện tử mới dẫn đến cần có phương thức GQTC tương ứng để phù hợp với tính chất cũng như các đặc điểm của TMĐT nói trên, nhằm giúp cho việc GQTC được thực hiện nhanh chóng, hữu hiệu hơn, giúp ngăn chặn, giảm thiểu các thiệt hại có thể xảy ra với các bên
Giữa những năm 1990 phương thức GQTC trực tuyến, hay còn gọi tắt là giải quyết tranh chấp trực tuyến (Online dispute resolution – gọi tắt là “ODR”) đã được nghiên cứu và đề xuất bởi các tổ chức và trung tâm nghiên cứu chuyên về GQTC ở
Trang 11Hoa Kỳ1 Ngày nay, ODR càng trở nên phổ biến ở những quốc gia và khu vực có
nền TMĐT phát triển như Liên minh châu Âu (“EU”), Nhật Bản, Hoa Kỳ, Trung
Quốc Họ không những xây dựng và hoàn thiện được khung pháp luật về ODR mà còn gặt hái được những thành tựu nhất định trong áp dụng ODR vào thực tiễn, từ đó nhằm góp phần bảo vệ quyền lợi của các bên khi tham gia giao dịch và thúc đẩy sự phát triển lành mạnh của thị trường TMĐT Tuy nhiên, khung pháp lý của mỗi quốc gia về ODR đều chứa đựng những đặc điểm riêng biệt để phù hợp với bối cảnh kinh tế,
xã hội của mỗi nước Do đó, việc tìm hiểu các quy định pháp luật liên quan đến ODR
sẽ là căn cứ để các quốc gia có nhu cầu xây dựng khung pháp lý về ODR trong TMĐT học tập kinh nghiệm, trong đó có Việt Nam Bởi lẽ, áp dụng phương thức ODR trong lĩnh vực TMĐT sẽ mang lại nhiều lợi ích cho các bên liên quan Nguyên nhân vì ODR
là một cơ chế linh hoạt, hiệu quả, tiết kiệm thời gian và chi phí để giải quyết các tranh chấp TMĐT trong nước và xuyên biên giới Thêm vào đó, ODR còn cung cấp cho
doanh nghiệp và người tiêu dùng (“NTD”) một quy trình tương đối đơn giản và đáng
tin cậy với thẩm quyền xét xử thường độc lập với bất kỳ thể chế luật định nào để phù hợp với tính chất toàn cầu của Internet nói chung và của TMĐT nói riêng
Hiện nay tại Việt Nam, các tranh chấp chủ yếu được giải quyết thông qua phương thức trực tiếp truyền thống như: thương lượng, hòa giải, trọng tài, tòa án Cho đến thời điểm này, nước ta vẫn chưa có một văn bản quy phạm pháp luật nào được ban hành để trực tiếp điều chỉnh một cách trọn vẹn về hoạt động giải quyết tranh chấp trực tuyến trong TMĐT Theo báo cáo TMĐT năm 2015, 82% website TMĐT tham gia khảo sát có chính sách giải quyết tranh chấp, khiếu nại, trong đó chỉ có 77% website TMĐT có công bố chính sách đó để khách hàng dễ dàng tìm hiểu thông tin trước khi quyết định mua hàng hóa, dịch vụ2 Từ đó có thể thấy, nhiều doanh nghiệp vẫn chưa ý thức được rõ vai trò của việc GQTC, khiếu nại trong hoạt động TMĐT cũng như chưa hiểu được tính đặc thù của các tranh chấp, khiếu nại trong lĩnh vực này Không chỉ doanh nghiệp, nhiều NTD cũng chưa nhận thức đầy đủ về vấn đề GQTC, khiếu nại để bảo vệ quyền lợi cho bản thân nên còn chưa quan tâm đúng mức đến việc này
Từ những phân tích trên, có thể thấy, vì chưa có quy định pháp luật cụ thể nào điều chỉnh trực tiếp vấn đề này nên việc áp dụng phương thức ODR tại Việt Nam là
1 Ethan Katsh, “The Online Ombuds Office: Adapting Dispute Resolution to Cyberspace”,
https://www.umass.edu/dispute/ncair/katsh.htm, truy cập ngày 10.10.2018
2Bộ Công Thương - Cục TMĐT và CNTT (2015), Báo cáo Thương mại điện tử 2015, Hà Nội, trang 72
Trang 12tương đối khó khăn dù phương thức này thực sự có triển vọng phát triển tại nước ta nhờ những ưu điểm của nó Chính vì vậy, việc xây dựng phương thức ODR trong TMĐT để triển khai tại Việt Nam trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế là yêu cầu cấp thiết được đặt ra
Do đó, từ những lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài “Pháp luật về giải quyết
tranh chấp trực tuyến trong thương mại điện tử ở một số quốc gia và kinh nghiệm cho Việt Nam” để nghiên cứu và đưa ra những kinh nghiệm, kiến nghị
nhằm góp phần xây dựng khung pháp lý cho hoạt động giải quyết tranh chấp trực tuyến trong TMĐT ở Việt Nam
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
2.1 Tại nước ngoài
Năm 2008, tác giả Faye FangFei Wang xuất bản cuốn sách: “Online Dispute Resolution”, trong đó tập trung phân tích làm rõ thủ tục giải quyết tranh chấp của
ODR, đồng thời phân tích các mô hình GQTC thành công để rút ra bài học kinh nghiệm
Năm 2011, tác giả Pablo Cortes, trong công trình có tên gọi: “Online Dispute Resolution for Customers in European Commision”, đã chỉ ra khung pháp lý và thực
tiễn áp dụng các phương thức giải quyết tranh chấp trực tuyến cho NTD ở EU
Năm 2013, tác giả Hon Richard S Flier có bài viết với tựa đề: “Online Dispute Resolution (ODR): Today and Tomorrow”, đăng tải trên trang Contra
Costa Lawyer, trong đó đưa ra ví dụ về một số nhà cung cấp dịch vụ ODR, phân tích các ưu nhược điểm của ODR và dự đoán tầm ảnh hưởng của ODR trong tương lai
Việc khảo sát tình hình nghiên cứu ở nước ngoài đối với nội dung đề tài còn tương đối khó khăn do tác giả chỉ có thể tiếp cận thông qua Internet, vì vậy việc khái quát tình hình nghiên cứu ở nước ngoài có thể vẫn chưa được đầy đủ và toàn diện
Có thể thấy, ở nước ngoài đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều bài viết
đề cập đến ODR nhưng đa phần chỉ mang tính tổng quan về ODR trên tất cả các lĩnh vực mà chưa có công trình nào phân tích cụ thể và chuyên sâu về ODR trong lĩnh vực TMĐT
Trang 132.2 Tại Việt Nam
Tuy ODR phát triển mạnh ở nước ngoài nhưng nghiên cứu về ODR trong lĩnh vực TMĐT còn khá mới mẻ tại Việt Nam Hầu hết, những bài nghiên cứu này mới chỉ dừng lại đa phần ở bài báo, bài viết trên tạp chí Đến nay, một số công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài mà tác giả biết đến như sau:
- Bài viết “Một số hình thức giải quyết tranh chấp trực tuyến về giao dịch điện tử tại Hoa Kỳ và kinh nghiệm cho Việt Nam” của tác giả Đoàn Quỳnh Thương, tạp chí Tòa án nhân dân, số 13 (2014)
- Bài viết “Giải quyết tranh chấp thương mại trực tuyến: Những vấn đề pháp lý đặt ra cho Việt Nam” của tác giả Phan Thị Thanh Thủy, tạp chí Luật học, số 4
- Bài viết “Giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng và thương nhân bằng phương thức trực tuyến ở Liên minh châu Âu và một số gợi mở cho Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á” của tác giả Phan Thị Thanh Thủy, tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 3 (2017)
- Bài viết “Cơ chế giải quyết khiếu nại của người tiêu dùng bằng phương thức trực tuyến ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp” của tác giả Phan Thị Thanh Thủy, Cao Xuân Quảng, tạp chí Khoa học Kiểm sát, số 03 (2017)
Tuy nhiên, các bài viết trên chỉ đề cập tới vấn đề lý luận cơ bản liên quan đến ODR như khái niệm và đặc điểm, đánh giá những thuận lợi khó khăn khi áp dụng ODR tại Việt Nam, mà chưa đi sâu phân tích một cách đầy đủ, chuyên sâu cả
về lý luận và thực tiễn liên quan đến GQTC thông qua phương thức trực tuyến trong TMĐT Xuất phát từ quan điểm rằng khoa học vừa mang tính kế thừa vừa mang tính mới mẻ, các công trình và bài viết trên đây của các tác giả trong và ngoài nước
Trang 14là những tài liệu bổ ích để tác giả tham khảo trong quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn này
Từ những phân tích trên, có thể thấy rằng, tính đến thời điểm hiện tại, công trình nghiên cứu theo khía cạnh pháp luật về ODR trong TMĐT ở các nước trên thế giới để rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam còn chưa được nghiên cứu nhiều Theo đó, một số vấn đề mà luận văn đã giải quyết được là:
- Luận văn chỉ ra cơ sở lý luận về khái niệm, đặc điểm, phương thức thực hiện của ODR, đồng thời thực hiện phân tích, đánh giá và so sánh với các phương thức GQTC truyền thống nhằm chỉ ra những điểm khác nhau cơ bản của ODR với các phương thức GQTC truyền thống khác
- Luận văn tiến hành nghiên cứu và phân tích quy định pháp luật điều chỉnh về ODR trong TMĐT tại EU và Trung Quốc từ đó rút ra một số kinh nghiệm cho Việt Nam cũng như đề xuất ra các giải pháp phù hợp để xây dựng khung pháp lý
về vấn đề này Thông qua nghiên cứu pháp luật của EU về ODR, tác giả đã rút
ra được một số kinh nghiệm về: (i) xây dựng cơ chế ODR thông qua hệ thống GQTC trực tuyến; và (ii) quy định về tính minh bạch của ODR trong TMĐT; (iii) quy định về bảo mật dữ liệu và thông tin cá nhân trong ODR Thông qua việc nghiên cứu pháp luật của Trung Quốc, tác giả rút ra được một số kinh nghiệm về: (i) vấn đề hiệu lực pháp lý của cơ chế ODR thông qua việc thiếp lập tòa án Internet chuyên trách để giải quyết các tranh chấp phát sinh từ hoạt động TMĐT; và (ii) quy tắc chứng minh chứng cứ trực tuyến bằng việc thiết lập nền tảng chứng cứ điện tử quốc gia có kết nối với các sàn TMĐT và cơ sở dữ liệu của các cơ quan, tổ chức khác trên toàn quốc nhằm cung cấp cho người dùng nền tảng xác thực và lưu trữ chứng cứ điện tử dễ dàng với chi phí thấp
- Luận văn đưa ra mười vấn đề cần lưu ý khi xây dựng khung pháp luật về điều chỉnh hoạt động ODR trong TMĐT tại Việt Nam Thứ nhất, phạm vi áp dụng của ODR Thứ hai, căn cứ pháp lý để xác định phạm vi áp dụng của tranh chấp được giải quyết bằng ODR Thứ ba, vấn đề quản lý cơ sở dữ liệu phục vụ cho ODR Thứ tư, việc xác thực các bên tham gia tranh chấp nhằm đảm bảo tiêu chí
“người, tài khoản, vụ việc” là thống nhất Thứ năm, việc kiểm tra, xác thực các tài liệu, chứng cứ trực tuyến Thứ sáu, các nền tảng công nghệ để vận hành phương thức ODR trong TMĐT Thứ bảy, trình tự, thủ tục của ODR Thứ tám,
Trang 15vấn đề bảo mật thông tin của ODR Thứ chín, tính minh bạch trong trường hợp doanh nghiệp lẩn tránh trách nhiệm ODR với khách hàng Thứ mười, vấn đề thi hành phán quyết, bản án hay các quyết định GQTC thông qua ODR Các định hướng hoàn thiện pháp luật trên được xây dựng trên cơ sở những thiếu sót của
hệ thống pháp luật hiện hành, những vấn đề pháp luật chưa điều chỉnh và học tập kinh nghiệm xây dựng khung pháp lý từ EU và Trung Quốc để xây dựng khung pháp lý về phương thức ODR tại Việt Nam
3 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Mục đích chính của luận văn là nghiên cứu một cách có hệ thống các vấn đề lý luận để làm rõ bản chất pháp lý của ODR, từ đó đưa ra những luận điểm, luận cứ nhằm giải thích cho việc cần thiết phải có quy định pháp luật riêng để điều chỉnh về ODR trong hệ thống pháp luật Việt Nam Theo đó, trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận, thực hiện đánh giá và tìm hiểu các quy định pháp luật điều chỉnh về hoạt động ODR trong TMĐT ở một số quốc gia và khu vực như Trung Quốc, EU, luận văn đề xuất những điểm đáng lưu ý khi xây dựng khung pháp luật về giải quyết tranh chấp trực tuyến trong TMĐT ở Việt Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Mô hình ODR không chỉ giải quyết các tranh chấp phát sinh trong TMĐT
mà còn là quy trình để giải quyết các khiếu nại, tranh chấp phát sinh từ các sự kiện không liên quan đến Internet – những tranh chấp “ngoại tuyến” (offline dispute)3 Tuy nhiên, luận văn chỉ tập trung nghiên cứu về việc giải quyết các tranh chấp trực tuyến phát sinh trong TMĐT
Về không gian, luận văn tập trung nghiên cứu mô hình ODR của EU và Trung Quốc, là nơi có kinh nghiệm trong việc xây dựng khung pháp luật về ODR và
đã đạt được một số thành tựu nhất định trong việc áp dụng ODR vào thực tiễn GQTC trong TMĐT
Về thời gian: Khi nghiên cứu thực trạng ODR trong TMĐT ở Việt Nam, luận văn lấy mốc nghiên cứu từ năm 2005 - năm LGDĐT được ban hành cho đến nay Việc nghiên cứu ở các quốc gia trên thế giới sẽ không giới hạn về thời gian vì ODR ở các quốc gia này đã phát triển từ lâu
3 Phan Thị Thanh Thủy (2016), “Giải quyết tranh chấp thương mại trực tuyến: Những vấn đề pháp lý đặt ra
cho Việt Nam”, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Luật học, tập 32, số 4, trang 40
Trang 165 Phương pháp nghiên cứu
Để tiến hành nghiên cứu đề tài, tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu: phương pháp thống kê, phương pháp so sánh, phương pháp phân tích tổng hợp,
cụ thể:
Phương pháp phân tích và tổng hợp: Phương pháp này được sử dụng trong tất cả các chương của luận văn để đi sâu vào phân tích về các khái niệm, đặc điểm của ODR và tổng hợp các quy định pháp luật điều chỉnh về hoạt động GQTC trong TMĐT để có cách nhìn nhận khách quan về hình thức GQTC này, từ đó rút ra các đánh giá, kết luận, kiến nghị và giải pháp phù hợp nhằm xây dựng khung pháp lý tại Việt Nam
Phương pháp thống kê các số liệu được sử dụng trong chương 1 và chương 2
để làm rõ xu hướng phát triển của TMĐT hiện nay và mức độ tác động của ODR tại
6 Kết cấu của Luận văn
Luận văn có kết cấu gồm ba (03) chương:
Chương 1: Khái quát về giải quyết tranh chấp trực tuyến trong thương mại điện tử, Chương 2 Pháp luật về giải quyết tranh chấp trực tuyến trong thương mại điện tử ở một số quốc gia và kinh nghiệm cho Việt Nam,
Chương 3 Một số kiến nghị góp phần xây dựng pháp luật điều chỉnh về giải quyết tranh chấp trực tuyến trong thương mại điện tử tại Việt Nam
Trang 17CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRỰC TUYẾN
TRONG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 1.1 Khái niệm tranh chấp trực tuyến trong thương mại điện tử
1.1.1 Khái niệm thương mại điện tử
Thương mại điện tử đã từng có nhiều tên gọi qua các thời kỳ như thương mại trực tuyến (online trade), thương mại điều khiển học (cybertrade), thương mại không giấy tờ (paperless commerce) v.v…, TMĐT thường được sử dụng để mô tả hoạt động mua sắm trên Internet và đang phát triển nhanh chóng như một xu thế tất yếu của việc phát triển CNTT và công nghệ mạng Hiện nay, quan niệm về TMĐT cũng rất khác nhau trên phạm vi quốc tế với nhiều định nghĩa về TMĐT do các tổ chức và các học giả đưa ra tùy thuộc vào góc độ nhìn nhận và phân tích Các định nghĩa khác biệt chủ yếu trên 2 khía cạnh: phương tiện thực hiện (qua Internet hay qua phương tiện điện tử nói chung) và nội dung của hoạt động thương mại trên nhiều lĩnh vực hay chỉ bó hẹp trong một số lĩnh vực Tựu trung lại, thuật ngữ “thương mại điện tử” có thể được nhìn nhận một cách tổng quát theo hai (2) khuynh hướng cơ bản sau:
Theo nghĩa hẹp, TMĐT chỉ đơn thuần bó hẹp trong việc mua bán hàng hóa,
dịch vụ thông qua các phương tiện điện tử và mạng viễn thông, chủ yếu là máy tính và Internet4 Điển hình như định nghĩa TMĐT của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), theo đó:
“Thương mại điện tử bao gồm việc sản xuất, quảng cáo, bán hàng và phân phối sản phẩm được mua bán và thanh toán trên mạng Internet, nhưng được giao nhận một cách hữu hình, cả các sản phẩm giao nhận cũng như những thông tin số hoá thông qua mạng Internet" 5
Có thể thấy rằng, TMĐT theo nghĩa hẹp có mối liên hệ trực tiếp đến các giao dịch mua bán, chuyển dịch quyền sở hữu của các hàng hóa, dịch vụ thông qua các mạng máy tính trung gian giữa các chủ thể: giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp (B2B), hoặc giữa doanh nghiệp với khách hàng cá nhân (B2C), hoặc giữa các cá nhân với nhau (C2C) Tuy nhiên, các định nghĩa theo nghĩa hẹp của TMĐT chưa chỉ ra được bản chất của phương thức kinh doanh mới này Bởi lẽ việc giới hạn
4Anita Rosen (2000), The E-commerce Question and Answer Book: A Survival Guide for Business Managers,
American Management Association, trang 5
5 WTO, “Electronic commerce”, https://www.wto.org/english/thewto_e/whatis_e/tif_e/bey4_e.htm, truy cập ngày 20.11.2018
Trang 18phương tiện hoạt động chỉ qua Internet có ưu điểm là xác định cụ thể phương tiện thực hiện, thuận lợi cho việc đánh giá nhưng không bao quát được toàn bộ các môi trường thực hiện hoạt động TMĐT như qua điện thoại, fax, telex, điện tín, truyền
hình v.v, đặc biệt trong xu thế hạ tầng công nghệ thông tin (“CNTT”) ngày càng
mở rộng và phát triển như hiện nay
Theo nghĩa rộng, TMĐT có thể được áp dụng với tất cả các hoạt động
thương mại thông qua việc truyền dẫn dữ liệu bằng phương tiện điện tử6 chẳng hạn như: điện thoại, fax, telex, điện tín, truyền hình v.v
Tiêu biểu cho góc tiếp cận theo nghĩa rộng có thể kể đến Luật mẫu về TMĐT
1996 của Ủy ban Liên Hiệp Quốc về Luật Thương mại Quốc tế (UNCITRAL
Model Law on Electronic Commerce 1996), theo đó, việc sử dụng: “thông tin dưới dạng thông điệp dữ liệu trong khuôn khổ các hoạt động thương mại” (Điều 1) và
“thông điệp dữ liệu là thông tin được tạo, gửi, nhận hoặc lưu trữ bằng phương tiện điện tử, quang học hoặc tương tự bao gồm, nhưng không giới hạn, trao đổi dữ liệu điện tử (EDO), thư điện tử, điện tín, telex hoặc fax” (Điều 2)
Phương tiện điện tử được hiểu ở đây là các công cụ truyền tin như điện thoại, fax, telex, điện tín, truyền hình, thư điện tử và các phương tiện điện tử khác7 , đa
dạng hơn rất nhiều so với phương tiện thực hiện hoạt động TMĐT chỉ có Internet
và các mạng máy tính nội bộ khác như theo định nghĩa của TMĐT theo nghĩa hẹp Không những vậy, phạm vi của TMĐT theo định nghĩa của UNCITRAL là rất rộng, bao quát hầu hết các hoạt động kinh tế trong đó có mua bán hàng hóa và dịch vụ
Ở Việt Nam, các nhà làm luật đã vận dụng quan điểm TMĐT theo nghĩa rộng để bao quát toàn bộ các hoạt động thương mại cả về phạm vi lẫn phương tiện thực hiện, để nhằm đảm bảo tính ổn định và lâu dài của quy định pháp luật trong lĩnh vực TMĐT của nước nhà, trước sự phát triển ngày càng đa dạng của nền kinh
tế cũng như sự tiến bộ vượt bậc của khoa học công nghệ đang diễn ra từng ngày Theo đó, Nghị định 52/2013/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 16/05/2013 về
thương mại điện tử (“Nghị định 52/2013/NĐ-CP”) đưa ra định nghĩa của TMĐT
là: “việc tiến hành một phần hoặc toàn bộ quy trình của hoạt động thương mại bằng
6Nguyễn Thị Thu Hằng (2018), Pháp luật về bảo vệ thông tin cá nhân của người tiêu dùng trong thương mại
điện tử, Luận văn thạc sĩ, Trường đại học Luật TP HCM, trang 8
7 Xem: Marc Bacchetta, - Patrick Loaw – Mattoo Aaditya – Ludger Schuknecht, Hannu Wager – Madelon
Wehrens (1998), Electronic commerce and the role of the WTO, WTO Special Studies, No.2,
https://www.econstor.eu/bitstream/10419/107052/1/wto-special-study_2_e.pdf truy cập ngày 1.5.2018
Trang 19phương tiện điện tử có kết nối với mạng Internet, mạng viễn thông di động hoặc các mạng mở khác”8
Trong đó, Luật Thương Mại 2005 (khoản 1 Điều 3) định nghĩa: “Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác”9 Phương tiện điện tử được xác định là phương tiện hoạt động dựa trên công nghệ điện, điện tử, kỹ thuật số, từ tính, truyền dẫn không dây, quang học hoặc công nghệ tương tự10 Thuật ngữ “mạng” cũng được xác định rất rộng và đa dạng, mạng
là môi trường trong đó thông tin được cung cấp, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ
và trao đổi thông qua mạng viễn thông và máy tính11
Có thể thấy rằng, tuy định nghĩa về TMĐT tại Nghị định 52/2013/NĐ-CP giải thích còn mang tính gián tiếp nhưng cũng đã phản ánh được bản chất của TMĐT chính là hoạt động thương mại được thực hiện thông qua các phương tiện công nghệ điện tử, không chỉ tiến hành trong môi trường Internet mà còn có thể được tiến hành ở môi trường mạng khác
Từ những phân tích trên, theo tác giả với cách hiểu tổng quát nhất, TMĐT được định nghĩa như sau:
Thương mại điện tử là việc tiến hành một phần hay toàn bộ quy trình hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu
tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác thông qua các phương tiện điện tử có kết nối với mạng Internet, mạng viễn thông di động và các mạng mở khác
1.1.2 Khái niệm về giải quyết tranh chấp trực tuyến trong thương mại điện tử
❖ Lịch sử hình thành
Sự gia tăng vượt bậc về số lượng giao dịch TMĐT với tính chất khác biệt so với kinh doanh truyền thống dẫn đến tranh chấp phát sinh ngày càng nhiều, từ đó đã
tạo điều kiện để cơ chế ODR ra đời và phát triển
8 Khoản 1 Điều 3 của Nghị định 52/NĐ-CP/2013
9 Khoản 1 Điều 3 Luật Thương Mại 2005
10 Khoản 10 Điều 4 Luật Giao Dịch Điện Tử 2005
11 Khoản 2 Điều 3 Luật An Toàn Thông Tin Mạng 2015
Trang 20Thuật ngữ “Giải quyết tranh chấp trực tuyến (Online Dispute Resolution – gọi tắt là ODR)” xuất hiện lần đầu vào năm 1996 trên các bài viết và hội nghị dành
riêng cho ODR do các trường đại học tổ chức Hoạt động ODR ban đầu chỉ đơn giản
là áp dụng hoạt động “trực tuyến” vào các phương thức GQTC như: thương lượng, hòa giải, trọng tài, bằng việc sử dụng Internet như một công cụ để thực hiện các quy trình GQTC đã được thiết lập, thay vì sử dụng không gian mạng để GQTC theo cách hoàn toàn mới với những thủ tục, quy trình khác biệt so với phương thức truyền thống
Trong những năm 1997-1998, ODR đã bắt đầu phát triển như một dịch vụ tính phí, các website đầu tiên cung cấp dịch vụ trong lĩnh vực ODR đã được thành lập Từ năm 1999 đến 2000, TMĐT phát triển và dẫn đến việc nhiều công ty có nhu cầu sử dụng dịch vụ ODR để giải quyết các tranh chấp một cách nhanh chóng Vào năm 2000, ODR đã được đưa vào các tổ chức như tòa án và cơ quan hành chính
Ngày nay, ODR hoạt động chủ yếu vì mục đích lợi nhuận bằng việc cung cấp dịch vụ cho cả giao dịch trực tuyến B2B, B2C và C2C Hai ví dụ về việc sử dụng ODR trong giai đoạn đầu là: (i) dịch vụ hòa giải trực tuyến của eBay, được phát triển vào năm 1999 để hòa giải tranh chấp giữa người mua và người bán; và (ii) dịch vụ GQTC tên miền trực tuyến thông qua Chính sách thống nhất về GQTC tên miền được thông qua bởi Hiệp Hội Internet về Cấp số và Tên miền (ICANN), cũng
ra đời vào năm 1999
Đến nay, ODR được áp dụng rộng rãi trong TMĐT tại các nước phát triển như Hoa Kỳ, EU, Singapore, Trung Quốc đặc biệt đối với những tranh chấp TMĐT
có giá trị không lớn và khoảng cách địa lý xa nhau Theo đó, ODR nổi lên như một phương pháp giải quyết các tranh chấp phát sinh trực tuyến với nhiều ưu điểm như: chi phí thấp, thủ tục nhanh, tính linh hoạt của quy trình mà các phương pháp GQTC truyền thống đang không giải quyết được hoặc giải quyết không hiệu quả
❖ Định nghĩa về giải quyết tranh chấp trực tuyến trong thương mại điện tử
Theo nghĩa hẹp, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng: “Giải quyết tranh chấp
trực tuyến” (Online Dispute Resolution) là một thuật ngữ ghép giữa trực tuyến
(Online) và giải quyết tranh tranh chấp thay thế (Alternative Dispute Resolution, gọi
Trang 21tắt là ADR)12 Điều này có nghĩa là khi các biện pháp “giải quyết tranh chấp thay thế” (ADR) gồm thương lượng, hòa giải và trọng tài được thực hiện “trực tuyến”
với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin truyền thông (“CNTT-TT”) thì được gọi là
ODR Tiêu biểu cho quan niệm theo nghĩa hẹp, có thể kể đến định nghĩa của EU,
Ủy ban Châu Âu (“EC”) cho rằng ODR chính là phương thức giải quyết tranh chấp
thay thế với sự hỗ trợ của CNTT-TT nhằm giải quyết tranh chấp giữa NTD và thương nhân thông qua thủ tục trực tuyến13
Theo nghĩa rộng, ODR không chỉ bao gồm ADR mà còn mở rộng cả sang
phương thức GQTC bằng tòa án với sự hỗ trợ của công nghệ trong môi trường trực tuyến
Tiêu biểu cho định nghĩa theo nghĩa rộng có thể kể đến Nhóm chuyên trách về Thương mại điện tử và ADR của Hiệp hội luật sư Hoa Kỳ (ABA) đã đưa ra định nghĩa khái quát về ODR như sau:
“Giải quyết tranh chấp trực tuyến (ODR) là một thuật ngữ rộng bao gồm các phương pháp giải quyết tranh chấp ngoài tòa án (ADR) bao gồm thương lượng, hòa giải, trọng tài và thủ tục tòa án kết hợp với việc sử dụng Internet, website, thư điện tử, phương tiện truyền thông và các phương tiện công nghệ thông tin khác như một phần trong quá trình giải quyết tranh chấp để giải quyết các tranh chấp phát sinh từ giao dịch trực tuyến, thương mại điện tử hoặc các tranh chấp không phát sinh trên nền tảng Internet chẳng hạn như các tranh chấp phát sinh từ lĩnh vực dân sự, được gọi là tranh chấp ngoại tuyến Khi sử dụng phương thức này, các bên có thể không gặp mặt trực tiếp khi tham gia quá trình giải quyết ODR; thay vào đó, các bên có thể chỉ liên lạc trực tuyến” 14
Có thể thấy, ở định nghĩa này, ODR không chỉ bao gồm các biện pháp GQTC ngoài tòa án như thương lượng, hòa giải, trọng tài, mà còn bao gồm cả thủ tục tòa án trực tuyến Định nghĩa cũng liệt kê rõ những phương tiện CNTT được sử dụng trong
12 Esther van den Heuvel, “Online Dispute Resolution as a Solution to Cross-border E-disputes: An
Introduction to ODR”, tham khảo tại http://www.oecd.org/Internet/consumer/1878940.pdf, truy cập ngày 18.12.2018
13 Ủy ban Châu Âu (2011), Impact Assessment Accompanying the Document of the Proposal for a Directive
on Alternative Dispute Resolution for Consumer Disputes and the Proposal for a Regulation on Online Dispute Resolution for Consumer Disputes, trang 6
14 Hiệp hội Luật sư Hoa Kỳ (2002), “Task Force on Electronic Commerce and Alternative Dispute
Resolution Task Force”,
https://www.americanbar.org/content/dam/aba/migrated/2011_build/dispute_resolution/consumerodr.authche ckd am.pdf truy cập ngày 05.02.2019
Trang 22GQTC như Internet, website, email, phương tiện truyền thông và các công nghệ khác như một phần của quá trình GQTC Cách tiếp cận này phù hợp với khái niệm ODR được tạo ra để phân biệt với phương thức GQTC ngoại tuyến (offline) thông thường, sau đây gọi là phương thức GQTC truyền thống15 với phương thức ODR (online)
Ngoài ra, về mức độ sử dụng công nghệ trong quy trình GQTC, một câu hỏi khác được đặt ra: “Phải sử dụng công nghệ đến mức độ nào mới được gọi là ODR?” Bởi lẽ, trong một số tranh chấp khi sử dụng phương thức ADR truyền thống, thì các bên tranh chấp thường tìm đến sự trợ giúp của Internet, email, fax, điện thoại để đẩy nhanh tiến độ GQTC, tuy nhiên việc áp dụng hàm lượng công nghệ là rất ít thì có được coi là ODR không?
Theo Hội đồng tư vấn quốc gia về các phương pháp GQTC ngoài tòa án của Úc
(NADRAC), ODR được hiểu là: “các quá trình mà một phần đáng kể hoặc tất cả sự trao đổi thông tin trong khi giải quyết tranh chấp được diễn ra bằng phương tiện điện
tử, đặc biệt thông qua email” 16 Định nghĩa này hiểu rằng chỉ khi một phần đáng kể
hoặc tất cả sự trao đổi thông tin được thực hiện thông qua phương tiện điện tử thì mới được coi là ODR “Phần đáng kể” là bao nhiêu thì lại chưa được NADRAC quy định
cụ thể
Trong khi đó, UNCITRAL định nghĩa ODR là: “một cơ chế giải quyết tranh chấp thông qua việc sử dụng phương tiện liên lạc điện tử, công nghệ thông tin truyền thông khác để giúp các bên giải quyết tranh chấp một cách đơn giản, nhanh chóng, linh hoạt và an toàn mà không cần sự hiện diện của bất kỳ cuộc họp hoặc phiên điều trần trực tiếp nào” 17
Có thể thấy, khác với định nghĩa của NADRAC, UNCITRAL đã mở rộng phạm
vi sử dụng công nghệ thông tin trong ODR, theo đó, chỉ cần một phần của quá trình GQTC có sử dụng các phương tiện liên lạc điện tử thì sẽ được coi là ODR
Từ những khái niệm nêu trên, theo tác giả, chỉ cần một phần hoặc toàn bộ quá trình GQTC được thực hiện thông qua phương tiện điện tử có kết nối Internet hoặc thông qua một số hình thức công nghệ khác cho phép thực hiện kết nối thông tin trên
15 Hà Công Anh Bảo & Lê Hằng Mỹ Hạnh (2017), “Giải quyết tranh chấp trực tuyến – Khả năng áp dụng ở
Việt Nam”, Tạp chí kinh tế đối ngoại, số 93, trang 34
16 Hà Công Anh Bảo, Lê Hằng Mỹ Hạnh, tlđd, chú thích số 17, trang 35
17
UNCITRAL (2017), Chương V, “Ghi chú kỹ thuật về giải quyết tranh chấp trực tuyến (Technical Notes on Online Dispute Resolution), Điều 1.2
Trang 23mạng thì đã được xem là ODR Đồng thời, việc sử dụng ODR trong TMĐT không có nghĩa loại bỏ việc trao đổi thông tin, tương tác trực tiếp trên thực tế
Tựu trung lại, trên cơ sở phân tích pháp luật của một số quốc gia và tổ chức quốc tế, theo quan điểm của tác giả, ODR nên được hiểu theo nghĩa rộng cả về dạng thức lẫn phương tiện thực hiện Theo đó, ODR bao gồm: thương lượng, hòa giải, trọng tài và tòa án, được thực hiện thông qua các phương tiện điện tử có kết nối với Internet hoặc một số hình thức công nghệ khác như một phần quá trình GQTC
Từ những phân tích trên, với mục đích nghiên cứu của luận văn này, giải quyết tranh chấp trực tuyến trong TMĐT được định nghĩa như sau:
Giải quyết tranh chấp trực tuyến trong thương mại điện tử là quy trình giải quyết những mâu thuẫn, bất đồng, xung đột về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể khi tham gia vào hoạt động thương mại điện tử; bao gồm thương lượng, hòa giải, trọng tài và tòa án; được thực hiện thông qua các phương tiện điện tử có kết nối Internet hoặc sử dụng một phần hay toàn bộ các hình thức công nghệ khác để giải quyết tranh chấp; cho phép thực hiện các kết nối thông tin trên mạng mà không đòi hỏi các bên phải liên hệ trực tiếp trong một không gian vật chất nhất định
1.1.3 Đặc điểm của giải quyết tranh chấp trực tuyến trong thương mại điện tử
So với các biện pháp giải quyết tranh chấp truyền thống, ODR trong TMĐT
có những đặc trưng nổi bật như sau:
Thứ nhất, ODR trong TMĐT là cơ chế kết hợp linh hoạt giữa các phương thức giải quyết tranh chấp truyền thống và các hỗ trợ tiện ích mà CNTT mang lại
và mang tính minh bạch cao
Về cơ bản, ODR sử dụng các phương thức GQTC truyền thống trên nền tảng CNTT để tiếp nhận các khiếu nại, đơn khởi kiện, kết nối và giải quyết các tranh chấp phát sinh từ hoạt động TMĐT Tuy nhiên, các quy trình và thủ tục của ODR cũng được
thay đổi và bổ sung cho phù hợp với đặc thù của CNTT
Nền tảng CNTT (platform) ở đây chính là các phương tiện truyền thông kỹ
thuật số, công nghệ truyền dẫn không dây như: website, email, diễn đàn ảo, tin nhắn
tức thời, phòng trò chuyện v.v có khả năng xử lý, lưu trữ, sắp xếp hiệu quả lượng dữ liệu khổng lồ và truyền thông trên toàn cầu với tốc độ cao Vì vậy, đặc điểm nổi bật để
Trang 24phân biệt ODR với các hình thức GQTC truyền thống chính là việc sử dụng nền tảng công nghệ và mạng Internet để giải quyết các tranh chấp phát sinh từ TMĐT
Có thể thấy rằng, so với các phương thức GQTC truyền thống, ứng dụng CNTT trong ODR đem lại độ chính xác cao, tính minh bạch và truy xuất rõ ràng nguồn gốc vì nhiều thủ tục, quy trình được tự động hóa như: việc gửi các khiếu nại, đơn khởi kiện, lấy lời khai của nhân chứng và cung cấp các chứng cứ chứng minh giao dịch đều được thực hiện trên nền tảng website hoặc trên các ứng dụng có kết nối mạng Kể từ khi thông tin được truyền đi, nó được bảo quản ở dạng kỹ thuật số và thậm chí sau khi bị xóa vẫn có thể khôi phục được Do đó, các hồ sơ của ODR có thể tồn tại vĩnh viễn, làm tăng tính truy xuất nguồn gốc Các thông tin hoặc hành vi của những người tham gia GQTC có thể dễ dàng được kiểm tra dù không có khiếu nại chính thức Vì vậy, có thể coi ODR là một phương thức mang tính minh bạch cao
Thứ hai, ODR không bị giới hạn bởi biên giới quốc gia, lãnh thổ
Đối với các giao dịch TMĐT có khoảng cách địa lý xa nhau, đặc biệt với các giao dịch xuyên quốc gia thì chi phí đi lại, công sức và thời gian bỏ ra cao hơn rất nhiều so với giá trị thực tế của tranh chấp Hơn nữa, các bên còn gặp phải rào cản ngôn ngữ, xung đột trong việc lựa chọn luật áp dụng và khó khăn trong việc thực thi phán quyết
Điều này hoàn toàn được khắc phục thông qua phương thức ODR trong TMĐT Theo đó, bất kể các bên tham gia tranh chấp đang ở đâu đều có thể tham gia vào quá trình GQTC một cách trực tiếp và đồng thời bằng cách truy cập vào nền tảng ODR được cung cấp mà không cần gặp mặt trực tiếp cũng như không tốn các chi phí đi lại để theo đuổi vụ việc So với thủ tục GQTC truyền thống thì ODR yêu cầu chi phí thấp hơn, vì thế nó cũng mở rộng khả năng ứng dụng ODR trong những tranh chấp có giá trị nhỏ, tranh chấp TMĐT xuyên biên giới, giúp NTD dễ dàng tiếp cận công lý Nguyên nhân phát sinh từ chính đặc điểm toàn cầu của Internet đã làm giảm bớt tầm quan trọng của khái niệm biên giới và lãnh thổ, một trong những nền tảng quan trọng của hệ thống GQTC truyền thống khi dựa trên không gian địa lý cụ thể Bởi lẽ, Internet không tương ứng với thẩm quyền của bất kỳ thực thể nào, điều này dẫn đến pháp luật
Trang 25và các quy tắc lãnh thổ khó có thể áp dụng đối với Internet và các hoạt động của người
để giải quyết vụ việc19 Trong khi đó, với ODR, ngoài các đối tượng nêu trên thì còn có
sự xuất hiện thêm của bên thứ tư là các nhà cung cấp dịch vụ ODR chuyên nghiệp Cụ thể, bên thứ tư chính là các website cung cấp nền tảng công nghệ cũng như trực tiếp cung cấp dịch vụ ODR để GQTC như: Squaretrade, Clicksettle, Family_Winner v.v… Các website này thường chỉ được điều chỉnh bởi pháp luật chuyên ngành về phạm vi, nội dung hoạt động, chứ thường không được pháp luật trao quyền là một bên có đủ
thẩm quyền để GQTC và có quyền thực thi quyết định của mình
Bên cạnh đó, ODR trong TMĐT còn có sự xuất hiện của bên thứ năm là nhà cung cấp dịch vụ mạng Nhà cung cấp dịch vụ mạng với vai trò là một bên tham dự trong quy trình GQTC bằng việc cung cấp môi trường mạng Internet và các thiết bị kết nối thông tin nhằm hỗ trợ tích cực cho hoạt động ODR trong TMĐT Đây là chủ thể có chức năng truyền tải, lưu trữ thông tin của các bên khi tham gia giao dịch, đồng thời đóng vai trò xác thực bằng chứng được tạo ra trong quá trình thực hiện giao dịch TMĐT Với đặc thù về lĩnh vực hoạt động nên trách nhiệm cụ thể của nhà cung cấp dịch vụ mạng không được quy định trong pháp luật TMĐT mà được quy định trong các văn bản pháp luật chuyên ngành khác có liên quan20
1.2 Các hình thức giải quyết tranh chấp trực tuyến trong thương mại điện tử
1.2.1 Thương lượng trực tuyến
Thương lượng trực tuyến cũng giống như thương lượng truyền thống là phương thức GQTC không cần có sự tham gia của người thứ ba, theo đó các bên đương sự
18 Mutrap (2016), “Báo cáo đánh giá vai trò của hệ thống giải quyết tranh chấp trực tuyến với thương mại
điện tử của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế”, trang 14
19 Tiêu chuẩn của hòa giải viên được quy định tại Điều 5 Nghị định 22/2017/NĐ-CP, Tiêu chuẩn của trọng tài viên được quy định tại Điều 20 Luật Trọng tài thương mại 2010
20 Nguyễn Thị Thu Hằng, tlđd, chú thích số 6, trang 10
Trang 26cùng hợp tác thông qua việc trao đổi, bàn bạc, tự dàn xếp, đấu tranh tháo gỡ những bất đồng phát sinh trong hoạt động thương mại để tìm kiếm biện pháp nhằm GQTC21 Đây là hình thức không mang tính tài phán mà mang tính chất lựa chọn bởi lẽ thương lượng đề cao tinh thần thiện chí và sự tự nguyện của các bên Kết quả của thương lượng trực tuyến không mang tính bắt buộc và cưỡng chế thi hành
Nếu như trong thương lượng truyền thống, các bên thực hiện thương lượng bằng gặp gỡ trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua việc gửi đơn khiếu nại và trả lời khiếu nại22, thì trong thương lượng trực tuyến, các bên đàm phán thông qua nền tảng CNTT-
TT như thư điện tử (email), cuộc gọi video (video conference), tin nhắn v.v Các công
cụ hỗ trợ đàm phán tự động được tích hợp nhiều tính năng hơn các công nghệ truyền thông đơn thuần Chúng không những cung cấp các công cụ để liên lạc mà còn chuẩn hóa giao tiếp giữa các bên thông qua đơn mẫu khiếu nại với các câu hỏi được đặt sẵn, điều khoản GQTC buộc các bên phải tuân thủ, giới hạn thời gian, hệ thống lưu trữ dữ liệu để làm chứng cứ trong trường hợp các bên chưa thể GQTC Đây là điểm khác biệt rất lớn để phân biệt giữa thương lượng truyền thống và thương lượng trực tuyến
Thương lượng trực tuyến bao gồm hai loại là thương lượng tự động và
thương lượng có hỗ trợ
❖ Thương lượng tự động
Thương lượng tự động (Automated blind-bidding negotiation) là việc ứng dụng hoàn toàn công nghệ trực tuyến để đàm phán và giải quyết tranh chấp Loại thương lượng này thường được sử dụng trong việc giải quyết khiếu nại nhỏ liên quan đến giá trị bồi thường thiệt hại và đặc biệt hữu ích khi người dùng yêu cầu hoàn trả tiền mua hàng và tiền vận chuyển hàng lỗi Cụ thể, sau khi hoàn tất việc đăng ký sử dụng thương lượng trực tuyến, bên khiếu nại sẽ gửi đến hệ thống máy tính số tiền mà mình đề nghị được bồi thường (Đề nghị), còn bên bị khiếu nại sẽ đưa ra số tiền có thể chi trả để bồi thường (Yêu cầu) Các máy tính sau đó so sánh sự trả giá với nhu cầu của các bên và giải quyết bằng cách lấy điểm ở giữa của các sự trả giá đó23 Khi số tiền mà hai bên trả giá đạt một phạm vi nhất định (ví dụ khoảng cách chấp nhận được là 20%) thì tranh chấp sẽ được tự động giải quyết với số tiền được tính ở điểm giữa Trong thương lượng
21 Nguyễn Thị Mơ, 2009, Giáo trình pháp luật trong hoạt động kinh tế đối ngoại, NXB Thông tin và truyền
Thông, trang 214
22 Nguyễn Thị Mơ, tlđd, chú thích số 21, trang 215
23 Faye Fangfei Wang, 2008, Online Dispute Resolution, Chandos Publishing, trang 32
Trang 27tự động, các bên thông thường sẽ có nhiều vòng thỏa thuận với thời gian cố định cho mỗi vòng Theo đó, mỗi đề nghị mức chi trả mới phải tăng lên ít nhất theo số phần trăm
đã đưa ra (ví dụ 5%) còn mỗi yêu cầu mới phải giảm đi ít nhất theo số phần trăm này (ví dụ 5%) Nếu không đạt được thỏa thuận trong thời gian quy định, thì thủ tục đấu thầu sẽ được tiếp tục ở vòng sau (Tham khảo ví dụ về thương lượng tự động trong Phụ lục)
Thương lượng tự động gồm hai đặc điểm đặc trưng là “tự động” và “bảo mật” Tính tự động được thể hiện ở chỗ: quá trình này được điều khiển bởi phần mềm trực tuyến, hoàn toàn không có sự can thiệp của bên thứ ba là con người tham gia trực tiếp Những lời đề nghị của các bên thường được giữ bí mật hoàn toàn và không được tiết lộ cho nhau cho đến khi đạt đến phạm vi nhất định Ngoài ra, do các bên không cần phải liên hệ trực tiếp với nhau nên sẽ không bị chi phối bởi những yếu tố như về thái độ, tính cách, khác biệt văn hóa, bất đồng ngôn ngữ, tính hiệu quả trong giao tiếp của mỗi
cá nhân trong quá trình đàm phán Điều này là điểm khác biệt rất lớn so với thương lượng truyền thống khi các yếu tố nói trên sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến quá trình đàm phán Nếu không đạt được thỏa thuận, các bên vẫn có thể tiếp tục thương lượng với nhau không thành kiến, bởi vì họ sẽ không biết số tiền bên kia yêu cầu trong thủ tục
thương lượng trực tuyến
Thương lượng có hỗ trợ
Thương lượng hỗ trợ khác với thương lượng tự động ở chỗ, công nghệ không còn đóng vai trò chính khi thuần túy sử dụng thuật toán để chọn mức trung gian giữa các đề nghị và yêu cầu bồi thường, mà công nghệ chỉ là một công cụ hỗ trợ các bên thảo luận nhằm đạt được mục đích hòa giải Do đó, thương lượng hỗ trợ thường được sử dụng để GQTC phức tạp, có quy mô lớn và sự hỗ trợ của công nghệ trong quá trình GQTC để các bên giải quyết vấn đề hiệu quả
Thương lượng hỗ trợ cũng khác với hòa giải truyền thống ở chỗ, thương lượng
hỗ trợ không có sự tham gia của một bên thứ ba là con người Với sự vắng mặt này, công nghệ đóng vai trò tương tự như hòa giải viên sẽ giúp các bên đưa ra giải pháp bằng cách đặt câu hỏi, đề xuất câu trả lời gợi mở v.v… để thực hiện chức năng hòa giải của mình Nền tảng cũng sẽ hỗ trợ cung cấp những kết quả, giải pháp cho các tình huống tương tự thường gặp và đây cũng là những việc mà người hòa giải viên
Trang 28thường làm24 Dựa trên việc trả lời các câu hỏi cũng như tham khảo các hướng giải quyết được gợi mở và các bên tham gia thương lượng sẽ tự mình đưa ra phương án để GQTC
Việc trả lời những câu hỏi được chuẩn hóa này cho những vụ việc có tính chất giống nhau, không những giúp các bên tham gia tranh chấp đánh giá được những yếu
tố trong đàm phán họ có thể chấp nhận đánh đổi, mà còn nhìn nhận được một cách rõ ràng về những mục tiêu và lợi ích có liên quan đến giao dịch đang hướng tới để cùng nhau đưa ra những giải pháp mang tính xây dựng
Có thể thấy, công nghệ trí tuệ nhân tạo25 qua nhiều năm phát triển, thông qua công cụ thương lượng tự động và hỗ trợ đã đóng vai trò như hòa giải viên, trọng tài viên giúp quản lý thông tin và gợi mở giải pháp cho các bên trong các tranh chấp TMĐT có tính chất đơn giản Điều này đặt ra một vấn đề pháp lý về tính hợp lệ và hiệu lực khi trí tuệ nhân tạo đóng vai trò là một bên tham gia vào GQTC, thay thế con người trong ODR Đến thời điểm hiện tại, pháp luật Anh và Pháp nhận định rằng trí tuệ nhân tạo không đảm bảo sự công bằng và các kỹ năng thiết yếu để được công nhận là hòa giải viên, trọng tài viên26 Trong khi đó pháp luật Trung Quốc lại đang gợi
mở cho công nghệ này vào các phương thức GQTC tự động trên website hoặc ứng dụng di động như Wechat27
1.2.2 Hòa giải trực tuyến
Hòa giải trực tuyến trong TMĐT được hiểu là hình thức GQTC sử dụng website
để tiến hành các bước hòa giải tranh chấp về giao dịch TMĐT với sự giúp đỡ của các hòa giải viên28
Tương tự như các hình thức hòa giải truyền thống, hòa giải trực tuyến sử dụng một bên thứ ba trung lập, khách quan, làm việc với các bên tranh chấp để tạo điều kiện cho việc trao đổi thông tin giữa họ Hòa giải viên trực tuyến có quyền tư vấn cho các bên nội dung của tranh chấp, thậm chí đề xuất cách giải quyết Tuy nhiên,
24 Gabrielle Kaufmann-Kohler, Thomas Schultz (2004), Online Dispute Resolution: Challenges for
Contemporary Justice, Kluwer Law International B.V., trang 17
25 Trí tuệ nhân tạo (tên đầy đủ là Artificial Intelligence – AI) được hiểu như một ngành của khoa học máy tính liên quan đến việc tự động hóa các hành vi thông minh AI là trí tuệ do con người lập trình ra và được con người tạo lên với mục tiêu giúp máy tính có thể tự động hóa các hành vi thông minh như con người
26 Gabrielle Kaufmann-Kohler, Thomas Schultz, tlđd, chú thích 24, trang 45
27 Xem chi tiết chương 2
28 Đoàn Quỳnh Thương (2014), “Một số hình thức giải quyết tranh chấp trực tuyến về giao dịch điện tử tại
Hòa Kỳ và kinh nghiệm cho Việt Nam”, Tạp chí tòa án nhân dân, số 13, trang 28
Trang 29hòa giải viên trực tuyến không có thẩm quyền đưa ra quyết định ràng buộc các bên Đồng thời, hòa giải trực tuyến phải luôn luôn diễn ra trên cơ sở tự nguyện, không bên nào có thể buộc phải tham gia vào thủ tục hòa giải Điều này cũng hiểu là một trong hai bên có thể từ bỏ tham gia quá trình hòa giải ở bất kỳ giai đoạn nào trước khi ký kết thỏa thuận dàn xếp
Về những điểm khác nhau, đặc trưng của hòa giải trực tuyến là không có hoặc rất hạn chế tương tác trực tiếp giữa các bên tham gia, thay vào đó, các công cụ công nghệ đóng một vai trò quan trọng như là một “bên thứ tư”
Internet neutral website là một ví dụ điển hình cho quá trình hòa giải trực tuyến Sau khi đồng ý tham gia, các bên sẽ lựa chọn phương tiện điện tử thực hiện hòa giải thông qua email, tin nhắn, phòng trò chuyện và hội nghị trực tuyến Trong phiên hòa giải, phần mềm cho phép các bên giao tiếp thông qua hai kênh: đối thoại riêng tư giữa một bên đương sự và hòa giải viên29, đối thoại mở với tất cả những người tham gia để gợi mở hướng giải quyết giúp các bên tham gia tranh chấp đạt được thỏa thuận Hòa giải trực tuyến thành công thì sẽ được ghi nhận kết quả GQTC thông qua một văn bản
1.2.3 Trọng tài trực tuyến
GQTC bằng trọng tài là hình thức GQTC thông qua hoạt động của hội đồng trọng tài hoặc trọng tài viên với tư cách là bên thứ ba độc lập nhằm giải quyết mâu thuẫn tranh chấp bằng việc đưa ra phán quyết có giá trị bắt buộc các bên phải thi hành
Trọng tài trực tuyến tái tạo lại mô hình trọng tài truyền thống trong môi trường không gian mạng, đây là nơi các thủ tục trọng tài được tiến hành toàn bộ hoặc một phần trên Internet, được bắt đầu từ thỏa thuận trực tuyến của các bên và kết thúc bằng phán quyết trọng tài trực tuyến có giá trị ràng buộc pháp lý30 Nếu như trọng tài truyền thống phải quản lý một số lượng lớn giấy tờ, hồ sơ một cách thủ công thì với trọng tài trực tuyến, các bên sẽ tải các tài liệu lên nền tảng nhằm tạo thành một nơi lưu trữ dữ liệu thống nhất Theo đó, đương sự, luật sư, trọng tài viên đều có thể xem, tìm kiếm và tải tài liệu trên nền tảng này Hiện nay, trọng tài trực tuyến đang được sử dụng chủ yếu bởi eResolution được Hiệp Hội Internet về Cấp số và Tên miền (ICANN) công
29 Hà Công Anh Bảo & Lê Hằng Mỹ Hạnh, tlđd, chú thích số 17, trang 35
30 WIPO, “Online Arbitration”, http://www.wipo.int/amc/en/arbitration/online/index.html, truy cập ngày 4.3.2019
Trang 30nhận để GQTC tên miền31 Phán quyết của trọng tài trực tuyến có giá trị bắt buộc thi hành
1.2.4 Tòa án trực tuyến
Tòa án trực tuyến có phòng xử án được hình thức bố trí theo quy định của luật
tố tụng tại quốc gia và được trang bị thêm thiết bị ghi âm, ghi hình, máy tính, mạng Internet phục vụ cho hoạt động phiên tòa, phiên họp Người tiến hành xét xử thường ngồi ở phòng xét xử tại trụ sở tòa án và người tham gia tố tụng ngồi ở một địa chỉ tùy theo sắp xếp của mình, liên kết với nhau bằng một phần mềm ứng dụng được thiết kế sẵn thông qua các thiết bị điện tử được thiết lập, liên kết với nhau bằng Internet để thực hiện kết nối giữa các bên Tất cả trao đổi giữa các bên đều được thực hiện thông qua mạng Internet và phòng hội thoại trực tuyến với những thủ tục, quy định đặc thù so với tòa án truyền thống32
Bên cạnh đó, việc nộp đơn khởi kiện, các chứng cứ, tài liệu, văn bản được thực hiện trực tuyến thông qua phần mềm ứng dụng, thư điện tử, fax
Một số thủ tục tòa án truyền thống khi chuyển vào môi trường mạng sẽ có sự thay đổi để tương thích với môi trường trực tuyến Cụ thể, việc giám sát tư pháp cũng như tuân thủ các thủ tục tố tụng của tòa án truyền thống sẽ không được áp dụng trong tòa án trực tuyến, chẳng hạn nếu trong phiên xét xử, các bên thỏa thuận được phương
án giải quyết thì vụ việc được tự động khép lại với sự công nhận của tòa án về thỏa thuận của các bên mà không cần bất kỳ thủ tục tố tụng nào khác Việc điều tra chính thức trong tòa án trực tuyến được thực hiện độc lập và chỉ tiến hành khi có đơn khởi kiện thay vì là quy định bắt buộc như tòa án truyền thống Ngoài ra, thẩm tra tư cách tố tụng được áp dụng đương nhiên trong tòa án truyền thống thì lại bị giới hạn tại tòa án trực tuyến Số lượng hội thẩm (bồi thẩm đoàn) trong tòa án trực tuyến có thể căn cứ theo thỏa thuận hoặc theo quy định của website, thay vì phải tuân theo số lượng được quy định trong luật tố tụng33
Cũng chính vì tính chất trực tuyến mà việc ghi nhận lời khai nhân chứng thường được thực hiện thông qua việc điền vào các biểu mẫu hay được ghi âm, ghi hình bằng các máy quay đa chiều, thay vì được thực hiện một cách trực tiếp tại tòa34 Đồng thời,
31 Tham khảo tại http://www.eresolution.ca
32 Gabrielle Kaufmann-Kohler, Thomas Schultz, tlđd, chú thích 24, trang 41
33 Faye Fangfei Wang, tlđd, chú thích 26, trang 38-39
34 Faye Fangfei Wang, tlđd, chú thích 26, trang 38
Trang 31việc giao nộp chứng cứ tại tòa án trực tuyến tại các nước cũng được quy định khác nhau Ví dụ như Tòa án Tối cao của Trung Quốc quy định chứng cứ nộp tại tòa án trực tuyến phải được lưu trữ và xác minh thông qua công nghệ chuỗi khối (blockchain) cùng với chữ ký số hoặc thông qua một nền tảng lấy lời khai kỹ thuật số và có thể chứng minh tính xác thực của công nghệ được sử dụng Tại phiên tòa trực tuyến của Trung Quốc, thẩm phán robot sẽ tự động đặt một số câu hỏi được lập trình sẵn thay cho thẩm phán là con người và tòa án có thể sử dụng hệ thống nhận dạng giọng nói tự động để ghi chép biên bản phiên tòa Thêm vào đó, bản án là sự kết hợp hai phần: (i) thông tin thành phần của bản án được tạo ra một cách tự động thông qua việc nền tảng
tố tụng trích xuất nội dung của các tệp điện tử, (ii) phần còn lại được các thẩm phán chuẩn bị thủ công để rút ngắn thời gian của phiên tòa trực tuyến
Bên cạnh đó, hiệu lực thi hành của tòa án trực tuyến được quy định khác nhau tại mỗi quốc gia Tại Singapore, quyết định hay bản án của tòa án trực tuyến thường có giá trị chung thẩm35, trong khi đó tại Trung Quốc, đương sự lại vẫn có quyền kháng cáo các quyết định/bản án của tòa án trực tuyến lên tòa án cấp cao tại cùng khu vực địa
lý36 Hơn nữa, tòa án trực tuyến cũng phải đảm bảo yếu tố công khai như tòa án truyền thống, do đó, nó có thể giúp gia tăng niềm tin của người dân đối với phương thức ODR trong TMĐT
1.3 Sự cần thiết của việc điều chỉnh bằng pháp luật đối với hoạt động giải quyết tranh chấp trực tuyến trong thương mại điện tử tại Việt Nam
Trong bối cảnh TMĐT ở Việt Nam ngày càng phát triển, cùng với tình hình diễn biến phức tạp của các giao dịch chứa đựng nhiều nguy cơ gây thiệt hại đến các bên, dẫn đến yêu cầu của việc có một phương pháp GQTC riêng biệt trong TMĐT đặt ra cấp thiết hơn bao giờ hết Đồng thời, điều này cũng trở thành một phần cấu thành quan trọng của pháp luật về TMĐT và bảo vệ quyền lợi NTD Cụ thể, ngày 15/5/2020, Chính phủ ban hành Quyết định số 645/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch tổng thể phát triển TMĐT quốc gia giai đoạn 2021-2025 trong đó nêu rõ yêu cầu:
“Nghiên cứu, xem xét áp dụng hệ thống giải quyết tranh chấp trực tuyến (Online Dispute Resolution - ODR) nhằm tăng cường bảo vệ quyền lợi của người
35 Faye Fangfei Wang, tlđd, chú thích 26, trang 39
36 “Tòa án nhân dân cấp cao Trung Quốc ban hành quy chế xét xử cho phép chứng cứ blockchain”,
for-blockchain-evidence/ , truy cập ngày 18.5.2019
Trang 32https://www.loc.gov/law/foreign-news/article/china-supreme-court-issues-rules-on-Internet-courts-allowing-tiêu dùng trong thương mại điện tử, thúc đẩy sự phát triển của thương mại điện tử xuyên biên giới, đặc biệt đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ.”
Do đó, việc nghiên cứu các cơ sở chứng minh nhu cầu của phương thức ODR trong TMĐT là thực sự cần thiết, làm nền móng cho việc xây dựng và hoàn thiện chính sách và pháp luật của quốc gia, bao gồm:
Thứ nhất, nhằm thúc đẩy sự phát triển của thương mại điện tử và thương mại điện tử qua biên giới
Thị trường TMĐT đang tăng trưởng mạnh mẽ của Việt Nam bao gồm 39,9 triệu người dùng và đã tạo ra doanh thu hơn 2,7 tỷ USD vào năm 201937 TMĐT tại Việt Nam đang có sự bứt phá mạnh mẽ với tốc độ tăng trưởng trung bình những năm qua là từ 25% - 30%/năm38 Theo thống kê của emarketer.com, mỗi ngày có khoảng 120 triệu giao dịch TMĐT được tiến hành, trong đó có đến 2-5% giao dịch phát sinh tranh chấp Cụ thể, năm 2016 có 821,2 triệu vụ tranh chấp TMĐT và năm
2017 dự kiến là 942,8 triệu vụ39 Con số tranh chấp này là quá tải đối với hệ thống tòa án Vì thế, việc sử dụng phương thức ODR để giải quyết các tranh chấp phát sinh sẽ góp phần rất quan trọng trong việc xây dựng lòng tin cho các bên với TMĐT nhờ vào khả năng tiếp cận dễ dàng và nhanh chóng của nền tư pháp trong môi trường kinh doanh trực tuyến
Ngoài ra, Internet khiến cho các giao dịch xuyên biên giới gia tăng, từ đó dẫn đến số lượng tranh chấp TMĐT xuyên biên giới cũng phát triển theo Trong khi đó ODR lại đáp ứng được nhu cầu mới của người mua hàng hóa xuyên quốc gia, vốn thường có xu hướng không ưu tiên lựa chọn hàng hóa mua tại nước ngoài khi không
có một công cụ GQTC rõ ràng, đáng tin cậy để bảo vệ quyền lợi của mình Do đó,
có thể thấy, ODR đóng vai trò hết sức quan trọng để phát triển TMĐT trong nước
và xuyên biên giới
37Bộ Công Thương - Cục thương mại điện tử và kinh tế số (2019), Sách trắng thương mại điện tử 2019, Hà
Nội, trang 28
38 Google và Temasek (2018) E-Conomy SEA 2018
39 Song Thu, Hoàn thiện khung pháp lý cho mô hình giải quyết tranh chấp trực tuyến,
tuyen-371882.html, truy cập ngày 20.5.2019
Trang 33https://baophapluat.vn/hoi-dap-phap-luat/hoan-thien-khung-phap-ly-cho-mo-hinh-giai-quyet-tranh-chap-truc-Thứ hai, ODR góp phần bảo vệ quyền lợi NTD
Nhiều nghiên cứu về ứng dụng và phát triển mô hình TMĐT đều cho thấy rằng sự tin tưởng của NTD với TMĐT góp phần thúc đẩy TMĐT phát triển, hướng NTD tới quyết định lựa chọn giao dịch TMĐT thay vì lựa chọn giao dịch thương mại truyền thống40 Sự tin tưởng này được hình thành từ nhiều yếu tố, trong đó việc GQTC được tiếp cận một cách dễ dàng và hiệu quả chính là một trong những nhân
tố hàng đầu luôn được quan tâm đến
Có thể thấy, trong mối quan hệ với tổ chức, cá nhân kinh doanh, người mua (thường là NTD) thường rơi vào tình trạng bất cân xứng về thông tin, hiểu biết, trình độ khoa học kỹ thuật, khả năng đàm phán, ký kết hợp đồng, khả năng chịu rủi
ro và sự am tường về pháp luật của cũng như tiềm lực tài chính, cho nên người mua luôn ở vị thế yếu hơn41
Sự bất cân xứng này càng thể hiện rõ nét hơn trong giao dịch TMĐT với sự chi phối lớn của môi trường mạng và ứng dụng CNTT-TT Bởi lẽ, với đặc thù của giao dịch TMĐT được thực hiện trên môi trường mạng, các bên thực hiện mua bán, giao dịch và thanh toán mà không cần gặp mặt trực tiếp dẫn đến người mua rất dễ bị xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng Các nội dung được người bán quảng cáo sai sự thật hay cung cấp thông tin không đầy đủ, gây nhầm lẫn thường về nguồn gốc, xuất xứ, chất lượng của hàng hóa, dịch vụ khiến người mua hiểu sai lệch
về giao dịch mình thực hiện, kết quả là không mua được những hàng hóa, dịch vụ đáp ứng được yêu cầu hoặc chưa hiểu chi tiết về sản phẩm đã mua Hơn nữa, NTD trong TMĐT hoàn toàn yếu thế và gặp khó khăn trong việc tìm kiếm các thông tin của thương nhân (đặc biệt khi người bán là cá nhân), cũng như xác định cơ quan
có thẩm quyền giải quyết vụ việc, luật áp dụng, hay khoảng cách địa lý quá xa trong khi giá trị giao dịch lại thấp so với chi phí bỏ ra để GQTC, nên trong các trường hợp này, người chịu thiệt thường là bên mua hàng hóa dịch vụ
Theo kết quả khảo sát của Bộ Công thương, 72% người được khảo sát cho rằng sản phẩm kém chất lượng so với quảng cáo là một trong những trở ngại khi mua sắm trực tuyến, 40% không tin tưởng đơn vị bán hàng và 58% lo ngại thông tin
40 Nguyễn Thị Thu Hằng, Bàn về vấn đề bảo vệ thông tin cá nhân của NTD trong TMĐT, https://iluatsu.com/thuong-mai/ban-ve-van-de-bao-ve-thong-tin-ca-nhan-cua-nguoi-tieu-dung-trong-tmdt/, truy cập ngày 22.10.2019
41 Nguyễn Thị Thu Hằng, tlđd, chú thích số 46
Trang 34bị tiết lộ42 Điều này làm cản trở NTD mua hàng hóa dịch vụ trong TMĐT Thêm vào
đó, mặc dù các tranh chấp trong TMĐT đang ngày một gia tăng, nhưng việc GQTC lại bị các doanh nghiệp nhìn nhận và xử lý một cách hết sức sơ khai Cũng theo kết quả khảo sát, 82% website TMĐT tham gia khảo sát có chính sách GQTC, khiếu nại, nhưng chỉ có 77% website TMĐT có công bố chính sách đó để khách hàng dễ dàng tìm hiểu thông tin trước khi quyết định mua hàng hóa, dịch vụ43 Không những vậy, trong trường hợp các tranh chấp, khiếu nại có giá trị giao dịch cao, phức tạp khi có
sự tham gia của nhiều chủ thể, các giao dịch mang tính chất xuyên biên giới, thì những trang TMĐT này hầu như không thể giải quyết được Như vậy, có thể thấy, việc thiếu hiệu quả trong quá trình xử lý tranh chấp TMĐT đã tạo nên tâm lý lo ngại của NTD trong các giao dịch trong TMĐT từ đó tạo rào cản trong việc phát triển TMĐT nói chung
Từ những phân tích trên, có thể thấy, việc xây dựng và hoàn thiện khung pháp
lý về phương thức GQTC để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NTD trong TMĐT là vấn đề cấp thiết được đặt ra nhằm đảm bảo sự phát triển lành mạnh, an toàn, minh bạch của thị trường TMĐT
Thứ ba, cần cơ sở pháp lý để hình thành và phát triển thêm một phương thức phù hợp để giải quyết tranh chấp phát sinh từ hoạt động TMĐT
Các tranh chấp phát sinh trong TMĐT thường rất khó để đưa ra tranh chấp trước tòa án hay trọng tài chuyên nghiệp vì hầu hết các khiếu nại liên quan đến giao dịch đơn lẻ, giá trị thấp, trong khi chi phí cho việc GQTC lại cao, tốn kém thời gian
Không như các quy trình giải quyết tranh chấp truyền thống khác, ODR là một
cơ chế nhanh, hiệu quả, linh hoạt, ít tốn kém để giải quyết các tranh chấp TMĐT cả ở trong nước lẫn xuyên biên giới Bởi lẽ, quy trình ODR tương đối đơn giản, đáng tin cậy
và không gặp xung đột pháp luật trong việc lựa chọn thẩm quyền xét xử cũng như thực thi kết quả GQTC Điều này đặc biệt phù hợp với các tranh chấp trong TMĐT bởi tính phi biên giới Do đó, việc xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý về phương thức ODR trong TMĐT là vấn đề cấp thiết được đặt ra Theo đó, các bên có quyền tự do lựa chọn phương thức GQTC phù hợp nhất với điều kiện, hoàn cảnh thực tế của mình để GQTC một cách linh hoạt, nhanh chóng, đạt hiệu quả cao Đồng thời, khi
42 Bộ Công Thương - Cục TMĐT và CNTT, tlđd, chú thích số 2, trang 31-32
43 Bộ Công Thương - Cục TMĐT và CNTT, tlđd, chú thích số 2, trang 72
Trang 35đã có khung pháp lý về ODR, việc thi hành phán quyết, bản án hay các quyết định GQTC thông qua ODR sẽ được đảm bảo Theo đó, các bên cũng sẽ phải có nghĩa
vụ tuân thủ việc thực hiện các nghĩa vụ luật định để đảm bảo tính hợp pháp của các quy trình, thủ tục tố tụng trong việc GQTC trong TMĐT
Thứ tư, ở Việt Nam chưa có các quy định pháp lý cụ thể điều chỉnh phương thức giải quyết tranh chấp trực tuyến
Kể từ khi LGDĐT 2005 ra đời cho đến Nghị định số 52/2013/NĐ-CP, Luật Trọng tài thương mại 2010 hay Nghị định 22/2017/NĐ-CP của Chính phủ ban hành
ngày 24/2/2017 về hòa giải thương mại (“Nghị định 22/2017/NĐ-CP”), đến nay vẫn
chưa có một văn bản quy phạm pháp luật nào được ban hành để làm nền tảng pháp lý cho việc áp dụng ODR một cách chính thức và trọn vẹn ở nước ta Có thể thấy rằng,
sự thiếu hụt trong việc điều chỉnh pháp luật dẫn đến những lúng túng trong việc áp dụng ODR trong TMĐT cũng như không có cơ sở chính thức để thực thi các kết quả GQTC thực hiện thông qua phương thức trực tuyến tại Việt Nam hiện nay
Cụ thể, các phiên xử trong tố tụng tòa án hay trọng tài truyền thống đều đang được tiến hành tại trụ sở tòa án hoặc nơi khác nhưng bố trí hình thức phòng xử phải đảm bảo tính trang nghiêm của một phiên xử Ngay cả trong Bộ luật tố tụng dân sự
2015 (“BLTTDS 2015”), theo quy định tại khoản 16 Điều 70, nghĩa vụ của đương
sự phải “có mặt” theo giấy triệu tập của tòa án “Có mặt” được hiểu là đương sự hoặc người được ủy quyền hợp pháp của mình phải hiện diện trực tiếp tại địa điểm hoặc trụ sở tòa án, trong khuôn khổ phiên họp hoặc phiên tòa Ngoài ra, sau khi giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ thì các bên phải ký tên hoặc điểm chỉ vào biên bản (Điều 211.4, BLTTDS 2015), điều này đòi hỏi các bên phải tiến hành trực tiếp Nếu áp dụng phương thức ODR vào các phiên họp và phiên xét xử thì các yêu cầu trên khó khả thi44
Ngoài ra, do đặc thù môi trường “ảo” với sự kết hợp của nhiều phương tiện CNTT hiện đại khiến cho các tranh chấp trong TMĐT không chỉ phức tạp về các đối tượng tham gia mà còn về tính chất của tranh chấp Do đó, việc có hành lang pháp lý rõ ràng để thừa nhận giá trị pháp lý của ODR trong việc giải quyết các tranh
44 Châu Huy Quang, "Tránh gián đoạn do Covid-19, cơ chế phân xử trực tuyến ra sao?”, http://www.viac.vn/goc-nhin-trong-tai-vien/tranh-gian-doan-do-covid19-co-che-phan-xu-truc-tuyen-ra-sao- a875.html?fbclid=IwAR1rnimj5uLcBdnhySLOK5h7JburpkoUM7LkLJQq2RCIiE2-yybJzl0fRkI, truy cập ngày 25.05.2020
Trang 36chấp phát sinh từ hoạt động TMĐT và các vấn đề liên quan khác như: chủ thể tiến hành GQTC, thẩm quyền, giá trị văn bản, vấn đề bản gốc, chứng cứ, chữ ký, con dấu, giá trị thi hành của các kết quả GQTC của phương thức ODR theo quy định pháp luật là rất quan trọng, góp phần ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu lực và tính thực thi của phán quyết hoặc kết luận cuối cùng của hòa giải viên, trọng tài hay tòa án
Hiện nay, nhiều quốc gia, khu vực đã và đang xây dựng một khung pháp lý cho phương thức GQTC mới này để góp phần thúc đẩy TMĐT và bảo vệ NTD Cụ thể, EU đã ban hành Quyết định số 524/2013 về ODR giữa NTD và thương nhân Tương tự, Trung Quốc cũng ban hành quy chế tòa án Internet để tạo khung pháp lý vững chắc cho việc giải quyết các tranh chấp trực tuyến thông qua mô hình tòa án Internet nhằm giải quyết các tranh chấp trong TMĐT, sở hữu trí tuệ và hành chính phát sinh từ Internet
Bên cạnh đó, bộ quy tắc trọng tài của các trung tâm trọng tài lớn trên thế giới như Mỹ, Singapore, Trung Quốc đều có quy định về hình thức tố tụng qua phiên xử trực tuyến, cho phép các phiên xử có thể diễn ra trực tiếp hoặc thông qua hình thức phiên họp trực tuyến hoặc cách thức phù hợp khác, miễn là các bên được đối xử công bằng như nhau Theo đó, mỗi bên đều có cơ hội được lắng nghe cũng như trình bày luận cứ của mình Đây cũng là cách tiếp cận phổ biến chung trong các Bộ quy tắc trọng tài quốc tế 45
Tựu trung lại, có thể thấy rằng, việc xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý về ODR trong TMĐT tại Việt Nam đang là vấn đề cấp thiết, nhằm tạo ra hành lang pháp lý cho các chủ thể tham gia bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, từ đó góp phần xây dựng và phát triển TMĐT ở Việt Nam trở nên an toàn, minh bạch
Thêm vào đó, thực tiễn trong việc xây dựng và áp dụng ODR ở EU và Trung Quốc cho thấy phương thức này đã giải quyết thành công hàng chục triệu tranh chấp trên khắp thế giới, góp phần cải thiện lòng tin của khách hàng đối với phương thức GQTC mới này Đây đồng thời sẽ là kinh nghiệm quý báu để Việt Nam có thể nghiên cứu, học hỏi, triển khai áp dụng trên thực tế nhằm đáp ứng nhu cầu cần thiết của việc giải quyết các tranh chấp phát sinh từ TMĐT mà phương pháp truyền thống đang không còn đáp ứng được
45 Châu Huy Quang, tlđd, chú thích số 50
Trang 371.4 Một số nội dung cần điều chỉnh bởi pháp luật để xây dựng phương thức giải quyết tranh chấp trực tuyến trong thương mại điện tử tại Việt Nam
Theo tác giả, một số nội dung cần được điều chỉnh bởi pháp luật trong việc xây dựng phương thức ODR trong TMĐT tại Việt Nam hiện nay như sau:
Thứ nhất, về những tranh chấp thuộc phạm vi giải quyết của ODR trong
TMĐT Vấn đề pháp lý được đặt ra liệu rằng tất cả các tranh chấp phát sinh trong TMĐT nói chung đều thuộc phạm vi áp dụng của ODR để giải quyết mà không phụ thuộc vào giá trị và tính chất tranh chấp Ở EU, ODR chỉ được sử dụng để GQTC phát sinh từ hợp đồng mua sắm hàng hóa dịch vụ trực tuyến giữa NTD và bên cung ứng hàng hóa dịch vụ Việc giới hạn phạm vi áp dụng của ODR nhằm giải quyết các tranh chấp TMĐT tốt hơn do nền tảng CNTT-TT có hạn
Thứ hai, về mức độ sử dụng yếu tố trực tuyến, như đã phân tích ở trên, ODR
có thể được sử dụng trong toàn bộ quá trình GQTC hoặc chỉ trong một giai đoạn nhất định nào đó và được kết hợp cùng với các phương thức GQTC truyền thống khác Như vậy, vấn đề pháp lý đặt ra là hàm lượng sử dụng công nghệ và mạng Internet trong quá trình GQTC ở mức độ thế nào thì được xem là ODR để phân biệt với phương thức GQTC ngoại tuyến có sử dụng sự hỗ trợ của công nghệ
Thứ ba, về việc xác thực các bên tham gia ODR trong TMĐT không những
đảm bảo nguyên tắc “người, vụ việc và tài khoản” là nhất quán mà còn phải đảm bảo tính hiệu lực của các văn bản được ban hành trong quá trình GQTC Hiện nay tại nhiều nước trên thế giới, các cá nhân khi tham gia vào các hoạt động TMĐT đều
đã được cấp mã số chứng thực công dân điện tử hoặc được các tổ chức cung cấp dịch vụ Internet, dịch vụ sàn TMĐT kiểm tra, xác thực danh tính nên việc xác thực lại khi tham gia ODR là không cần thiết46 Trong khi đó, ở Việt Nam, việc định danh các cá nhân tham gia hoạt động TMĐT chưa được thực hiện Điều này ngoài việc nhà nước bị thất thu thuế thì còn khiến việc giải quyết các tranh chấp phát sinh
từ TMĐT cũng trở nên khó khăn hơn, đặc biệt trong việc xác định đối tượng tham gia cũng như việc thi hành kết quả GQTC
Thứ tư, về tính hợp pháp của chứng cứ được các bên cung cấp bằng phương
thức trực tuyến Pháp luật nước ta đã có một số quy định pháp luật ghi nhận sự tồn
46 “Đề xuất cơ chế giải quyết tranh chấp trực tuyến trong cuộc cách mạng 4.0 tại Việt Nam”, https://ictlaw.vn/blog/proposal-for-the-development-of-online-dispute-settlement-at-the-4th-industrial- revolution-in-vietnam/, truy cập ngày 26.5.2020
Trang 38tại của chứng cứ dưới dạng thông điệp dữ liệu được thể hiện dưới hình thức trao đổi
dữ liệu điện tử, chứng từ điện tử, thư điện tử, điện tín, điện báo, fax và các hình
thức tương tự khác (sau đây được gọi là “Chứng cứ điện tử”) theo quy định tại
khoản 2 Điều 14 LGDĐT 2005 và Điều 93 BLTTDS 2015 Theo đó, giá trị của các chứng cứ điện tử được đánh giá thông qua 4 yếu tố: (i) mức độ tin cậy của cách thức khởi tạo, lưu trữ và truyền gửi thông điệp; (ii) cách thức đảm bảo và duy trì tính toàn vẹn của thông điệp dữ liệu, (iii) cách thức xác định người khởi tạo; (iv) tính khách quan và hợp pháp thì có thể được coi là nguồn chứng cứ để tòa án sử
dụng trong quá trình QGTC BLTTDS 2015 quy định rằng “Các tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được” nhưng không có các quy định cụ thể về hình thức vật chất
chứa đựng chứng cứ điện tử, trình tự thu thập, xác minh chứng cứ cũng như hướng dẫn các trình tự thủ tục tố tụng chuyên biệt để thụ lý giải quyết các tranh chấp thương mại có các chứng cứ điện tử47
Điều này tạo nên khó khăn cho các bên trong việc cung cấp Chứng cứ điện
tử khi GQTC thông qua phương thức ODR, vì hiện nay, Việt Nam chưa có bất kỳ
cơ sở pháp lý nào thừa nhận một cách minh thị giá trị chứng minh của loại chứng cứ này trong TMĐT Ngoài ra, để thu thập một chứng cứ quan trọng trên máy tính, đương sự thường phải sử dụng dịch vụ thừa phát lại để lập vi bằng nhằm xác nhận tính xác thực của dữ liệu điện tử theo nguyên tắc “Nghĩa vụ chứng minh thuộc về các đương sự” với mức phí hàng triệu đồng trong khi giá trị tranh chấp chỉ có thể bằng hoặc có khi thấp hơn Điều này dẫn đến việc tiếp cận công lý trở nên khó khăn khi việc chứng minh chứng cứ theo đúng trình tự pháp luật là một vấn đề không hề đơn giản với hiểu biết thông thường của người dân
Thứ năm, về nền tảng CNTT-TT để vận hành ODR, đây là điều kiện tiên
quyết để phương thức ODR có thể phát triển một cách bền vững ở nước ta Tuy nhiên, hiện nay, Việt Nam chưa có một cổng thông tin cấp quốc gia nào để tiếp nhận và giải quyết các tranh chấp trực tuyến trong TMĐT Do đó, việc xây dựng nền tảng CNTT-TT chuyên biệt là nhân tố then chốt để không những thực hiện việc lưu trữ dữ liệu, tiếp nhận và xử lý tranh chấp một cách thuận lợi và nhanh chóng,
mà còn góp phần gia tăng độ phủ sóng của ODR trong đời sống xã hội
47 Lê Văn Thiệp, “Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại”, https://kiemsat.vn/chung-cu-dien-tu-trong-giai-quyet-tranh-chap-kinh-doanh-thuong-mai-46731.html, truy cập ngày 26.5.2020
Trang 39Thứ sáu, về vấn đề quản lý cơ sở dữ liệu phục vụ cho ODR, câu hỏi pháp lý được đặt ra: “Cơ quan, tổ chức nào được trao quyền đứng ra quản lý và vận hành nền tảng ODR cũng như cơ sở dữ liệu phục vụ cho ODR trong TMĐT?” Đối với
phương pháp GQTC mới như ODR thì cần có quy định cụ thể về những cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền tham gia vào quá trình GQTC, vấn đề quản lý cơ sở
dữ liệu phục vụ cho việc GQTC trực tuyến được thực hiện như thế nào? Điều này nhằm đảm bảo mức độ thực thi của phương thức ODR khi pháp luật trao quyền cho
cơ quan nhà nước hay tư nhân để thiết lập, vận hành, quản lý cơ sở dữ liệu của các nền tảng công nghệ nói trên
Thứ bảy, về trình tự, thủ tục của ODR Hiện nay, pháp luật nước ta chỉ mới
quy định các trình tự thủ tục thông qua phương thức GQTC truyền thống Như vậy, vấn đề pháp lý đặt ra là trình tự, thủ tục của biện pháp thương lượng, hòa giải, trọng tài, tòa án được thực hiện trên nền tảng Internet của ODR có khác biệt gì với thủ tục truyền thống hay không? Bởi lẽ, nếu pháp luật không quy định một cách cụ thể về trình tự, thủ tục của phương thức này thì kết quả GQTC có thể được xem là vô hiệu dẫn đến doanh nghiệp và người dân sẽ không thể tin tưởng để sử dụng ODR trong thực tiễn GQTC
Thứ tám, về vấn đề bảo mật cũng như an toàn thông tin của ODR Hiện nay,
pháp luật hiện hành chỉ ràng buộc thông qua quy định nghĩa vụ bảo mật của hòa giải viên theo quy định tại khoản 2 Điều 9 Nghị định 22/2017/NĐ-CP48, nghĩa vụ bảo mật đối với trọng tài viên được quy định tại khoản 5 Điều 21 Luật trọng tài thương mại 201049 Do đó, vấn đề pháp lý đặt ra là những thông tin nào cần được giữ bí mật khi áp dụng ODR, chế tài áp dụng khi có hành vi vi phạm để đảm bảo tính răn đe và thực thi với các hành vi xâm phạm, không tuân thủ nghĩa vụ bảo mật thông tin của ODR trong TMĐT
Thứ chín, về tính minh bạch trong trường hợp doanh nghiệp lẩn tránh trách
nhiệm giải quyết các tranh chấp bằng phương pháp trực tuyến với khách hàng Đây
là một phương thức GQTC mới nên biện pháp đảm bảo tính minh bạch cần được quy định cụ thể và rõ ràng để đảm bảo hiệu quả sử dụng cũng như bảo vệ quyền lợi của các bên tham gia tranh chấp trong quá trình giải quyết vụ việc
48 Hòa giải viên thương mại có nghĩa vụ: “Bảo vệ bí mật thông tin về vụ tranh chấp mà mình tham gia hòa giải, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận bằng văn bản hoặc theo quy định của pháp luật.”
49
Trọng tài viên có nghĩa vụ: “Giữ bí mật nội dung vụ tranh chấp mà mình giải quyết, trừ trường hợp phải cung cấp thông tin cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.”
Trang 40Thứ mười, về vấn đề thi hành kết quả GQTC thông qua ODR Đây là một
trong những vấn đề quan trọng nhất trong quá trình GQTC và được các bên tham gia quan tâm bởi lẽ nó ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi và nghĩa vụ của các bên sau khi kết thúc quá trình GQTC Trên thực tế, mô hình ODR này đang được các doanh nghiệp cung cấp nền tảng sàn TMĐT trên thế giới vận hành khá tốt với cơ chế đảm bảo thi hành hiệu quả thông qua cơ chế nhãn tín nhiệm50, hệ thống tiền ký quỹ51, yêu cầu người bán mua bảo hiểm cho việc tuân thủ quyết định GQTC và các chế tài với hành vi không tuân thủ như: (i) đình chỉ tên miền của người bán; (ii) Thiết lập và duy trì "danh sách đen người bán" và các trình duyệt đánh dấu đây là người bán rủi ro (ví dụ: chuyển đường dẫn website sang màu đỏ); (iii) Làm việc với nhà cung cấp dịch vụ thanh toán hoặc thu hộ để ngưng trả tiền; (iv) Áp dụng tiền phạt hoặc đình chỉ hoạt động một thời gian, thậm chí là truất tư cách thành viên của người bán không tuân thủ Tất cả những chế tài này được áp dụng cùng với hệ thống xếp hạng tín nhiệm và các cơ chế thực thi khác
Tại Việt Nam, với các phương thức GQTC ngoại tuyến, vấn đề thi hành kết quả GQTC được quy định tại Nghị định 22/2017/NĐ-CP, Luật trọng tài thương mại
2010 và BLTTDS 2015, song ở các văn bản này vẫn chưa đề cập đến phương thức ODR Do đó, vấn đề pháp lý đặt ra là cần một cơ sở pháp lý vững chắc về vấn đề thi hành kết quả GQTC thông qua ODR để đảm bảo quyền lợi của các bên
50 Nhãn tín nhiệm có thể được bán hoặc cấp bởi các nhà cung cấp ODR cho nền tảng TMĐT hoặc cho người bán hàng trực tuyến trên sàn TMĐT Với việc dán nhãn này, thương nhân cam kết khi tranh chấp xảy ra, họ
sẽ sử dụng ODR để GQTC và chịu ràng buộc bởi quyết định của ODR Nếu thương nhân không thi hành quyết định của ODR, các dấu tin cậy sẽ bị hủy
51 Khi các bên đồng ý tuân theo thẩm quyền của ODR, họ sẽ phải ký quỹ một số tiền nhất định cho nền tảng TMĐT Khi một bên thua kiện, nền tảng sẽ chuyển trực tiếp khoản tiền bồi thường từ tiền ký quỹ của bên thua kiện cho bên thắng kiện, số tiền dư còn lại sẽ được hoàn trả cho bên ký quỹ