1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC TÍNH tất yếu và THỰC CHẤT bước NGOẶT CÁCH MẠNG TRONG TRIẾT học DO c mác, PH ĂNGGHEN THỰC HIỆN

20 66 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 200 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÍNH TẤT YẾU VÀ THỰC CHẤT BƯỚC NGOẶT CÁCH MẠNG TRONG TRIẾT HỌC DO C. MÁC, PH. ĂNGGHEN THỰC HIỆN Ý NGHĨA TRONG CUỘC ĐẤU TRANH TƯ TƯỞNG HIỆN NAY Triết học Mác, Ăngghen là sự kế thừa những thành tựu vĩ đại của tư tưởng triết học nhân loại mà trực tiếp là triết học cổ điển Đức. Triết học Mác, Ăngghen là thế giới quan, phương pháp luận cách mạng và khoa học trong nhận thức và cải tạo thế giới, là vũ khí lý luận của giai cấp công nhân trong quá trình giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội. Triết học Mác,Ăngghen khác hẳn về chất so với tất cả những tư tưởng triết học trước đó. Triết học Mác, Ăngghen ra đời không phải là một sự ngẫu nhiên, hay ý muốn chủ quan của Mác, Ăngghen mà nó nảy sinh phù hợp với quy luật phát triển khách quan của lịch sử tư tưởng nhân loại. Sự ra đời của triết học Mác là kết quả của sự thống nhất giữa sự chín muồi của điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan.

Trang 1

TÍNH TẤT YẾU VÀ THỰC CHẤT BƯỚC NGOẶT CÁCH MẠNG TRONG TRIẾT HỌC DO C MÁC, PH ĂNGGHEN THỰC HIỆN

Ý NGHĨA TRONG CUỘC ĐẤU TRANH TƯ TƯỞNG HIỆN NAY

Triết học Mác, Ăngghen là sự kế thừa những thành tựu vĩ đại của t ư tưởng triết học nhân loại mà trực tiếp là triết học cổ điển Đức Triết học Mác, Ăngghen là thế giới quan, phương pháp luận cách mạng và khoa học trong nhận thức và cải tạo thế giới, là vũ khí lý luận của giai cấp cơng nhân trong quá trình giải phĩng giai cấp, giải phĩng xã hội Triết học Mác,Ăngghen khác hẳn về chất so với tất cả những tư tưởng triết học trước đĩ Triết học Mác, Ăngghen ra đời khơng phải là một sự ngẫu nhiên, hay ý muốn chủ quan của Mác, Ăngghen mà nĩ nảy sinh phù hợp với quy luật phát triển khách quan của lịch sử tư tưởng nhân loại Sự ra đời của triết học Mác là kết quả của sự thống nhất giữa sự chín muồi của điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan

Điều kiện khách quan

Vào giữa những năm 40 của thế kỷ XX lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ do sự tác động của cuộc cách mạng cơng nghiệp, làm cho phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa được củng cố vững chắc, nổi bật là

ở Anh và Pháp Vào thời kỳ này nước Anh đã trở thành một cường quốc

tư bản chủ nghĩa lớn nhất, nước Đức tuy cơng nghiệp cịn phụ thuộc vào Anh và Pháp song cũng phát triển khá nhanh SưÏ phát triển mạnh mẽ của chủ nghĩa tư bản lúc này đã được Mác Ăng Ghen nhận xét : “Giai cấp tư sản trong quá trình thống trị giai cấp chưa đầy một thế kỷ, đã tạo ra những lực lượng sản xuất nhiều hơn và đồ sộ hơn lực lượng sản xuất của tất cả

Trang 2

các thế hệ trước kia gộp lại”1 Phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã thể

hiện rõ tính hơn hẳn của nĩ so với phương thức sản xuất phong kiến

Chủ nghĩa tư bản ngày càng phát triển dẫn đến nảy sinh mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất phát triển với trình độ và tính chất xã hội hố ngày càng cao với quan hệ sản xuất lỗi thời, lạc hậu dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân

về tư liệu sản xuất Giai cấp tư sản lúc đầu nĩ cịn là lực lượng cách mạng, nhưng khi đã xác lập được vị trí thống trị của mình dần dần trở thành lực lượng bảo thủ Mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất biểu hiện về mặt xã hội đĩ là mâu thuẫn giai cấp

Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất thì giai cấp cơng nhân ngày càng lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng, đĩng một vai trị to lớn trong đời sống chính trị xã hội Trước sự áp bức bĩc lột của giai cấp tư sản thì phong trào đấu tranh của giai cấp cơng nhân ngày càng phát triển mạnh mẽ Ở Anh phong trào hiến chương của cơng nhân Anh trở thành một phong trào chính trị cĩ tính chất quần chúng rộng lớn Ở Pháp cĩ cuộc đấu tranh của cơng nhân chống bọn tư bản đã phát triển thành một loạt cuộc khởi nghĩa vũ trang Cuộc khởi nghĩa của cơng nhân Liơng nổ ra năm 1831 đã báo hiệu một giai đoạn mới của cuộc đấu tranh giai cấp trong xã hội tư bản Thực tiễn sản xuất vật chất và đấu tranh cách mạng cho thấy, giai cấp vơ sản đã lớn mạnh cả

về số lượng và chất lượng, thật sự trưởng thành, bước lên vũ đài chính trị

Giữa những năm 40 của thế kỷ XX, trung tâm của phong trào cách mạng chuyển sang nước Đức Phong trào đấu tranh của giai cấp cơng nhân phát triển mạnh mẽ, nhưng đĩ chỉ là các cuộc đấu tranh tự phát Giai cấp cơng nhân lúc này họ chưa ý thức được địa vị của mình trong tiến trình lịch sử, họ chưa thấy được con đường và biện pháp để giải phĩng bản thân mình và giải phĩng tồn xã hội, họ thiếu tổ chức và thiếu lý luận

1 C Mác và Ph Aêngghen toàn tập, tập 4, Nxb, Chính trị quốc gia, Hà Nội 1995 trang 603

Trang 3

dẫn đường Thực tiễn xã hội, đặc biệt là thực tiễn cách mạng của giai cấp

vô sản đã nảy sinh một yêu cầu khách quan là phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân phải được soi sáng bằng lý luận cách mạng và khoa học Như vậy phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân là cơ sở khách quan quyết định tính tất yếu của sự ra đời một hệ tư tưởng mới

Trong lúc này các học thuyết xã hội không tưởng của Xanhximông, Phuriê, Ôoen ra đời nhưng không đáp ứng được yêu cầu của phong trào cộng sản trong sự nghiệp giải phóng xã hội, giải phóng giai cấp Chính thực tiễn các phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân lúc đó nó đòi hỏi phải được soi sáng bởi lý luận cách mạng đó là lý luận Mác nói chung và triết học Mác nói riêng Chính Mác, Ăng Ghen đã đáp ứng được những đòi hỏi đó: sáng tạo

ra lý luận cách mạng của phong trào công nhân, đáp ứng những đòi hỏi cấp thiết của giai cấp công nhân để tự giải phóng mình và giải phóng toàn xã hội

Như vậy: Giai cấp công nhân đã tìm thấy ở triết học Mác vũ khí tinh thần của mình cũng giống như triết học Mác đã tìm thấy giai cấp công nhân như là vũ khí vật chất của mình

Sự ra đời của chủ nghĩa Mác nói chung, triết học Mác nói riêng chính là sự giải đáp về mặt lý luận khoa học những vấn đề thực tiễn của thời đại đặt ra trên lập trường của giai cấp vô sản cách mạng

Sự xuất hiện chủ nghĩa Mác nói chung và triết học Mác nói riêng không những là sản phẩm tất yếu của những điều kiện kinh tế xã hội của xã hội tư bản chủ nghĩa giữa thế kỷ XIX mà còn bởi toàn bộ đời sống xã hội, đời sống khoa học và văn hoá Lý luận mác xít không xuất hiện tách rời con đường văn minh chung cuả nhân loại, đó là những tiền đề lý luận và khoa học

tự nhiên

Trong quá trính xây dựng học thuyết của mình, Mác, Ăngghen đã kế thừa những thành tựu trong tư tưởng của triết học nhân loại từ thời cổ đại, mà

Trang 4

trực tiếp là triết học cổ điển Đức; chủ nghĩa xã hội khơng tưởng Pháp và kinh

tế chính trị học cổ điển Anh Triết học cổ điển Đức với hai nhà triết học tiêu biểu đĩ là Hê Ghen và Phoiơbắc Mác, Ăngghen đã kế thừa một cách cĩ chọn lọc những tư tưởng của triết học Hêghen và Phoiơbắc, đĩ là những tư tưởng biện chứng của Hêghen và chủ nghĩa duy vật của Phoiơbắc Từ phép biện chứng duy tâm của Hêghen cải tạo thành phép biện chứng duy vật, từ chủ nghĩa duy vật siêu hình của Phoiơbắc cải tạo thành chủ nghĩa duy vật biện chứng

Ý nghĩa lịch sử nổi bật của triết học cổ điển Đức là ở chỗ, nĩ là một trong những tiền đề lý luận cho việc hình thành thế giới quan duy vật biện chứng Hai ơng đã nhiều lần nĩi rằng: Trong sự phát triển trí tuệ của mình, hai ơng đã chịu ơn nhiều của các nhà triết học Đức trong đĩ cĩ Hêghen, như Ăngghen đã nĩi: khơng cĩ triết học Đức thì khơng thể cĩ chủ nghĩa xã hội khoa học Cơng lao lịch sử của Hêghen là đã phê phán mạnh mẽ tư duy siêu hình, xây dựng một cách cĩ hệ thống phương pháp biện chứng, mặc dù nĩ núp dưới cái vỏ thần bí và dựa trên cơ sở duy tâm sai lầm

Mác, Ăngghen đánh giá cao phương pháp biện chứng của Hêghen, đồng thời chỉ rõ những hạn chế của Hêghen Mác chỉ rõ: “tính chất thần bí mà phép biện chứng đã mắc phải trong tay Hêghen tuyệt nhiên khơng ngăn cản Hêghen trở thành người đầu tiên trình bầy một cách bao quát và cĩ ý thức những hình thái vận động chung của phép biện chứng ấy Ở Hêghen, phép biện chứng bị lộn đầu xuống đất Chỉ cần dựng nĩ lại là sẽ phát hiện được cái hạt nhân hợp lý của nĩ đằng sau lớp vỏ thần bí” 2

Mác, Ănghen đã kế thừa cĩ phê phán những giá trị tư tưởng trong kinh tế chính trị học ở Anh mà đại biểu là(Ađamxmít, Đavít Ricácđơ) cĩ một vai trị to lớn trong việc sáng tạo ra kinh tế mác xít và triết học Mác

2 C Mác – Ph Aêngghen Tuyển tập, tập 3, Nxb Sự thật, Hà Nội 1982, trang 209

Trang 5

Không có sự cải tạo ấy thì không thể phát hiện ra cơ sở vật chất của quá trình lịch sử xã hội, không thể sáng lập ra quan điểm duy vật về lịch sử và không thể khắc phục được tính chất không triệt để của chủ nghĩa duy vật trước Mác

Việc nghiên cứu chủ nghĩa xã hội không tưởng phê phán ở Pháp với các đại biểu là(Xanhximông, Phuriê, Ooen) cũng đã đem lại cho Mác, Ăngghen những tài liệu hết sức phong phú để hiểu một cách duy vật biện chứng về đời sống xã hội Những nhà xã hội chủ nghĩa không tưởng đã bóc trần những mâu thuẫn của xã hội tư bản, họ nhìn xã hội tư bản như một xã hội sớm muộn sẽ biến đổi và được thay thế bằng một xã hội tốt đẹp hơn Đây

là những tiền đề lý luận có đóng góp quan trọng trong việc hình thành triết học Mác, đó là những quan điểm duy vật về lịch sử và những dự báo về tương lai của xã hội cộng sản chủ nghĩa

Cùng với những tiền đề lý luận nói trên, những thành tựu khoa học tự nhiên lúc này cũng phát triển mạnh mẽ tạo ra những tiền đề quan trọng cho việc hình thành các quan điểm duy vật biện chứng của Mác, Ăngghen, bởi sự phát triển của tư duy triết học phải dựa trên cơ sở những tri thức khoa học do các khoa học cụ thể đem lại, với các phát minh quan trọng đó là

Định luật bảo toàn và chuyển hoá năng lượng của nhà vật lý học người Đức (Rôbec May e) Học thuyết về cấu tạo tế bào thực vật và động vật do các nhà bác học người Đức, Anh: Sơlayđen và Savanxơ đưa ra vào những năm 30 của thế kỷ XIX; thuyết tiến hoá của nhà bác học Anh: (Đác Uyn)

Định luật bảo toàn và chuyển hoá năng lượng đã chứng minh rằng: Các

sự vật hiện tượng trong thế giới vật chất không tồn tại tách rời nhau mà chúng luôn liên hệ với nhau và các sự vật hiện tượng không tự nhiên sinh ra, không

tự nhiên mất đi mà trong những điều kiện nhất định sẽ chuyển hoá từ dạng này sang dạng khác Đây là cơ sở khoa học cho việc hình thành những quan

Trang 6

điểm duy vật biện chứng về thế giới, đồng thời khẳng định tính thống nhất vật chất của thế giới

Thuyết tế bào và thuyết tiến hố cũng khẳng định: Thế giới sinh vật được cấu tạo từ tế bào, là sự phát triển lâu dài chứ khơng phải do thần linh, thượng đế sinh ra Như vậy thuyết tế bào và thuyết tiến hố nĩ phá tan các quan điểm của các nhà triết học duy tâm cho rằng thế giới này do thần linh thượg đế sinh ra, phá tan quan niệm về cái huých ban đầu, đồng thời là cơ sở

để hình thành các quan điểm duy vật về thế giới

Với những phát minh trên đã làm bộc lộ rõ tính chất hạn chế và sự bất lực của phương pháp tư duy siêu hình trong việc nhận thức thế giới, đã giáng một địn rất mạnh vào chủ nghĩa duy tâm tơn giáo và phép siêu hình trong quan niệm về thế giới, như Mác, Ăgghen đã khẳng định: “quan niệm mới về thế giới đã được hồn thành trên những nét cơ bản: Tất cả cái gì cứng nhắc đều bị tan ra, tất cả cái gì là cố định đều biến thành mây khĩi và tất cả những

gì đặc biệt mà người ta cho là tồn tại vĩnh cửu thì đã trở thành nhất thời; và người ta đã chứng minh rằng, tồn bộ giới tự nhiên đều vận động theo một dịng và tuần hồn vĩnh viễn”3 Đồng thời với sự phát triển của khoa học tự nhiên nĩ lại là cơ sở để phát triển tư duy biện chứng và sự phát triển của tư duy biện chứng đã được kiểm nghiệm bởi khoa học tự nhiên Chính Mác và Ăngghen đã nhấn mạnh rằng, phép biện chứng đã trở thành một tất yếu tuyệt đối với khoa học tự nhiên và các ơng đã khái quát về mặt triết học tồn bộ những thành tựu khoa học tự nhiên thế kỷ XIX để xây dựng nên chủ nghĩa duy vật biện chứng của mình

Những điều kiện lịch sử, những tiền đề kinh tế xã hội, lý luận và khoa học

cĩ một ý nghĩa vơ cùng quan trọng đối với sự ra đời của triết học Mác Và cũng chính thời đại đĩ đã sinh ra những thiên tài cĩ khả năng khái quát tồn bộ lịch sử

3 C Mác, Ph Aêngghen Toàn tập, tập 20, Nxb, Chính trị quốc gia, Hà Nội 1994, trang 471

Trang 7

phát triển của nhân loại, khái quát được những kinh nghiệm lịch sử và trả lời đúng đắn những câu hỏi mà thời đại đã đặt ra

Nhân tố chủ quan

Triết học Mác xuất hiện khơng chỉ là kết quả của sự vận động và phát triển cĩ tính quy luật của các nhân tố khách quan mà cịn được hình thành thơng qua vai trị của nhân tố chủ quan, đĩ là thiên tài và hoạt động thực tiễn khơng mệt mỏi của Mác và Ăngghen, lập trường giai cấp cơng nhân và tình cảm đặc biệt của hai ơng đối với nhân dân lao động là một trong những yếu tố

cơ bản làm nên bước ngoặt cách mạng trong triết học Mác, Ăngghen

Mác, Ăngghen là những người cĩ trí thơng minh vượt tầm thời đại C.Mác (5/5/1818 – 14/3/1883) sinh ra trong một gia đình tư sản cấp tiến cĩ ảnh hưởng rất lớn về trí tuệ của người bố Mác là người cĩ trí tuệ thơng minh kiệt xuất, khi mới 18 tuổi đã làm dự thảo luận án tiến sỹ luật Mác là người thuộc tầng lớp tư sản nhưng đĩ là tư sản cấp tiến, sớm cĩ khát vọng giải phĩng con người, giải phĩng xã hội Với một trí tuệ uyên bác, bao trùm nhiều lĩnh vực rộng lớn và một nhãn quan chính trị đặc biệt nhạy cảm, Mác đã vượt qua được những hạn chế lịch sử của các nhà triết học đương thời để giải đáp thành cơng những vấn đề bức thiết về mặt lý luận của nhân loại Đánh giá về Mác, Lênin đã nhận xét: “thiên tài của Mác chính là ở chỗ Ơng đã giải đáp được những vấn đề mà tư tưởng tiên tiến của nhân loại

đã đặt ra” 4

Cũng như Mác, Ph Ăngghen (28/11/1820 – 5/5/1895) ngay từ thời trai trẻ đã tỏ ra là người cĩ năng khiếu đặc biệt và nghị lực học tập, nghiên cứu phi thường Sinh ra trong một gia đình chủ xưởng dệt ở thành phố Bácmen của Đức Xuất thân trong một gia đình tư sản, Ơng cĩ trí thơng minh tương đương với Mác Mác tìm thấy ở Ăngghen một người

4 V.I.Lênin, Toàn tập, bản tiếng việt, Nxb Tiến bộ, Mátxcơ va 1980, Tập 23, trang 49

Trang 8

cùng tư tưởng, một người đồng chí nhất mực trung thành, gắn bĩ với nhau trong sự nghiệp chung Giữa Mác và Ăngghen cĩ một tình bạn vĩ đại Như Lênin đã từng nĩi: “giai cấp vơ sản châu âu cĩ thể nĩi rằng khoa học của mình là tác phẩm sáng tạo của hai bác học kiêm chiến sỹ mà tình bạn đã vượt xa tất cả những gì là cảm động nhất trong những truyền thuyết của đời xưa kể về tình bạn của con người”5 Ăngghen đã kiên trì tự họ để quyết tâm theo con dường làm khoa học và hoạt động cách mạng cải biến xã hội Cũng như Mác, Ăngghen coi nhiệm vụ của triết học phải gắn với cuộc đấu tranh chính trị thực tiễn

Mác, Ăngghen mặc dù xuất thân từ tầng lớp tư sản nhưng thơng qua hoạt động thực tiễn từ phong trào cơng nhân, sống trong phong trào cơng nhân, được tận mắt chứng kiến những bất cơng trong xã hội tư bản, hiểu và thơng cảm sâu sắc nỗi thống khổ của người lao động làm thuê Mác và Ăngghen đã đứng về những người cùng khổ, đấu tranh khơng mệt mỏi vì lợi ích của họ, trang bị cho họ một cơng cụ sắc bén để nhận thức và cải tạo thế giới, gắn chặt hoạt động lý luận và hoạt động thực tiễn tạo nên động lực sáng tạo của Mác và Ăngghen

Như vậy: Triết học Mác, Ăngghen ra đời khơng phải là sự xuất hiện một cách ngẫu nhiên mà nĩ ra đời là một tất yếu khách quan trên cơ sở những điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan và sự ra đời của triết học Mác là một bước ngoặt cách mạng quan trọng trong lịch sử tư tưởng triết học nhân loại

Trong lịch sử xã hội đã cĩ khơng ít những bước nhảy vọt, những bước ngoặt cách mạng, tạo ra những thành tựu vĩ đại, trong văn học nghệ thuật, trong khoa học, trong triết học Sự xuất hiện chủ nghĩa Mác là bước ngoặt cách mạng quan trọng trong lịch sử tư tưởng nhân loại Chính vì vậy mà

5 V.I.Lênin, Toàn tập, bản tiếng việt, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva 1978, tập 2 trang 12

Trang 9

Lênin đã khẳng định: Chủ nghĩa Mác là sự phát triển cao nhất của toàn bộ khoa học lịch sử, khoa học kinh tế và triết học ở Châu Âu

Bước ngoặt cách mạng là gì?: Bước ngoặt cách mạng là một mốc quan

trọng trong lịch sử, chỉ ra sự chuyển biến về chất của một quá trình phát triển

xã hội nói chung, của nhận thức con người về tự nhiên, xã hội và chính bản thân con người Đó là sự thay đổi căn bản cái cũ, xây dựng cái mới khác hẳn

về chất so với cái cũ và nó phù hợp với quy luật phát triển tất yếu của lịch sử

Bước ngoặt cách mạng trong triết học do Mác, Ăngghen thực hiện:

Đó là Mác và Ăngghen đã xây dựng nên một hệ thống triết học khoa học và cách mạng, hệ thống triết học đó hoàn toàn khác về chất so với các hệ thống triết học trước đó Hệ thống triết học đó là sự kế thừa một cách có phê phán những thành tựu của tư duy nhân loại, sáng tạo nên chủ nghĩa duy vật triết học, mới về chất, hoàn bị nhất, triệt để nhất, trong đó có sự thống nhất giữa chủ nghĩa duy vật với phép biện chứng, giữa quan niệm duy vật về tự nhiên với quan niệm duy vật về đời sống xã hội, là sự thống nhất giữa nhận thức thế giới và cải tạo thế giới, là thế giới quan, phương pháp luận cách mạng và khoa học của giai cấp vô sản và quần chúng nhân dân lao động trong

sự nghiệp giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội

Nội dung biểu hiện của bước ngoặt cách mạng

Mác, Ăngghen đã kế thừa một cách có chọn lọc những thành tựu của triết học nhân loại, sáng tạo nên chủ nghĩa duy vật biện chứng

Trong lịch sử tư tưởng triết học trước Mác, từng thời đoạn đã có những bước ngoặt Nhưng bước ngoặt cách mạng trong triết học thì chỉ có Mác, Ăng ghen Triết học Hy Lạp, La Mã cổ đại cũng đã mở ra các bình diện của thế giới quan và được phát triển đến triết học cổ điển Đức Đến thời kỳ Mác, Ăng ghen nó đã phát triển sâu sắc hơn trên tất cả các bình diện đó là chủ nghĩa duy vật hoàn bị và phép biện chứng thực sự cách

Trang 10

mạng Gắn kết hai khoa học đó thành khoa học duy nhất để đem đến một bước ngoặt trong quan niệm của con người đó là chủ nghĩa duy vật biện

chứng

Các tư tưởng triết học trước Mác đã tách rời chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng

Thời kỳ cổ đại: Chủ nghĩa duy vật là thô sơ chất phác, phép biện chứng

là phép biện chứng tự phát, vì thời kỳ đó do điều kiện lịch sử xã hội và trình

độ khoa học chưa phát triển

Trong triết học cổ điển Đức: Tiêu biểu là phép biện chứng của Hêghen và chủ nghĩa duy vật của Phoiơbắc Tư tưởng triết học của Hêghen và Phoiơbắc cũng là sự tách rời giữa chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng Phép biện chứng của Hêghen là phép biện chứng duy tâm đó là biện chứng của “ ý niệm tuyệt đối”

và chủ nghĩa duy vật của Phoiơbắc là chủ nghĩa duy vật siêu hình, duy vật về tự nhiên nhưng lại duy tâm về xã hội

Hạn chế của chủ nghĩa duy vật trước Mác là siêu hình máy móc, duy tâm

về lịch sử xã hội mà căn nguyên cơ bản là không thấy được vai trò của thực tiễn, không xem thực tiễn dưới quan điểm duy vật Sự phát triển của các tư tưởng triết học trước Mác không phải là sự phủ định biện chứng mà là phủ định sạch trơn nên không tạo ra bước ngoặt cách mạng

Phoiơbắc là người học trò đầu tiên của Hêghen đã thất vọng với phương pháp của Hêghen, phủ định sạch trơn toàn bộ những tư tưởng triết học của Hêghen, vứt bỏ nó mà không nghiên cứu cải tạo nó Cái thiên tài sáng tạo của Mác, Ăngghen ở chỗ, khi nghiên cứu triết học của Hêghen và Phoiơbắc, Mác, Ăngghen đã kế thừa có phê phán những tư tưởng triết học của Hêghen và Phoiơbắc, đó là kế thừa những tư tưởng biện chứng của Hêghen, từ phép biện chứng duy tâm của Hêghen, đã cải tạo thành biện chứng duy vật và từ chủ

Ngày đăng: 19/05/2021, 09:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w