Những trường hợp không áp dụng chế tài này có thể liệt kê như không thể thực hiện được nghĩa vụ theo quy định của pháp luật hay trên thực tế, việc thực hiện nghĩa vụ mang tính tuyệt đối
Trang 1-o0o -
NGUYỄN NGỌC HIẾU
BUỘC THỰC HIỆN ĐÚNG HỢP ĐỒNG
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC Chuyên ngành: Luật kinh tế
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn chưa từng được ai công bố trong bất
kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Trang 3BLDS Bộ luật dân sự
CISG Convention on contracts for the international sale of goods
(Công ước viên về mua bán hàng hóa quốc tế năm 1980)
UPICC
UNIDROIT (International Institute for the Unification of Private Law) Principles of international commercial contract (Bộ nguyên tắc Unidroit về hợp đồng thương mại quốc tế năm 2004)
PECL Principles of European contract law
(Bộ nguyên tắc Châu Âu về hợp đồng)
Trang 41 - Lý do chọn đề tài 1
2- Tình hình nghiên cứu đề tài 3
3- Mục đích, đối tượng và giới hạn phạm vi nghiên cứu 4
3.1 Mục đích nghiên cứu 4
3.2 Đối tượng và giới hạn phạm vi nghiên cứu 5
4- Các phương pháp tiến hành nghiên cứu 5
5- Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài 5
6 Bố cục của Luận văn 5
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ BUỘC THỰC HIỆN ĐÚNG HỢP ĐỒNG 6
1.1 Khái niệm buộc thực hiện đúng hợp đồng 6
1.1.1 Buộc thực hiện đúng hợp đồng là một chế tài 6
1.1.2 Căn cứ phát sinh chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng 14
1.1.3 Nội dung chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng 18
1.2 Vị trí của buộc thực hiện đúng hợp đồng trong các loại chế tài thương mại 24
1.2.1 Theo một số văn bản quốc tế 24
1.2.2 Theo pháp luật Việt Nam 29
1.3 Mối quan hệ với các chế tài thương mại khác 32
1.3.1 Mối quan hệ với bồi thường thiệt hại 32
1.3.2 Mối quan hệ với hủy bỏ hợp đồng 35
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 37
CHƯƠNG 2: MỘT SỐ BẤT CẬP VÀ KIẾN NGHỊ VỀ CHẾ TÀI BUỘC THỰC HIỆN ĐÚNG HỢP ĐỒNG TRONG PHÁP LUẬT THƯƠNG MẠI 39
2.1 Phạm vi áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng 39
2.1.1 Áp dụng đối với tất cả hành vi vi phạm nghĩa vụ 39
2.1.2 Đối với nghĩa vụ giao hàng không phù hợp với hợp đồng 41
2.1.3 Hạn chế áp dụng yêu cầu giao hàng hóa thay thế 44
2.2 Gia hạn thời hạn thực hiện nghĩa vụ hợp đồng và quyền khắc phục của bên vi phạm 50
Trang 52.2.2 Quyền khắc phục của bên vi phạm 52
2.3 Thẩm quyền của Tòa án và thực thi chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng theo quyết định của Tòa án 54
2.3.1 Thẩm quyền của Tòa án 54
2.3.2 Thực thi chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng theo quyết định của Tòa án 58
2.4 Những trường hợp không buộc thực hiện đúng hợp đồng 61
2.4.1 Không thể thực hiện được nghĩa vụ theo quy định của pháp luật hay trên thực tế 62
2.4.2 Việc thực hiện nghĩa vụ mang tính tuyệt đối cá nhân 64
2.4.3 Việc thực hiện nghĩa vụ đòi hỏi cố gắng hay chi phí bất hợp lý 65
2.4.4 Bên có quyền có thể nhận được một cách hợp lý việc thực hiện nghĩa vụ bằng phương pháp khác 68
2.4.5 Sự chậm trễ trong thông báo yêu cầu thực hiện nghĩa vụ 69
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 72
KẾT LUẬN 75 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6MỞ ĐẦU
1 - Lý do chọn đề tài
Khi tham gia quan hệ hợp đồng, các bên đều mong muốn đạt được những lợi ích nhất định Lợi ích các bên hướng tới không thể có được nếu một bên không thực hiện, thực hiện không đúng, không đầy đủ các nghĩa vụ theo hợp đồng đã ký kết Trường hợp một bên vi phạm nghĩa vụ, thì việc áp dụng biện pháp bảo hộ pháp lý nào là thỏa đáng để cân bằng quyền và lợi ích hợp pháp của bên bị vi phạm, và lợi ích của cả bên vi phạm có vai trò quan trọng, nhằm bảo đảm ổn định các quan hệ hợp đồng thương mại Các chế tài hiệu quả để áp dụng đối với chủ thể vi phạm hợp đồng luôn là một trong những mối quan tâm của các nhà làm luật để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể Về chế tài trong thương mại, Điều 292 Luật thương mại 2005 quy định 07 loại chế tài có thể được áp dụng khi một bên vi phạm hợp đồng, trong
đó buộc thực hiện hợp đồng là chế tài đầu tiên được đề cập
Buộc thực hiện đúng hợp đồng là việc bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm thực hiện đúng hợp đồng hoặc dùng các biện pháp khác để hợp đồng được thực hiện và bên vi phạm phải chịu chi phí phát sinh1 Chế tài này có ý nghĩa rất quan trọng đảm bảo cho các bên tôn trọng và thực hiện các thỏa thuận, từ đó giúp các bên đạt được lợi ích mong muốn khi giao kết hợp đồng
Ở Việt Nam, pháp luật cũng theo hướng các nước thuộc hệ thống dân luật, hợp đồng được ký kết hợp pháp thì có giá trị bắt buộc đối với các bên, vì thế nếu một bên thực hiện không đúng hợp đồng thì về nguyên tắc bên kia có quyền yêu cầu phải thực hiện đúng hợp đồng Theo quan điểm này, buộc thực hiện đúng hợp đồng được áp dụng đối với mọi trường hợp vi phạm Ngược lại, đối với các quốc gia thông luật, bồi thường thiệt hại là biện pháp ưu tiên được áp dụng, chỉ khi nào việc bồi thường tỏ ra không thích hợp thì mới áp dụng buộc tiếp tục thực hiện đúng hợp đồng.2
Buộc thực hiện đúng hợp đồng cũng là vấn đề được quan tâm và đề cập trong những văn bản pháp lý quốc tế có sự ảnh hưởng lớn trên thế giới như Công ước viên về mua bán hàng hóa quốc tế năm 1980 (CISG), Bộ nguyên tắc Unidroit về hợp đồng thương mại quốc tế (UPICC) và Bộ nguyên tắc Châu Âu về hợp đồng (PECL) Trong các văn bản pháp lý này, buộc thực hiện đúng hợp đồng được xem là biện pháp khắc phục chính, được ưu tiên áp dụng trước hết khi có vi phạm hợp đồng Mặc dù, thừa nhận là chế tài được
ưu tiên áp dụng khi có hành vi vi phạm nghĩa vụ, tuy nhiên quy định của pháp luật Việt Nam về chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng chưa được thể hiện một cách khái quát và rõ nét Bên cạnh những quy định chung tương đồng với
Trang 7các văn bản pháp lý trên, thì pháp luật Việt Nam đang tồn tại nhiều khuyết điểm, hạn chế
Theo khoản 2 Điều 297 của Luật thương mại 2005, chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng chỉ được áp dụng hạn chế đối với một số trường hợp đó
là giao thiếu hàng hoặc giao hàng, cung ứng dịch vụ kém chất lượng Do đó,
Luật thương mại thiếu cơ sở pháp lý cho việc áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng trong trường hợp bên bán vi phạm bất kỳ nghĩa vụ nào khác trừ trường hợp giao hàng hóa không đầy đủ và giao hàng, cung ứng dịch vụ kém chất lượng Giả sử trường hợp bên bán giao hàng không phù hợp với mục đích sử dụng thông thường của hàng hóa cùng chủng lọai; hay không phù hợp với bất kỳ mục đích cụ thể nào mà bên mua đã cho bên bán biết hoặc bên bán phải biết vào thời điểm giao kết hợp đồng; hay trường hợp hàng hóa không được bảo quản, đóng gói theo cách thức thông thường hoặc theo cách thức thích hợp để bảo quản, thì Tòa án không thể áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng đối với bên vi phạm
Đồng thời tại khoản 2 Điều 297 trao cho bên mua quyền yêu cầu giao hàng hóa thay thế khi bên bán đã giao hàng kém chất lượng, thậm chí việc giao hàng không phù hợp đó không cấu thành một vi phạm cơ bản theo khoản
13 Điều 3 Luật thương mại Quy định này của Luật thương mại đã trao quyền yêu cầu giao hàng thay thế quá “dễ dãi” cho bên mua, và đặt gánh nặng quá lớn cho bên bán Điều này vô hình dung đã gây bất lợi rất lớn cho người bán khi phải nhận lại hàng khiếm khuyết và giao hàng khác thay thế theo hợp đồng, nhất là trong các giao dịch mua bán hàng hóa quốc tế với khoảng cách địa lý xa, rất tốn kém trong việc vận chuyển và ký gửi hàng hóa cho bên thứ
ba Khác với quy định của luật thương mại, Điều 46(2) công ước viên trao cho bên mua quyền yêu cầu bên bán giao hàng thay thế khi và chỉ khi giao
hàng bị khiếm khuyết cấu thành vi phạm cơ bản theo Điều 25 Công ước
Trong thực tiễn, hậu quả pháp lý của việc yêu cầu giao hàng hóa thay thế dẫn đến hậu quả tương tự việc chấm dứt hợp đồng, khi mà hàng hóa bị khiếm khuyết sẽ được trả lại cho bên bán và hàng hóa thay thế phải được vận chuyển đến cho bên mua Do vậy, Công ước đã áp dụng học thuyết “vi phạm cơ bản”
để hạn chế yêu cầu giao hàng hóa thay thế
Để tăng khả năng áp dụng chế tài này, các văn bản pháp lý quốc tế như CISG, UPICC và PECL đã có những quy định về buộc thực hiện đúng hợp đồng bằng cách gia hạn thực hiện nghĩa vụ và quyền khắc phục, sữa chữa khiếm khuyết thực hiện nghĩa vụ của bên vi phạm Đây là những có chế rất hiệu quả để bên vi phạm có thêm “cơ hội” để thực hiện đúng nghĩa vụ hợp đồng Tuy nhiên, khác với quy định của các văn bản trên, pháp luật Việt Nam quy định về vấn đề này còn rất hạn chế, chỉ ghi nhận về quyền gia hạn thực hiện nghĩa vụ của bên bị vi phạm, mà không phải là nghĩa vụ của bên này Do
Trang 8đó, có gia hạn thực hiện nghĩa vụ hay không và gia hạn bao lâu là tùy thuộc vào ý chí của bên bị vi phạm, không phụ thuộc vào yêu cầu hợp lý của bên vi phạm3
Ngoài ra, buộc thực hiện đúng hợp đồng không mang tính tuyệt đối, các văn bản pháp lý quốc tế CISG, UPICC và PECL, bên cạnh ghi nhận nguyên tắc chung, đã ghi nhận những ngọai lệ của biện pháp bảo hộ pháp lý (chế tài) buộc thực hiện đúng hợp đồng Những trường hợp không áp dụng chế tài này có thể liệt kê như không thể thực hiện được nghĩa vụ theo quy định của pháp luật hay trên thực tế, việc thực hiện nghĩa vụ mang tính tuyệt đối cá nhân, việc thực hiện nghĩa vụ đòi hỏi bên vi phạm những cố gắng hay chi phí bất hợp lý, bên có quyền có thể nhận được một cách hợp lý việc thực hiện nghĩa vụ bằng phương pháp khác, và sự chậm trễ trong thông báo yêu cầu thực hiện nghĩa vụ Những quy định tương tự như trên chưa được đề cập trong cả pháp luật dân sự và thương mại Việt Nam
Bên cạnh đó, giữa pháp luật thương mại và pháp luật dân sự cũng tồn tại nhiều vấn đề không tương đồng, trong khi các quy định về buộc tiếp tục thực hiện đúng nghĩa vụ hợp đồng trong Bộ luật dân sự quan tâm nhiều đến
“đối tượng của nghĩa vụ” (chỉ có một số loại nghĩa vụ mới có quy định buộc tiếp tục thực hiện), thì các quy định của luật thương mại lại không quan tâm đến “bản chất đối tượng của nghĩa vụ” (nghĩa vụ nào cũng có thể được yêu cầu tiếp tục thực hiện), nhưng lại chỉ giới hạn việc áp dụng chế tài này đối với một số loại “vi phạm”, đó là giao thiếu hàng, giao hàng, cung ứng dịch vụ kém chất lượng như đã đề cập ở trên
Trong thực tiễn xét xử, khi áp dụng chế tài này để buộc bên vi phạm phải thực hiện đúng hợp đồng còn có nhiều ý kiến, quan điểm khác nhau Sự vận dụng không thống nhất đã đưa ra những quyết định trái ngược nhau, tạo
ra sự bất bình đẳng trong quan hệ thương mại Ngoài ra, một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến việc áp dụng chế tài này trên thực tế còn rất nhiều hạn chế, đó là pháp luật Việt Nam chưa có quy định rõ ràng về thẩm quyền của Tòa án trước yêu cầu buộc thực hiện đúng hợp đồng của bên bị vi phạm, và chưa có cơ chế hiệu quả để bảo đảm tính khả thi quyết định áp dụng của Tòa án
Do vậy, nghiên cứu về chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng có ý nghĩa quan trọng không chỉ về mặt lý luận, mà cả trong thực tiễn áp dụng Đó cũng là lý do tác giả chọn đề tài này làm luận văn thạc sỹ luật học của mình
2- Tình hình nghiên cứu đề tài
- Ở trong nước: Nghiên cứu liên quan đến nội dung của đề tài, hiện nay chỉ được đề cập ở chừng mực nhất định trong một số tài liệu như: Giáo trình hợp đồng thương mại quốc tế, nhà xuất bản đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh; sách chuyên khảo: Các biện pháp xử lý việc không thực hiện đúng hợp đồng của tác giả Đỗ Văn Đại; sách chuyên khảo: Chế định hợp đồng
3
Xem Điều 298 Luật thương mại 2005
Trang 9trong luật dân sự Việt Nam của tác giả Nguyễn Ngọc Khánh Và một số bài
viết khác như: Buộc thực hiện đúng hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo
quy định của pháp luật Việt Nam – So sánh với công ước viên 1980 của tác
giả Lương Văn Lắm; quy định của Công ước viên về các chế tài khi vi phạm
hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế của Nguyễn Minh Hằng (Tài liệu tham
gia hội thảo khoa học không thực hiện đúng hợp đồng trong pháp luật thực
định Việt Nam, Đại học luật thành phố Hồ Chí Minh)
- Ở nước ngòai: Có nhiều công trình nghiên cứu về chế tài hợp đồng
nói chung, trong đó có đề cập đến chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng, như:
A Comparative Study of Specific Performance Provisions in the United
Nations Convention on Contracts for the International Sale of Goods của tác
giả Nayiri Boghossian; CISG- Structure of remedies của Peter Hube; CISG,
Specific performance and finnish law của Jussi Koskinen; The Application of
specific performance in contractual relationships của Asta
Jakutytė-Sungailienė; Remedies for non-performance-perspectives from CISG,
Unidroit principles and Pecl của Liu Chengwei; Buyer's Right to Specific
Performance: A Comparative Study Under English Law, the Convention on
Contracts for the International Sale of Goods 1980, Iranian and Shi'ah Law
của Mirghasem Jafarzadeh
Các tài liệu trên đây đề cập đến từng khía cạnh pháp lý của đề tài
Nhưng chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ và toàn diện
về chế tài này theo quy định của pháp luật thương mại Việt Nam Do đó, việc
lựa chọn đề tài này là không trùng lắp với các công trình khoa học đã được
công bố
3- Mục đích, đối tượng và giới hạn phạm vi nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn là làm sáng tỏ cơ sở lý luận, thực trạng pháp lý
và áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng trong thực tiễn xét xử Qua
đó cung cấp kiến thức pháp lý cần thiết cho các bên trong quá trình thực hiện
hợp đồng thương mại, góp phần hoàn thiện quy định của pháp luật về vấn đề
này
Trên cơ sở mục đích của đề tài, Luận văn tập trung giải quyết các vấn đề
sau đây:
- Nghiên cứu làm sáng tỏ cơ sở lý luận của chế tài buộc thực hiện đúng
hợp đồng, bản chất pháp lý, căn cứ phát sinh, nội dung và vị trí của buộc thực
hiện đúng hợp đồng trong các loại chế tài thương mại, mối quan hệ giữa chế
tài buộc thực hiện đúng hợp đồng và các chế tài khác như bồi thường thiệt hại
và hủy hợp đồng
- Tác giả cũng so sánh quy định của pháp luật Việt Nam với quy định
của pháp luật quốc tế và một số nước để cung cấp kiến thức đầy đủ, toàn diện
hơn về chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng
Trang 10- Tác giả đi sâu vào phân tích những thiếu sót, hạn chế quy định của pháp luật Việt Nam, cũng như những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng chế tài này Qua đó, đề xuất những kiến nghị để hoàn thiện quy định của pháp luật liên quan
3.2 Đối tượng và giới hạn phạm vi nghiên cứu
Đối tượng và giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài gồm:
- Quy định của pháp Luật thương mại Việt Nam, luật dân sự Việt Nam
về chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng;
- Quy định của Công ước viên 1980 về mua bán hàng hóa quốc tế, Bộ nguyên tắc Unidroit về hợp đồng thương mại quốc tế, Bộ nguyên tắc Châu Âu
về hợp đồng và pháp luật một số nước về chế tài này;
- Các bản án của Tòa án các cấp và của Trọng tài thương mại có liên quan đến buộc thực hiện đúng hợp đồng
4- Các phương pháp tiến hành nghiên cứu
Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu trong luận án là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, những nguyên lý
cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lê nin; quan điểm của Đảng và nhà nước ta về nhà nước và pháp quyền
Các phương pháp nghiên cứu khoa học phù hợp với tính chất và yêu cầu của đề tài như: Phương pháp phân tích, diễn giải, bình luận, lịch sử, so sánh luật học, lô gíc, hệ thống, kết hợp lý luận với thực tiễn để đưa ra những kết luận, đánh giá nhằm giải quyết những vấn đề được đưa ra
5- Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài
Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận
và pháp lý của chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng, áp dụng chế tài này trong thực tiễn qua hoạt động xét xử của Tòa án Qua đó cung cấp kiến thức pháp lý cần thiết cho các bên trong quá trình thực hiện hợp đồng, cũng như tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong quan hệ hợp đồng thương mại
Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho sinh viên luật, những nhà nghiên cứu và áp dụng pháp luật thực tiễn quan tâm đến chế tài này
6 Bố cục của Luận văn
Ngòai phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm hai chương
Chương 1: Lý luận chung về buộc thực hiện đúng hợp đồng
Chương 2: Một số bất cập và kiến nghị về chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng trong pháp luật thương mại
Trang 11CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ BUỘC THỰC HIỆN ĐÚNG HỢP ĐỒNG
1.1 Khái niệm buộc thực hiện đúng hợp đồng
1.1.1 Buộc thực hiện đúng hợp đồng là một chế tài
1.1.1.1.Khái niệm chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại
Nghiên cứu về chế tài trong pháp LTM có một vai trò hết sức quan trọng nhằm đảm bảo cho sự thỏa thuận, cam kết của các bên có thể được thực hiện bằng những cơ sở pháp lý Do đó, các hệ thống pháp luật trên thế giới và pháp luật của các quốc gia luôn có sự quan tâm đặc biệt Các văn bản pháp lý quốc tế được áp dụng rộng rãi như Công ước viên về mua bán hàng hóa quốc
tế năm 1980 (CISG), Nguyên tắc pháp luật hợp đồng châu âu (PECL) và Bộ nguyên tắc của Unidroit về hợp đồng thương mại quốc tế năm 2004 (UPICC)
đã có nhiều quy định về chế tài nói chung và về buộc thực hiện đúng hợp đồng nói riêng
Khi thống nhất thỏa thuận và ký kết hợp đồng thương mại, các bên luôn hướng tới việc đạt được mục đích của hợp đồng một cách nhanh chóng, an tòan và ít tốn kém nhất Trong quá trình thực hiện hợp đồng, các bên đều mong đợi việc thực thi nghiêm túc từ phía đối tác, bởi đó là điều kiện giúp họ đạt được lợi ích mong muốn Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp mong muốn của các bên không đạt được bởi nhiều lý do nhưng chủ yếu là do sự vi phạm của một bên trong quan hệ hợp đồng Do vậy, để đảm bảo việc tuân thủ pháp luật và thỏa thuận giữa các bên, đảm bảo cho bên bị thiệt hại được bù đắp kịp thời những thiệt hại gây ra bởi bên vi phạm, pháp luật quy định trách nhiệm pháp lý trong trường hợp vi phạm hợp đồng mà hình thức biểu hiện là hệ thống các chế tài trong thương mại
* Chế tài thương mại là gì?
Chế tài được hiểu là một bộ phận của quy phạm pháp luật nêu lên những biện pháp tác động mà nhà nước dự kiến để đảm bảo cho pháp luật được thực hiện nghiêm minh4 Những biện pháp này mang lại hậu quả pháp lý bất lợi cho chủ thể bị áp dụng, thể hiện thái độ của nhà nước đối với chủ thể
có hành vi vi phạm pháp luật Chế tài còn được hiểu là những hình phạt hoặc các phương tiện khác của việc thực thi pháp luật, được sử dụng để đảm bảo cho sự phục tùng của pháp luật, hoặc của các quy tắc và quy định5
Chế tài thương mại là những hậu quả pháp lý bất lợi về tài sản mà nhà nước dự kiến áp dụng đối với những chủ thể vi phạm nghĩa vụ hợp đồng thương mại Trong quá trình ký kết và thực hiện hợp đồng thương mại, các bên có nghĩa vụ nghiêm chỉnh thực hiện thỏa thuận đã cam kết, bởi khi hợp
4
Lê Minh Tâm (2004), Giáo trình lý luận nhà nước và pháp luật, Nhà xuất bản công an nhân dân, năm 2004, tr 375
5
Http://american-bankruptcy.us/?a=Sanctions_(law)
Trang 12đồng được ký kết một cách hợp pháp thì có hiệu lực ràng buộc các bên, quyền
và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng được pháp luật tôn trọng và bảo vệ Nếu một bên có hành vi vi phạm hợp đồng thì có khả năng bị áp dụng các chế tài thương mại, tức phải gánh chịu những hậu quả pháp lý bất lợi được pháp luật quy định Và khác cơ bản so với chế tài hình sự hay hành chính, chế tài thương mại là chế tài hoàn tòan mang tính tài sản, tức bên vi phạm phải gánh chịu những hậu quả pháp lý bất lợi về tài sản khi thực hiện hành vi vi phạm hợp đồng, như phải gánh chịu các chi phí để thực hiện đúng nghĩa vụ hợp đồng, cho dù việc tiếp tục thực hiện có thể gây tốn kém hơn cho bên vi phạm
do giá cả hay chí phí tăng, hoặc phải trả tiền phạt vi phạm, hay phải bồi thường thiệt hại nếu gây ra thiệt hại Ví dụ: nếu vi phạm hợp đồng, bên vi phạm có thể bị Tòa án áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng, chế tài này yêu cầu bên vi phạm phải tiếp tục thực hiện đúng nghĩa vụ, nếu giao hàng
bị khuyết tật thì bỏ thêm chi phí và công sức để tiến hành sữa chữa hoặc giao hàng thay thế, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường Trong trường hợp hành vi của một bên là vi phạm nghiêm trọng thì có thể bị đình chỉ, hủy bỏ hợp đồng
và bồi thường tòan bộ thiệt hại phát sinh
Chế tài thương mại có thể do các bên tự thiết lập (như phạt vi phạm hợp đồng) hoặc do pháp luật quy định Rõ ràng khác với chế tài hình sự hay hành chính, chế tài thương mại có thể do các bên tự quy định để ràng buộc trách nhiệm thực hiện đúng thỏa thuận, miễn thỏa thuận đó phù hợp với pháp luật Pháp luật trao quyền cho bên bị vi phạm để yêu cầu bên vi phạm phải chấp hành, nếu không tự giác thi hành thì bên bị vi phạm có thể yêu cầu sự áp dụng từ phía cơ quan nhà nước có thẩm quyền
* Vai trò của chế tài thương mại:
Từ góc độ quản lý nhà nước, chế tài thương mại là công cụ quan trọng
để nhà nước quản lý quan hệ thương mại của các chủ thể trong xã hội, đảm bảo cho pháp luật được tôn trọng và thực thi, góp phần làm lành mạnh hóa quan hệ kinh tế thương mại trong thị trường Xét trong mối quan hệ giữa các bên trong hợp đồng, chế tài thương mại được quy định nhằm mục đích răn đe bên vi phạm hợp đồng, đảm bảo cho thỏa thuận hợp pháp giữa các bên được tôn trọng và thực thi Đứng trước khả năng phải gánh chịu những hậu quả pháp lý bất lợi về tài sản, bên có ý định vi phạm hợp đồng sẽ có lựa chọn và cân nhắc đối với hành vi của mình, bởi nếu thực hiện hành vi vi phạm nghĩa
vụ, thì việc bị áp dụng các chế tài thương mại là điều không tránh khỏi, và tất yếu kéo theo sự thiệt hại về kinh tế
Vai trò quan trọng nhất của chế tài thương mại là khôi phục và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên bị vi phạm trong quan hệ hợp đồng Bởi khi bị vi phạm hợp đồng, ảnh hưởng đến lợi ích hợp pháp của mình, bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bên vi phạm phải bồi thường cho những thiệt hại đã gây ra để khôi phục lại lợi ích chính đáng của mình Quyền này của bên bị vi
Trang 13phạm được pháp luật ghi nhận và bảo đảm thực hiện, kể cả bằng biện pháp cưỡng chế khi cần thiết
* Chế tài thương mại được áp dụng khi nào?
Chế tài thương mại được áp dụng khi có hành vi vi phạm của một bên trong quan hệ hợp đồng Hành vi vi phạm trong hợp đồng có thể là hành vi không thực hiện, hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ một phần hay tòan bộ nghĩa vụ đã thỏa thuận trong hợp đồng Nhưng cũng có thể là hành vi
vi phạm quy định của pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh thương mại, mặc
dù những quy định này không được các bên thỏa thuận và ghi nhận trong hợp đồng, nhưng cũng được xem là những quy định mang tính “mặc định” và bắt buộc đối với các bên
Điều chỉnh về chế tài thương mại, Luật thương mại (LTM) 2005 tại Điều 292 đã đặt ra bảy loại chế tài có thể được áp dụng đối với hành vi vi phạm của bên có nghĩa vụ: Buộc thực hiện đúng hợp đồng, phạt vi phạm,buộc bồi thường thiệt hại, tạm ngừng thực hiện hợp đồng, đình chỉ, hủy bỏ hợp đồng và các biện pháp khác do các bên thỏa thuận Mỗi chế tài có căn cứ áp dụng, hậu quả pháp lý và bản chất khác nhau Do vậy, việc lựa chọn một hay kết hợp nhiều chế tài thường phụ thuộc vào bản chất của vi phạm, và mục đích mà bên bị vi phạm hướng tới ví dụ: Để tiếp tục duy trì hợp đồng và khắc phục thiệt hại, bên bị vi phạm có thể yêu cầu áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng, kết hợp với yêu cầu bồi thường thiệt hại Nếu việc tiếp tục thực hiện hợp đồng không còn ý nghĩa với bên bị vi phạm, thì thông thường giải pháp được lựa chọn là hủy hợp đồng, và yêu cầu bồi thường thiệt hại
Như vậy, chế tài trong hợp đồng thương mại là hậu quả pháp lý bất lợi
về mặt vật chất, được áp dụng đối với bên có hành vi vi phạm, nhằm mục đích khắc phục thiệt hại do hành vi vi phạm gây ra đối với bên bị vi phạm, đảm bảo cho thỏa thuận giữa các bên được tôn trọng và thực thi theo đúng quy định của pháp luật
1.1.1.2 Bản chất pháp lý của buộc thực hiện đúng hợp đồng
* Buộc thực hiện đúng hợp đồng là một chế tài thương mại
Trong quan hệ hợp đồng, nếu một bên không thực thi nghĩa vụ nhằm đáp ứng lợi ích của bên đối tác thì bên này có quyền yêu cầu bên vi phạm phải thực hiện đúng hợp đồng hay không? Buộc thực hiện đúng hợp đồng được hiểu như thế nào?
Buộc thực hiện đúng hợp đồng được hiểu: Khi một bên không thực hiện nghĩa vụ của mình, bên kia có quyền yêu cầu bên vi phạm phải thực hiện đúng nghĩa vụ theo hợp đồng6 Trong pháp luật Việt Nam, khái niệm buộc thực hiện đúng hợp đồng lần đầu tiên được đề cập tại khỏan 1 Điều 223 LTM
1997: “Buộc thực hiện đúng hợp đồng là việc bên có quyền lợi bị vi phạm yêu
6
Http: www.buscalegis.ufsc.br/ /32977-41266-1-PB.pdf
Trang 14cầu bên vi phạm thực hiện đúng hợp đồng hoặc dùng các biện pháp khác để hợp đồng được thực hiện và bên vi phạm phải chịu phí tổn phát sinh”
Xuất phát từ khái niệm này, có thể hiểu buộc thực hiện đúng hợp đồng trước hết là quyền “đương nhiên” được trao cho bên bị vi phạm trước hành vi
vi phạm nghĩa vụ hợp đồng của bên kia, và quyền này được pháp luật tôn trọng và bảo vệ Bởi hợp đồng là sự thỏa thuận về quyền và nghĩa vụ của các bên nhằm đạt được những lợi ích nhất định, quyền của bên này tương ứng với nghĩa vụ của bên kia, do vậy các bên phải có trách nhiệm thực hiện nghiêm túc nghĩa vụ của mình Khi một bên vi phạm nghĩa vụ thì bên còn lại có quyền yêu cầu bên này phải tiếp tục thực hiện đúng nghĩa vụ
Buộc thực hiện đúng hợp đồng là biện pháp khắc phục “tự nhiên” nhất cho vi phạm hợp đồng, khôi phục lại trạng thái ban đầu của các bên khi hành
vi vi phạm nghĩa vụ chưa xẩy ra, do đó nó bảo vệ quan hệ hợp đồng và giúp các bên đạt được mục đích của mình Bên mua có hàng hoặc dịch vụ - đối tượng của hợp đồng, bên bán được thanh tóan giá trị tương ứng
Có quan điểm cho rằng, buộc thực hiện đúng hợp đồng là biện pháp khắc phục công bằng đặc biệt, buộc một bên thực hiện hợp đồng theo chính xác các điều khoản thoả thuận, nhằm đảm bảo cho công lý sẽ được thực hiện giữa các bên trong tất cả các trường hợp”.7 Buộc thực hiện đúng hợp đồng còn được hiểu là việc thực hiện thực tế hợp đồng bởi bên bị ràng buộc phải thực hiện nó.8
Như vậy, buộc thực hiện đúng hợp đồng không những được hiểu là quyền yêu cầu của bên bị vi phạm trước hành vi vi phạm hợp đồng, mà còn được hiểu là nghĩa vụ phải thực hiện đúng của bên vi phạm đối với những thỏa thuận đã cam kết, đảm bảo lợi ích hợp pháp của bên bị vi phạm, và thiết lập công bằng trong quan hệ hợp đồng giữa các bên Ghi nhận về quyền yêu cầu thực hiện đúng hợp đồng trong pháp luật Việt Nam là phù hợp với pháp luật quốc tế, là cơ sở pháp lý quan trọng để đảm bảo cho quyền, lợi ích hợp pháp của bên bị vi phạm khi việc không thực hiện đúng nghĩa vụ của bên vi phạm đã xâm phạm lợi ích chính đáng của bên này
Chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng được quy định tại Điều 292 LTM 2005, là chế tài được liệt kê đầu tiên trong số bảy lọai chế tài thương mại Buộc thực hiện đúng hợp đồng trước hết là một chế tài thương mại, do
đó chỉ tồn tại khi xuất hiện hành vi vi phạm nghĩa vụ hợp đồng, và được áp dụng theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp, đó có thể là Tòa án hoặc trọng tài thương mại
Mang bản chất là một chế tài thương mại, buộc thực hiện đúng hợp đồng là hậu quả pháp lý bất lợi về mặt vật chất, được áp dụng đối với bên vi phạm nghĩa vụ, nhằm mục đích khắc phục những thiệt hại do bên này gây ra
7
Http://www.answers.com/topic/specific-performance
8
Http://legal-dictionary.thefreedictionary.com/specific+performance
Trang 15đối với bên bị vi phạm Khi bị áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng, bên bị vi phạm rõ ràng phải gánh chịu hậu quả pháp lý bất lợi, bởi lẽ bên này phải tiếp tục thực hiện đúng nghĩa vụ hợp đồng bằng chi phí của mình và bồi thường thiệt hại cho bên bị vi phạm nếu có
Cụ thể, đối với bên bán: Nếu giao hàng hoặc cung cấp dịch vụ không đúng số lượng, thì buộc phải giao đủ số lượng, nếu giao hàng hoặc cung cấp dịch vụ kém chất lượng thì phải lọai trừ khuyết tật của hàng hóa, dịch vụ, hoặc giao hàng hóa thay thế, cung ứng dịch vụ theo đúng hợp đồng Việc thực hiện các biện pháp khắc phục hay thay thế, bên bị vi phạm phải tiến hành bằng chi phí của mình, cho dù việc thực hiện có thể tốn kém hơn, vì phải bỏ nhiều chi phí và công sức hơn Trong trường hợp bên vi phạm không thực hiện nghĩa vụ thì bên bị vi phạm có quyền mua hàng, nhận cung ứng dịch vụ của bên thứ ba hay tự khắc phục sữa chữa khuyết tật của hàng hóa, dịch vụ và yêu cầu bên vi phạm phải trả các khỏan tiền chênh lệch và chi phí liên quan nếu có Đối với bên mua, phải thực hiện nghĩa vụ thanh tóan đúng thời hạn, nếu thanh tóan không đúng thời hạn thì phải trả tiền lãi, và thực hiện các nghĩa vụ khác như nhận và bốc dỡ hàng kịp thời…nếu chậm hay không thực hiện nghĩa vụ mà gây thiệt hại thì phải bồi thường cho bên mua
Mang ý nghĩa là một biện pháp khắc phục thiệt hại do hành vi vi phạm nghĩa vụ gây ra, chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng là cơ sở pháp lý để buộc bên có nghĩa vụ phải cung cấp lợi ích đã cam kết cho bên bị thiệt hại, đặt bên bị thiệt hại vào vị trí ban đầu khi hành vi vi phạm nghĩa vụ chưa xẩy ra
Là một chế tài được cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng, chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng được nhà nước đảm bảo thực hiện, kể cả bằng biện pháp cưỡng chế nếu cần thiết Do đó có tác dụng ngăn ngừa hành vi vi phạm hợp đồng, bảo đảm cho thỏa thuận giữa các bên được tôn trọng và bảo đảm thực thi trên thực tế
* Sự khác nhau cơ bản giữa buộc thực hiện đúng hợp đồng theo pháp luật common law và civil law
Tiếp cận về quyền yêu cầu buộc thực hiện đúng hợp đồng khác nhau theo các hệ thống pháp luật Từ đó hình thành các khái niệm khác nhau về buộc thực hiện đúng hợp đồng Theo Steve W Schneider: Buộc thực hiện đúng hợp đồng là một yêu cầu theo đó bên vi phạm phải thực hiện nghĩa vụ của mình theo hợp đồng Nó được dành riêng cho những trường hợp mà các biện pháp khắc phục hậu quả khác tỏ ra không phù hợp Các đối tượng của hợp đồng phải là duy nhất và không dễ dàng thay thế Buộc thực hiện đúng hợp đồng là một biện pháp thường được yêu cầu trong các tranh chấp liên quan đến việc mua bán bất động sản.9
9
perform-contract-obligations.htm
Trang 16.Http://www.netplaces.com/paralegal/contracts-and-commercial-transactions/remedies-for-failing-to-Buộc thực hiện đúng hợp đồng là một lệnh của Tòa án yêu cầu một bên thực hiện một hành động cụ thể, thường là những gì được ghi trong hợp đồng Đây là một sự thay thế cho bồi thường thiệt hại, và được phân loại như là một biện pháp công bằng, thường được sử dụng trong hình thức lệnh cứu trợ liên quan đến thông tin bí mật hoặc bất động sản Trong khi buộc thực hiện đúng hợp đồng có thể trong hình thức của hành động bị bắt buộc bất kỳ, nó thường được sử dụng để hoàn thành một giao dịch được xác lập trước Do đó là phương thuốc hiệu quả nhất trong việc bảo vệ lợi ích mong đợi của bên ngay thật đối với hợp đồng.10
Một khái niệm khác phổ biến hơn có thể tìm thấy: “Buộc thực hiện đúng hợp đồng là một biện pháp khắc phục công bằng bởi lệnh của tòa án, nhiệm vụ thực hiện chính xác nghĩa vụ pháp lý hoặc nghĩa vụ hợp đồng, khi bồi thường thiệt hại bằng tiền sẽ không phù hợp hoặc không đầy đủ, chẳng hạn như trong việc bán một bài báo hiếm hoặc một mảnh bất động sản duy nhất.11
Như vậy, các khái niệm này đề cao tính ràng buộc của hợp đồng, không hạn chế việc áp dụng biện pháp buộc thực hiện đúng hợp đồng so với bồi thường thiệt hại Tuy nhiên, trong hệ thống thông luật, việc buộc thi hành nghĩa vụ trên thực tế luôn được coi là một ngọai lệ Mà theo như luật gia người anh- O.W.Holmes đã đề cập trong cuốn: “The common law”, hậu quả pháp lý duy nhất và bao quát cho mọi trường hợp nghĩa vụ không được thực hiện, đó là luật cần bắt buộc người có nghĩa vụ phải trả tiền bồi thường thiệt hại Để Tòa án chấp nhận yêu cầu cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trên thực tế, điều kiện quan trọng là khi tòa án thấy rằng khỏan tiền bồi thường sẽ “không thích hợp”, vì lợi ích của người có quyền không thể xác định ngang giá bằng tiền, ví dụ: Trong trường hợp mua bán một mảnh đất cụ thể, ở một vị trí cụ thể, hay việc mua bán đối với một hàng hóa đặc định và được cá biệt hóa12
Tóm lại, những khái niệm trên được đưa ra theo quan điểm của các quốc gia common law và có một điểm chung đó là chỉ được áp dụng khi việc bồi thường bằng tiền là không phù hợp hoặc không đầy đủ cho bên bị vi phạm Trong ví dụ được đưa ra đó là việc một bên ký hợp đồng mua một chiếc vòng cổ, mà anh ta không thể mua được một cái khác tương tự, nếu bên kia vi phạm hợp đồng không bán nữa, thì bên mua có thể yêu cầu Tòa án ra lệnh buộc phải thực hiện nghĩa vụ, tức phải bán chiếc vòng đó cho bên mua.13Theo quan điểm trên, buộc thực hiện đúng hợp đồng thông thường chỉ được
áp dụng cho việc mua bán một vật đặc định, duy nhất, và mua bán bất động sản, được xem như một biện pháp nhằm thiết lập công bằng cho các bên trong hợp đồng
Trang 17Khác với quan điểm của các nước common law, Luật pháp của các quốc gia theo truyền thống Civil law như Đức, Liên bang Nga, Nhật Bản đều ghi nhận một nguyên tắc chung đó là nghĩa vụ hợp đồng trên thực tế phải được con nợ thực hiện mà không được phép tùy tiện thay thế nghĩa vụ bằng việc trả một khỏan tiền tương đương, việc trả tiền phạt vi phạm hoặc bồi thường thiệt hại do thực hiện không đúng nghĩa vụ không đương nhiên miễn trừ việc tiếp tục thi hành nghĩa vụ trên thực tế đối với con nợ, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác 14 Như vậy, đối với các quốc gia theo hệ thống dân luật, hợp đồng có giá trị bắt buộc đối với các bên, và vì thế nếu một bên không thực hiện đúng hợp đồng thì về nguyên tắc, bên kia có quyền yêu cầu thực hiện đúng hợp đồng Theo quan điểm này buộc thực hiện đúng hợp đồng được áp dụng cho mọi trường hợp vi phạm.15
Theo quan điểm của các nước Civil law, quy định pháp luật Việt Nam
về buộc thực hiện đúng hợp đồng cho phép bên bị vi phạm được quyền yêu cầu bên vi phạm phải thực hiện đúng nghĩa vụ và không được từ chối nghĩa
vụ hợp đồng Quyền yêu cầu này không hạn chế đối với bất kỳ sự vi phạm nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng
* Phân biệt giữa buộc thực hiện đúng hợp đồng và các chế tài khác
Mặc dù, việc áp dụng các chế tài thương mại đều mang đến những hậu quả pháp lý bất lợi cho bên bị vi phạm Nhưng mỗi chế tài có mục đích, căn
cứ áp dụng, và hậu quả pháp lý khác nhau, do đó có bản chất pháp lý khác nhau Chế tài buộc tiếp tục thực hiện đúng hợp đồng về bản chất khác với chế tài bồi thường thiệt hại, bởi buộc thực hiện đúng hợp đồng là trường hợp có
sự vi phạm nghĩa vụ của một bên, mà bên này đã cam kết cung cấp một lợi ích cho bên có quyền thông qua hợp đồng Do đó, yêu cầu buộc thực hiện đúng hợp đồng là yêu cầu bên có nghĩa vụ thực hiện đúng cam kết đã thỏa thuận Khi bên có quyền không nhận được lợi ích từ hợp đồng, thì quyền yêu cầu buộc thực hiện đúng hợp đồng được đặt ra đối với bên có nghĩa vụ, mà không cần quan tâm đến thiệt hại đã xẩy ra hay chưa, hay xẩy ra ở mức độ nghiêm trọng như thế nào Còn bồi thường thiệt hại là chế tài được đặt ra để
bù đắp cho những thiệt hại mà bên có nghĩa vụ đã gây ra cho bên có quyền, thiệt hại bao nhiêu thì bồi thường bấy nhiêu, thiệt hại phải được bồi thường một cách đầy đủ, kịp thời Như vậy, rõ ràng có thiệt hại thì mới có bồi thường, không thiệt hại thì không bồi thường Ngòai ra để chế tài này được áp dụng, thì bên có quyền phải chứng minh rằng: Có hành vi vi phạm của bên có nghĩa vụ, hành vi vi phạm này đã trực tiếp gây ra những thiệt hại và mối quan
hệ nhân quả của chúng
14
Nguyễn Ngọc Khánh, sđd, tr270
15
Đỗ Văn Đại (2010), Các biện pháp xử lý việc không thực hiện đúng hợp đồng trong pháp luật Việt Nam,
Nhà xuất bản chính trị quốc gia, tr 50
Trang 18Chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng về bản chất khác với phạt vi phạm Bởi phạt vi phạm là biện pháp yêu cầu bên vi phạm phải trả một khỏan tiền phạt do có hành vi vi phạm hợp đồng, do đó phạt vi phạm là chế tài được xác lập để “răn đe” và “phòng ngừa” đối với việc vi phạm hợp đồng của bên
có nghĩa vụ Bên vi phạm nghĩa vụ nếu không muốn phải gánh chịu hậu quả pháp lý bất lợi là trả một khỏan tiền nhất định cho bên có quyền thì buộc phải thực hiện nghiêm chỉnh nghĩa vụ mà mình đã giao kết Trong nhiều trường hợp số tiền phạt vi phạm là không nhỏ so với giá trị hợp đồng, do đó LTM
2005 cũng đặt ra giới hạn nhất định là không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ bị
vi phạm nhằm tránh việc đặt gánh nặng quá lớn đối với bên vi phạm Với bản chất như vậy, chế tài này chỉ được áp dụng khi các bên có thỏa thuận trong hợp đồng Còn quyền yêu cầu buộc thực hiện đúng hợp đồng là quyền “tất yếu” được trao cho các bên trong hợp đồng khi hợp đồng phát sinh hiệu lực pháp lý, mà không cần bất cứ thỏa thuận nào được đặt ra
Buộc thực hiện đúng hợp đồng về bản chất cũng khác với tạm ngừng thực hiện hợp đồng Trong khi buộc thực hiện đúng hợp đồng là chế tài để buộc bên có nghĩa vụ phải thực thực hiện đúng cam kết đã thỏa thuận, bên có nghĩa vụ không được viện dẫn lý do để từ chối hay dừng việc thực hiện nghĩa
vụ Thì tạm ngừng thực hiện hợp đồng là việc một bên tạm thời không thực hiện nghĩa vụ hợp đồng do bên có nghĩa vụ đã vi phạm cơ bản hợp đồng hoặc các bên có thỏa thuận Tại thời điểm một bên tạm ngừng thực hiện hợp đồng thì hợp đồng vẫn còn hiệu lực nên vẫn ràng buộc các bên, duy chỉ việc thực hiện hợp đồng bị dừng lại Tạm ngừng thực hiện hợp đồng không làm chấm dứt nghĩa vụ hay làm phát sinh nghĩa vụ mới Khi tạm ngừng thực hiện hợp đồng có giá trị pháp lý thì bên tạm ngừng không phải thực hiện nghĩa vụ và không phải chịu trách nhiệm về việc không thực hiện này Đây là “việc không thực hiện đúng hợp đồng được pháp luật cho phép”16 Do vậy, đây là điểm khác biệt so với buộc thực hiện đúng hợp đồng Khi một bên quyết định tạm ngừng thực hiện hợp đồng, thì mục đích chính, một là để tự bảo vệ lợi ích của mình trong trường hợp bên vi phạm không tiếp tục thực hiện nghĩa vụ, hai là hướng bên vi phạm tiếp tục thực hiện hợp đồng, nếu như muốn nhận được lợi ích từ phía bên này
Buộc thực hiện đúng hợp đồng về bản chất cũng khác với chế tài đình chỉ và hủy bỏ hợp đồng Chế tài buộc thực hiện hợp đồng là biện pháp để duy trì quan hệ hợp đồng, được phát sinh trên cơ sở hiệu lực ràng buộc của hợp đồng đối với các bên, đảm bảo cho các bên tôn trọng và thực thi nghiêm túc nghĩa vụ đã cam kết, giúp các bên đạt được mục đích khi giao kết hợp đồng Ngược lại, đình chỉ và hủy bỏ hợp đồng là các chế tài “nghiêm khắc” nhất, là các chế tài dẫn đến việc triệt tiêu hợp đồng, chấm dứt quan hệ hợp đồng giữa
16
Đỗ Văn Đại, sđd, tr 146
Trang 19các bên, hợp đồng sẽ không được tiếp tục thực hiện, dẫn đến các bên không đạt được những gì mà họ mong đợi Do vậy, đây là các chế tài cần được hạn chế áp dụng, nên xem là các chế tài cuối cùng được áp dụng khi các chế tài khác không mang lại kết quả tích cực Bởi lẽ, hợp đồng được sinh ra không phải để bị đình chỉ hay hủy bỏ mà được sinh ra để đem lại lợi ích cho các bên, giúp các bên đạt được mục đích khi ký kết hợp đồng Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp việc đình chỉ, hủy bỏ hợp đồng cũng là cần thiết, khi việc tiếp tục thực hiện nó không còn ý nghĩa
1.1.2 Căn cứ phát sinh chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng
1.1.2.1 Buộc thực hiện đúng hợp đồng áp dụng khi hợp đồng hợp pháp
Chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng được áp dụng khi nào? Chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng chỉ được áp dụng khi hợp đồng (hay sự thỏa thuận của các bên) hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ Tòa án không thể buộc một bên thực hiện đúng nghĩa vụ hợp đồng nếu hợp đồng vi phạm pháp luật Ví dụ: Nếu hai bên ký kết một hợp đồng mua bán ma túy, ma túy là hàng hóa bị pháp luật cấm không được mua bán, sử dụng, hợp đồng này
vi phạm pháp luật, không được pháp luật công nhận, bảo vệ Do vậy, chế tài buộc thực đúng hợp đồng cũng không đặt ra
Tại Điều 4 BLDS 2005 quy định: “Quyền tự do cam kết, thoả thuận trong việc xác lập quyền, nghĩa vụ dân sự được pháp luật bảo đảm, nếu cam kết, thoả thuận đó không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức
xã hội Trong quan hệ dân sự, các bên hoàn toàn tự nguyện, không bên nào được áp đặt, cấm đoán, cưỡng ép, đe doạ, ngăn cản bên nào” Tại Điều 11 LTM 2005 cũng ghi nhận nguyên tắc tự do, tự nguyện thoả thuận trong hoạt động thương mại : “Các bên có quyền tự do thoả thuận không trái với các quy định của pháp luật, thuần phong mỹ tục và đạo đức xã hội để xác lập các quyền và nghĩa vụ của các bên trong hoạt động thương mại Nhà nước tôn trọng và bảo hộ các quyền đó Trong hoạt động thương mại, các bên hoàn toàn tự nguyện, không bên nào được thực hiện hành vi áp đặt, cưỡng ép, đe doạ, ngăn cản bên nào.” Căn cứ vào những quy định trên, các bên tự do ý chí khi tham gia thỏa thuận và ký kết các hợp đồng thương mại Nếu một trong các bên, bị ép buộc, đe dọa hay lừa dối khi tham gia quan hệ hợp đồng thì hợp đồng không có giá trị pháp lý và không ràng buộc quyền và nghĩa vụ của các bên
Do vậy, pháp luật chỉ công nhận và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên khi có sự vi phạm nghĩa vụ hợp đồng, nếu hợp đồng được ký kết giữa các bên không trái pháp luật và đạo đức xã hội Và chỉ có hợp đồng hợp pháp mới có giá trị pháp lý, để ràng buộc quyền, nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng Do đó, hiệu lực ràng buộc hợp đồng là cơ sở để các bên tôn trọng
và thực thi nghiêm chỉnh thỏa thuận, nếu một bên không thực hiện nghĩa vụ hợp đồng xâm phạm đến lợi ích của bên có quyền, thì bên có quyền có thể yêu cầu nghĩa vụ phải được thực hiện, và yêu cầu này được pháp luật công
Trang 20nhận và bảo vệ bằng nhiều chế tài, trong đó có chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng, hoặc bồi thường thiệt hại nếu gây ra thiệt hại và các chế tài khác
Như vậy, quyền và nghĩa vụ của các bên phát sinh trên cơ sở hiệu lực ràng buộc của hợp đồng Bởi “hiệu lực ràng buộc của hợp đồng là giá trị pháp
lý của hợp đồng, được pháp luật bảo vệ và bảo đảm thực hiện bằng nhiều chế tài thích hợp, nhằm buộc các bên phải tôn trọng, thực hiện đúng hợp đồng Một hợp đồng hợp pháp có hiệu lực ràng buộc và có giá trị như luật đối với các bên”.17 Đứng trước khả năng có thể bị áp dụng những chế tài, là hậu quả pháp lý bất lợi, buộc các bên phải thực thi nghiêm chỉnh nghĩa vụ, nhằm đáp ứng lợi ích của chính mình và của bên kia
Qua phân tích trên, chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng chỉ phát sinh khi hợp đồng hợp pháp, tức được pháp luật công nhận và bảo vệ Và hiệu lực ràng buộc của hợp đồng là cơ sở pháp lý buộc bên có nghĩa vụ phải thực hiện những thỏa thuận đã cam kết Do đó, nếu một bên không thực hiện, thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ, thì chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng luôn được đặt ra đối với bên này
1.1.2.2 Buộc thực hiện đúng hợp đồng khi có vi phạm hợp đồng
Hợp đồng được thiết lập trên cơ sở mối tương quan về lợi ích, về quyền
và nghĩa vụ giữa các bên, quyền của bên này là nghĩa vụ tương ứng của bên kia Do vậy, lợi ích của một bên chỉ được đáp ứng nếu bên kia thực hiện nghiêm chỉnh nghĩa vụ tương ứng, nếu một bên vi phạm nghĩa vụ gây thiệt hại đến lợi ích của bên có quyền, bên có quyền được đặt ra yêu cầu phải thực hiện đúng hợp đồng đối với bên vi phạm Như vậy, chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng đặt ra đối với bên có nghĩa vụ khi có sự vi phạm nghĩa vụ của bên này chiếu theo hợp đồng được ký kết giữa các bên, hay nói cách khác, vi phạm nghĩa vụ (hay vi phạm hợp đồng) là căn cứ phát sinh chế tài hợp đồng nói chung, trong đó có chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng
Thế nào là vi phạm hợp đồng? Khỏan 12 Điều 3 LTM quy định: “Vi
phạm hợp đồng là việc một bên không thực hiện, thực hiện không đầy đủ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ theo thoả thuận giữa các bên hoặc theo quy định của Luật này” Tại Điều 302 BLDS cũng quy định về trách nhiệm dân sự
do vi phạm nghĩa vụ dân sự : “Bên có nghĩa vụ mà không thực hiện hoặc thực
hiện không đúng nghĩa vụ thì phải chịu trách nhiệm dân sự đối với bên có quyền” Như vậy, vi phạm hợp đồng có thể được phân thành hai lọai đó là
không thực hiện nghĩa vụ hợp đồng và thực hiện không đúng nghĩa vụ hợp đồng Nhưng không phải bất cứ việc không thực hiện hay thực hiện không đúng nghĩa vụ nào bao giờ cũng là cơ sở của trách nhiệm hợp đồng Là một dạng trách nhiệm pháp lý nói chung nên trách nhiệm hợp đồng chỉ phát sinh khi có hành vi vi phạm nghĩa vụ hợp đồng
17
Lê Minh Hùng (2010), Hiệu lực của hợp đồng theo quy định của pháp luật Việt Nam, Luận án tiến sỹ luật
học, tr125
Trang 21Một hành vi được xem vi phạm nghĩa vụ hợp đồng khi hành vi này không phù hợp với yêu cầu của pháp luật, của những cam kết, thỏa thuận giữa hai bên hoặc của tập quán Tuy nhiên, có những hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ hợp đồng nhưng không bị coi là hành vi vi phạm nghĩa vụ hợp đồng thì không làm phát sinh trách nhiệm hợp đồng (bao gồm buộc thực hiện đúng hợp đồng) của người có nghĩa vụ đối với người có quyền Ví dụ: Vi phạm nghĩa vụ hợp đồng hòan tòan do lỗi của người có quyền hoặc do sự kiện bất khả kháng 18
Để đảm bảo được lợi ích của mình, bên có quyền có thể yêu cầu bên có nghĩa vụ phải thực hiện hợp đồng trong trường hợp không thực hiện, nếu thực hiện chưa đúng thì phải thực hiện đúng hợp đồng Ví dụ: Nếu người bán không thực hiện giao hàng khi đã đến hạn thì phải thực hiện việc giao hàng, nếu người bán giao hàng không phù hợp với hợp đồng thì buộc phải giao hàng phù hợp, bằng cách lọai trừ thiếu sót của hàng hóa đã giao hoặc giao hàng khác thay thế Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam cũng chưa có sự phân biệt rạch ròi giữa chế định trách nhiệm hợp đồng trong trường hợp không thực hiện nghĩa vụ hay thực hiện không đúng nghĩa vụ Trong trường hợp đối tượng hợp đồng mua bán là một vật đặc định, bên bán không thể thực hiện nghĩa vụ do vật không còn, ví dụ: Bị mất trộm, bị hủy họai , hay bên bán không thực hiện đúng nghĩa vụ như giao vật bị khuyết tật, hư hỏng không thể sữa chữa, và không được bên có quyền chấp nhận Trong hai trường hợp này, hợp đồng không thể tiếp tục thực hiện, hay quyền yêu cầu thực hiện đúng hợp đồng cũng được lọai trừ, và trách nhiệm bồi thường thiệt hại và phạt vi phạm được đặt ra cũng đều tương tự nhau.19
Hành vi vi phạm nghĩa vụ hợp đồng có thể được thể hiện dưới dạng hành động hoặc không hành động Việc “hành động” bị coi là bất hợp pháp khi bên có nghĩa vụ thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, vi phạm hợp đồng, trái với tập quán hay bản chất của nghĩa vụ Ví dụ: hành động giao vật không đúng số lượng, chất lượng, địa điểm, phương thức Việc “không hành động” được thừa nhận là bất hợp pháp khi bên có nghĩa vụ phải làm điều đó nhưng
đã không làm Nghĩa vụ phải “hành động” có thể phát sinh từ thỏa thuận trong hợp đồng, từ quy định của pháp luật, hoặc từ tập quán hay bản chất của nghĩa
vụ Ví dụ: Trong hợp đồng mua bán hàng hóa, bên bán “không hành động” bằng cách không giao hàng khi đến hạn, đối với người mua là không trả tiền khi đến hạn thanh tóan Không giao hàng hay không trả tiền khi đến hạn đều
là hành vi vi phạm hợp đồng Trong thực tế việc áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng nói riêng hay trách nhiệm hợp đồng nói chung không phụ thuộc vào hành vi vi phạm là hành động hay không hành động Hành vi vi phạm là hành động hay không hành động thì rõ ràng đã có sự vi phạm hợp
18
Nguyễn Ngọc Khánh, sđd, tr356
19
Nguyễn Ngọc Khánh, sđd, tr 389
Trang 22đồng mà hậu quả là bên có quyền không nhận được lợi ích khi giao kết hợp đồng Và ngược lại, bên có quyền cũng chỉ cần chứng minh là lợi ích của mình chưa được đáp ứng do sự vi phạm hợp đồng (hành động hoặc không hành động) của bên có nghĩa vụ thì có quyền đòi nghĩa vụ phải được thực hiện đúng
Trong thực tiễn xét xử, việc phân biệt hành vi vi phạm là hành động hoặc không hành động không phải lúc nào cũng có ý nghĩa đối với Tòa án Trong phần lớn các trường hợp, khi giải quyết yêu cầu của bên có quyền, Tòa
án thường không quan tâm đến việc bên có nghĩa vụ đã thực sự “không hành động” hay đã “hành động” hay chưa mà chỉ quan tâm đến chính sự kiện vi phạm nghĩa vụ - sự kiện nghĩa vụ hợp đồng đã không được thực hiện hoặc sự kiện nghĩa vụ hợp đồng được thực hiện không đúng, không đầy đủ Nói một cách khác, điều quan trọng đối với Tòa án không phải “hành động” hay
“không hành động” nào là nguyên nhân gây ra sự vi phạm nghĩa vụ hợp đồng
mà là việc liệu nghĩa vụ hợp đồng đó thực sự có bị bên có nghĩa vụ vi phạm hay không mà thôi20 Do đó, theo đề nghị của bên có quyền, nếu có cơ sở để xác định có hành vi vi phạm nghĩa vụ hợp đồng và hậu quả của hành vi này là bên có quyền không nhận được lợi ích mong muốn mà đáng lẽ bên này được hưởng nếu như bên có nghĩa vụ thực hiện nghiêm chỉnh nghĩa vụ, và việc tiếp tục thực hiện vẫn còn ý nghĩa, thì Tòa án có thể ra phán quyết buộc bên có nghĩa vụ phải thực hiện đúng nghĩa vụ hợp đồng như đã cam kết, thỏa thuận
Vi phạm hợp đồng còn được phân biệt bởi vi phạm cơ bản và vi phạm
không cơ bản Theo khỏan 3 Điều 13 LTM 2005, “Vi phạm cơ bản là sự vi
phạm hợp đồng của một bên gây thiệt hại cho bên kia đến mức làm cho bên kia không đạt được mục đích của việc giao kết hợp đồng”.Việc phân biệt giữa
vi phạm cơ bản hay vi phạm không cơ bản có ý nghĩa trong việc lựa chọn chế tài pháp lý thích hợp Về nguyên tắc, chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng có thể được áp dụng đối với cả vi phạm cơ bản và vi phạm không cơ bản Bởi mục đích là để duy trì quan hệ hợp đồng giữa các bên, bảo đảm lợi ích cho bên có quyền, nếu việc tiếp tục thực hiện hợp đồng vẫn có ý nghĩa, và cuối cùng có thể mang lại cho các bên mục đích mong muốn từ hợp đồng, thì việc
áp dụng chế tài này là điều nên được khuyến khích
Buộc tiếp tục thực hiện đúng hợp đồng là một hệ quả tất yếu của hiệu lực ràng buộc thực hiện hợp đồng hợp pháp: Bên có nghĩa vụ cam kết cung cấp cho bên có quyền một lợi ích và hiệu lực ràng buộc thực hiện hợp đồng buộc bên có nghĩa vụ phải cung cấp lợi ích này cho bên có quyền Do bên có nghĩa vụ phải cung cấp lợi ích mà bên có quyền mong đợi nên bên có quyền chỉ cần chứng minh là mình chưa nhận được lợi ích đó, thì chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng được đặt ra đối với bên vi phạm Do đó, căn cứ phát sinh chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng khác với căn cứ phát sinh các chế tài
20
Nguyễn Ngọc Khánh, sđd, tr 358
Trang 23trong thương mại khác Khác với căn cứ phát sinh chế tài bồi thường thiệt hại, bởi chế tài bồi thường thiệt hại được phát sinh khi có các yếu tố sau: Thứ nhất: Có hành vi vi phạm hợp đồng Thứ hai: Có thiệt hại thực tế Thứ ba: Hành vi vi phạm hợp đồng là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại Và khác với căn cứ phát sinh chế tài tạm ngừng, đình chỉ, và hủy bỏ hợp đồng Bởi các chế tài tạm ngừng, đình chỉ, và hủy bỏ hợp đồng đòi hỏi ở mức độ vi phạm nghiêm trọng, hành vi vi phạm nghĩa vụ hoặc phải cấu thành vi phạm cơ bản, hoặc phải được thỏa thuận giữa các bên Và cũng khác với căn cứ phát sinh chế tài phạt vi phạm, bởi chế tài phạt vi phạm chỉ được phát sinh khi các bên
có thỏa thuận
Như vậy, cũng giống các chế tài thương mại khác, chế tài buộc thực hiên đúng hợp đồng chỉ được áp dụng khi có vi phạm hợp đồng Tuy nhiên, khác với căn cứ phát sinh các chế tài khác, bên có quyền chỉ cần chứng minh bên có nghĩa vụ đã có hành vi vi phạm nghĩa vụ, và hậu quả là bên này chưa nhận được lợi ích mà bên có nghĩa vụ đã cam kết cung cấp theo hợp đồng Bên có quyền không cần phải chứng minh có thiệt hại xẩy ra hay chưa, thiệt hại bao nhiêu, mức độ nghiêm trọng của vi phạm như thế nào Điều này cũng giải thích lợi ích và ưu thế của lựa chọn chế tài này trong giải quyết tranh chấp thương mại
1.1.3 Nội dung chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng
Chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng được quy định trong pháp luật hợp đồng Việt Nam cũng theo hướng các quốc gia dân luật và các văn bản pháp lý quốc tế như Công ước viên về mua bán hàng hóa quốc tế năm 1980 (CISG) (Điều 46, 62), Bộ nguyên tắc Unidroit (UPICC) (Điều 7.2.1 và 7.2.2),
Bộ nguyên tắc Châu Âu về hợp đồng (PECL) (Điều 9.101 và 9.102), theo đó bên vi phạm không thực hiện đúng nghĩa vụ theo hợp đồng thì bên bị vi phạm
có quyền yêu cầu thực hiện đúng hợp đồng, và hệ quả của hiệu lực ràng buộc hợp đồng hợp pháp buộc bên vi phạm phải tiếp tục thực hiện đúng nghĩa vụ,
để đảm bảo cung cấp cho bên bị vi phạm lợi ích mà họ có quyền mong đợi từ hợp đồng Như vậy, buộc thực hiện đúng hợp đồng không chỉ đảm bảo cho mục đích của các bên khi ký kết hợp đồng được thực hiện, mà còn ràng buộc các bên nghĩa vụ tôn trọng và thực hiện hợp đồng với tinh thần hợp tác, thiện chí và trung thực, đây cũng là một trong những nguyên tắc cơ bản của pháp luật thương mại quốc tế
* Nội dung chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng theo pháp luật thương mại
Luật thương mại 2005 quy định nghĩa vụ thực hiện đúng hợp đồng đối với cả bên mua và bên bán, theo đó các bên phải tôn trọng và thực thi đúng thỏa thuận, không được viện dẫn những lý do không xác đáng để từ chối thực hiện nghĩa vụ Nếu một bên vi phạm nghĩa vụ, bên có quyền có thể yêu cầu Tòa án áp dụng chế
Trang 24tài buộc thực hiện đúng hợp đồng buộc bên vi phạm phải thực hiện nghĩa vụ, và phải gánh chịu những hậu quả pháp lý bất lợi về tài sản
- Đối với bên bán:
Điều 297 LTM 2005 quy định nghĩa vụ giao hàng, cung cấp dịch vụ theo đúng hợp đồng của bên bán: Trường hợp bên vi phạm giao thiếu hàng, hoặc cung ứng dịch vụ không đúng hợp đồng thì phải giao đủ hàng hoặc cung ứng dịch vụ theo đúng thoả thuận trong hợp đồng Trường hợp bên vi phạm giao hàng hoá, cung ứng dịch vụ kém chất lượng thì phải loại trừ khuyết tật của hàng hoá, thiếu sót của dịch vụ hoặc giao hàng khác thay thế, cung ứng dịch
vụ theo đúng hợp đồng Bên vi phạm không được dùng tiền hoặc hàng khác chủng loại, loại dịch vụ khác để thay thế nếu không được sự chấp thuận của bên bị vi phạm
Trong trường hợp bên vi phạm không thực hiện việc loại trừ khuyết tật của hàng hoá, thiếu sót của dịch vụ hoặc giao hàng khác thay thế thì bên bị vi phạm có quyền mua hàng, nhận cung ứng dịch vụ của người khác để thay thế theo đúng loại hàng hoá, dịch vụ ghi trong hợp đồng và bên vi phạm phải trả khoản tiền chênh lệch và các chi phí liên quan nếu có Đồng thời, Luật cũng trao cho bên bị vi phạm được quyền tự sửa chữa khuyết tật của hàng hoá, thiếu sót của dịch vụ và yêu cầu bên vi phạm phải trả các chi phí thực tế hợp
lý Quyền này tạo điều kiện cho bên bị vi phạm có thể đảm bảo được việc thực hiện nghĩa vụ, đạt được mục đích hợp đồng thông qua người thứ ba, hoặc bằng sự tự khắc phục của chính mình
- Đối với bên mua, khi bên bán đã giao hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ đúng theo hợp đồng, thì có quyền yêu cầu bên mua trả tiền, nhận hàng hoặc thực hiện các nghĩa vụ khác một cách kịp thời Nếu bên mua chậm thực hiện nghĩa vụ thanh tóan, thì bên bán được quyền yêu cầu trả lãi trên số tiền chậm trả Nếu vi phạm nghĩa vụ gây thiệt hại cho bên bán thì phải bồi thường Thực hiện đúng hợp đồng là nghĩa vụ của các bên, khi nghĩa vụ không được thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ thì bên bị vi phạm
có quyền yêu cầu nghĩa vụ phải được thực hiện Do đó, chế tài này có vai trò quan trọng điều chỉnh thực hiện đúng nghĩa vụ đã cam kết phát sinh trên cơ sở hợp đồng được ký kết hợp pháp giữa các bên
Ví dụ sau đây cho thấy, Trọng tài đã áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng để buộc bên vi phạm phải thực hiện đúng nghĩa vụ, nhằm đảm bảo lợi ích hợp pháp của bên có quyền
Tóm tắt vụ việc: Nguyên đơn và Bị đơn đã ký hợp đồng ngày 29/06/1994, theo đó Nguyên đơn bán cho Bị đơn giấy gói kẹo có in nhãn và tên cụ thể theo điều kiện CIF Hải phòng: giao hàng từng đợt, thời gian giao hàng là 20 ngày sau khi mở L/C Thực hiện hợp đồng, ngày 11/02/1995 Nguyên đơn fax cho Bị đơn là đã sản xuất xong lô hàng trị giá 77.705USD và yêu cầu Bị đơn mở L/C để giao hàng tiếp Ngày 17/05/1995, Bị đơn telex
Trang 25đồng ý nhận lô hàng đó làm hai lần: Lần đầu vào giữa tháng 6/1995, còn lần hai thì sau lần đầu Nhưng ngày 19/06/1995, Bị đơn lại điện cho Nguyên đơn
từ chối nhận lô hàng nêu trên với lý do là kẹo không bán được trên thị trường
Hà Nội, số lượng kẹo đã sản xuất của Bị đơn rất lớn, dây chuyền sản xuất kẹo ngừng hoạt động nên không thể nhập khẩu giấy gói kẹo nữa Do đó, Nguyên đơn khởi kiện đòi Bị đơn bồi thường thiệt hại gồm: 83.185 USD trị giá lô hàng đã được sản xuất xong chờ để giao nhưng bị từ chối nhận
Trọng tài phán quyết về việc từ chối nhận hàng của Bị đơn: Có thể kết luận là giữa các bên đã có thoả thuận mua lô hàng thứ ba Từ đó, Bị đơn phải
có nghĩa vụ mở L/C và nhận lô hàng này Việc Bị đơn từ chối nhận lô hàng
đợt ba bằng telex ngày 19/06/1995 là vi phạm thoả thuận mua bán đợt ba giữa hai bên Bị đơn phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh cho
Nguyên đơn
Về số tiền thiệt hại 83.185 USD là giá trị lô hàng bị từ chối nhận, Nguyên đơn đòi do vi phạm nghĩa vụ nhận hàng: vì giấy gói kẹo được sản xuất ra đã mang nhãn, tên cụ thể nên Nguyên đơn không thể bán cho ai khác,
bởi không ai có thể sử dụng được, trừ Bị đơn Vì thế, Nguyên đơn có quyền
đòi Bị đơn trả tiền toàn bộ trị giá lô hàng, đồng thời buộc Nguyên đơn phải giao lô hàng ứng với 77.705 USD theo điều kiện CIF Hải Phòng cho Bị đơn
Trong tình huống này, bị đơn tức bên mua đã vi phạm nghĩa vụ nhận hàng và thanh tóan cho nguyên đơn-bên bán Việc không thực hiện đúng nghĩa vụ hợp đồng của người mua đã vi phạm thỏa thuận giữa hai bên, gây thiệt hại cho bên bán Để đảm bảo lợi ích hợp pháp của bên bán, khắc phục vi phạm của bên mua, trọng tài đã ra phán quyết buộc bên mua phải thực hiện nghĩa vụ nhận hàng và thanh tóan tiền hàng, buộc bên bán phải giao hàng cho bên mua, trừ trường hợp bên mua không cần nữa Như vậy, Trọng tài đã hòan tòan chính xác khi áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng, bởi thỏa thuận trong hợp đồng của hai bên là hợp pháp, do vậy ràng buộc trách nhiệm của hai bên, nếu một bên vi phạm hợp đồng thì bên bị vi phạm có quyền yêu cầu phải khắc phục vi phạm, tiếp tục thực hiện đúng nghĩa vụ hợp đồng Từ phán quyết của trọng tài, có thể thấy ý nghĩa của việc áp dụng chế tài này, nhằm đảm bảo cho hợp đồng (sự thỏa thuận) giữa các bên được tôn trọng và nghiêm chỉnh thực hiện, khắc phục vi phạm hợp đồng, và bảo vệ lợi ích hợp pháp của bên bị vi phạm
* Nội dung chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng theo pháp luật dân sự
- Nguyên tắc chung đối với buộc thực hiện đúng nghĩa vụ hợp đồng: Trong pháp luật dân sự Việt Nam, buộc thực hiện đúng hợp đồng cũng được ghi nhận Nguyên tắc chung nhất có thể tìm thấy ở khỏan 2 Điều 9 Bộ
21
Http://www.viac.org.vn/vi-VN/Home/anpham44.aspx
(Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam (2002), 50 phán quyết trọng tài quốc tế chọn lọc, Phán quyết số 17)
Trang 26luật dân sự 2005 (BLDS) : “Khi quyền dân sự của một chủ thể bị xâm phạm thì chủ thể đó có quyền tự bảo vệ theo quy định của bộ luật này hoặc yêu cầu
cơ quan, tổ chức có thẩm quyền: b, Buộc chấm dứt hành vi vi phạm; d, Buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự Như vậy, khi quyền dân sự của một chủ thể bị xâm phạm thì họ có thể yêu cầu buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự Điều này là hòan tòan có cơ sở khi tại Điều 4 BLDS đã khẳng định: “Cam kết, thỏa thuận hợp pháp có hiệu lực bắt buộc thực hiện đối với các bên”
Tại khỏan 1 Điều 302 quy định trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ:
“Bên có nghĩa vụ mà không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì phải chịu trách nhiệm dân sự đối với bên có quyền”
Khỏan 1 Điều 304 BLDS 2005 quy định về quyền yêu cầu tiếp tục thực hiện nghĩa vụ: “Trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện một công việc mà mình phải thực hiện thì bên có quyền có thể yêu cầu bên có nghĩa vụ tiếp tục thực hiện hoặc tự mình thực hiện hoặc giao cho người khác thực hiện công việc đó và yêu cầu bên có nghĩa vụ thanh toán chi phí hợp lý và bồi thường thiệt hại” Khỏan 2 quy định về quyền yêu cầu không thực hiện một công việc: “Khi bên có nghĩa vụ không được thực hiện một công việc mà lại thực hiện công việc đó thì bên có quyền được quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ phải chấm dứt việc thực hiện, khôi phục tình trạng ban đầu và bồi thường thiệt hại”
Đây là cơ sở pháp lý khẳng định quyền yêu cầu của bên bị vi phạm đối với nghĩa vụ phải thực hiện đúng hợp đồng của bên vi phạm, và khả năng phải gánh chịu trách nhiệm dân sự nếu có hành vi vi phạm nghĩa vụ Do đó ràng buộc trách nhiệm của các bên đối với quyền và nghĩa vụ phát sinh từ thỏa thuận trong hợp đồng
- Đối với nghĩa vụ giao vật đặc định: Khỏan 1 Điều 303 BLDS quy định:
“Khi bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ giao vật đặc định thì người có quyền được quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ phải giao đúng vật đó” BLDS trong trường hợp này đã quy định buộc phải tiếp tục thực hiện đúng hợp đồng đối với đối tượng của hợp đồng là vật đặc định Đối với các hợp đồng liên quan đến vật đặc định, ví dụ: đồ cổ, tranh ảnh không có vật thay thế, các hợp đồng mua bán đất, thuê mua doanh nghiệp, bên vi phạm có quyền yêu cầu Tòa án buộc bên vi phạm thực hiện hợp đồng Đây là những trường hợp ngọai
lệ mà việc dùng tiền để đền bù thiệt hại cho bên bị vi phạm tỏ ra không hợp
lý.22 Với luận giải này thì quy định trên là hòan tòan có cơ sở
Luật dân sự Việt Nam cũng theo hướng của các nước Civil law khi quy định về buộc tiếp tục thực hiện nghĩa vụ Như tại Điều 303 quy định về nghĩa
vụ giao vật đặc định Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là trong trường hợp vật đặc định không còn nguyên vẹn ở mức độ nhiều hay ít, giá trị có thể bị giảm sút thì nếu bên có quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ tiếp tục thực hiện nghĩa vụ
22
Phạm Duy Nghĩa (2000), Tìm hiểu luật thươngmại Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr 109
Trang 27chuyển giao vật và yêu cầu bồi thường thiệt hại thì liệu có cơ sở pháp lý để chấp nhận không, khi pháp luật chỉ quy định: « nếu vật không còn hoặc bị hư hỏng thì phải thanh toán giá trị của vật »
Mặt khác, nếu là vật cùng lọai thì bên có quyền có thể yêu cầu bên có nghĩa vụ tiếp tục thực hiện nghĩa vụ hay không ? đối chiếu với quy định hiện hành của BLDS thì chúng ta không có câu trả lời Tuy nhiên, thực tiễn cũng
đã xác nhận quyền này của bên có quyền, đặc biệt là trong những hòan cảnh đặc biệt như tình trạng khan hiếm của hàng hóa, tình trạng chiến tranh, lũ lụt…
Ví dụ : Vụ tranh chấp về hợp đồng mua bán xăng giữa Vinapco và Pacific airline, theo đó Vinapco cung ứng lọai xăng JET A-1 với mức phí nạp xăng là 593.000 đồng/tấn Theo Vinapco do giá trên thị trường quốc tế tăng,
và những chi phí cho việc vận chuyển, bảo hiểm, và thuế tăng, do vậy phải điều chỉnh lại mức giá trong hợp đồng lên đến 750.000đ/tấn Sau đó Vinapco
đã đơn phương ngừng tiếp nhiên liệu cho các máy bay nội địa của Pacific airline, làm cho họat động kinh doanh của Pacific airline bị đình trệ Ngày 01/04/2008, Cục hàng không Việt Nam đã có Công văn số 985/CHK-TC yêu cầu Vinapco không được đơn phương ngừng thực hiện hợp đồng cung cấp xăng dầu cho Pacific Airline nếu không được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền23
- Đối với việc chậm thực hiện nghĩa vụ dân sự: Khoản 1 Điều 305 BLDS quy định: “Khi nghĩa vụ chậm được thực hiện thì bên có quyền có thể gia hạn để bên có nghĩa vụ hoàn thành nghĩa vụ; nếu quá thời hạn này mà nghĩa vụ vẫn chưa được hoàn thành thì theo yêu cầu của bên có quyền, bên có nghĩa vụ vẫn phải thực hiện nghĩa vụ và bồi thường thiệt hại” Từ quy định này có thể hiểu, theo yêu cầu của bên có quyền, Tòa án có thể cưỡng chế thi hành tất cả những nghĩa vụ hợp đồng bị quá hạn, bao gồm cả những nghĩa vụ hợp đồng mà nghĩa vụ này chỉ có ý nghĩa khi nó được thực hiện đúng hoặc trong thời hạn Rõ ràng việc cưỡng chế thi hành những nghĩa vụ này không chỉ thiếu căn cứ thực tiễn, mà là “cái việc rất không khoa học”
So sánh với pháp luật quốc tế, pháp luật Đức coi nghĩa vụ trở nên không thực hiện được nếu căn cứ vào bản chất, nội dung của quan hệ hợp đồng, việc thực hiện nghĩa vụ chỉ có ý nghĩa khi nó được thực hiện đúng hoặc trong thời hạn đã định
Ví dụ: Khi bánh Gato phải hoàn thành trước lễ cưới, khi người ca sỹ phải biểu diễn vào đúng đêm giao thừa hoặc khi chiếc váy phải được may trước cuộc thi hoa hậu Trong trường hợp quá hạn mà nghĩa vụ chưa được thực hiện hoặc mới chỉ được thực hiện một phần, quyền yêu cầu Tòa án cưỡng chế thi hành nghĩa vụ hợp đồng trên thực tế cũng bị loại trừ.24
Trang 28Đối chiếu với pháp luật Việt Nam, rõ ràng BLDS chưa có sự phân biệt yêu cầu thực hiện đúng nghĩa vụ hợp đồng nào có thể được chấp nhận, những trường hợp nào việc yêu cầu thực hiện nghĩa vụ là không được đáp ứng, mà bên có quyền phải tự mình thực hiện hoặc nhờ bên thứ ba thực hiện thay và yêu cầu bên có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại
Nhận xét: Khi đánh giá về yêu cầu tiếp tục thực hiện đúng nghĩa vụ hợp đồng, có tác giả cho rằng pháp luật Việt Nam còn chưa được phát triển bởi một định hướng rõ ràng25 Chúng tôi đồng ý với nhận định này bởi như trên
đã đề cập, quy định của BLDS mới chỉ dừng lại ở bước đầu, thiếu nhất quán, các quy định còn đơn lẻ, nhiều hạn chế và thiếu sót, như đối với buộc thực hiện nghĩa vụ giao vật cùng loại, nghĩa vụ không thể thực hiện được…) Ngòai ra, BLDS chỉ quan tâm nhiều đến đối tượng của nghĩa vụ, tức chỉ có một số lọai nghĩa vụ mới có quy định buộc tiếp tục thực hiện, mà không có một nguyên tắc chung về buộc tiếp tục thực hiện đúng hợp đồng Do đó, khi
có yêu cầu của bên có quyền đối với Tòa án buộc bên có nghĩa vụ phải thực hiện đúng nghĩa vụ hợp đồng trên thực tế, Tòa án phải đối chiếu vào các quy định riêng rẽ (khoản 1 Điều 303 về nghĩa vụ giao vật đặc định; Điều 304 về nghĩa vụ thực hiện hoặc không được thực hiện một công viêc) để quyết định
Mặt khác, trong thực tiễn xét xử, nhiều trường hợp Tòa án buộc thực hiện đúng nghĩa vụ hợp đồng mà không xem xét nghĩa vụ liên quan có thuộc các trường hợp được quy định tại các Điều 303, 304 BLDS hay không Tại bản án dân sự phúc thẩm số 639/2006/DSPT ngày 27/11/2006 của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang: Sau khi thỏa thuận anh An đã nhận nhà đất và sang tên sở hữu mà bà Hường giao, nhưng anh An không thực hiện nghĩa vụ giao trả vàng cho bà Hường Án sơ thẩm xử buộc anh An giao trả cho bà Hường 2 lượng vàng 24K là có căn cứ Từ đó, Tòa án quyết định “buộc anh An trả cho
bà Hường số vàng là 2 (hai) lượng vàng 24K, trả làm một lần ngay sau khi án
có hiệu lực pháp luật.26 Qua bản án trên, chứng minh rằng thực tiễn xét xử và quy định của pháp luật vẫn còn khoảng cách, quy định của pháp luật chưa theo kịp với thực tiễn, và đáp ứng yêu cầu của thực tiễn Đây là nguyên nhân
mà quyết định buộc thực hiện đúng nghĩa vụ của Tòa án tỏ ra thiếu tính thuyết phục, tạo ra sự không thống nhất, đồng bộ trong thực tiễn áp dụng
Như vậy, mặc dù còn nhiều hạn chế cần phải được sửa đổi, nhưng nhìn chung pháp luật hợp đồng Việt Nam đã ghi nhận về buộc tiếp tục thực hiện đúng hợp đồng như là một chế tài có vai trò quan trọng, đảm bảo cho việc tôn trọng và thực thi đúng nghĩa vụ hợp đồng Đảm bảo cho quyền yêu cầu của bên có quyền đối với việc thực thi nghiêm chỉnh thỏa thuận của bên có nghĩa
vụ, tạo ra tính vững chắc tương đối trong quan hệ hợp đồng, và niềm tin vào
sự thực thi của pháp luật (bởi hợp đồng cũng chính là luật giữa các bên, được
25
Nguyễn Ngọc Khánh, sđd tr 284
26
Đỗ Văn Đại, sđd, tr 55
Trang 29pháp luật ghi nhận và bảo vệ) So với luật dân sự, quy định về chế tài này trong LTM có tính khái quát cao và đầy đủ hơn, khi có những quy định cụ thể
về khái niệm, về quyền yêu cầu của bên bán và của bên mua Phần chương II chúng ta sẽ phân tích thêm về những hạn chế quy định của pháp luật thương mại về chế tài này
1.2 Vị trí của buộc thực hiện đúng hợp đồng trong các loại chế tài thương mại
1.2.1 Theo một số văn bản quốc tế
Xuất phát từ tầm quan trọng của chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng,
là cơ sở pháp lý quan trọng để buộc bên có nghĩa vụ tôn trọng và thực hiện đúng thỏa thuận đã cam kết, bảo đảm cho lợi ích mà các bên hướng tới khi ký kết hợp đồng, Công ước viên về mua bán hàng hóa quốc tế năm 1980 (CISG),
Bộ nguyên tắc Unidroit về hợp đồng thương mại quốc tế năm 2004 (UPICC),
Bộ nguyên tắc Châu Âu về hợp đồng (PECL) đã ghi nhận một cách minh thị biện pháp buộc thực hiện đúng hợp đồng và đặt nó ở vị trí đầu tiên trong những biện pháp xử lý do không thực hiện đúng hợp đồng
* Công ước viên về mua bán hàng hóa quốc tế năm 1980 (CISG)
Tại Điều 45 CISG quy định các biện pháp bảo hộ pháp lý27 trong trường hợp người bán vi phạm hợp đồng, và biện pháp bảo hộ đầu tiền được
đề cập đó là quyền yêu cầu người bán phải thực hiện đúng nghĩa vụ hợp đồng theo Điều 46 Điều 46 quy định quyền của người mua yêu cầu người bán phải thực hiện đúng nghĩa vụ, và quy định quyền đòi người bán phải lọai trừ sự không phù hợp của hàng hóa hoặc phải giao hàng thay thế nếu sự không phù hợp đó cấu thành vi phạm cơ bản hợp đồng
Điều 61 quy định các biện pháp bảo hộ pháp lý trong trường hợp người mua vi phạm hợp đồng, biện pháp đầu tiên được đề cập đó là quyền yêu cầu người mua thực hiện đúng hợp đồng Theo Điều 62 người bán có quyền yêu cầu người mua trả tiền, nhận hàng hay thực hiện các nghĩa vụ khác theo hợp đồng
CISG không chỉ đề cập đến biện pháp buộc thực hiện đúng hợp đồng là biện pháp đầu tiên để bảo hộ pháp lý trong trường hợp một bên vi phạm hợp đồng Mà bằng việc ghi nhận quyền yêu cầu thực hiện đúng hợp đồng đối với
cả hai bên, bên mua và bên bán, tạo cơ sở pháp lý để ràng buộc các bên nghĩa
vụ thực hiện đúng thỏa thuận đã cam kết
Ngòai ra, CISG đã có nhiều quy định thể hiện việc ưu tiên áp dụng biện pháp này hơn các biện pháp khác, đặc biệt là so với biện pháp hủy hợp đồng
Tại Điều 48 CISG quy định: “Với điều kiện tuân thủ quy định của điều
49 người bán có thể, ngay cả sau khi hết thời hạn giao hàng, loại trừ mọi thiếu sót trong việc thực hiện nghĩa vụ của mình, phí tổn do người bán chịu, với điều kiện là điều đó không kéo theo một sự chậm trễ vô lý mà không gây ra
27
Khác với pháp luật Việt Nam, sử dụng thuật ngữ: “Chế tài”, CISG (theo bản dịch của VCCI) sử dụng thuật ngữ: “Các biện pháp bảo hộ pháp lý”
Trang 30cho người mua những trở ngại phi lý hay tình hình bất định về việc người bán
phải hoàn trả các phí tổn mà người mua gánh chịu.”
Điều luật này cung cấp cho người bán quyền để khắc phục trong điều kiện nhất định nhằm đảm bảo quyền lợi của người mua Người bán có thể khắc phục sự không phù hợp của hàng hóa bằng việc sửa chữa hoặc giao hàng thay thế Người bán có thêm một “cơ hội” để khắc phục sự khiếm khuyết trong thực hiện nghĩa vụ nhằm tiếp tục duy trì hợp đồng, tránh việc hợp đồng
bị hủy Vì vậy, thực hiện đúng hợp đồng có nhiều khả năng hơn sẽ diễn ra với các ứng dụng của điều luật này
Điều 49 quy định, người mua được trao quyền cấp thêm cho người bán một thời hạn bổ sung để thực hiện trước khi tuyên bố hủy hợp đồng Trong trường hợp này người mua sẽ không được hủy hợp đồng ngay lập tức nếu người bán không giao hàng, nhưng người mua sẽ được làm như vậy chỉ sau khi ấn định thêm một thời hạn bổ sung cho sự thực hiện nghĩa vụ mà người bán đã không thực hiện Ở đây, cơ chế “Nachfrist” được vay mượn từ BLDS Đức đã được sử dụng để cung cấp thêm cơ hội cho người bán thực hiện đúng nghĩa vụ hợp đồng
Những phương pháp này chứng minh rằng một trong những mục đích chính của CISG duy trì quan hệ hợp đồng, ngăn chặn việc hủy hợp đồng Điều 46, cùng với Điều 48 và 49 là các cơ chế hiệu quả để CISG bảo vệ quan
hệ hợp đồng, thể hiện sự “ưu ái” đối với biện pháp buộc thực hiện đúng hơp đồng, và xem đó là biện pháp khắc phục hiệu quả chính và được ưu tiên áp dụng trước hết so với các biện pháp khắc phục khác, chẳng hạn như bồi thường thiệt hại hoặc hủy hợp đồng
* Bộ nguyên tắc Unidroit (UPICC), và Bộ nguyên tắc Châu Âu về hợp đồng (PECL)
Tương tự CISG, UPICC trong chương 7 về những biện pháp khi một bên không thực hiện đúng hợp đồng, đã dành những quy định đầu tiên cho vấn đề buộc tiếp tục thực hiện hợp đồng Cụ thề theo Điều 7.2.1 và Điều 7.2.2: “Khi bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ thanh tóan bên có quyền có thể yêu cầu thanh tóan” và “khi bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ không phải là nghĩa vụ thanh tóan, bên có quyền có thể yêu cầu nghĩa vụ phải được thực hiện”
PECL tại chương 9 liên quan đến các biện pháp trong trường hợp không thực hiện đúng hợp đồng, hai điều luật đầu tiên của đọan 1(Điều 9.101
và 9.102) đã quy định về nghĩa vụ buộc tiếp tục thực hiện đúng hợp đồng gồm
có nghĩa vụ tiền tệ và nghĩa vụ phi tiền tệ: Theo đó bên có quyền được yêu cầu bên có nghĩa vụ tiếp tục thực hiện nghĩa vụ thanh tóan, và đối với nghĩa
vụ phi tiền tệ: Bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bên vi phạm thực hiện đúng nghĩa vụ, bao gồm khắc phục khiếm khuyết trong sự thực hiện hơn là thay thế bằng nghĩa vụ trả tiền
Trang 31Theo hai bộ nguyên tắc này, như một nguyên tắc chung được áp dụng, buộc thực hiện đúng hợp đồng là biện pháp đầu tiên được đặt ra đối với bên vi phạm Bên có nghĩa vụ không thể từ chối việc thực hiện hợp đồng nếu không
có lý do chính đáng Buộc thực hiện đúng hợp đồng luôn được đặt ra và luôn
có thể được áp dụng đối với bên vi phạm, ngọai trừ những trường hợp ngọai
lệ, vốn được quy định rất chặt chẽ (Điều 7.2.2 UPICC, Điều 9.102 (2) PECL)
Và bên vi phạm có nghĩa vụ phải chứng minh cho việc không thực hiện được nghĩa vụ của mình thuộc trong các trường hợp ngọai lệ đó Nhưng thông thường việc chứng minh này không đơn giản, và không dễ được chấp nhận, nếu có căn cứ cho rằng, bên có nghĩa vụ đã không cố gắng trong mọi khả năng có thể để hoàn thành nghĩa vụ
* Vị trí ưu tiên và vai trò quan trọng của buộc thực hiện đúng hợp đồng trong mua bán hàng hóa quốc tế
Từ góc độ người mua: Chúng ta hãy xem xét tầm quan trọng quy định
quyền của người mua yêu cầu thực hiện đúng hợp đồng trong mua bán hàng hóa quốc tế để thấy vị trí ưu tiên của buộc thực hiện đúng hợp đồng như biện pháp khắc phục chính trong CISG, UPICC, và PECL Trong bán hàng quốc
tế, người mua phải nhận được hàng đã ký kết từ hợp đồng bởi vì anh ta có thể không tìm thấy hàng hóa cần thiết ở những nơi khác Một người mua thường
sẽ chuyển sang thị trường quốc tế khi không thể tìm thấy hàng hóa trên thị trường trong nước hoặc vì hàng hoá ở thị trường trong nước không đạt chất lượng như yêu cầu Do vậy, nếu áp dụng biện pháp bồi thường thiệt hại trong trường hợp này sẽ không phù hợp và không hữu ích bởi vì anh ta sẽ không có khả năng để tìm hàng hóa thay thế
Ngoài ra, trước khi ký kết một hợp đồng mua bán, người mua phải tiến hành một cuộc tìm kiếm kỹ lưỡng để tìm hàng hóa có chất lượng và giá cả phù hợp với nhu cầu của mình và quá trình này đòi hỏi nhiều thời gian và tiền bạc Thời gian và tiền bạc bỏ ra sẽ gia tăng trong mua bán quốc tế, do đó có thể thấy tầm quan trọng của việc áp dụng buộc thực hiện đúng hợp đồng như một biện pháp khắc phục hiệu quả so với các biện pháp khác Nếu người mua phải tìm một giao dịch thay thế, lựa chọn duy nhất là phải bắt đầu một cuộc tìm kiếm mới Các chi phí sẽ tăng lên bởi vì thị trường quốc tế mặc dù thường cung cấp cho người mua nhiều sự lựa chọn bởi có nhiều nguồn cung cấp khác nhau, nhưng người mua sẽ phải tiến hành việc tìm kiếm và cân nhắc kỹ lưỡng
để tìm được hàng hóa có mức giá và chất lượng tốt nhất Chi phí sẽ nhân lên
vì liên quan đến đàm phán và giao hàng đường dài
Có rất nhiều trường hợp biện pháp buộc thực hiện đúng hợp đồng được
áp dụng trong mua bán hàng hóa quốc tế, trong đó bên vi phạm đã yêu cầu để nhận được thực hiện đúng nghĩa vụ Ví dụ, sửa chữa đã được yêu cầu trong một trường hợp quyết định của Toà án cấp phúc thẩm Grenoble Tòa án cho rằng hàng hoá mà người bán giao bị lỗi nhẹ và yêu cầu người bán thay thế các
Trang 32bộ phận bị lỗi bằng các bộ phận mới là không phù hợp với Điều 46 (3) của CISG, nên đã bác yêu cầu của người mua28
Trong một trường hợp khác của một hợp đồng mua bán các cửa sổ, hàng hóa mà người bán giao không phù hợp với hợp đồng và người bán đã gửi các cửa sổ thay thế29 Những trường hợp này chứng minh tầm quan trọng của Điều 46 CISG, Điều 7.1.4 UPICC và Điều 8.104 PECL, khi nó cung cấp
sự thuận lợi hơn để thực hiện sửa chữa hoặc bằng cách cung cấp hàng hóa thay thế hơn là hủy các hợp đồng hay đòi bồi thường thiệt hại
Từ góc độ người bán, chúng ta hãy xem xét tầm quan trọng quy định
quyền của người bán yêu cầu thực hiện đúng hợp đồng trong bán hàng quốc tế
để thấy các văn bản pháp lý quốc tế trên đã ưu tiên áp dụng biện pháp buộc thực hiện hợp đồng như một biện pháp khắc phục chính Quyền của người bán để yêu cầu thực hiện đúng hợp đồng được điều chỉnh bởi Điều 62 của CISG, Điều 7.2.1 và Điều 7.2.2 UPICC, Điều 9.101 và 9.102 PECL
Người bán có thể yêu cầu người mua thực hiện bất cứ nghĩa vụ nào như thanh toán giá cả, việc nhận hàng hoặc nghĩa vụ nào khác phát sinh từ hợp đồng Ví dụ: Trong một trường hợp tòa án Đức đã buộc người mua thi hành nghĩa vụ phải thanh tóan bằng đồng tiền quy định theo thỏa thuận của các bên Vì trong hợp đồng này đã quy định đồng tiền thanh toán cụ thể là đồng Liras của Ý, nên Tòa án đã chấp nhận yêu cầu của bên bán.30
Trong một trường hợp khác, Ban trọng tài của Phòng Thương mại quốc
tế đã quyết định áp dụng biện pháp buộc thực hiện đúng hợp đồng Một người mua Bulgaria đã không trả thanh tóan hợp đồng cho một người bán Áo trong khoảng thời gian đã thoả thuận trong hợp đồng mặc dù người bán đã ấn định một thời gian bổ sung cho người mua để thực hiện, Ban trọng tài đã buộc người mua thi hành nghĩa vụ31 Trong trường hợp người mua vi phạm hợp đồng, người bán có quyền yêu cầu phải thực hiện đúng nghĩa vụ và quyền này không có bất kỳ hạn chế nào, ngoại trừ người bán đã viện dẫn đến một biện pháp khắc phục không phù hợp khác Bên bán có thể buộc người mua nhận hàng mà không cần phải chứng minh rằng anh ta không thể bán lại hàng hóa cho một người khác
Hãy xem xét tầm quan trọng của việc áp dụng biện pháp này trong mua bán háng hóa quốc tế, mà một bên trong quan hệ hợp đồng đang kinh doanh tại một nước đang phát triển Việc tiếp cận với các thị trường khác là khó
khăn thường gặp đối với một người kinh doanh tại một nước đang phát triển Việc bất lợi có thể thấy ở nhiều khía cạnh khác nhau, có thể đó là sự kém phát triển và tốn kém của các phương tiện truyền thông và vận tải, do đó làm tăng
Trang 33chi phí ở vị trí của một người bán Do vậy, chi phí mà người bán đã bỏ ra và khả năng đàm phán để đạt được một thỏa thuận với giá cao hơn sẽ hạn chế rất nhiều so với vị trí của một người mua từ một nước phát triển
Ở vị trí là một người mua, cũng sẽ là không công bằng vì sau khi giao dịch với chi phí cao và khó khăn, để buộc một người mua từ một nước đang phát triển phải đàm phán và ký kết hợp đồng thay thế Hơn nữa, bồi thường thiệt hại như một biện pháp khắc phục chắc chắn sẽ không bao gồm tất cả các chi phí bổ sung, đặc biệt là khi Tòa án, không biết các điều kiện thị trường, và không xem xét tất cả những yếu tố khác Trong hoàn cảnh như vậy, buộc thực hiện đúng hợp đồng là biện pháp khắc phục hiệu quả và đầy đủ nhất Ngay cả khi người mua cố gắng để giảm chi phí của mình bằng cách tìm kiếm một thỏa thuận thay thế trong thị trường của mình, hoặc các thị trường lân cận, người mua sẽ phải đối mặt với một vấn đề khác - không có hàng hoá Thị trường của các nước đang phát triển không có nhiều hàng hoá như ở các nước phát triển Và một người mua từ một nước phát triển không có những mối quan tâm tương tự về không có khả năng để tìm hàng hóa thay thế nếu anh ta không thể có được việc thực hiện đúng nghĩa vụ của bên bán, bồi thường thiệt hại có thể là biện pháp khắc phục đầy đủ, hàng hoá và giá cả có thể được đánh giá và bồi thường thiệt hại sẽ có thể được lựa chọn Ngược lại, trong một nước đang phát triển, bồi thường tiền tệ có thể là một biện pháp không đầy đủ bởi vì dòng chảy của hàng hóa bị giới hạn trong các thị trường này Điều này đặc biệt đúng đối với hàng hoá nhất định đòi hỏi có kỹ thuật công nghệ cao, mà người mua không thể có được từ thị trường trong nước hay ở các nước lân cận
Ngoài yếu tố kinh tế, người mua có thể phải đối mặt với các rào cản thương mại từ quy định của pháp luật Chẳng hạn, việc hạn chế nhập khẩu có thể bao gồm các rào cản đối với hàng hóa nhập khẩu có xuất xứ từ các quốc gia nhất định, hoặc có mức thuế cao đối với việc nhập khẩu này Do vậy, một người mua phải xem xét những yếu tố này khi lựa chọn thị trường mà từ đó anh ta muốn mua Những yếu tố này sẽ hạn chế phạm vi của sự lựa chọn Cũng có thể có hạn chế về chuyển trả các khoản thanh toán đối với hàng hóa nhập khẩu khi có những quy tắc nghiêm ngặt về việc chuyển tiền Một người mua sẽ đưa vào xem xét tất cả các vấn đề nói trên trước khi muốn kết thúc hợp đồng Do đó, một người mua từ một nước đang phát triển có khuynh hướng ưu tiên lựa chọn áp dụng buộc thực hiện đúng hợp đồng hơn nhiều so với người mua từ một nước phát triển Người mua có thể xem buộc thực hiện đúng hợp đồng như là biện pháp duy nhất khắc phục đầy đủ thiệt hại
Sửa chữa, đó là một trong những hình thức buộc thực hiện đúng nghĩa
vụ hợp đồng quy định tại CISG, PECL và UPICC Nó cũng có một tầm quan trọng lớn hơn cho các nước đang phát triển khi hàng hoá là những sản phẩm công nghệ cao mà người mua khó có thể tìm thấy chuyên môn cần thiết trong nước của mình Cách duy nhất của người mua là tìm một bên thứ ba có khả
Trang 34năng công nghệ cao để sữa chữa thay thế, điều này sẽ tốn kém nhiều chi phí hơn Do vậy, buộc người bán phải sữa chữa sản phẩm là lựa chọn tối ưu nhất
Liên quan đến quyền của người bán yêu cầu thực hiện đúng hợp đồng, buộc người mua nhận hàng là quan trọng cho người bán khi sẽ khó khăn cho anh ta để tìm thấy một giao dịch thay thế Những khó khăn này quan trọng hơn với người bán từ các nước đang phát triển vì họ không thể tiếp cận vào thị trường quốc tế một cách dễ dàng Phương tiện truyền thông, giao thông vận tải kém phát triển, do đó sẽ tốn kém hơn, một người bán từ một nước đang phát triển sẽ gặp khó khăn nhiều hơn trong việc tìm kiếm một thỏa thuận thay thế, đặc biệt là khi hàng hoá đã giao đến nơi và người mua từ chối nhận hàng Người bán có thể không có những thông tin cần thiết về thị trường đó,
và do đó sẽ gặp khó khăn rất lớn việc tìm kiếm một người mua mới Nếu anh
ta không thể tìm thấy một người mua trên thị trường đó, anh ta sẽ phải vận chuyển hàng hoá trở lại đất nước của mình hoặc đến một thị trường khác, điều
đó sẽ nhân lên các chi phí giao dịch Từ chối thực hiện hợp đồng trong trường hợp như vậy sẽ gây khó khăn cho người bán Tuy nhiên, không phải trong mọi trường hợp buộc người mua phải nhận hàng và thanh tóan là hợp lý, khi việc thực hiện hợp đồng không còn mang lại lợi nhuận.32
Như vậy, CISG, PECL và UPICC cũng theo xu hướng quốc tế chung,
đó là bảo đảm tôn trọng và thực hiện đúng nghĩa vụ hợp đồng, bảo vệ và duy trì quan hệ hợp đồng, hạn chế tối đa việc hủy hợp đồng, xem hủy hợp đồng là biện pháp cuối cùng trong các biện pháp khắc phục hậu quả được xem xét áp dụng, nếu các biện pháp khắc phục khác không mang lại kết quả.33 Và đã có nhiều quy định về buộc thực hiện đúng hợp đồng, xem nó như là biện pháp
“ưu tiên” được áp dụng cho vi phạm nghĩa vụ hợp đồng, là biện pháp khắc phục hiệu quả và đầy đủ nhất, bởi một mặt giúp duy trì được quan hệ hợp đồng, và đảm bảo lợi ích chính đáng cho bên có quyền Điều này là hòan tòan phù hợp đối với hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, vốn tiềm ẩn nhiều rủi ro hơn so với hợp đồng mua bán hàng hóa trong nước
1.2.2 Theo pháp luật Việt Nam
Khi đánh giá về vị trí của chế tài buộc thực hiện hợp đồng trong các lọai chế tài thương mại, chúng tôi cũng đồng ý với quan điểm cho rằng, đây là một chế tài được ưu tiên áp dụng khi có hành vi vi phạm nghĩa vụ của một bên, mặc dù vấn đề này chưa được quy định một cách khái quát và rõ nét
Tại Điều 292 LTM2005 đưa ra danh sách các lọai chế tài trong thương mại thì buộc thực hiện đúng hợp đồng được đề cập đầu tiên, nếu giải thích theo hướng chế tài nào được đề cập đầu tiên thì được ưu tiên áp dụng trước
32 Http://www.cisg.law.pace.edu/cisg/biblio/boghossian.html.
33
Http://www.cisg.law.pace.edu/cisg/biblio/huber1.html
Trang 35Ngòai ra, sự ưu tiên áp dụng chế tài cũng được thể hiện trong nhiều quy định khác của luật thương mại Tại Điều 298 LTM quy định: Trường hợp buộc thực hiện đúng hợp đồng, bên bị vi phạm có thể gia hạn một thời gian hợp lý để bên vi phạm thực hiện nghĩa vụ hợp đồng Như vậy, cũng giống như các các văn bản pháp lý quốc tế trên, LTM trao cho bên vi phạm “cơ hội thứ hai” để khắc phục vi phạm, duy trì hợp đồng bằng việc tiếp tục thực hiện đúng nghĩa vụ hợp đồng trong một thời gian gia hạn thêm hợp lý Tuy nhiên, quy định này cũng có hạn chế là quyền khắc phục của bên có nghĩa vụ tùy thuộc vào ý chí của bên có quyền, và thời hạn hợp lý do bên có quyền ấn định
LTM giống CISG, UPICC và PECL cũng sử dụng học thuyết vi phạm
cơ bản để hạn chế việc áp dụng các chế tài dẫn đến việc chấm dứt hợp đồng như đình chỉ hay hủy bỏ hợp đồng Chỉ khi hành vi vi phạm của một bên cấu thành vi phạm cơ bản thì bên bị vi phạm mới được đình chỉ hay hủy bỏ hợp đồng, và quy định rõ trong trường hợp nếu là vi phạm không cơ bản thì các chế tài tạm ngừng, đình chỉ hay hủy bỏ hợp đồng sẽ không được áp dụng, trong trường này rõ ràng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng sẽ được ưu tiên lựa chọn Tuy nhiên, ngay cả trong trường hợp là vi phạm cơ bản, nếu việc thực hiện hợp đồng vẫn mang lại lợi ích cho các bên, thì việc buộc tiếp tục thực hiện đúng hợp đồng cũng nên là biện pháp ưu tiên được xem xét Bởi
lẽ, ngay cả trong trường hợp vi phạm cơ bản, với thiện chí thực hiện hợp đồng thì bên vi phạm vẫn có thể khắc phục được khiếm khuyết trong thực hiện nghĩa vụ để cung cấp cho bên bị vi phạm lợi ích mà bên này mong muốn có được từ việc thực hiện hợp đồng
Ví dụ sau đây cho thấy Tòa án đã ưu tiên áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng: Công ty Việt Hoa ký hợp đồng giao cho cơ sở Nam Hải lắp đặt 800 cửa cuốn tại một trung tâm thương mại Hai bên đã thực hiện hợp đồng và công ty Việt Hoa đã trả được 1.059 tỷ đồng nhưng Vinacontrol đã kiểm định và cho rằng “sản phẩm cửa cuốn không đạt yêu cầu về kỹ thuật và yêu cầu thẩm mỹ về phẩm chất quy cách của một số vật tư” Hai bên phát sinh tranh chấp và công ty Việt Hoa yêu cầu “buộc cơ sở Nam Hải phải hòan trả công ty Việt Hoa 1.019.000.000 đồng và bồi thường 305.700.000 đồng hoặc thay thế vật tư đúng theo hợp đồng” Bên không được thực hiện đúng hợp đồng đã yêu cầu “thay thế vật tư đúng theo hợp đồng”, tức yêu cầu buộc thực hiện đúng hợp đồng Hoặc “hòan trả công ty Việt Hoa 1.019.000.000 đồng và bồi thường 305.700.000 đồng”, tức yêu cầu hủy hợp đồng và bồi thường thiệt hại Trong trường hợp hủy hợp đồng, rõ ràng các bên không nhận được lợi ích mong đợi từ việc thực hiện hợp đồng, công ty Việt Hoa không nhận được bộ cửa cuốn như mong đợi, và công ty Nam Hải cũng không nhận được tiền từ việc thực hiện hợp đồng Ngược lại, nếu áp dụng buộc thực hiện đúng hợp đồng, tức buộc cơ sở Nam Hải thay thế vật tư theo đúng hợp đồng, các bên sẽ nhận được lợi ích mong muốn, một bên nhận được bộ cửa, một bên nhận
Trang 36được tiền như thỏa thuận Do đó, việc hủy hợp đồng cần được hạn chế, việc
áp dụng buộc thực hiện đúng hợp đồng cần được khuyến khích Chính vì thế,
mà Ủy ban thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã theo hướng buộc bên không thực hiện đúng hợp đồng tiếp tục thực hiện đúng hợp đồng trước yêu cầu của bên có quyền Đây là giải pháp rất thuyết phục nên cần được áp dụng trong những tình huống tương tự Theo Tòa án “vụ án cần được xét xử sơ thẩm lại theo hướng buộc cơ sở Nam Hải thay thế các vật tư làm cửa cuốn theo đúng hợp đồng hai bên đã ký kết”.34
Trong ví dụ trên, mặc dù cơ sở Nam Hải đã vi phạm hợp đồng khi giao hàng hóa là bộ cửa cuốn kém chất lượng, nhưng vi phạm này có thể khắc phục được và việc tiếp tục thực hiện đúng hợp đồng sẽ mang lại kết quả tích cực, các bên có được lợi ích mong muốn Mặt khác, xét về khía cạnh kinh tế, nếu Tòa án chấp nhận yêu cầu hủy hợp đồng và buộc cơ sở Nam Hải bồi thường thiệt hại, thì sẽ đem lại hậu quả nặng nề cho bên này Bởi, 800 cửa cuốn đã sản xuất ra sẽ xử lý như thế nào, việc bán rẻ hay sử dụng để tái sản xuất sẽ là lãng phí kinh tế cho bên bán
Trên cơ sở phân tích trên, có thể thấy quy định của LTM và thực tiễn xét xử đã ủng hộ việc ưu tiên áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng
so với các chế tài thương mại khác
Tương tự LTM 2005, BLDS cũng đã có nhiều quy định thể hiện việc ưu
tiên áp dụng chế tài này Tại khỏan 2 Điều 9 BLDS quy định các biện pháp
mà bên có quyền có thể sử sụng khi có hành vi vi phạm nghĩa vụ của một bên trong hợp đồng: “Khi quyền dân sự của một chủ thể bị xâm phạm thì chủ thể
đó có quyền tự bảo vệ theo quy định của bộ luật này hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền: b, Buộc chấm dứt hành vi vi phạm; d, Buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự; đ, Buộc bồi thường thiệt hại” Như vậy, buộc thực hiện nghĩa vụ cũng được đặt trước biện pháp bồi thường thiệt hại, và theo thứ tự biện pháp nào được liệt kê trước thì được áp dụng trước, thì chúng ta nên ưu tiên lựa chọn áp dụng biện pháp buộc thực hiện nghĩa vụ
Khi đưa ra các biện pháp để xử lý cho việc không thực hiện đúng nghĩa
vụ cho từng lọai nghĩa vụ thì biện pháp buộc thực hiên đúng hợp đồng cũng được ưu tiên để áp dụng trước Ví dụ: Nghĩa vụ giao vật đặc định tại khỏan 1 Điều 303: Thì biện pháp buộc bên có nghĩa vụ phải giao đúng vật đó được đề cập đến trước; khỏan 1 Điều 304 BLDS 2005 quy định về quyền yêu cầu tiếp tục thực hiện nghĩa vụ, thì biện pháp yêu cầu bên có nghĩa vụ tiếp tục thực hiện nghĩa vụ được đặt trước biện pháp bồi thường thiệt hại Tại khỏan 2 Điều
485 quy định nghĩa vụ bảo đảm giá trị sử dụng của tài sản thuê: Trong trường hợp tài sản thuê bị giảm sút giá trị sử dụng mà không do lỗi của bên thuê thì
34
Đỗ Văn Đại, sđd, tr 72-73, Quyết định số 20/UBTP-KT ngày 18/12/1998 của Ủy ban thẩm phán Tòa án
nhân dân tối cao (trích theo)
Trang 37quyền yêu cầu bên cho thuê sửa chữa tài sản (buộc thực hiện đúng nghĩa vụ) cũng được liệt kê trước so với các biện khác như giảm giá thuê, đổi tài sản thuê, hoặc đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại
Qua phân tích trên cho thấy, pháp luật Việt Nam cũng xem buộc thực hiện đúng hợp đồng là chế tài khắc phục chính đối với vi phạm hợp đồng, và thể hiện sự “ưu tiên” áp dụng so với các chế tài khác khi có vi phạm hợp đồng xẩy ra Tuy vậy, những quy định về chế tài này còn mang tính chất đơn lẻ, thiếu tính khái quát và hệ thống, bên cạnh đó chưa đảm bảo được cơ chế thực thi hiệu quả trên thực tế Đây cũng là nguyên nhân mà việc áp dụng chế tài này trên thực tế còn nhiều hạn chế, chưa thống nhất và hiệu quả không cao
1.3 Mối quan hệ với các chế tài thương mại khác
1.3.1 Mối quan hệ với bồi thường thiệt hại
Buộc thực hiện đúng hợp đồng là việc bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm phải thực hiện đúng nghĩa vụ hợp đồng đã cam kết, từ đó giúp các bên đạt được mục đích mong muốn từ hợp đồng Bồi thường thiệt hại là việc bên
vi phạm bồi thường những tổn thất do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra cho bên bị thiệt hại Như vậy, cả hai chế tài đều có một đặc điểm chung đó là đều xuất phát từ hành vi vi phạm hợp đồng của một bên, mà hành vi này thường gây ra những thiệt hại cho bên kia
LTM 1997 và LTM 2005 cũng đề cập đến mối quan hệ giữa chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng và bồi thường thiệt hại Khoản 1 Điều 225 LTM
1997 quy định: “Trong trường hợp không có thoả thuận khác thì trong thời
gian áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng, bên có quyền lợi bị vi phạm không được áp dụng các chế tài phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại hoặc huỷ hợp đồng” Đây là điểm khác biệt cơ bản so với LTM 2005, bởi theo
khỏan 1 Điều 299 LTM 2005, trong thời gian áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng, bên bị vi phạm vẫn có quyền áp dụng chế tài bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác So với LTM 1997, LTM 2005
đã có quy định tiến bộ và hợp lý hơn khi trao cho bên bị vi phạm quyền áp dụng chế tài bồi thường thiệt hại đồng thời với yêu cầu buộc bên vi phạm thực hiện đúng nghĩa vụ theo hợp đồng
Việc kết hợp giữa chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng và bồi thường thiệt hại là cần thiết Bởi trong quá trình áp dụng biện pháp buộc thực hiện đúng hợp đồng thì tổn thất do hành vi vi phạm của bên vi phạm gây ra mà bên
bị vi phạm phải gánh chịu rõ ràng phải được bù đắp một cách kịp thời Mặt khác, nếu bên bị vi phạm không được yêu cầu bồi thường thiệt hại thì dễ dẫn đến sự lạm dụng của bên vi phạm để kéo dài thời gian thực hiện hợp đồng, gây tổn thất nặng nề hơn cho bên bị vi phạm Hơn nữa, áp dụng bồi thường thiệt hại trong thời gian này là hợp lý để các bên tuân thủ và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình
Trang 38Việc kết hợp giữa chế tài này và chế tài bồi thường thiệt hại cũng được ghi nhận trong các văn bản pháp lý quốc tế Khỏan 2 Điều 45, và khỏan 2 Điều 61 CISG quy định: Người mua và người bán không mất quyền đòi bồi thường thiệt hại khi họ sử dụng quyền dùng một biện pháp bảo hộ pháp lý khác, trong đó bao gồm cả biện pháp buộc thực hiện đúng nghĩa vụ hợp đồng
Và theo Điều 47 và Điều 63 CISG, trong thời gian gia hạn để bên vi phạm thực hiện đúng nghĩa vụ hợp đồng, bên bị vi phạm cũng không mất quyền đòi bồi thuờng thiệt hại
Tại Điều 8.102 PECL quy định: Một bên không mất quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại do thực hiện quyền của mình đối với các biện pháp khắc phục khác Và Điều 7.4.1 UPICC cũng quy định: Việc không thực hiện một nghĩa
vụ đem lại cho bên có quyền, hoặc chỉ yêu cầu bồi thường thiệt hại hoặc bồi thường thiệt hại đồng thời với những biện pháp khác
Như vậy, cả CISG, PECL và UPICC đều cho phép kết hợp giữa buộc hực hiện hợp đồng và bồi thường thiệt hại Đối chiếu với pháp luật quốc tế, quy định của LTM2005 về vấn đề này là phù hợp, tạo cơ sở pháp lý để đảm bảo khắc phục đầy đủ lợi ích hợp pháp cho bên có quyền
Ví dụ sau đây cho thấy Tòa án đã kết hợp giữa chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng và bồi thường thiệt hại để đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho nguyên đơn:
Ngày 10/06/1997, Nguyên đơn và Bị đơn ký hợp đồng 9623/INUT.97, theo đó Nguyên đơn bán cho Bị đơn 9.937 Kg cà phê và bột kem theo điều kiện CIF HCMC Thực hiện hợp đồng, Nguyên đơn đã giao hàng cho Bị đơn ngày 21/06/1997 và có hóa đơn đòi tiền hàng Qua nhiều lần đòi mà không được trả tiền, Nguyên đơn đã khởi kiện Bị đơn ra trọng tài, đòi Bị đơn phải trả các khoản tiền sau: Tiền hàng, tiền lãi của tiền hàng, phí tư vấn pháp lý, phí dịch thuật, phí liên lạc điện thoại và fax Như vậy, nguyên đơn đã thực hiện nghĩa vụ giao hàng theo hợp đồng nhưng bị đơn đã không thực hiện nghĩa vụ thanh tóan Do vậy, trọng tài đã phán quyết: Về nghĩa vụ trả tiền của Bị đơn:
Bị đơn đã nhận được hàng nhưng đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán tiền hàng
Do đó, buộc Bị đơn phải trả toàn bộ tiền hàng cho Nguyên đơn Về các khoản tiền bồi thường thiệt hại do Nguyên đơn đòi: Uỷ ban trọng tài chấp nhận yêu cầu đòi tiền lãi suất của Nguyên đơn và bác các yêu cầu khác do không có chứng cứ chứng minh.35
Trong tình huống trên, bên bán đã thực hiện việc giao hàng theo hợp đồng, nhưng bên mua đã vi phạm nghĩa vụ thanh tóan, làm thiệt hại cho lợi ích của bên bán Để bảo vệ lợi ích hợp pháp của bên có quyền, Trọng tài một mặt buộc bị đơn phải thực hiện nghĩa vụ thanh tóan tiền hàng (buộc thực hiện
35
http://www.viac.org.vn/vi-VN/Home/anpham44.aspx
(Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam (2002), 50 phán quyết trọng tài quốc tế chọn lọc, Phán quyết số 18)
Trang 39đúng hợp đồng), mặt khác chấp nhận yêu cầu bồi thường thiệt hại của bên bán, buộc bị đơn phải chịu tiền lãi suất Phán quyết này của Trọng tài là hòan tòan chính xác, bởi việc kết hợp áp dụng hai chế tài này mới khắc phục được đầy đủ thiệt hại mà bên bán phải gánh chịu
Ngòai ra, chế tài bồi thường thiệt hại có thể được dùng như một biện pháp “dự phòng” của buộc thực hiện đúng hợp đồng Bởi trong trường hợp, khi tồn tại ngọai lệ hay những trường hợp không áp dụng buộc thực hiện hợp đồng, như việc thực hiện nghĩa vụ trên thực tế là không thể hay trái pháp luật, thực hiện nghĩa vụ đòi hỏi những cố gắng hay chi phí bất hợp lý, hay việc thực hiện nghĩa vụ hòan tòan phụ thuộc vào ý chí của cá nhân người mắc nợ… thì buộc thực hiện đúng hợp đồng cũng bị loai trừ, và bên có quyền chỉ
có thể yêu cầu bồi thường thiệt hại do vi phạm của bên có nghĩa vụ gây ra Mặt khác, trong nhiều trường hợp Tòa án ra phán quyết về buộc thực hiện đúng hợp đồng, nhưng thay vì chấp hành, bên vi phạm đã lựa chọn việc không tiếp tục thực hiện, mà chấp nhận bồi thường, vì nhiều lý do nhưng chủ yếu là khía cạnh kinh tế, bởi sự thực hiện có thể tốn kém hơn so với bồi thường thiệt hại
Sự kết hợp giữa buộc thực hiện đúng hợp đồng và bồi thường thiệt hại
có thể tìm thấy trong nhiều quy định của BLDS: Khỏan 1 Điều 305 quy định trách nhiệm dân sự do chậm thực hiện nghĩa vụ dân sự : Khi nghĩa vụ dân sự chậm được thực hiện thì bên có quyền có thể gia hạn để bên có nghĩa vụ hoàn thành nghĩa vụ; nếu quá thời hạn này mà nghĩa vụ vẫn chưa được hoàn thành thì theo yêu cầu của bên có quyền, bên có nghĩa vụ vẫn phải thực hiện nghĩa
vụ và bồi thường thiệt hại
Trong trường hợp giao hàng không đủ số lượng, khỏan 2 Điều 435 BLDS 2005 quy định bên mua có một trong các quyền: Nhận phần đã giao và yêu cầu bồi thường thiệt hại, nhận phần đã giao và định thời hạn để bên bán giao tiếp phần còn thiếu, hủy bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại Khỏan 1 Điều 444 BLDS quy định về bảo đảm chất lượng vật mua bán: Bên bán phải bảo đảm giá trị sử dụng hoặc các đặc tính của vật mua bán; nếu sau khi mua mà bên mua phát hiện khuyết tật làm mất giá trị hoặc giảm sút giá trị sử dụng của vật đã mua thì phải báo ngay khi phát hiện ra khuyết tật và
có quyền yêu cầu bên bán sửa chữa, đổi vật có khuyết tật, và bồi thường thiệt hại, nếu không có thoả thuận khác
Như vậy, chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng và bồi thường thiệt hại
có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, mang tính “hỗ trợ” và thường được áp dụng cùng nhau Bởi sự kết hợp hai chế tài này, một mặt là cơ sở để đảm bảo cho việc thực hiện đúng nghĩa vụ hợp đồng, mặt khác, đảm bảo được lợi ích cho bên có quyền và khắc phục được một cách đầy đủ thiệt hại xẩy ra do hành
vi vi phạm hợp đồng của các bên
Trang 401.3.2 Mối quan hệ với hủy bỏ hợp đồng
Hủy hợp đồng là biện pháp chế tài nghiêm khắc nhất trong thương mại, bởi khi áp dụng chế tài này thì hợp đồng coi như chưa tồn tại, không có hiệu lực từ thời điểm giao kết, các bên không phải thực hiện nghĩa vụ đã thỏa thuận, bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bên vi phạm bồi thường tòan bộ thiệt hại Do vậy, có một xu hướng rõ ràng để tránh việc hủy hợp đồng Một số pháp luật bán hàng hiện đại (chẳng hạn như Đức và Bắc Âu và các công cụ pháp lý quốc tế, chẳng hạn như CISG, UPICC và PECL coi chấm dứt hợp đồng như một biện pháp cuối cùng nên được xem xét áp dụng nếu các biện pháp khắc phục hậu quả khác, ví dụ như buộc thực hiện hợp đồng, giảm giá hoặc bồi thường thiệt hại sẽ không dẫn đến một kết quả chấp nhận được.36
Như vậy, trong các chế tài bên có quyền được yêu cầu áp dụng để bảo
vệ lợi ích hợp pháp của mình nếu bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng hợp đồng, thì hủy hợp đồng được xem là giải pháp cuối cùng, khi việc tiếp tục thực hiện hợp đồng là không còn ý nghĩa hoặc các giải pháp khác không đem lại kết quả tích cực Do đó, khi có vi phạm nghĩa vụ hợp đồng xẩy ra thì buộc thực hiện đúng hợp đồng nên được ưu tiên xem xét áp dụng trước
Để tạo điều kiện cho bên vi phạm khắc phục thiếu sót thực hiện nghĩa
vụ, tránh việc hủy hợp đồng không cần thiết, LTM 2005 tại khỏan 1 Điều 299 quy định trong thời gian áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng, bên
bị vi phạm có quyền áp dụng biện pháp bồi thường thiệt hại và phạt vi phạm nhưng không được áp dụng chế tài khác, bao gồm cả chế tài hủy hợp đồng
Vấn đề đặt ra là nếu bên vi phạm không tiếp tục thực hiện nghĩa vụ hợp đồng hoặc việc thực hiện không có kết quả thì bên bị vi phạm có quyền hủy hợp đồng hay không? Tại khỏan 2 Điều 299 LTM 2005 quy định: Trường hợp bên vi phạm không thực hiện chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng trong thời hạn mà bên bị vi phạm ấn định, bên bị vi phạm được áp dụng các chế tài khác
để bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình, chế tài khác ở đây có thể được hiểu bao gồm cả chế tài hủy hợp đồng và bồi thường thiệt hại Tuy nhiên, tại Điều
312 quy định chỉ hai trường hợp được áp dụng chế tài hủy hợp đồng, đó là: Xảy ra hành vi vi phạm mà các bên đã thoả thuận là điều kiện để hủy bỏ hợp đồng; hoặc một bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng Trong trường hợp này rõ ràng lại phải quay về để xác định có thỏa thuận trước giữa các bên hoặc xác định có phải là vi phạm cơ bản hay không? Trong rất nhiều trường hợp vi phạm nghĩa vụ của một bên là không nghiêm trọng và được bên kia trao thêm một thời gian để khắc phục, ví dụ: Giao hàng chậm số lượng ít hoặc sữa chữa những khuyết tật của hàng hóa Nhưng hết thời hạn này bên bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không có kết quả thì có được hủy hợp đồng hoặc “nâng cấp” vi phạm thành vi phạm cơ bản để có cơ sở hủy hợp
36
Http://www.cisg.law.pace.edu/cisg/biblio/huber1.html