1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghĩa vụ thuế của các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ kết nối tại việt nam

93 32 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 723,54 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

M ục đích, nhiệm vụ nghiên cứu Luận văn nghiên cứu đề tài hướng đến những mục đích sau: a Hiểu rõ cơ sở lý luận và nắm bắt được những quy định pháp luật trong lĩnh vực thuế mà Việt Nam

Trang 1

B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

NGHĨA VỤ THUẾ CỦA CÁC

TP H Ồ CHÍ MINH, 09 - 2020

Trang 2

NGHĨA VỤ THUẾ CỦA CÁC

Chuyên ngành: Lu ật Kinh tế

Mã s ố: 8380107

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn Thị Thủy

H ọc viên: Trần Linh Phương

L ớp: Cao học Luật Kinh tế Khóa: 25

TP H Ồ CHÍ MINH, 09-2020

Trang 3

L ỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của riêng tôi Các thông tin, số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn và có tính

kế thừa từ các công trình khoa học và các tài liệu liên quan khác

Thành ph ố Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2020

Tr ần Linh Phương

Trang 4

DANH M ỤC TỪ VIẾT TẮT

Hiệp định tránh đánh thuế hai lần Hiệp định

Trang 5

MỤC LỤC

PH ẦN MỞ ĐẦU 1

Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGHĨA VỤ THUẾ CỦA DOANH NGHI ỆP CUNG CẤP DỊCH VỤ KẾT NỐI TẠI VIỆT NAM 7

1.1 Khái ni ệm nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ kết nối tại Vi ệt Nam 7

1.1.1 Khái ni ệm doanh nghiệp cung cấp dịch vụ kết nối tại Việt Nam 7

1.1.2 Khái ni ệm nghĩa vụ thuế 13

1.2 Các y ếu tố nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ kết nối tại Vi ệt Nam 18

1.2.1 Đăng ký thuế 18

1.2.2 Khai thu ế và nộp hồ sơ thuế 20

1.2.3 N ộp tiền thuế 22

1.2.4 Quy ết toán thuế 23

1.3 Đặc trưng về nghĩa vụ thuế của các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ kết nối t ại Việt Nam 24

1.3.1 Đặc trưng về chủ thể nộp thuế 24

1.3.2 Đặc trưng về phương thức nộp thuế 32

1.4 Cơ sở hình thành nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ kết n ối tại Việt Nam 33

1.4.1 Th ẩm quyền thu thuế của Nhà nước đối với doanh nghiệp cung cấp d ịch vụ kết nối 33

1.4.2 S ự xuất hiện của các khoản thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp 36

K ẾT LUẬN CHƯƠNG 1 38

Trang 6

Chương 2 TH ỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ VIỆC THỰC HIỆN

NGHĨA VỤ THUẾ CỦA DOANH NGHIỆP CUNG CẤP DỊCH VỤ KẾT NỐI

T ẠI VIỆT NAM 39

2.1 Thu ế giá trị gia tăng 39

2.1.1 Quy định pháp luật 39

2.1.2 Th ực trạng áp dụng pháp luật 46

2.1.3 Ki ến nghị hoàn thiện pháp luật 51

2.2 Thu ế thu nhập doanh nghiệp 54

2.2.1 Quy định pháp luật 54

2.2.2 Th ực trạng áp dụng pháp luật: 66

2.2.3 Ki ến nghị hoàn thiện pháp luật 72

K ẾT LUẬN CHƯƠNG 2 77

K ẾT LUẬN CHUNG 78

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do ch ọn đề tài

Cho đến hiện nay có thể nói việc hòa vào dòng chảy hội nhập kinh tế quốc tế đã không còn quá xa lạ với Việt Nam Dù được đánh giá là một quốc gia đang phát triển dừng ở mức trung bình khá nhưng những năm qua nền kinh tế Việt Nam với những tăng trưởng và tiến bộ đáng kể của mình đã trở thành một điểm đến đầu tư thu hút trong khu vực và trên thế giới đối với các doanh nghiệp nước ngoài Sự xuất hiện phổ biến của những doanh nghiệp ngoại mang đến xu hướng kinh doanh mới Đó chính là kinh doanh dịch vụ kết nối, hay còn gọi là kinh tế chia sẻ

Tại Diễn đàn Cách mạng công nghiệp 4.0 do Bộ Công Thương tổ chức ngày 11/4/2017, “Kinh tế chia sẻ” nhìn chung được định nghĩa là “hoạt động tái thiết kinh tế, trong đó các cá nhân ẩn danh có thể sử dụng các tài sản nhàn rỗi (bao gồm cả các tài sản vô hình như kỹ năng cá nhân và thời gian rảnh rỗi) được sở hữu bởi các cá nhân khác thông qua nền tảng kết hợp trên internet” Hai cái tên điển hình khi nhắc đến kinh

tế chia sẻ đó là Airbnb và Uber Mô hình kinh tế chia sẻ hình thành tại Việt Nam bên cạnh các tên tuổi nước ngoài cũng xuất hiện không ít các doanh nghiệp khởi nghiệp trong nước thử sức sáng tạo Từ đây, các bên liên quan đã thẳng thắn nhìn nhận tiềm năng tích cực mà mô hình này mang lại cho kinh tế Việt Nam trong xu hướng phát triển mới của thế giới Dẫu vậy, ở khía cạnh khác, Việt Nam không tránh khỏi nhiều thách thức phát sinh, đặc biệt vấn đề quản lý nhà nước trong lĩnh vực thuế

Thu thuế đối với doanh nghiệp hoạt động ở vị thế trung gian, kết nối doanh nghiệp sản xuất và người tiêu dùng, thêm vào đó là loại hình kinh doanh trực tuyến trở thành bài toán quản lý gây bối rối cho chính quyền ở nhiều quốc gia và Việt Nam cũng không là ngoại lệ Tuy nhiên, vấn đề thực hiện quy trình quản lý chỉ khả thi một khi xác định được chính xác nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp bao gồm những gì theo quy định pháp luật thuế Việt Nam Chú trọng xác định phạm vi nghĩa vụ của chủ thể nộp thuế, làm rõ mối quan hệ giữa nhà nước với các doanh nghiệp theo tiêu chí tạo điều kiện cho các chủ thể kinh doanh phát huy được quyền tự do kinh doanh, làm động lực thúc đẩy kinh tế trong nước tiến bộ Như vậy, trên cơ sở các lý do kể trên tác giả cho

rằng việc chọn nghiên cứu đề tài “Nghĩa vụ thuế của các doanh nghiệp cung cấp dịch

Trang 8

vụ kết nối tại Việt Nam” là cần thiết và có ý nghĩa nhất định trong tiến trình hoàn thiện

khung pháp lý về công cụ thuế và đảm bảo tránh thất thu thuế trong thời đại khoa học – công nghệ thống lĩnh như hiện nay

2 Tình hình nghiên c ứu đề tài

Dưới góc độ pháp lý, các nghiên cứu có liên quan đến nội dung đề tài bao gồm:

Nghĩa vụ thuế thu nhập doanh nghiệp của tổ chức nước ngoài kinh doanh

t ại Việt Nam, Luận văn thạc sĩ, Nguyễn Thị Hoài Thu, ĐH Luật TP HCM,

năm 2015

Nội dung đề tài hướng đến xây dựng khung lý luận hình thành nên quy định pháp luật điều chỉnh nghĩa vụ thuế thu nhập doanh nghiệp của tổ chức nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam, tìm ra các lỗ hổng pháp lý trong pháp luật thực định nhằm kiến nghị sửa đổi hoàn thiện pháp luật điều chỉnh nghĩa vụ thuế thu nhập doanh nghiệp của

tổ chức nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam Cụ thể, đề tài xác định phạm vi nghiên

cứu là tổ chức nước ngoài là tổ chức có quốc tịch nước ngoài và không thuộc các trường hợp được quy định tại Luật đầu tư, Luật các tổ chức tín dụng, Luật Dầu khí

Luận văn giải quyết vấn đề trên nền tảng lý luận tổ chức nước ngoài kinh doanh tại

Việt Nam là một chủ thể đặc biệt Có nghĩa vụ nộp thuế tương tự các tổ chức mang

quốc tịch Việt Nam Tuy nhiên, do đặc thù về chủ thể nên pháp luật điều chỉnh nghĩa

vụ thuế của chủ thể này cần xây dựng trên nguyên tắc dung hòa lợi ích giữa Nhà nước

và người nộp thuế, nhận diện chính xác tổ chức nước ngoài có nghĩa vụ nộp thuế, xây

dựng quy định pháp luật đặc thù và xử lý trùng thuế trong quá trình điều tiết nghĩa vụ thuế Luận văn cũng đưa ra kiến nghị đề xuất hoàn thiện pháp luật bao gồm: xây dựng pháp luật minh bạch, nhất quán về khoản lợi ích là đối tượng chịu thuế; đảm bảo tính công bằng trong xác định việc tính thuế bằng cách ấn định tỷ lệ phần trăm trên doanh thu; quy định rõ ràng trách nhiệm khấu trừ thuế của bên Việt Nam; chỉnh sửa quy định

về người nộp thuế tại Luật Quản lý thuế và một số biện pháp bổ trợ khác

Phân tích tác động của nền kinh tế chia sẻ xe đến nền kinh tế Việt Nam và các đối tượng liên quan, Khóa luận tốt nghiệp, Đỗ Hoàng Vi Sinh, ĐH Luật TP

HCM, năm 2018

Trang 9

Khóa luận tốt nghiệp được phân thành 3 chương Trong đó, chương 1 trình bày

cơ sở lý luận về nền kinh tế chia sẻ; Chương 2 nêu thực trạng và xu hướng của nền kinh tế chia sẻ xe tại Việt Nam và Chương 3 đưa ra các kiến nghị giải pháp hỗ trợ công tác quản lý nền kinh tế chia sẻ xe tại Việt Nam Khóa luận thể hiện kiến thức lý luận chung nhất về nền kinh tế chia sẻ trên thế giới dẫn dắt đến tình hình tại Việt Nam Trong đó chú trọng hai nền tảng kinh doanh nổi bật là Grab và Uber tại thời điểm trước năm 2018 Sau đó, từ thực trạng đi đến kiến nghị trên nhiều phương diện như xác định danh nghĩa chủ thể kinh doanh, khía cạnh cạnh tranh, thị trường lao động…Với kết quả đạt được, khóa luận được xem là công trình nghiên cứu bước đầu khái quát về nền tảng kinh tế chia sẻ xe ở góc độ học thuật pháp lý

Dưới góc độ kinh tế, các nghiên cứu có liên quan đến nội dung đề tài bao gồm:

• Tr ốn thuế thương mại điện tử: Nhận diện các hành vi và giải pháp xử lý,

vi trốn thuế trong thương mại điện tử như là không đăng ký kinh doanh/ đăng ký nộp thuế; không kê khai hoặc kê khai thấp giá trị giao dịch/ thu nhập để trốn thuế Tác giả bài viết đề xuất một số giải pháp xử lý như lập ra một đội giám sát, định kỳ rà soát các website, xây dựng một hệ thống dò tìm tự động trên mạng internet để thu thập dữ liệu

từ các trạng điện tử giúp nhận diện, phân tích hành vi trốn thuế trong kinh doanh thương mại điện tử

Các công trình nghiên cứu đã tiếp cận vấn đề thuế ở nhiều khía cạnh, mức độ nghiên cứu chuyên sâu khác nhau và đạt được những kết quả nhất định về vấn đề cần

giải quyết Tuy nhiên, cho đến hiện nay, các loại hình kinh doanh phi truyền thống ra đời và phát triển nhanh chóng đòi hỏi pháp luật điều chỉnh nghĩa vụ thuế của chủ thể kinh doanh ấy tại Việt Nam cần có sự thay đổi tương thích Trước tình hình đó, để góp

phần hình thành thêm một nghiên cứu chuyên sâu và tiếp nối các nghiên cứu trước đó,

Trang 10

luận văn của tác giả tập trung nghiên cứu một phần trong nghĩa vụ thuế của chủ thể kinh doanh nói chung nhưng bổ sung ở một góc độ khác, đó là nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ kết nối tại Việt Nam trong nền kinh tế chia sẻ Trên nền tảng

kiến thức từ những nghiên cứu đã qua, luận văn kế thừa (i) cơ sở lý luận khái quát về

nền kinh tế chia sẻ, (ii) xác định nghĩa vụ thuế thu nhập doanh nghiệp đối với chủ thể

tổ chức nước ngoài để chú trọng khai thác chủ thể doanh nghiệp nước ngoài trong nền kinh tế chia sẻ Thêm vào đó, cập nhật các văn bản quy định mới và thực tế hiện nay để

có những kiến nghị phù hợp, tăng tính khả thi trong hoạt động của cơ quan thuế cũng như tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp khi thực hiện nghĩa vụ thuế của mình

3 M ục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu đề tài hướng đến những mục đích sau:

a) Hiểu rõ cơ sở lý luận và nắm bắt được những quy định pháp luật trong lĩnh vực thuế mà Việt Nam hiện có điều chỉnh hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ kết nối, từ đó xác định chính xác nghĩa vụ thuế của chủ thể kinh doanh này

b) Khảo sát thực tiễn hiệu quả pháp luật thuế trong việc kiểm soát, quản lý hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp có nghĩa vụ nộp thuế tại Việt Nam

c) Phát hiện hạn chế của luật thực định từ góc độ lý luận và thực tiễn để đưa ra những kiến nghị cần thiết trên nền tảng có học hỏi kinh nghiệm nước ngoài để hoàn thiện pháp luật điều chỉnh, phát huy tốt vai trò định hướng kinh tế của Nhà nước thông qua công cụ thuế

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

a) Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là nghĩa vụ thuế của các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ kết nối tại Việt Nam, bao gồm hai loại thuế chính là thuế Giá trị gia tăng và thuế Thu nhập doanh nghiệp

b) Phạm vi nghiên cứu

Trong thời đại tiến bộ khoa học công nghệ mở đường cho kinh tế không ngừng đổi mới và phát triển, hoạt động kinh doanh của các chủ thể kinh doanh là doanh nghiệp cung cấp dịch vụ kết nối thực hiện tại Việt Nam ngày càng đa dạng cả về cách

Trang 11

thức và phương pháp Tuy nhiên, trong phạm vi luận văn, tác giả tập trung nghiên cứu trong hai giới hạn sau:

Một, luận văn giới hạn thuật ngữ doanh nghiệp cung cấp dịch vụ kết nối là những doanh nghiệp tham gia vào nền kinh tế chia sẻ, đóng vai trò liên kết bên cung cấp hàng hóa, dịch vụ và người tiêu dùng bằng phương tiện điện tử (ứng dụng nền tảng công nghệ trực tuyến)

Hai, luận văn giới hạn nghiên cứu về mặt luật nội dung, cụ thể nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp bao gồm 02 loại thuế điều chỉnh trực tiếp là thuế giá trị gia tăng và thuế thu

nhập doanh nghiệp

5 Phương pháp nghiên cứu

Với mục đích mà luận văn đã đề ra, tác giả vận dụng nhiều phương pháp nhằm triển khai cụ thể từng nội dung của đề tài Cụ thể:

Chương 1: Vấn đề lý luận chung

+ Phương pháp phân tích diễn giải tổng hợp: để hiểu đúng, chi tiết các vấn đề liên quan đến quy định pháp luật thuế như khái niệm, đặc trưng, cơ sở hình thành nghĩa

vụ thuế… của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ kết nối tại Việt Nam, luận văn thực hiện việc bình luận khoa học các quy định pháp luật, giải thích, diễn giải quy định, phân tích xuyên suốt lịch sử quy định luật, các trường hợp áp dụng luật… Thêm vào đó, tìm hiểu

dự thảo văn bản luật (nếu có), hồ sơ, báo cáo, thống kê số liệu của các cơ quan liên quan như cơ quan thuế, sở ban ngành… sau đó đi đến tổng hợp các phân tích nhằm đưa

ra kết luận cho từng vấn đề cụ thể cũng như kết luận chung cho nội dung lý luận về nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ kết nối tại Việt Nam

+ Phương pháp so sánh: Phương pháp này được sử dụng trong chương 1 trước hết trong việc so sánh cách quy định của pháp luật thuế với điều ước quốc tế, một số ngành luật khác khi quy định về cùng một vấn đề So sánh mang tính duy vật lịch sử giữa quy định pháp luật thuế hiện hành dành cho doanh nghiêp cung cấp dịch vụ kết nối tại Việt Nam với những quy định đã từng có trên cơ sở mối tương quan giữa các yếu tố tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của thời đại Đồng thời cho thấy xu hướng điều chỉnh, thay đổi pháp luật thuế Việt Nam khi so sánh với quy định thuế của các

Trang 12

quốc gia khác trên thế giới nhằm giải quyết vấn nạn trốn thuế, gây thất thu thuế cho ngân sách và bất công xã hội

Chương 2: Thực trạng áp dụng pháp luật về việc thực hiện nghĩa vụ thuế và kiến nghị giải pháp

+ Phương pháp khảo sát và phân tích số liệu: Nhằm đảm bảo tính định lượng cũng như có mức độ khách quan nhất định, luận văn vận dụng phương pháp này để khai thác, đánh giá các số liệu, thông tin thu thập được từ những văn bản, báo cáo các cấp của các cơ quan chức năng có liên quan như cơ quan thuế, công thương tại Việt Nam và từ các website đăng tải thông tin chính thống của các tổ chức nước ngoài và quốc tế

+ Phương pháp kinh tế học: Luận văn nghiên cứu pháp luật về nghĩa vụ thuế xem xét dưới cái nhìn và sự trợ giúp của các quan điểm kinh tế, đặc biệt là quan điểm giải thích nền kinh tế chia sẻ Qua đó, nghiên cứu quy định pháp luật dưới khía cạnh lợi ích kinh tế, xã hội góp phần kiến nghị giải pháp điều chỉnh luật phù hợp đảm bảo dung hòa tốt nhất lợi ích của các bên

6 B ố cục luận văn

Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn được chia làm 02 chương:

Chương 1 Khái quát chung về nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp cung cấp dịch

vụ kết nối tại Việt Nam

Chương 2 Thực trạng áp dụng pháp luật về việc thực hiện nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ kết nối tại Việt Nam

Trang 13

Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGHĨA VỤ THUẾ CỦA DOANH NGHIỆP CUNG

CẤP DỊCH VỤ KẾT NỐI TẠI VIỆT NAM

Nam

Vì mục tiêu phát triển và hội nhập sâu rộng vào kinh tế toàn cầu, trong những năm qua, Việt Nam đã tiến hành ký kết nhiều Hiệp định thương mại tự do với các đối tác trên thế giới ở nhiều cấp độ, thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài rất lớn vào nước

ta Thêm vào đó, xu hướng Cách mạng công nghiệp 4.0 cũng làm xuất hiện ngày càng nhiều các chủ thể kinh doanh tham gia vào những lĩnh vực mới nổi như kinh tế kỹ thuật số, trí thông minh nhân tạo (AI), công nghệ tài chính (Fintech), công nghệ thực tế

ảo (VR) Theo đó, lĩnh vực nhận được sự quan tâm nhiều nhất không chỉ từ các chủ doanh nghiệp, người tiêu dùng mà từ cả Chính phủ các nước đó là kinh tế kỹ thuật số Trong số đó, nổi bật có KTCS (dựa trên nền tảng công nghệ)

Có thể nói, dù đã xuất hiện khá lâu, từ vài thập niên trước, nhưng đến nay, mô hình KTCS mới thật sự tạo nên bước đột phá nhờ sự hỗ trợ tích cực của các thành tựu khoa học công nghệ Có mầm mống từ một hình thái không rõ ràng ban đầu là tổ chức chia sẻ tài nguyên mang tính chất ngang hàng tại Mỹ vào những năm 90s, chủ nghĩa tiêu dùng cộng tác đã dần chiếm ưu thế, thay cho chủ nghĩa tiêu dùng sở hữu trước đó trong người dân, nhanh chóng phát triển thành mô hình KTCS, đặc biệt là với sự hỗ trợ của nền tảng công nghệ số hiện đại ngày nay Trong đó, những chủ thể kinh doanh, là

tổ chức, hoạt động trong lĩnh vực này được xem là các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ kết nối Do sự nở rộ nhanh chóng và ngày càng phổ biến của loại hình doanh nghiệp này tại Việt Nam đặt ra yêu cầu cần làm rõ nội hàm khái niệm liên quan, đáp ứng mục tiêu xây dựng quy chế đối xử phù hợp với chúng

Nhìn chung, KTCS có nhiều tên gọi khác nhau như kinh tế hợp tác, tiêu dùng cộng tác, kinh tế ngang hàng, kinh tế truy cập hay kinh tế tiếp cận qua các ứng dụng di

Trang 14

động…1 Theo đó, khái niệm này cũng được lý giải bằng nhiều cách Theo thông tin của Ủy ban châu Âu, kinh tế chia sẻ, mà theo họ gọi là “kinh tế hợp tác”, đề cập đến các mô hình kinh doanh nơi các hoạt động được tạo điều kiện bởi các nền tảng cộng tác tạo ra thị trường mở cho việc sử dụng tạm thời hàng hóa hoặc dịch vụ thường được cung cấp bởi tư nhân, cá nhân, là giao dịch hợp tác kinh tế thường không bao gồm thay đổi quyền sở hữu và có thể vì lợi nhuận cũng như phi lợi nhuận Được quy định bao gồm: (1) Nhà cung cấp dịch vụ chia sẻ tài sản, tài nguyên, thời gian và/hoặc kỹ năng; (2) Người dùng của các dịch vụ này; 3 Nền tảng cộng tác Theo Nghị quyết của Nghị viện châu Âu năm 2015: “nền kinh tế chia sẻ” hoặc “tiêu dùng hợp tác” là một mô hình kinh tế xã hội mới đã diễn ra nhờ một cuộc cách mạng công nghệ, với internet kết nối mọi người thông qua các nền tảng trực tuyến được tiến hành một cách an toàn và minh bạch

Theo Báo cáo giới thiệu “Một số vấn đề về kinh tế chia sẻ” của Vụ Kinh tế Tổng hợp – Ban Kinh tế Trung ương, “kinh tế chia sẻ” là một mô hình thị trường kết hợp giữa sở hữu và chia sẻ, trong đó đề cập đến vai trò ngang hàng (peer-to-peer network) dựa trên sự chia sẻ quyền sử dụng hàng hóa và dịch vụ nhằm gia tăng lợi ích cho các bên tham gia

Ngoài ra, còn rất nhiều khái niệm về mô hình KTCS do các cơ quan, tổ chức, các nhà nghiên cứu đưa ra mà trên đây chỉ là một vài ý kiến trong số đó Tại Việt Nam, dựa vào đặc điểm của các doanh nghiệp hoạt động theo mô hình KTCS có thể kết luận bản chất của mô hình KTCS như sau: là một hình thức kinh doanh mới của trao đổi ngang hàng, tận dụng lợi thế của phát triển công nghệ số, giúp tiết kiệm chi phí giao dịch và tiếp cận một số lượng lớn khách hàng thông qua không gian mạng

Thực tế ở các quốc gia rất nhiều lĩnh vực kinh doanh của KTCS đã xuất hiện và đang hoạt động trên thị trường yếu tố (vốn, lao động) và trên thị trường sản phẩm (hàng hóa và dịch vụ), mang lại lợi nhuận khổng lồ và cho thấy sức ảnh hưởng quan trọng đến kinh tế toàn cầu Nổi bật có thể kể đến 5 nhóm ngành nghề: Dịch vụ vận tải;

1 Xem thêm: Nguy ễn Mạnh Hải, Nguyễn Hoàng Anh (2018), “Lợi ích của mô hình kinh tế chia sẻ và những thách thức cho nhà quản lý”, Tạp chí Tài chính, số 692, trang 11 – 14

Trang 15

Dịch vụ du lịch và khách sạn; Dịch vụ bán lẻ; Dịch vụ lao động và việc làm; Dịch vụ tài chính

Theo các ấn bản từ điển, “doanh nghiệp” nhìn chung được hiểu là “tổ chức hoạt động kinh doanh của những chủ sở hữu có tư cách pháp nhân, nhằm mục đích kiếm lời

ở một hoặc nhiều ngành”2 hoặc “một công ty hoặc nhóm người với mục đích cụ thể, hoặc một nhóm được vận hành bởi sự chủ động và có định hướng, hợp tác với nhau hoặc không, được tổ chức để tiến hành hoạt động kinh doanh”3

Trong lĩnh vực luật học, doanh nghiệp là một thuật ngữ được quy định tại Khoản 7 Điều 4 Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13: “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh” Khác với một khái niệm thông dụng như “tổ chức” hay sở hữu nội hàm chặt chẽ như “pháp nhân”, ngoài những văn bản luật chuyên ngành trực tiếp quy định thì nhìn chung khái niệm “doanh nghiệp” vẫn chỉ xuất hiện hạn chế trong các văn bản luật có phạm vi phổ quát và bao trùm khác

Cụ thể trong lĩnh vực pháp luật thuế, rõ ràng thuật ngữ “doanh nghiệp” không được sử dụng phổ biến như thuật ngữ “tổ chức” Chẳng hạn trong Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp số 14/2008/QH12 (sửa đổi, bổ sung 2013, 2014) tại Khoản 1 Điều 2 định nghĩa Người nộp thuế thu nhập doanh nghiệp là tổ chức hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có thu nhập chịu thuế theo quy định của Luật (sau đây gọi là doanh nghiệp) gồm doanh nghiệp, tổ chức, đơn vị sự nghiệp… cho thấy không như tên gọi, đối tượng nộp thuế theo Luật này bao hàm các tổ chức nói chung Hay như Luật Thuế GTGT 2008 (sửa đổi, bổ sung 2016), Nghị định 139/2016/NĐ-CP quy định về lệ phí môn bài đều khẳng định người nộp là “tổ chức” sản xuất, kinh doanh, nhập khẩu Việc quy định “tổ chức” thay vì “doanh nghiệp” là phù hợp vì xét về bản chất thuế đánh vào hành vi cụ thể của người nộp thuế Qua đó cho thấy, khía cạnh tiếp cận phạm trù

“doanh nghiệp” ngay trong các văn bản pháp luật về thuế chỉ dừng lại ở mức độ là một trong các chủ thể được liệt kê có nghĩa vụ thực hiện hành vi nộp thuế đó và liên hệ với khái niệm đã được quy định trong Luật Doanh nghiệp

2 Đại từ điển Tiếng Việt, Nguyễn Như Ý chủ biên, NXB Văn hóa – Thông tin, năm 1999

3 Theo The Law Dictionary - Featuring Black's Law Dictionary Free Online Legal Dictionary 2nd Ed

Trang 16

Như đã lý giải từ đầu, tới thời điểm giữa năm 2020 vì cơ sở pháp lý cho loại hình chủ thể này cũng như đối với nền KTCS nói chung tại Việt Nam vẫn đang được nghiên cứu hoàn thiện, do đó dù thực tế có phát triển như thế nào thì tính hợp pháp trong hoạt động của chúng vẫn chưa được đảm bảo Vì vậy, trong phần viết này tác giả chỉ dừng lại ở việc định danh dựa trên cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn, đối với cơ sở pháp lý thì sẽ cập nhật theo tiến trình vấn đề được luật hóa

Về xu hướng KTCS, có thể nói doanh nghiệp cung cấp dịch vụ kết nối là một phần không thể thiếu tham gia vào chuỗi hoạt động kinh tế ấy Thực tế, ở Việt Nam tên gọi “Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ kết nối” chưa là tên gọi chính thức Bởi lẽ còn nhiều ý kiến của các nhà nghiên cứu xoay quanh chủ thể này mà đa phần chỉ tiếp cận ở một lĩnh vực ngành nghề nhất định, chỉ ra một doanh nghiệp cụ thể để hình dung ra tất

cả chứ chưa khái quát thành một thuật ngữ pháp lý nhất quán để gọi tên loại hình doanh nghiệp như thế nói chung

Trong số đó, ý kiến được đa số học giả, nhà nghiên cứu đồng tình đó là xem loại hình doanh nghiệp này là doanh nghiệp môi giới, thực hiện hoạt động kết nối chủ thể được môi giới (nhà sản xuất, người sở hữu…) với người tiêu dùng Bắt nguồn từ hoạt động môi giới thương mại trên thị trường theo cách thức mới – được thực hiện thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu – còn gọi là hoạt động môi giới thương mại điện tử, các doanh nghiệp đóng vai trò kết nối giữa người có nhu cầu

sử dụng và những người có nhu cầu cho sử dụng các tài sản sẵn có của mình (như phương tiện đi lại, nhà, phòng ở, tài sản vô hình…)4 Đồng quan điểm, Ths Mai Hương Giang cho rằng chủ thể cung cấp dịch vụ kinh tế chia sẻ đóng vai trò như một nhà môi giới giữa người cung cấp dịch vụ truyền thống với người có nhu cầu sử dụng dịch vụ Đồng thời khẳng định những chủ thể đó không kinh doanh công nghệ, chỉ dựa vào công nghệ để làm dịch vụ môi giới trên cơ sở sáng tạo từ rất nhiều các dịch vụ khác nhau5

4 Nguy ễn Ngọc Anh (2017), “Một số vấn đề pháp lý về môi giới thương mại điện tử trong xu hướng “kinh tế chia

sẻ”, Tạp chí Dân chủ & Pháp luật, số 5 (302), trang 39-43

5Mai Hương Giang (2015), “Một số mô hình của nền kinh tế chia sẻ và vấn đề đặt ra đối với nhà quản lý”, Tạp chí Ngân hàng, số 5, trang 48

Trang 17

Về thực tiễn, nền KTCS là một biểu hiện của việc áp dụng công nghệ nhằm giảm sự lãng phí trong tiêu dùng, hướng tới cộng đồng, thành phố thông minh khi tài nguyên được dùng một cách hiệu quả Trong đó, cơ bản có một số mô hình như:

(1) mạng lưới Product service - cung cấp dịch vụ thay cho sở hữu sản phẩm: sản phẩm chuyển thành dịch vụ, sở hữu thành cho thuê, bán một lần chuyển thành cho thuê theo mức sử dụng (Uber, Grab, Gojek…);

(2) chợ tái phân phối nguồn lực: sản phẩm, vật dụng từ nơi nó không được cần sang nơi nó được cần hơn (ebay, Chợ tốt, Craigslist, Dobodi…);

(3) lối sống hợp tác: nền tảng giúp chia sẻ và trao đổi những tài sản như thời gian,

kĩ năng, vốn, kinh nghiệm… (Airbnb, TaskRabbit, Jupviec.com…)

Cụ thể, đối với mô hình (1), doanh nghiệp đại diện có thể kể đến là Công ty Lift, Uber tại Mỹ và Grab, Go-Viet (hiện tại đổi thành Gojek) tại Việt Nam: là các công ty cung cấp các ứng dụng gọi xe kết nối giữa các tài xế với hành khách, tận dụng nguồn tài nguyên nhàn rỗi là xe chưa sử dụng hoặc sử dụng chưa hết công suất và người lao động không kiếm được việc làm trong xã hội Các giao dịch được thực hiện trên điện thoại thông minh (smartphone) dưới dạng ứng dụng giúp kết nối người cần di chuyển

và tài xế Theo đó, người có nhu cầu đi xe đăng ký hành trình trên ứng dụng, hệ thống của công ty sẽ kết nối thông báo với một chủ xe gần đó và phản hồi cho khách biết về

lộ phí, đặc điểm thông tin tài xế và chiếc xe sắp đến Ứng dụng cung cấp bản đồ vị trí của xe để hai bên chủ động trong vấn đề thời gian và di chuyển Khi sử dụng ứng dụng khách hàng thanh toán bằng thẻ tín dụng cá nhân hoặc bằng tiền mặt với số tiền thanh toán do công ty đã tính và thông báo Thông thường công ty hưởng 20%, chủ xe hưởng 80% trên cước phí của mỗi chuyến

Doanh nghiệp điển hình cho mô hình (2) chính là các công ty Ebay, Craigslist ở

Mỹ và Chợ Tốt ở Việt Nam: là những website mua sắm, đấu giá sản phẩm hoặc rao vặt trực tuyến, kết nối người mua với người bán với nhau bằng những giao dịch cực kì đơn giản Nhờ sở hữu nguồn hàng lớn và đa dạng, các website giúp người tham gia có thể

dễ dàng mua bán, trao đổi bất cứ một loại mặt hàng nào, dù đó là đồ cũ hay đồ mới, tiết kiệm thời gian mà vẫn thỏa mãn mọi nhu cầu của đời sống

Sau cùng, đối với mô hình (3), có rất nhiều doanh nghiệp được thành lập ở những lĩnh vực khác nhau theo mô hình này, ví dụ như Airbnb, TaskRabbit… Cụ thể,

Trang 18

hoạt động như một mạng xã hội, Airbnb là mô hình tận dụng nguồn tài nguyên đang

dư thừa là những căn phòng và nhà ở không dùng đến của người bản xứ, chia sẻ cho người đi du lịch hoặc cho sinh viên thuê Airbnb tìm kiếm những người sẵn sàng cho thuê nhà và khách du lịch có nhu cầu để kết nối họ với nhau Sau khi giao dịch người thuê và người cho thuê có thể đánh giá lẫn nhau trên ứng dụng

Là một nền tảng khởi nguồn từ sáng tạo của doanh nghiệp Việt, Jupviec.vn cho phép người dùng sử dụng các ứng dụng di động của Công ty hoặc các trang web được Công ty cung cấp như một phần của Dịch vụ (“Ứng dụng”) để kết nối khách hàng có nhu cầu với một nhà cung cấp cá nhân sẵn sàng thực hiện dịch vụ giúp việc gia đình theo thỏa thuận Khách hàng công nhận rằng Khách hàng sử dụng Ứng dụng để tìm kiếm và kết nối với mỗi đối tác giúp việc để thực hiện công việc từng lần hoặc từng buổi, và với mỗi lần kết nối Khách hàng có quyền lựa chọn các đối tác giúp việc khác nhau tại các thời điểm khác nhau tùy theo nhu cầu và quyết định riêng để thực hiện dịch vụ giúp việc Do đó, việc cung cấp dịch vụ giúp việc không phải là việc làm thường xuyên các công việc gia đình theo quy định tại Bộ Luật Lao động và Nghị định hướng dẫn về lao động là người giúp việc gia đình Công ty là một doanh nghiệp cung cấp dịch vụ công nghệ và không cung cấp dịch vụ việc làm, không có chức năng của doanh nghiệp hoạt động dịch vụ việc làm

Xét đến Công ty cung ứng giải pháp Fintech, tính đến năm 2020, Việt Nam có khoảng hơn 150 công ty Fintech đang hoạt động với các loại hình dịch vụ khác nhau6như Định danh khách hàng điện tử (e-KYC), giao diện lập trình ứng dụng mở (Open API), cho vay ngang hàng (P2P Lending), thanh toán liên kết chuỗi khối (Blockchain)… Tất cả được dự báo sẽ càng phát triển mạnh mẽ về số lượng và chất lượng dịch vụ Trong đó, mô hình cho vay ngang hàng (Peer-to-peer lending; P2P lending) Điển hình như các công ty LendingClub (Mỹ), Zopa và RateSetter (Anh), Tima, Lendbiz (Việt Nam)… Là mô hình mà trong đó những nhà đầu tư tự do thông qua ứng dụng kết nối với cá nhân/ doanh nghiệp trong cộng đồng, thực hiện cho vay

vốn ở những định mức khác nhau, không thông qua trung gian là ngân hàng

6 Xem thêm: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2020), Báo cáo đánh giá tác động của chính sách v/v xây dựng Ngh ị định về Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát hoạt động công nghệ tài chính trong lĩnh vực ngân hàng (dự thảo),

trang 13

Trang 19

Trên đây chỉ là số ít những doanh nghiệp được liệt kê trong số rất nhiều doanh nghiệp trên thị trường đang hoạt động theo mô hình KTCS Họ đã đạt được những thành tựu hết sức đáng kể tại chính thị trường bản địa cũng như trong phạm vi lĩnh vực đang hoạt động

Nói tóm lại, có rất nhiều lĩnh vực có thể khai thác thông qua nền tảng số để trở thành một phần của mô hình KTCS, ở đó những ngành nghề truyền thống mang một

diện mạo mới, một phương thức tồn tại mới đáp ứng nhu cầu rẻ, nhanh, tiện lợi cho người tiêu dùng Trong đó sự xuất hiện của bên thứ ba trung gian (so với Hợp đồng hai bên thông thường) - ứng dụng nền tảng số - có tính chất quyết định Do vậy, dù tên gọi khác nhau như thế nào thì kiểu doanh nghiệp, công ty nêu trên, về bản chất, chính là doanh nghiệp cung cấp những ứng dụng số trên điện thoại, máy tính giúp kết nối

những người sở hữu và người sử dụng Từ đây, trong bài viết này sẽ gọi những chủ thể

đó là doanh nghiệp cung cấp dịch vụ kết nối

Như tính chất chung của các loại nghĩa vụ công dân đối với Nhà nước, nghĩa vụ thuế là nhóm nghĩa vụ mang tính hành chính, cưỡng chế Nguồn gốc cơ sở phát sinh nghĩa vụ thuế không xuất phát từ thỏa thuận bình đẳng mà là do luật định Theo pháp luật thuế, nghĩa vụ của người nộp thuế được ghi nhận dưới hai góc độ:

Một, với tư cách là một công dân, một tổ chức, doanh nghiệp trong quan hệ ngân sách nhà nước

Hai, với tư cách là chủ thể thực hiện một hoặc hàng loạt hành vi ở nhiều giai đoạn khác nhau để hướng đến mục tiêu cuối cùng là nộp thuế vào ngân sách nhà nước7

Theo đó, Luật quản lý thuế 2019 được thông qua ngày 13/6/2019, có hiệu lực ngày 01/7/2020 tại Điều 17, quy định liệt kê 13 nghĩa vụ của người nộp thuế đối với Nhà nước Theo đó, quy định các nghĩa vụ cơ bản người nộp thuế phải tuân thủ nhằm đảm bảo quyền thu thuế và chức năng quản lý thuế của Nhà nước, có thể kể đến một số nội dung như đăng ký thuế đúng quy định, khai thuế chính xác, đủ và đúng, nộp tiền

7 Trường Đại học Luật TP.HCM (2018), Giáo trình Luật thuế (tái bản có bổ sung), TS Nguyễn Thị Thủy (chủ

biên), NXB H ồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, trang 73

Trang 20

thuế, tiền phạt đúng thời hạn, có chế độ kế toán, thống kê, hóa đơn chứng từ đúng quy định, ghi nhận và cung cấp thông tin hoạt động phát sinh xác định nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp…và các nghĩa vụ theo các quy định chi tiết khác

Có thể nói, Điều 17 Luật Quản lý thuế 2019 là quy định tập trung nhất có nội dung về nghĩa vụ của người nộp thuế Không như quy định cụ thể trong từng sắc thuế độc lập, nghĩa vụ thuế của người nộp thuế tại Luật quản lý thuế là những gì chung nhất,

cơ bản nhất, có tính bắt buộc bao quát đối với mọi chủ thể là người nộp thuế

Với nhiều sửa đổi, bổ sung trong nội dung văn bản luật nói chung và quy định

về trách nhiệm người nộp thuế nói riêng, so với nội dung tương ứng ở Điều 7 Luật quản lý thuế 2006, có thể nói Luật quản lý thuế 2019 đã có bước tiến bộ đáng kể Trong đó đáp ứng thực tế về cập nhật vấn đề ứng dụng công nghệ thông tin trong thực hiện nghĩa vụ thuế, phù hợp với sự tiến bộ nhanh chóng của khoa học – công nghệ cũng như tạo thuận lợi về nhiều mặt cho người nộp thuế Đồng thời quy định cũng lưu

ý về “các bên liên kết cư trú tại các quốc gia, vùng lãnh thổ ngoài Việt Nam” cũng phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thuế thông qua người nộp thuế hiện diện tại Việt Nam Từ

đó, cho thấy sự quan tâm cao độ hơn đến nghĩa vụ tuân thủ các quy định của về thuế nhà thầu đối với các chủ thể kinh doanh không hiện diện thương mại tại Việt Nam

Như vậy, đối với các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ kết nối, trước khi được xem là một chủ thể trong nền KTCS được yêu cầu quản lý thuế đặc biệt, đã là một chủ thể thuộc phạm vi người nộp thuế theo Luật quản lý thuế Do đó, việc tuân thủ quy định về nghĩa vụ của người nộp thuế là đương nhiên và bắt buộc, nhằm đảm bảo mục tiêu quản lý thuế xuyên suốt và ổn định của cơ quan Nhà nước Cho đến thời điểm hết năm 2019, theo Quyết định số 999/QĐ-TTg ngày 12/8/2019 về phê duyệt đề án thúc đẩy mô hình kinh tế chia sẻ, tại Kế hoạch triển khai thực hiện nhiệm vụ đề án thúc đẩy

mô hình kinh tế chia sẻ (ban hành kèm theo Quyết định 999/2019), Thủ tướng giao nhiệm vụ cho Bộ Tài chính xây dựng các văn bản hướng dẫn thi hành luật quản lý thuế,

đề án về cơ chế chia sẻ thông tin, dữ liệu giữa các cơ quan quản lý nhà nước với cơ quan quản lý thuế đáp ứng yêu cầu quản lý thuế đối với hoạt động kinh tế chia sẻ Đối với những văn bản nêu trên Bộ Tài chính có trách nhiệm trình Chính phủ và Thủ tướng vào thời điểm năm 2020 – 2022

Trang 21

Đối với nhiều quốc gia trên thế giới, việc quy định rõ ràng, minh bạch nghĩa vụ thuế đối với các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ kết nối cũng gặp nhiều khó khăn Đặc biệt khi việc định danh hoạt động dịch vụ của doanh nghiệp chưa rõ ràng, thống nhất, còn các doanh nghiệp thì đã sớm lợi dụng kẽ hở của pháp luật để thực hiện hành vi trốn thuế hết sức tinh vi

Điển hình là vụ việc ngày 20/12/2017, trên cơ sở yêu cầu của Tòa án thành phố Barcelona, Tây Ban Nha về giải thích bản chất của dịch vụ kết nối vận chuyển hành khách của Uber, Tòa án Công lý châu Âu (ECJ) đã ra phán quyết giải thích đó là dịch

vụ vận tải (hay chính xác hơn là dịch vụ vốn gắn liền với dịch vụ vận tải) thuộc lĩnh vực vận tải hành khách thông thường của các nước châu Âu, chứ không phải chỉ là một dịch vụ trung gian kết nối người có xe và người cần đi xe Có nghĩa từ nay các nước châu Âu có thể vận dụng luật của nước mình để áp dụng cho Uber như là công ty kinh doanh tại nước sở tại, đóng thuế cho nước sở tại, không được sử dụng các lái xe không

có giấy phép vận tải hành khách Kết luận này có thể xem là một kinh nghiệm tham khảo đối với các quốc gia khác, nơi cho phép Uber hoạt động8

Tại Việt Nam, khi còn hoạt động, Uber - ứng dụng chia sẻ xe nổi tiếng của Mỹ - tuy vì đặc trưng quốc gia mà vận hành với một số khác biệt so với khu vực châu Âu, nhưng quan hệ vận tải (Uber – chủ xe/tài xế - hành khách) và cách thức áp dụng phần mềm công nghệ là giống nhau Dịch vụ trung gian Uber phải được xem là một phần không thể thiếu của toàn bộ dịch vụ mà phần chính là dịch vụ vận tải9 Trong đó, hành

vi kinh doanh dịch vụ cung cấp ứng dụng kết nối của Uber là không thay đổi dù ở thời điểm, hoàn cảnh nào Cách thức của Uber là khách hàng kết nối tài khoản ngân hàng của mình với ứng dụng gọi xe, thanh toán giá mỗi chuyến đi bằng cách chuyển tiền đến tài khoản của Uber, khi hoàn tất vận chuyển Uber trả cho tài xế khoản tiền công sau khi

đã trừ chiết khấu Thông thường tỷ lệ % phân chia thu nhập giữa Uber – Tài xế là 20 –

80 Qua đây có thể thấy xét về bản chất, chính hành vi kinh doanh, thu phần trăm hoa hồng dẫn đến phát sinh thu nhập tại Việt Nam là đối tượng chịu thuế Hệ quả Uber phải

8 Xem thêm: Judgment of the Court, 20/9/2017, Associacion Profesional Elite Taxi – Uber Systems Spain SL

9Dư Ngọc Bích (20418), “Phán quyết của Tòa Công lý Châu Âu về dịch vụ Uber: Liên hệ với Việt Nam”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 4, trang 77-84

Trang 22

nộp thuế cho NSNN tính trên phần trăm thu nhập theo quy định của pháp luật thuế Việt Nam

Trong bản án sơ thẩm số 1910/2018/KDTM-ST ngày 28/12/2018 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về việc “Tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” giữa Công ty Cổ phần Ánh Dương Việt Nam (Vinasun) và Công ty TNHH GRAB, Hội đồng xét xử nhận định căn cứ vào cơ sở pháp lý (ngành nghề đăng ký kinh doanh tại Giấy chứng nhận ĐKKD) và thực tiễn hoạt động điều hành của “Grab” xác định hoạt động mà “Grab” đã và đang thực hiện là hoạt động kinh doanh vận tải taxi

Cụ thể, Grab đã trực tiếp kinh doanh, trực tiếp điều hành xe, chỉ định tài xế đón khách, quyết định giá bán, điều chỉnh tăng/ giảm giá bán, tổ chức thực hiện các chương trình khuyến mãi cho khách hàng sử dụng các loại hình của Grab (như GrabCar, GrabTaxi, GrabShare, GrabFood…), thưởng điểm cho các tài xế chạy nhiều chuyến, xử phạt các tài xế cho hành vi vi phạm Quy chế do Grab đặt ra

Về phía khách hàng, khi đặt xe và sử dụng dịch vụ Grab khách hàng sẽ thanh toán bằng cách chuyển thẳng từ tài khoản của mình vào tài khoản của Grab (nếu thanh toán bằng thẻ tín dụng) Việc thanh toán này khẳng định: Khách hàng đã thanh toán cho dịch vụ vận chuyển chứ không phải thanh toán cho việc thuê phần mềm dịch vụ,

và khoản tiền này tùy thuộc vào quãng đường di chuyển dài hay ngắn của hành khách chứ không phải là khoản tiền mặc định để chi trả cho việc thuê phần mềm dịch vụ của Grab Tương tự, điều này thể hiện ngay ở việc phần tiền mà Grab chiết khấu từ các lái

xe phụ thuộc vào quãng đường chứ không phải số tiền chiết khấu không thay đổi cho việc kết nối ứng dụng Ứng dụng kết nối của Grab đã áp dụng mức chiết khấu khác nhau cho những chuyến đi khác nhau, trong cùng một điều kiện10

Qua thực tiễn nêu trên cho thấy, Grab với tư cách là chủ thể cung cấp dịch vụ đã thực hiện hành vi kinh doanh dịch vụ kết nối vận tải, doanh thu là phần tiền hoa hồng phân chia với tài xế - chủ thể thực hiện hoạt động vận tải – sau mỗi chuyến đi Tỷ lệ phân chia hiện tại giữa đôi bên thể hiện trong hợp đồng hợp tác kinh doanh là 20% cho

10 B ản án số 1910/2018/KDTP-ST của Tòa án nhân dân TP.HCM ngày 28/12/2018 v/v Tranh chấp bồi thường thi ệt hại ngoài hợp đồng giữa Công ty CP Ánh Dương Việt Nam và Công ty TNHH GRAB, trang 28

Trang 23

Grab và 80% cho tài xế trên tổng tiền mỗi cuốc xe11 Như vậy, trong mối quan hệ giữa Grab và Tài xế xuất hiện hành vi kinh doanh dịch vụ của Grab, sinh ra khoản thu nhập

mà Grab có được, đều chịu sự điều chỉnh của pháp luật thuế Việt Nam, Grab cũng trở thành người nộp thuế theo pháp luật về các sắc thuế cụ thể tương ứng

Tuy nhiên, theo Nghị định 10/2020/NĐ-CP của Chính phủ về kinh doanh và điều kiện kinh doanh vận tài bằng xe ôtô được ban hành ngày 17/01/2020 thay thế Nghị định 86/2014/NĐ-CP, có hiệu lực từ 01/4/2020 áp dụng đối với tổ chức, cá nhân kinh doanh hoặc liên quan đến kinh doanh vận tải bằng xe ô tô Từ 01/4/2020 các hãng công nghệ cung cấp phần mềm kết nối như GRAB, GOJEK (tên cũ là Go-Viet)… sẽ được xem là các hãng cung cấp phần mềm, dịch vụ, không phải là doanh nghiệp vận tải, được định nghĩa tại Khoản 19 Điều 3 Nghị định 10/2020 về phần mềm ứng dụng

hỗ trợ kết nối vận tải Rõ ràng hơn, tại Điều 35 Nghị định 10/2020 quy định về đơn vị cung cấp phần mềm ứng dụng hỗ trợ kết nối vận tải đề cập đến 02 trường hợp tương ứng với 02 khoản của điều luật Trong đó, tại khoản 1 quy định đơn vị chỉ cung cấp phần mềm ứng dụng hỗ trợ kết nối vận tải (không trực tiếp điều hành phương tiện, lái xe; không quyết định giá cước vận tải) và khoản 2 về trường hợp đơn vị cung cấp phần mềm ứng dụng hỗ trợ kết nối vận tải có thực hiện ít nhất một trong các công đoạn chính của hoạt động vận tải (trực tiếp điều hành phương tiện, lái xe hoặc quyết định giá cước vận tải) để vận chuyển hành khách, hàng hóa trên đường bộ nhằm mục đích sinh lợi Dù tồn tại dưới hình thức nào thì về bản chất hành vi kinh doanh của loại hình doanh nghiệp này trong tam giác quan hệ (Chủ thể cung cấp dịch vụ - Chủ thể thực hiện dịch vụ - Chủ thể tiếp nhận dịch vụ) vẫn không thay đổi, trên cơ sở hoạt động cung cấp dịch vụ cũng như thu nhập có được từ hoạt động đó Qua đây, thuế đánh vào hành vi kinh doanh dịch vụ, vào thu nhập doanh nghiệp, dẫn đến chủ thể cung cấp dịch

vụ có thu nhập trở thành người nộp thuế cho Nhà nước nhằm tạo nguồn thu cho ngân sách cũng là tạo nên sự bình đẳng với các chủ thể khác trong nền kinh tế

Như vậy, “nghĩa vụ thuế của các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ kết nối” tại Việt Nam cho đến thời điểm này về cơ bản là tương đồng với các doanh nghiệp kinh doanh truyền thống khác Tuy nhiên, xuất phát từ bản chất, phương thức hoạt động của

11 Xem thêm: Điều khoản sử dụng: dành cho Vận tải, Giao nhận và Thương mại, được công bố bởi Công ty Grab

t ại website https://www.grab.com/vn/terms-policies/transport-delivery-logistics/, cập nhật lần cuối 24/8/2020

Trang 24

chủ thể, nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ kết nối tại Việt Nam có những đặc trưng so với nghĩa vụ thuế áp dụng cho các chủ thể kinh doanh thông thường Các đặc trưng này sẽ được lồng ghép trong nội dung về các yếu tố cấu thành nghĩa vụ thuế của loại hình doanh nghiệp này ở phần sau

tại Việt Nam

Đăng ký thuế được hiểu là việc người nộp thuế kê khai những thông tin của người nộp thuế cho cơ quan quản lý thuế để bắt đầu thực hiện nghĩa vụ về thuế với Nhà nước theo các quy định của pháp luật12

Theo đó, việc đăng ký thuế là nghĩa vụ đầu tiên, bắt buộc và là tiền để để doanh nghiệp thực hiện các nghĩa vụ về thuế tiếp theo như khai thuế, nộp thuế Với nghĩa vụ này, doanh nghiệp sẽ được cơ quan quản lý thuế cấp cho mã số thuế13 Như vậy, khi doanh nghiệp muốn thực hiện các hành vi hoặc có các khoản thu nhập làm phát sinh quan hệ pháp luật thuế, đã thực hiện các nghĩa vụ thuế thông qua mã số thuế, họ sẽ không bị coi là vi phạm pháp luật quản lý thuế và không phải chịu chế tài hành chính như quy định vì đã tiến hành đăng ký thuế đầy đủ Doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm khấu trừ, nộp thuế thay được cấp mã số thuế nộp thay để thực hiện khai thuế, nộp thuế thay cho người nộp thuế Quy định này đã tạo cơ sở pháp lý rõ ràng về trách nhiệm cho người khấu trừ, nộp thuế thay trong trường hợp có liên kết với DNNN không có cơ sở thường trú tại Việt Nam

So với Luật quản lý thuế 2006, Luật quản lý thuế 2019 có điểm bổ sung quy định trường hợp doanh nghiệp ở nước ngoài không có trụ sở tại Việt Nam tại điểm a Khoản 3 Điều 30 về việc cấp mã số thuế phụ thuộc cho người nộp thuế có chi nhánh, văn phòng đại diện, đơn vị phụ thuộc

12 Trường Đại học Luật TP.HCM (2018), Giáo trình Luật thuế (tái bản có bổ sung), TS Nguyễn Thị Thủy (chủ

biên), NXB H ồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, trang 446

13 Khoản 1 Điều 30 Luật quản lý thuế số 38/2019/QH14 ngày 13/6/2019

Trang 25

Theo Luật quản lý thuế 2019, thủ tục đăng ký thuế bao gồm: đăng ký thuế lần đầu; thông báo thay đổi thông tin đăng ký thuế; Thông báo khi tạm ngừng hoạt động, kinh doanh; chấm dứt hiệu lực mã số thuế; khôi phục mã số thuế

Tuy nhiên đây là một nghĩa vụ có thời hạn, nghĩa là phải thực hiện đăng ký thuế trong thời hạn pháp luật cho phép Nếu vượt quá thời hạn quy định doanh nghiệp sẽ vi phạm pháp luật về thuế Cụ thể, thời hạn đó là 10 (mười) ngày làm việc kể từ ngày doanh nghiệp (i) được cấp giấy chứng nhận hoạt động hoặc giấy phép thành lập, hoạt động hoặc giấy chứng nhận đăng ký đầu tư; (ii) phát sinh trách nhiệm khấu trừ thuế và nộp thuế thay14

Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ kết nối khi thành lập sẽ phải thực hiện đăng ký thuế lần đầu Sau khi chuẩn bị hồ sơ gồm có tờ khai đăng ký thuế, bản sao giấy phép thành lập và hoạt động, quyết định thành lập, giấy chứng nhận đăng ký đầu tư hoặc giấy tờ tương đương, người nộp thuế sẽ tiến hành nộp bộ hồ sơ đăng ký thuế cho cơ quan quản lý

Đối với doanh nghiệp kinh doanh đồng thời tự mình thực hiện nghĩa vụ thuế thì đăng ký thuế tại cơ quan thuế nơi doanh nghiệp đó có trụ sở chính Đối với người nộp thuế có trách nhiệm khấu trừ và nộp thuế thay đăng ký thuế tại cơ quan thuế quản lý trực tiếp người nộp thuế đó

Doanh nghiệp đăng ký thành lập thì đăng ký thuế cùng thời hạn với đăng ký thành lập doanh nghiệp nếu trực tiếp đăng ký tại cơ quan thuế thì trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày được cấp giấy phép thành lập và hoạt động, hoặc phát sinh trách nhiệm khấu trừ và nộp thuế thay, người nộp thuế có nghĩa vụ hoàn tất thực hiện nghĩa vụ đăng ký thuế Việc cơ quan quản lý tiếp nhận đăng ký thuế cùng đăng ký doanh nghiệp từ lâu được xem là cải cách hành chính tạo thuận lợi lớn cho doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp có những điều kiện pháp lý ban đầu để nhanh chóng đi vào hoạt động chính thức Cũng như quy định thời hạn 10 ngày là hợp lý cho người nộp thuế thay cho NTNN tìm hiểu, tiến hành đăng ký thuế với cơ quan quản lý trên cơ sở hợp đồng thỏa thuận giữa đôi bên

14 Kho ản 2 Điều 33, Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 ngày 13/6/2019

Trang 26

Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ kết nối có thể nhận chứng nhận đăng ký thuế chậm nhất không quá 03 (ba) ngày làm việc kể từ ngày nộp đủ hồ sơ đăng ký cho cơ quan thuế theo quy định Đối với đối tác Việt Nam khấu trừ, nộp thuế thay cho NTNN

sẽ được cơ quan thuế thông báo mã số thuế thay cho giấy chứng nhật đăng ký thuế

Người nộp thuế phải ghi mã số thuế được cấp vào hóa đơn, chứng từ, tài liệu khi thực hiện các giao dịch kinh doanh Tuy nhiên, đối với doanh nghiệp cung cấp dịch vụ kết nối trên nền tảng số, thực hiện giao kết bằng hợp đồng điện tử với hành khách thì phải gửi hóa đơn điện tử có mã số thuế về cơ quan thuế theo quy định của Bộ tài chính15 Ngoài ra, người nộp thuế cũng thể hiện mã số thuế của mình khi mở tài khoản tiền gửi tại ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng, khi khai thuế, nộp thuế, miễn giảm thuế, hoàn thuế, không thu thuế và thực hiện các giao dịch về thuế khác đối với tất cả các nghĩa vụ phải nộp vào ngân sách Nhà nước, bao gồm cả trường hợp doanh nghiệp cung cấp dịch vụ tại nhiều địa bàn khác nhau

Trong trường hợp bên Việt Nam chi trả tiền cho doanh nghiệp, tổ chức có hoạt động kinh doanh xuyên biên giới, NTNN dựa trên nền tảng trung gian kỹ thuật số không hiện diện thương mại tại Việt Nam thì phải sử dụng mã số thuế đã được cấp cho doanh nghiệp, tổ chức này để khấu trừ, nộp thay

Khai thuế là việc người nộp thuế kê khai các thông tin vào tờ khai thuế theo mẫu do cơ quan có thẩm quyền quy định nhằm xác định số thuế người nộp thuế có nghĩa vụ phải nộp trong kỳ tính thuế hoặc trong từng lần phát sinh nghĩa vụ thuế16

Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ kết nối tại Việt Nam cũng như người khấu trừ, nộp thuế cho NTNN phải tự tính số tiền thuế phải nộp, trừ trường hợp việc tính thuế do

cơ quan thuế thực hiện theo quy định của Chính phủ Người nộp thuế thực hiện khai thuế, tính thuế tại cơ quan thuế địa phương có thẩm quyền nơi có trụ sở

Hoạt động cung cấp dịch vụ kết nối thuộc một trong các hoạt động kinh doanh thương mại điện tử, kinh doanh dựa trên nền tảng số, trong trường hợp được thực hiện

15 Điều 16 Nghị định 10/2020/NĐ-CP ngày 17/1/2020 của Chính phủ quy định về kinh doanh và điều kiện kinh doanh v ận tải bằng xe ô tô

16 Trường Đại học Luật TP.HCM, tlđd (6), trang 452

Trang 27

bởi nhà cung cấp ở nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam thì nhà cung cấp ở nước ngoài có nghĩa vụ trực tiếp hoặc ủy quyền thực hiện đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế tại Việt Nam theo quy định17 Điều này đồng nghĩa đối tác phía Việt Nam của NTNN có trách nhiệm thực hiện thủ tục thuế thay họ nhằm đảm bảo nghĩa vụ thuế của NTNN đối với nhà nước Việt Nam được đầy đủ, đúng pháp luật

Nghĩa vụ khai thuế xác định theo kỳ tính thuế Kỳ tính thuế là khoảng thời gian

để xác định số tiền thuế phải nộp ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật về thuế Kỳ tính thuế này có thể là tháng, quý hoặc năm Ở mỗi loại thuế khác nhau hoặc đối với người nộp thuế khác nhau, loại thu nhập hoặc hành vi phát sinh nghĩa vụ thuế khác nhau thì kỳ tính thuế có thể khác nhau

Pháp luật quản lý thuế đề ra cơ chế “tự kê khai, tự nộp thuế”, trong đó các đối tượng nộp thuế tự giác căn cứ vào kết quả sản xuất kinh doanh trong kê khai của mình

và căn cứ vào những quy định pháp luật tự xác định nghĩa vụ thuế của mình, kê khai, nộp thuế vào NSNN, chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính trung thực, chính xác của việc kê khai trên cơ sở kiểm tra, giám sát của cơ quan có thẩm quyền Vì là cơ chế được xây dựng trên nền tảng sự tuân thủ tự nguyện của đối tượng nộp thuế chứng tỏ pháp luật thuế rất đề cao quyền tự kê khai của người nộp thuế khi tạo điều kiện thuận lợi cho người nộp thuế trong kê khai và nộp thuế Tuy nhiên, nhờ thế người nộp thuế

có thể lợi dụng và thực hiện các hành vi trốn thuế, gian lận thuế nên quy định tại Điều

17 Luật quản lý thuế 2019 yêu cầu người nộp thuế cần có trách nhiệm “khai thuế chính xác, trung thực, đầy đủ và nộp hồ sơ thuế đúng thời hạn; chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, trung thực, đầy đủ của hồ sơ thuế”

Người nộp thuế cần thực hiện hồ sơ khai thuế bao gồm: 1 Tờ khai thuế: theo mẫu do cơ quan nhà nước về thuế quy định Người nộp thuế không thể thay đổi khuôn dạng, thêm, bớt hoặc thay đổi vị trí của bất kì chỉ tiêu nào trong tờ khai; 2 Các tài liệu khác có liên quan đến số thuế phải nộp, các thông tin trong tài liệu cần phản ánh tính chính xác, trung thực các nội dung mà người nộp thuế đã khai trong tờ khai thuế

17 Kho ản 4 Điều 42 Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 ngày 13/6/2019

Trang 28

Về tiêu chí thời gian, người nộp thuế cũng phải thỏa yêu cầu thời hạn nộp hồ sơ khai thuế theo quy định của Luật quản lý thuế Thời hạn nộp hồ sơ khai thuế là khoảng

thời gian pháp luật quy định nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người nộp thuế thực hiện nghĩa vụ thuế của mình Nếu người nộp thuế không khai thuế và nộp hồ sơ khai thuế trong khoảng thời gian này thì xem như người nộp thuế đã vi phạm quy định, dẫn đến

phải chịu trách nhiệm về hành vi chậm nộp hồ sơ, trừ trường hợp pháp luật cho phép

Hiện nay, trừ hai trường hợp là bị ấn định thuế và nộp thuế theo phương pháp thuế khoán, thì tuân thủ “cơ chế tự kê khai, tự nộp thuế”, người nộp thuế phải tự tính số tiền thuế phải nộp NSNN trong hồ sơ khai thuế của mình

Nộp thuế là việc người nộp thuế thực hiện nghĩa vụ tài chính của họ đối với Nhà nước18 Hành vi nộp thuế xuất phát từ hoạt động của người nộp thuế, phát sinh thu nhập chịu thuế dẫn đến hình thành nghĩa vụ thuế của họ với nhà nước Số tiền thuế nộp vào NSNN dựa vào số thuế người nộp thuế tự tính, kê khai trong tờ khai thuế hoặc do

cơ quan thuế ấn định

Tùy thuộc vào người nộp thuế nộp thuế theo phương thức nào mà thời hạn nộp thuế có sự khác nhau như: trường hợp người nộp thuế tính thuế, thời hạn nộp thuế chậm nhất là ngày cuối cùng của thời hạn nộp hồ sơ khai thuế; trường hợp cơ quan thuế tính thuế hoặc ấn định thuế, thời hạn nộp thuế là thời hạn ghi trên thông báo của

cơ quan thuế Đối với thuế TNDN thì tạm nộp theo quý, thời hạn nộp thuế chậm nhất là ngày 30 của tháng đầu quý sau

Theo quy định tại Điều 7 Luật quản lý thuế 2019, đồng tiền khai thuế, nộp thuế

là Đồng Việt Nam, trừ các trường hợp được phép khai thuế, nộp thuế bằng ngoại tệ tự

do chuyển đổi Người nộp thuế hạch toán kế toán bằng ngoại tệ theo quy định của Luật

Kế toán phải quy đổi ra Đồng Việt Nam theo tỷ giá giao dịch thực tế tại thời điểm phát sinh giao dịch

18 Trường Đại học Luật TP.HCM, tlđd (6), trang 456

Trang 29

1.2.4 Quyết toán thuế

Theo Khoản 10 Điều 3 Luật Quản lý thuế 2019 quy định: “Khai quyết toán thuế là việc xác định số tiền thuế phải nộp của năm tính thuế hoặc thời gian từ đầu năm tính thuế đến khi chấm dứt hoạt động phát sinh nghĩa vụ thuế hoặc thời gian từ khi phát sinh đến khi chấm dứt hoạt động phát sinh nghĩa vụ thuế theo quy định của pháp luật.”

Người nộp thuế cần lập hồ sơ quyết toán thuế TNDN đầy đủ bao gồm:

Một, tờ khai quyết toán thuế TNDN theo mẫu số 03 (ban hành kèm theo Thông

tư số 151/2014/TT-BTC);

Hai, báo cáo tài chính năm hoặc báo cáo tài chính đến thời điểm có quyết định

về việc doanh nghiệp thực hiện chia, hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi loại hình doanh nghiệp, giải thể, chấm dứt hoạt động;

Ba, một hoặc một số phụ lục kèm theo tờ khai (tùy theo thực tế phát sinh của người nộp thuế): Phụ lục kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh theo mẫu số 03-1A/TNDN (dành cho người nộp thuế thuộc các ngành sản xuất, thương mại, dịch vụ), mẫu số 03-1B/TNDN (dành cho người nộp thuế thuộc các ngân hàng, tín dụng), mẫu

số 03-1C/TNDN (dành cho người nộp thuế là các công ty chứng khoán, công ty quản

lý quỹ đầu tư chứng khoán) ban hành kèm theo Thông tư số 156/2013/TT-BTC

Số thuế TNDN tạm nộp trong năm kê khai trên tờ khai quyết toán được xác định theo chứng từ nộp thuế TNDN trong năm tài chính (từ ngày đầu năm tài chính cho đến hết ngày thứ 30 kể từ ngày kết thúc năm tài chính) sau khi đã bù trừ hết các khoản thuế

nợ năm trước chốt đến 31/1 (năm tài chính trùng năm dương lịch) và các khoản thuế phát sinh trong năm từ hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động chuyển nhượng bất động sản (có cùng tiểu mục)

Bên cạnh đó, đối với trường hợp tổng số thuế tạm nộp trong kỳ tính thuế thấp hơn số thuế TNDN phải nộp theo quyết toán từ 20% trở lên thì doanh nghiệp phải nộp tiền chậm nộp đối với phần chênh lệch từ 20% trở lên giữa số thuế tạm nộp với số thuế phải nộp theo quyết toán tính từ ngày tiếp theo ngày cuối cùng của thời hạn nộp thuế quý IV của doanh nghiệp đến ngày thực nộp số thuế còn thiếu so với số quyết toán

Trang 30

Đối với số thuế TNDN tạm nộp theo quý thấp hơn số thuế phải nộp theo quyết

toán dưới 20% mà doanh nghiệp chậm nộp so với thời hạn quy định (thời hạn nộp hồ

sơ quyết toán năm) thì tính tiền chậm nộp kể từ ngày hết thời hạn nộp thuế đến ngày thực nộp số thuế còn thiếu so với quyết toán

Thời hạn nộp hồ sơ khai thuế đối với loại thuế có kỳ tính thuế theo năm được quy định chậm nhất là ngày cuối cùng của tháng thứ 3 kể từ ngày kết thúc năm dương lịch hoặc năm tài chính đối với hồ sơ quyết toán thuế năm Thời gian gia hạn không quá 60 ngày đối với việc nộp hồ sơ khai quyết toán thuế kể từ ngày hết hạn nộp hồ sơ khai thuế

nối tại Việt Nam

Ở góc độ trực quan, trong hoạt động cung cấp dịch vụ kết nối tồn tại mối quan

hệ 3 (ba) bên giữa chủ thể thực hiện dịch vụ ngành nghề - chủ thể trung gian cung cấp dịch vụ kết nối – chủ thể tiếp nhận (sử dụng) dịch vụ Các chủ thể này tùy từng hành vi bản thân thực hiện mà có những nghĩa vụ thuế khác nhau Trong đó, đối với doanh nghiệp cung cấp dịch vụ kết nối là chủ thể thực hiện hành vi kinh doanh dịch vụ, có nghĩa vụ nộp thuế cho sắc thuế điều chỉnh hành vi này

Ví dụ đối với dịch vụ chia sẻ xe, 3 chủ thể trong quan hệ dịch vụ là Tài xế - ứng dụng Grab – Hành khách Trước hết, hành khách đương nhiên không phải là chủ thể trực tiếp nộp thuế vào NSNN Vấn đề đặt ra là trong 2 chủ thể còn lại ai là người thực hiện hoạt động kinh doanh, ai là người nộp thuế Xét đến tài xế, vị trí của họ trong quan hệ với Grab là quan hệ dân sự dựa trên hợp đồng hợp tác kinh doanh, địa vị pháp

lý của họ trong quan hệ về thuế chính xác là chủ thể nộp thuế vì có thực hiện hành vi kinh doanh dịch vụ vận tải và có được thu nhập từ hoạt động này Sắc thuế điều chỉnh hành vi kinh doanh của tài xế là thuế GTGT & thuế TNCN, cụ thể được quy định tại Luật thuế GTGT & Luật thuế TNCN, rõ ràng hơn nữa cơ quan thuế cũng đã điều chỉnh

Trang 31

hành vi của đối tác tài xế ngay trong mối quan hệ hợp tác kinh doanh với chủ thể trung gian Grab tại Công văn số 384/TCT-TNCN19

Vấn đề chính còn lại là nghĩa vụ thuế của Grab – chủ thể cung cấp dịch vụ kết nối – được thể hiện như thế nào? Có thể nói bản chất của thuế gián thu chính là đánh vào hành vi kinh doanh của chủ thể Trong trường hợp này, Grab với vai trò kết nối giữa tài xế và hành khách bằng cách cung cấp dịch vụ phần mềm có thu phí Không những thể, Grab còn tham gia vào một số công đoạn thuộc hoạt động vận tải (như điều hành phương tiện, tài xế, quyết định giá cước vận tải theo từng thời điểm) Theo hợp đồng, tỷ lệ phân chia giữa tài xế và Grab trên số tiền hành khách thanh toán là 80 – 20 Điều này chứng tỏ Grab có hành vi kinh doanh dịch vụ, đồng nghĩa phát sinh nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước, là người nộp thuế cho hành vi kinh doanh của mình Dựa theo phần trăm doanh thu được chia từ hoạt động kinh doanh vận tải theo hợp đồng hợp tác kinh doanh, Grab phải khai và nộp thuế GTGT cho hành vi kinh doanh dịch vụ Dựa trên tổng thu nhập Grab nhận được từ hoạt động cung cấp dịch vụ, Grab phải khai và nộp thuế TNDN theo quy định

Như vậy, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ kết nối nói chung cũng như Grab nói

riêng là chủ thể nộp thuế chịu sự điều chỉnh của pháp luật thuế Việt Nam, cụ thể là 02 loại thuế GTGT & TNDN

Về cơ bản, tại Việt Nam doanh nghiệp cung cấp dịch vụ kết nối tồn tại dưới 02 hình thức, bao gồm: doanh nghiệp thành lập theo pháp luật Việt Nam, có cơ sở thường trú tại Việt Nam; doanh nghiệp thành lập và đăng ký hoạt động theo quy định của pháp luật nước ngoài, có hoặc không có cơ sở thường trú tại Việt Nam Dù được thành lập dưới hình thức nào, loại hình doanh nghiệp này đều mang những đặc trưng riêng so với các chủ thể nộp thuế thông thường khác

Một là, doanh nghiệp mang quốc tịch nước ngoài, được thành lập và đăng ký hoạt động theo quy định của pháp luật nước ngoài

Đặc trưng này thuộc trường hợp các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ không có hiện diện thương mại tại Việt Nam, thành lập và đăng ký hoạt động ở nước ngoài Tại

19 Công văn số 384/TCT-TNCN ngày 08/02/2017 của Tổng cục thuế, Bộ Tài chính quy định về chính sách thuế đối với hoạt động hợp tác kinh doanh của Công ty Grab Taxi

Trang 32

Việt Nam chỉ hoạt động dưới hình thức môi giới trung gian thông qua các trang website, phần mềm trực tuyến, giúp kết nối người tiêu dùng và tổ chức, cá nhân sở hữu tài sản

Đặc trưng này cho thấy khác biệt rõ nét giữa doanh nghiệp nước ngoài với các doanh nghiệp trong nước Từ đây, nghĩa vụ thuế của các doanh nghiệp nước ngoài sẽ chỉ giới hạn trong các khoản thu nhập phát sinh tại Việt Nam hoặc phát sinh tại nước ngoài nhưng liên quan đến hoạt động của cơ sở thường trú tại Việt Nam Thêm vào đó,

do việc tổ chức hoạt động không được tiến hành theo quy định của pháp luật Việt Nam nên mối liên kết giữa chủ thể này với nhà nước về phương diện quản lý, kiểm soát hành chính tương đối lỏng lẻo, mờ nhạt Điều này dễ dàng trở thành lỗ hổng pháp lý, tạo cơ hội cho doanh nghiệp trục lợi, cũng là thách thức không nhỏ cho thực tế quản lý, thu thuế của Nhà nước20

Xuất phát từ thực tiễn này, cơ quan quản lý nhà nước về thuế đã ban hành nhiều quy định đặc thù điều chỉnh nghĩa vụ thuế của DNNN kinh doanh tại Việt Nam như quy định về xác định thu nhập chịu thuế, phương thức tính thuế, thu thuế v.v…

Hai là, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ kết nối tồn tại dưới 02 dạng: doanh nghiệp có thành lập pháp nhân tại Việt Nam; DNNN có hoặc không có cơ sở thường trú nhưng không thành lập pháp nhân tại Việt Nam để thực hiện hoạt động kinh doanh

Dạng 1: Doanh nghiệp có thành lập pháp nhân tại Việt Nam

Loại hình này được gọi chung là doanh nghiệp có quốc tịch Việt Nam, bao gồm doanh nghiệp có vốn Việt Nam và doanh nghiệp là pháp nhân được thành lập do tổ chức, DNNN góp vốn liên doanh hoặc công ty 100% vốn nước ngoài Trong trường hợp này, hoạt động kinh doanh của DNNN tại Việt Nam được thực hiện nhân danh một pháp nhân mới, có thể độc lập hoặc phụ thuộc công ty mẹ, mà không phải bản thân DNNN đó Cho nên sẽ được xem là doanh nghiệp Việt Nam mà không xem là DNNN kinh doanh tại Việt Nam dưới góc độ pháp lý

20 Nguyễn Thị Hoài Thu (2015), Nghĩa vụ thuế thu nhập doanh nghiệp của tổ chức nước ngoài kinh doanh tại

Vi ệt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, Đại học Luật TP.HCM, trang 18

Trang 33

Dạng 2: Doanh nghiệp nước ngoài có hoặc không có cơ sở thường trú nhưng không thành lập pháp nhân tại Việt Nam để thực hiện hoạt động kinh doanh

Đề cập đến khái niệm “cơ sở thường trú” của DNNN, khoản 3 Điều 2 Luật thuế thu nhập doanh nghiệp 2008 (sửa đổi, bổ sung 2013) đã quy định rõ

Theo đó, DNNN được xem là có cơ sở thường trú tại Việt Nam khi thông qua

cơ sở đó, doanh nghiệp có thể tiến hành một phần hoặc toàn bộ hoạt động sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam, có thể thành lập dưới một số hình thức như sau: (i) Chi nhánh, văn phòng điều hành tại Việt Nam; (ii) Cơ sở cung cấp dịch vụ, bao gồm cả dịch vụ tư vấn thông qua người làm công hoặc tổ chức, cá nhân khác; (iii) Đại lý cho DNNN; (iv) Đại diện tại Việt Nam trong trường hợp là đại diện có thẩm quyền ký kết hợp đồng đứng tên DNNN hoặc đại diện không có thẩm quyền ký kết hợp đồng đứng tên DNNN nhưng thường xuyên thực hiện việc giao hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ tại Việt Nam… Qua đây, tùy sự lựa chọn của DNNN về loại hình hiện diện của cơ sở thường trú, pháp luật kinh tế nói chung và pháp luật thuế nói riêng sẽ có những quy định điều chỉnh hành vi hoạt động tương ứng, để từ đó đảm bảo nghĩa vụ của cơ sở kinh doanh được triển khai thực hiện đầy đủ

Ở một khía cạnh khác, tại Điều 5 trong Hiệp định được ký kết giữa Việt Nam và các quốc gia, cơ sở thường trú được định nghĩa giống nhau, “cơ sở thường trú” là một

cơ sở kinh doanh cố định của một doanh nghiệp, thông qua đó, doanh nghiệp thực hiện toàn bộ hay một phần hoạt động kinh doanh của mình21

Nội hàm quy định này được diễn giải thành 03 điều kiện có tính bắt buộc đối với doanh nghiệp của Nước ký kết Hiệp định để xác định cơ sở thường trú tại Việt Nam Cụ thể:

Một, về hình thức, doanh nghiệp Nước ký kết cần duy trì tại Việt Nam một “cơ sở” như một tòa nhà, một văn phòng hoặc một phần của tòa nhà hay văn phòng đó, một

phương tiện hoặc thiết bị (thường được xem là máy chủ);

21 điểm 1.2 khoản 1 Điều 11 Thông tư 205/2013/TT-BTC hướng dẫn thực hiện Hiệp định tránh đánh thuế hai lần

và ngăn ngừa việc trốn lậu thuế đối với các loại thuế đánh vào thu nhập và tài sản giữa Việt Nam với các nước và vùng lãnh thổ có hiệu lực thi hành tại Việt Nam

Trang 34

Hai, tính cố định của cơ sở kinh doanh này thể hiện qua việc được thiết lập tại một địa điểm xác định và/hoặc được duy trì thường xuyên Yêu cầu về tính chất này cũng không nhất thiết phụ thuộc vào việc cơ sở đó phải được gắn liền với một vị trí địa

lý cụ thể trong một độ dài thời gian nhất định;

Ba, doanh nghiệp thuộc Nước ký kết phải tiến hành toàn bộ hoặc một phần hoạt động kinh doanh thông qua cơ sở này

Trên nền tảng hội đủ các điều kiện nêu trên, địa vị pháp lý của cơ sở thường trú của DNNN sẽ được xác lập và được pháp luật Việt Nam bảo đảm các quyền cũng như nghĩa vụ liên quan đối với các hoạt động kinh doanh trên lãnh thổ Việt Nam

So sánh khái niệm tại Luật thuế TNDN 2008 (sửa đổi, bổ sung 2013) và các Hiệp định, giữa hai định nghĩa có một điểm khác biệt đáng kể Đó là Luật thuế TNDN

đã bỏ từ “cố định” trong định nghĩa của mình Không chỉ ở khía cạnh câu chữ đơn thuần, điều này còn dẫn đến mâu thuẫn ý nghĩa với Hiệp định, Thông tư 205/2013/TT-BTC22 cũng như quy định của OECD23 Cụ thể, khác biệt này cho thấy Luật thuế TNDN đã thể hiện một ý kiến khác với ý định ban đầu được thể hiện trong Hiệp định

Thông qua khung quy định chung về Hiệp định tránh đánh thuế hai lần giữa các quốc gia, pháp luật thuế quốc tế đã khẳng định rằng cơ sở kinh doanh “cố định” phải là điều kiện tiền đề để phân biệt thẩm quyền thu thuế giữa các quốc gia, cách gọi thay thế

là cơ sở thường trú Ý nghĩa “thường trú” và “cố định” ám chỉ sự gắn kết giữa DNNN với quốc gia sở tại, hơn thế nữa, sự gắn kết này phải đủ lớn đến mức đạt được tính “cố định” Cho nên, vấn đề định nghĩa về tính “cố định” trong luật thuế quốc nội là rất cần thiết, ngay cả khi áp dụng để xác định cơ sở thường trú đối với doanh nghiệp đến từ quốc gia mà Việt Nam chưa ký kết Hiệp định Từ lý lẽ đó, có thể thấy, không phải bất

kỳ hiện diện thương mại nào tại quốc gia sở tại cũng đều trở thành cơ sở thường trú của DNNN tại quốc gia đó Nhằm phục vụ mục đích xác định nghĩa vụ thuế TNDN, hiện

22 Điều 11 Thông tư 205/2013/TT-BTC ngày 24/12/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện các Hiệp định tránh đánh thuế hai lần và ngăn ngừa việc trốn lậu thuế đối với các loại thuế đánh vào thu nhập và tài sản giữa

Vi ệt Nam với các nước và vùng lãnh thổ có hiệu lực thi hành tại Việt Nam

23 Model Tax Convention on Income and Capital (condensed version 2017), OECDiLibrary, page.117: “…the term “permanent establishment” as a fixed place of business, through which the business of an enterprise is wholly or partly carried on.”

Trang 35

diện thương mại phải đạt những tiêu chuẩn nhất định, trong đó đặc biệt đề cao yêu cầu

về tính cố định, mà nếu thiếu đi sẽ không tương thích với Hiệp định cũng như với các chuẩn mực đã được chấp nhận rộng rãi trong thực tiễn thuế quốc tế

Mặt khác, trường hợp một DNNN cung ứng dịch vụ kết nối sẽ được coi là không có cơ sở thường trú tại Việt Nam khi doanh nghiệp đó sử dụng một cơ sở kinh doanh cố định chỉ nhằm mục đích thu thập thông tin cho doanh nghiệp hoặc Doanh nghiệp đó có tại Việt Nam một cơ sở kinh doanh cố định chỉ nhằm mục đích tiến hành các hoạt động chuẩn bị hoặc phụ trợ cho doanh nghiệp

Điển hình như trường hợp của Uber khi còn hoạt động tại Việt Nam, có thể nói Uber Việt Nam là doanh nghiệp hoạt động với chức năng tư vấn quản lý về các hoạt động của Uber B.V Hà Lan, nghiên cứu thị trường và thăm dò dư luận, hoạt động dịch

vụ công nghệ thông tin và dịch vụ khác liên quan đến máy tính (theo Giấy phép đăng

ký ngành, nghề kinh doanh tại Cổng thông tin đăng ký doanh nghiệp) Uber Việt Nam chỉ nhận tiền được trả từ Uber B.V Hà Lan cho phí quản lý của họ tại Việt Nam Điều này giải thích cho việc công ty Uber Việt Nam cho rằng thuế TNDN mà họ phải nộp chỉ tính trên doanh thu từ thù lao quản lý Đối với một lượng lớn lợi nhuận từ thù lao hoa hồng môi giới cho hoạt động vận tải diễn ra tại Việt Nam, Uber Việt Nam cho rằng không phải nộp thuế cho NSNN Công ty Uber International B.V tại Hà Lan điều tiết thông qua phần mềm trên hệ thống thiết bị máy chủ mà không làm thủ tục đăng ký đầu

tư, đăng ký ngành, nghề kinh doanh dịch vụ kết nối vận tải theo quy định pháp luật Việt Nam dẫn đến thực tế lúc bấy giờ việc truy thu thuế TNDN gặp phải khó khăn không nhỏ Đây cũng là hoạt động kinh doanh mà Việt Nam chưa cam kết thực hiện thực theo phương thức cung cấp qua biên giới, trong khuôn khổ cam kết WTO, mà vẫn

do pháp luật Việt Nam quản lý

Tuy nhiên, theo Vụ Chính sách thuế, Bộ Tài chính cho biết, đề cập tới xác định

cơ sở thường trú của Uber Hà Lan tại Việt Nam, dẫn chiếu khoản 3 Điều 2 Luật thuế thu nhập doanh nghiệp 2008 (sửa đổi, bổ sung 2013); khoản 1 Điều 11 Thông tư 205/2013/TT-BTC; khoản 1 Điều 3, khoản 6 Điều 5, khoản 1 Điều 7 của Hiệp định giữa Việt nam – Hà Lan và điểm 3 Công văn số 10448/BKHĐT-PTDN, Bộ Tài chính nêu rõ “Công ty Uber B.V Hà lan có thu nhập phát sinh tại Việt Nam thông qua các cơ

Trang 36

sở thường trú tại Việt Nam, do đó, công ty có nghĩa vụ nộp thuế nhà thầu theo quy định.”24 Như vậy, công ty Uber Hà Lan là chủ thể có nghĩa vụ nộp thuế cho nhà nước Việt Nam do có hành vi kinh doanh dịch vụ, cơ sở thường trú của công ty tại Việt Nam không có đăng ký kinh doanh ngành nghề này và thực tế công ty Uber Hà Lan cũng đã

ủy quyền cho công ty Uber Việt Nam đóng thuế nhà thầu thay

Ba là, chủ thể thực hiện hoạt động kinh doanh thông qua/ bằng ứng dụng điện

tử kết nối giữa bên bán hàng hóa, dịch vụ và bên mua hàng hóa, dịch vụ

Hình thức tồn tại của những doanh nghiệp trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ này

là rất đa dạng, thậm chí đơn giản, ít tốn kém, nhưng vẫn đảm bảo cách thức phi truyền thống của nó đem đến khả năng kết nối linh hoạt nhất, tiện lợi nhất cho người sử dụng dịch vụ, đề cao trải nghiệm dịch vụ của người dùng, từ đó nâng cao chất lượng và hiệu quả kinh doanh cho doanh nghiệp Đặc biệt, trong thời đại công nghệ thông tin bùng nổ như hiện nay, doanh nghiệp nào càng tận dụng được thành tựu khoa học – kỹ thuật mới càng chiếm được nhiều ưu thế trước đối thủ Cụ thể, ngoài cách thức truyền thống là giao dịch trực tiếp giữa bên mua và bên bán, nhiều hình thức kết nối trực tuyến đã xuất hiện, hình thành nên những giao dịch xuyên biên giới giữa đôi bên, đa bên Điển hình

là mô hinh kinh doanh của Airbnb tại Việt Nam, không thành lập cơ sở thường trú tại Việt Nam nhưng vẫn cung cấp dịch vụ xuyên biên giới thông qua ứng dụng trực tuyến kết nối chủ nhà và khách trọ tại Việt Nam

Bốn, các doanh nghiệp nước ngoài đối mặt với hiện tượng bị đánh thuế hai lần (Hiệp định tránh đánh thuế hai lần - DTAAs)

Đánh thuế hai lần được hiểu là một khoản thu nhập nhưng chủ thể phát sinh thu

nhập đó có nghĩa vụ nộp thuế ở hai quốc gia trở lên đối với khoản thu nhập đó Đây là

vấn đề thường gặp đối với những cá nhân hoặc doanh nghiệp có hoạt động phát sinh thu nhập ở nhiều quốc gia, nhất là trong bối cảnh toàn cầu hóa như hiện nay Nếu một khoản thu nhập bị đánh thuế tới hai lần, ở nước mà nó phát sinh và ở nước mà các

24 Khánh Huy ền, “Uber phải thực hiện nghĩa vụ thuế theo quy định pháp luật”, http://thoibaotaichinhvietnam.Việt Nam/pages/thue-voi-cuoc-song/2017-12-15/uber-phai-thuc-hien-nghia-vu-thue-theo-quy-dinh-cua-phap-luat- 51555.aspx, 18/9/2020

Trang 37

doanh nghiệp chuyển thu nhập về thì khoản tiền thuế sẽ rất cao, ngăn cản các hoạt động đầu tư, giao lưu thương mại quốc tế

Đối với thuế TNDN, đa phần pháp luật các quốc gia đều kết hợp quyền thu thuế theo quốc tịch và quyền thu thuế theo lãnh thổ để điều tiết nghĩa vụ thuế phát sinh Tương tự, khi doanh nghiệp nước ngoài thực hiện hoạt động kinh doanh tại Việt Nam,

một phần chủ thể này vẫn mang quốc tịch của quốc gia nơi thành lập và đăng ký kinh doanh, trong khi nơi phát sinh thu nhập là tại Việt Nam Điều này cho thấy có ít nhất hai quốc gia có thẩm quyền thu thuế trên khoản thu nhập được tạo lập ấy Khi đó, xuất

hiện hiện tượng trùng thuế (đánh thuế hai lần) đối với doanh nghiệp

Về cơ bản, để giải quyết vấn đề trùng thuế trên hiện nay có hai phương pháp như sau: Một, phương thức đơn phương: là phương thức mà mỗi quốc gia tự đưa ra

những quy định trong luật nội địa nhằm giảm bớt gánh nặng nộp thuế trùng của doanh nghiệp; Hai, phương thức song phương/ đa phương: thực hiện bằng cách kí kết Hiệp định tránh đánh thuế hai lần và ngăn ngừa trốn thuế đối với các loại thuế đánh trên thu nhập

Hiệp định tránh đánh thuế hai lần là một thỏa thuận song phương giữa hai quốc gia nhằm phân chia quyền đánh thuế của từng quốc gia đối với một số khoản thu nhập của các đối tượng liên quan, nhằm ngăn ngừa việc đánh trùng thuế đối với các loại thu nhập đó25 Bản chất Hiệp định không tạo ra một thứ thuế mới mà thực chất là sự hạn chế quyền thu thuế của một trong các quốc gia tham gia hiệp định, là công cụ để giảm nhẹ nghĩa vụ thuế cho người nộp thuế

Mục đích loại bỏ việc đánh thuế trùng bằng cách: Miễn, giảm số thuế phải nộp tại Việt Nam cho các đối tượng cư trú của nước ký kết hiệp định; hoặc Khấu trừ số thuế mà đối tượng cư trú của Việt Nam đã nộp tại nước ký kết hiệp định vào số thuế phải nộp tại Việt Nam Ngoài ra, Hiệp định còn tạo ra khuôn khổ pháp lý cho cơ quan thuế hai bên hợp tác, hỗ trợ lẫn nhau ngăn ngừa trốn lậu thuế cũng như xây dựng cơ chế giải quyết tranh chấp liên quan đến hoạt động kinh doanh qua biên giới Hiện thực hóa mục tiêu này, hai bên thỏa thuận Hiệp định trên một số nguyên tắc để giới hạn quyền đánh thuế của từng quốc gia theo khuôn khổ pháp lý của hiệp định

25 TS Nguyễn Thanh Huyền – ThS Vũ Thị Lan Hương(2014), Cẩm nang pháp luật về thuế nhà thầu nước ngoài

và Hi ệp định tránh đánh thuế hai lần, NXB Chính trị Quốc gia, trang 201

Trang 38

Theo thống kê của Tổng cục Thuế - Bộ Tài chính, tính đến năm 2020, Việt Nam

đã kí Hiệp định tránh đánh thuế hai lần và ngăn ngừa việc trốn lậu thuế đối với thu nhập với 80 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới26 nhằm loại bỏ việc đánh thuế trùng bằng cách miễn, giảm số thuế phải nộp tại Việt Nam cho các đối tượng cư trú của nước

ký kết hiệp định; hoặc khấu trừ thuế mà đối tượng cư trú Việt Nam đã nộp tại nước ký kết hiệp định vào số thuế phải nộp tại Việt Nam Từ đây, hình thành nên cơ sở pháp lý quan trọng loại bỏ hiện tượng thu trùng thuế của các quốc gia, giảm gánh nặng nghĩa

vụ thuế cho doanh nghiệp, góp phần thu hút đầu tư, phát triển thương mại quốc nội và quốc tế

Thuế nhà thầu nước ngoài là loại thuế đánh vào tổ chức nước ngoài kinh doanh

có cơ sở thường trú tại Việt Nam hoặc không có cơ sở thường trú tại Việt Nam; cá nhân nước ngoài kinh doanh là đối tượng cư trú tại Việt Nam hoặc không là đối tượng

cư trú tại Việt Nam (gọi chung là nhà thầu nước ngoài, nhà thầu phụ nước ngoài) kinh doanh tại Việt Nam hoặc có thu nhập phát sinh tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng, thỏa thuận, hoặc cam kết giữa NTNN với tổ chức, cá nhân Việt Nam hoặc giữa NTNN với nhà thầu phụ nước ngoài để thực hiện một phần công việc của hợp đồng nhà thầu 27

Về các loại thuế áp dụng, NTNN là tổ chức kinh doanh thực hiện nghĩa vụ thuế GTGT, thuế TNDN Đối với các loại thuế, phí và lệ phí khác, NTNN, thực hiện theo các văn bản pháp luật về thuế, phí và lệ phí hiện hành khác28 Tùy từng điều kiện mà NTNN nộp thuế GTGT, thuế TNDN theo các phương thức khác nhau:

Trường hợp 1: NTNN phải nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ, nộp thuế TNDN trên cơ sở kê khai doanh thu, chi phí để xác định thu nhập chịu thuế (phương pháp khấu trừ, kê khai) nếu đáp ứng đủ các điều kiện quy định tại Điều 8 Thông tư 103/2014/TT-BTC hướng dẫn thực hiện nghĩa vụ thuế áp dụng đối với tổ

chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam hoặc có thu nhập tại Việt Nam

26 Xem thêm: Ph ụ lục 1 – Danh sách các quốc gia đã ký kết Hiệp định tránh đánh thuế hai lần với Việt Nam (tính đến năm 2020)

27 Điều 1 Thông tư 103/2014/TT-BTC của Bộ Tài Chính ngày 06/8/2014 hướng dẫn thực hiện nghĩa vụ thuế áp

d ụng đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam hoặc có thu nhập tại Việt Nam

28 Điều 5 Thông tư 103/2014/TT-BTC của Bộ Tài Chính ngày 06/8/2014 hướng dẫn thực hiện nghĩa vụ thuế áp

d ụng đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam hoặc có thu nhập tại Việt Nam

Trang 39

Trường hợp 2: NTNN phải nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ và nộp thuế TNDN theo tỷ lệ % tính trên doanh thu tính thuế, nếu đáp ứng đủ các điều kiện tại Điều 14 Thông tư 103/2014/TT-BTC hướng dẫn thực hiện nghĩa vụ thuế áp dụng đối

với tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam hoặc có thu nhập tại Việt Nam

Bên Việt Nam nộp thay thuế cho NTNN trong trường hợp NTNN nộp thuế theo phương pháp tính trực tiếp trên GTGT, nộp thuế TNDN theo tỷ lệ tính trên doanh thu

nếu NTNN không đáp ứng được một trong các điều kiện thuộc Điều 8 Thông tư 103/2014/TT-BTC như trên

Bên Việt Nam là những tổ chức được thành lập và hoạt động theo pháp luật Việt Nam, tổ chức đăng ký hoạt động theo pháp luật Việt Nam, tổ chức khác và cá nhân sản

xuất – kinh doanh mua dịch vụ, dịch vụ gắn với hàng hóa, hoặc trả thu nhập phát sinh

tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng nhà thầu hoặc hợp đồng nhà thầu phụ Bên Việt Nam

có trách nhiệm khấu trừ số thuế GTGT, thuế TNDN trước khi thanh toán cho NTNN

tại Việt Nam

kết nối

Ra đời và tồn tại song song như hai yếu tố không thể tách rời, Nhà nước và thuế

- nền tảng vật chất của nó, vẫn luôn giữ vững vị trí bất biến dù lịch sử có đầy những thăng trầm thay đổi Nhà nước xuất hiện, một mặt nắm giữ quyền lực chính trị đặc biệt, một mặt không thể tồn tại nếu thiếu sự đóng góp của công chúng Do đó, bằng cách sử dụng quyền lực để ấn định và các công cụ sức mạnh để cưỡng chế, Nhà nước đã biến thuế thành một nghĩa vụ của công dân và là một quyền thu cơ bản của mình Dù vậy, giống như quyền lực Nhà nước nói chung tự thân có những giới hạn của riêng nó thì quyền thu thuế cũng vậy, đó là giới hạn về lãnh thổ Điều này đồng nghĩa, vì yếu tố lãnh thổ, quyền lực Nhà nước có sức ảnh hưởng bao trùm đến mọi đối tượng cư trú và hoạt động xảy ra bên trong biên giới quốc gia, và ngược lại không tác động đến những

gì ngoài phạm vi đó Tương tự, quyền thu thuế của nhà nước cũng được xác lập phụ

Trang 40

thuộc yếu tố lãnh thổ và yếu tố con người “Quyền theo lãnh thổ cho phép nhà nước được quyền thu thuế đối với mọi đối tượng đủ điều kiện trên lãnh thổ quốc gia, không phân biệt loại chủ thể”, “Quyền theo quốc tịch cho phép nhà nước được thu thuế đối với công dân của quốc gia, không phân biệt đối tượng này đang cư trú hay không cư trú trên lãnh thổ quốc gia”29 Các quyền này được tôn trọng và thừa nhận ngang bằng với sự tôn trọng và thừa nhận chủ quyền quốc gia đối với lãnh thổ Hầu hết các quốc gia trên thế giới hiện nay áp dụng đồng thời cả hai quyền thu, theo đó tùy từng loại thuế mà có cách vận dụng phù hợp với tình hình nội tại mỗi nước Việc áp dụng này thể hiện đặc biệt rõ ràng trong cách quy định các sắc thuế trực thu như thuế TNDN, thuế thu nhập cá nhân Chẳng hạn, doanh nghiệp có thể trở thành đối tượng nộp thuế TNDN tại Việt Nam khi thỏa mãn một trrong hai điều kiện, hoặc mang quốc tịch Việt Nam, hoặc có thu nhập phát sinh trên lãnh thổ Việt Nam

Hiện nay, đã xuất hiện ngày càng nhiều các chủ thể với phương thức hoạt động linh hoạt và khó nắm bắt hơn đối với các cơ quan quản lý, đó là các doanh nghiệp hoạt động trên nền tảng số nói chung, hay các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ kết nối nói riêng Không bận tâm về vấn đề văn phòng, trụ sở hay hiện diện thực chất, các doanh nghiệp thành lập và tồn tại chủ yếu trên không gian mạng, nơi mọi rào cản vật lý về biên giới hay lãnh thổ quốc gia dường như xóa nhòa Tận dụng lợi thế đó đã đem lại cho doanh nghiệp những nguồn thu khổng lồ, trong đó có cả lợi ích từ thuế Đồng nghĩa, việc giám sát, quản lý doanh nghiệp càng thêm khó khăn, phức tạp cho các cơ quan thuế Nhà nước, đưa đến hệ lụy là thiệt hại cho ngân sách, cho quyền lợi các bên tham gia liên quan và ảnh hưởng cả nền kinh tế vĩ mô

Đối với các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ kết nối cần kể đến trường hợp là doanh nghiệp quốc tịch Việt Nam (Grab, Go-Viet…) và doanh nghiệp không có cơ sở thường trú tại Việt Nam nhưng có thu nhập tại Việt Nam, hoạt động thông qua website, nền tảng ứng dụng có máy chủ đặt ở nước ngoài (Airbnb…) Doanh nghiệp có quốc tịch Việt Nam do công ty mẹ ở nước ngoài thành lập công ty con theo pháp luật Việt Nam, trường hợp này doanh nghiệp vẫn thực hiện nghĩa vụ thuế của mình theo quy định “doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam nộp thuế đối

29Trường đại học Luật Hà Nội (2008), Giáo trình Luật thuế Việt Nam, Vũ Văn Cương (Chủ biên), NXB CAND

Hà N ội, trang 22

Ngày đăng: 19/05/2021, 09:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w