1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Các yếu tố ảnh hưởng đến sự thành công của doanh nghiệp vừa và nhỏ tại các tỉnh đông nam bộ (factors affecting the success of small and medium enterprises in the south east provinces)

288 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các yếu tố ảnh hưởng đến sự thành công của doanh nghiệp vừa và nhỏ tại các tỉnh đông nam bộ
Tác giả Hà Minh Thiện Hảo
Người hướng dẫn TS. Trần Đăng Khoa, TS. Nguyễn Văn Tân
Trường học Trường Đại Học Lạc Hồng
Chuyên ngành Quản trị kinh doanh
Thể loại Luận án
Năm xuất bản 2021
Thành phố Đồng Nai
Định dạng
Số trang 288
Dung lượng 3,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI (15)
    • 1.1 Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu (15)
      • 1.1.1 Những vấn đề đặt ra từ thực tiễn (15)
      • 1.1.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước và trong nước (19)
      • 1.1.3 Khoảng trống nghiên cứu (29)
    • 1.2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu (31)
      • 1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu (31)
      • 1.2.2 Câu hỏi nghiên cứu (31)
    • 1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (32)
      • 1.3.1 Đối tượng nghiên cứu (32)
      • 1.3.2 Phạm vi nghiên cứu (32)
    • 1.4 Phương pháp nghiên cứu (33)
      • 1.4.1 Nghiên cứu định tính (33)
      • 1.4.2 Nghiên cứu định lượng (33)
    • 1.5 Tính mới và những đóng góp (34)
      • 1.5.1 Đóng góp về mặt lý thuyết (34)
      • 1.5.2 Đóng góp về mặt thực tiễn (35)
    • 1.6 Kết cấu của luận án (35)
  • CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU (36)
    • 2.1 Sự thành công của DNVVN (36)
      • 2.1.1 Khái niệm DNVVN (36)
      • 2.1.2 Khái niệm về sự thành công (37)
      • 2.1.3 Đo lường sự thành công (38)
  • CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN (97)
    • 4.1 Đặc điểm mẫu nghiên cứu (97)
      • 4.1.1 Thống kê mô tả mẫu nghiên cứu (97)
      • 4.1.2 Đánh giá thang đo (98)
      • 4.1.3 Phân tích giá trị ngoại lai (108)
      • 4.1.4 Kiểm định phân phối chuẩn của dữ liệu (108)
      • 4.1.5 Phân tích nhân tố khám phá (EFA) (111)
    • 4.2 Phân tích nhân tố khẳng định (CFA) (116)
      • 4.2.1 Kết quả CFA thang đo Trách nhiệm xã hội DN (CSR) (116)
      • 4.2.2 Kết quả CFA mô hình tới hạn (120)
    • 4.3 Kiểm định mô hình lý thuyết bằng SEM (124)
      • 4.3.1 Kiểm định mô hình lý thuyết (124)
      • 4.3.2 Kiểm định ước lượng mô hình lý thuyết bằng Bootstrap (1000) (129)
      • 4.3.3 Kiểm định giả thuyết nghiên cứu (129)
    • 4.4 Kiểm định sự khác biệt giữa các nhóm trong mối ảnh hưởng giữa các yếu tố đến sự thành công (132)
      • 4.4.1 Kiểm định sự khác biệt giữa loại hình doanh nghiệp (132)
      • 4.4.2 Kiểm định sự khác biệt thời gian hoạt động của doanh nghiệp (138)
      • 4.4.3 Kiểm định sự khác biệt giữa nhóm các ngành nghề kinh doanh (0)
    • 4.5 Thảo luận kết quả nghiên cứu (148)
  • CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊ (153)
    • 5.1 Kết luận nghiên cứu (153)
    • 5.2 Hàm ý quản trị (155)
      • 5.2.1 Hàm ý theo thống kê trung bình các thang đo (156)
      • 5.2.2 Dưới góc độ quản trị DN (165)
      • 5.2.3 Kiến nghị đối với nhà nước (168)
    • 5.3 Ý nghĩa của nghiên cứu (169)
      • 5.3.1 Ý nghĩa về mặt lý thuyết (169)
      • 5.3.2 Ý nghĩa về mặt thực tiễn (169)
    • 5.4 Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo (170)

Nội dung

TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI

Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu

Doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, góp phần vào GDP và tạo việc làm, nhưng vẫn còn nhiều hạn chế về quy mô và mức độ đóng góp (Phùng Thế Đông, 2019) Nghiên cứu cho thấy DNVVN có tỷ lệ thất bại cao hơn so với doanh nghiệp lớn, mặc dù được xem là lực lượng nòng cốt của nền kinh tế (Bloch và Bhattacharya, 2016; Lo và cộng sự, 2016) Gnizy và cộng sự (2014) chỉ ra rằng các yếu tố như hạn chế tài nguyên, chiến lược kém, cấu trúc thiếu linh hoạt và quy trình hoạch định chiến lược không hiệu quả đã dẫn đến sự thất bại của họ Do đó, các yếu tố ảnh hưởng đến thành công của DNVVN đã thu hút sự chú ý của nhiều tác giả gần đây (Chittithaworn và cộng sự, 2011; Chowdhury và cộng sự, 2013; Marom và Lussier, 2014; Pletnev và Barkhatov, 2016; Alfoqahaa, 2018).

1.1.1 Những vấn đề đặt ra từ thực tiễn Đóng góp của DNVVN là rất lớn do có vai trò năng động và tăng tính hiệu quả của nền kinh tế Điều đó cho thấy vai trò quan trọng của DNVVN trong lưu thông hàng hoá và cung cấp hàng hoá, dịch vụ bổ sung cho các DN lớn Những đóng góp tích cực của DNVVN cho sự phát triển kinh tế của đất nước như: về khía cạnh xã hội các DNVVN góp phần tạo việc làm cho người lao động, làm giảm tỷ lệ thất nghiệp,góp phần nâng cao thu nhập của dân cư, góp phần xoá đói, giảm nghèo, thực hiện công bằng xã hội Đồng thời DNVVN góp phần giảm bớt sức ép về dân số tại các đô thị lớn Kết quả sản xuất kinh doanh của các DN đang hoạt động giai đoạn 2011-2017,tăng 9,5%/năm, DN thu hút số lao động làm việc trong khu vực tăng

5%/năm, chỉ số vốn tăng 14,2%/năm, lợi nhuận cũng như doanh thu tăng lần lượt là 12,3%/năm, 17,4%/năm (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2019).

Khu vực Đông Nam Bộ là nơi tập trung nhiều doanh nghiệp nhất tại Việt Nam, với gần 216,2 nghìn doanh nghiệp, chiếm 41,7% tổng số doanh nghiệp cả nước Trong đó, thành phố Hồ Chí Minh dẫn đầu với 172,6 nghìn doanh nghiệp, tương đương 33,3% tổng số doanh nghiệp toàn quốc Vùng này cũng là nơi thu hút lao động nhiều nhất, với hơn 5,3 triệu lao động, chiếm 37,7% tổng số lao động trong các doanh nghiệp cả nước Đặc biệt, doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) chiếm khoảng 98,1% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động, với khoảng 507,86 nghìn DNVVN.

Khu vực Đông Nam Bộ, bao gồm TP Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Phước và Tây Ninh, là đầu tàu kinh tế năng động của Việt Nam, với tổng diện tích 23.564 km2 và dân số hơn 17 triệu người Vùng này chiếm khoảng 45% GDP và 50% tổng giá trị sản xuất công nghiệp của cả nước, đồng thời có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hơn 1,3 đến 1,5 lần so với mức trung bình toàn quốc Với hệ thống cảng và sân bay quốc tế lớn nhất, Đông Nam Bộ phát triển mạnh mẽ trong các lĩnh vực dịch vụ công nghiệp, công nghệ thông tin, viễn thông và logistics Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm thương mại, tài chính, ngân hàng và chứng khoán lớn nhất cả nước, đồng thời khu vực này đóng góp hơn 1/3 số thu ngân sách quốc gia và sở hữu đội ngũ nhân lực chất lượng cao, là cửa ngõ giao lưu với khu vực và thế giới.

Sự phát triển của các tỉnh Đông Nam Bộ chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế của vùng, thể hiện qua chất lượng và tốc độ phát triển chưa cao, nguồn nhân lực yếu và hạ tầng chưa đáp ứng nhu cầu Mặc dù đã được quy hoạch thành vùng kinh tế trọng điểm, khu vực này vẫn thiếu thể chế đặc thù và cơ chế điều phối liên kết Đặc biệt, các tỉnh Đông Nam Bộ dẫn đầu về số lượng doanh nghiệp mới đăng ký thành lập, quy mô và vốn, cùng với số lượng doanh nghiệp giải thể và chờ giải thể cao hơn so với toàn quốc.

Nguồn: Bộ kế hoạch đầu tư,2020

Thành phố Hồ Chí Minh hiện có 236.503 doanh nghiệp hoạt động, đứng đầu cả nước, theo sau là Bình Dương với 29.412 doanh nghiệp và Đồng Nai với 21.711 doanh nghiệp Ba địa phương này nằm trong top 5 tỉnh có số lượng doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam.

DN đang hoạt động cao nhất cả nước.

Về DN thành lập mới thì số lượng DN thành lập mới trong 07 tháng đầu năm

2019 tập trung nhiều nhất ở các địa phương: Thành phố Hồ Chí Minh (25.175DN); Bình Dương (3.779 DN), Đồng Nai (2.182 DN).

Số lượng doanh nghiệp quay trở lại hoạt động tại khu vực Đông Nam Bộ chủ yếu tập trung ở Thành phố Hồ Chí Minh với 6.951 doanh nghiệp, tiếp theo là Bình Dương với 604 doanh nghiệp và Đồng Nai với 472 doanh nghiệp.

Bảng 1.2: Tình hình DN đang hoạt động, thành lập mới quay trở lại hoạt động các tỉnh so với khu vực Đông Nam bộ

Nguồn: Bộ kế hoạch đầu tư, 2019

Năm 2018, một số địa phương ghi nhận sự tăng trưởng đáng kể về số doanh nghiệp (DN) thành lập mới và vốn đăng ký Cụ thể, Tây Ninh có số DN tăng 20,9% và vốn đăng ký tăng 179,1% Trong khi đó, Bình Dương cũng cho thấy sự phát triển với số DN tăng 15,71% và vốn tăng 21,14%.

Trong 07 tháng đầu năm 2019, Bà Rịa – Vũng Tàu ghi nhận sự giảm sút về số doanh nghiệp (DN) mới và vốn đăng ký, với số DN giảm 8,9% và vốn giảm 0,4% so với cùng kỳ năm 2018 Tuy nhiên, tỉnh này lại có sự tăng trưởng mạnh mẽ về số DN hoạt động trở lại, với mức tăng 40,5% Đáng chú ý, Thành phố Hồ Chí Minh dẫn đầu về số DN đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, với 6.315 DN, chiếm 69,9% khu vực, theo sau là Bình Dương với 439 DN.

DN, chiếm 4,9%); Đồng Nai (333 DN, chiếm 3,7%); Bà Rịa – Vũng Tàu (330 DN, chiếm 3,7%).

Trong 7 tháng đầu năm 2019, Thành phố Hồ Chí Minh ghi nhận 2.781 doanh nghiệp (DN) giải thể, chiếm 53,1% tổng số DN trong khu vực Trước tình hình này, việc định hướng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) là rất cần thiết để phát triển bền vững và đạt được thành công Nghiên cứu về "Các yếu tố ảnh hưởng đến sự thành công của các DN vừa và nhỏ tại các tỉnh Đông Nam bộ" trở nên quan trọng, giúp hiểu rõ hơn về đặc tính kinh doanh và tăng trưởng của các DNVVN, từ đó hỗ trợ sự phát triển của nền kinh tế quốc gia.

1.1.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước và trong nước

1.1.2.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước

Nghiên cứu của Storey (1994) về lĩnh vực kinh doanh nhỏ đã phân tích sự hình thành và phát triển của các doanh nghiệp nhỏ tại Vương quốc Anh, khám phá những thách thức mà các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) phải đối mặt Mức độ thành công hay thất bại của các DN này phụ thuộc vào nhiều yếu tố môi trường như chiến lược, quản lý và tài chính Nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc giảm tỷ lệ thất bại và tăng cường tỷ lệ thành công cho các DN nhỏ có thể đạt được thông qua sự sẵn có của tài chính, phát triển cầu, cạnh tranh và các kỹ năng như marketing, bán hàng, quản lý và kỹ năng lao động Tuy nhiên, nghiên cứu cũng chỉ ra những hạn chế về tài chính và các chính sách của chính phủ trong việc thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp nhỏ.

DN nằm trong khu vực châu Âu, cho thấy sự khác biệt trong nghiên cứu về doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNVVN) giữa các quốc gia phát triển và đang phát triển Mặc dù nền kinh tế có sự gia tăng tỷ trọng công nghiệp, nhưng vẫn phụ thuộc nhiều vào nông nghiệp, trong khi GDP đầu người vẫn ở mức trung bình.

Nghiên cứu của Indarti và Langenberg (2004) chỉ ra rằng các yếu tố như giáo dục, tiếp cận vốn, tiếp thị và công nghệ quyết định đến sự thành công trong kinh doanh (STC) của doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN), trong khi tính pháp lý lại là một gánh nặng Đặc biệt, nền tảng giáo dục của chủ doanh nghiệp có mối quan hệ tỷ lệ thuận với STC, với 76% doanh nhân cho rằng kỹ năng tự học của họ đóng góp quan trọng vào thành công Bên cạnh đó, lợi thế từ nền tảng gia đình cũng góp phần vào sự phát triển của DNVVN.

Khoảng 6% các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) có thể được xem là doanh nghiệp gia đình Theo Duh (2003), các chủ sở hữu hoặc thành viên trong gia đình của họ thường mong muốn giữ quyền sở hữu và quản lý doanh nghiệp trong tương lai Tuy nhiên, nghiên cứu hiện tại có điểm hạn chế về khả năng giải thích của mô hình, với chỉ 32,5% được giải thích Do đó, cần có thêm nghiên cứu để xem xét các yếu tố kết hợp, đặc biệt là các biến nền tảng như giới tính, tuổi tác và kinh nghiệm làm việc, cũng như các biến thuộc môi trường như công nghệ, hỗ trợ của chính phủ và chiến lược kinh doanh, nhằm có cái nhìn toàn diện hơn về những yếu tố cản trở sự thành công của DNVVN tại Indonesia.

Nghiên cứu của Chittithaworn và cộng sự (2011) chỉ ra rằng các yếu tố thành công của doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNVVN) tại Thái Lan bao gồm đặc trưng của doanh nhân, quản lý, bí quyết, dịch vụ, sản phẩm, cách thức kinh doanh, hợp tác, nguồn lực tài chính, chiến lược và môi trường bên ngoài Những yếu tố này đóng vai trò quan trọng trong việc giúp DNVVN thành công, cho phép họ tiếp cận thị trường quốc tế, tăng doanh thu và huy động nguồn tài trợ bên ngoài Nghiên cứu cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đầu tư vào nghiên cứu thị trường, R&D và đổi mới để nâng cao khả năng cạnh tranh, từ đó đáp ứng tốt hơn nhu cầu và mong muốn của khách hàng, mang lại giá trị vượt trội mà đối thủ chưa thể theo kịp.

Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu

1.2.1.1 Mục tiêu nghiên cứu tổng quát

Mục tiêu chính của nghiên cứu là xác định và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự tăng trưởng và phát triển của doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNVVN) tại các tỉnh Đông Nam Bộ Nghiên cứu cũng sẽ đánh giá những yếu tố này để đưa ra những đề xuất quản trị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của DNVVN, giúp họ hoạt động thành công hơn trong môi trường kinh doanh hiện nay.

1.2.1.2 Mục tiêu nghiên cứu cụ thể

- Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến STC của các DNVVN các tỉnh Đông Nam bộ.

- Đo lường mức độ tác động của từng yếu tố ảnh hưởng đến STC của các DNVVN các tỉnh Đông Nam bộ

- Khám phá sự khác biệt giữa các nhóm yếu tố ảnh hưởng đến STC của DNVVN

Để thúc đẩy sự chuyển đổi số cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) tại các tỉnh Đông Nam Bộ và toàn quốc, cần đề xuất một số hàm ý quản trị và kiến nghị đối với Nhà nước Việc xây dựng chính sách hỗ trợ tài chính và đào tạo nguồn nhân lực sẽ giúp các DNVVN nâng cao năng lực cạnh tranh và khả năng ứng dụng công nghệ Đồng thời, Nhà nước cần tạo ra môi trường kinh doanh thuận lợi, khuyến khích đổi mới sáng tạo và hợp tác giữa các doanh nghiệp với các tổ chức nghiên cứu Sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp chính quyền và cộng đồng doanh nghiệp cũng là yếu tố quan trọng để đạt được mục tiêu chuyển đổi số hiệu quả.

- Yếu tố nào ảnh hưởng đến STC của DNVVN các tỉnh Đông Nam bộ ?

- Mức độ tác động các yếu tố đến STC của DNVVN các tỉnh Đông Nam bộ như thế nào ?

- Có sự khác biệt đáng kể nào trong mối ảnh hưởng giữa các nhóm yếu tố ảnh hưởng đến STC của DNVVN ?

- Những hàm ý quản trị nào cần được đề xuất để nâng cao STC của DNVVN các tỉnh Đông Nam bộ ?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu là STC của DNVVN (khái niệm DNVVN theo 39/2018/NĐ-CP của Thủ tướng Chính Phủ ký ngày 11 tháng 3 năm 2018), đồng thời thời gian hoạt động ít nhất của các DN phải 3 năm trở lên (chú trọng DNVVN giai đoạn 2011 trở về sau).

Các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) cần có tổ chức phòng, ban thực hiện các chức năng quản trị riêng biệt, đặc biệt là trong bối cảnh nhiều DN nhỏ hoạt động như công ty gia đình với chỉ một vài nhân sự chủ chốt Điều này đặt ra câu hỏi về khả năng quản lý hiệu quả của DN, khi mà sự quản lý thường phức tạp do tính chất công việc khác nhau giữa các bộ phận và sự phức tạp của con người Hơn nữa, môi trường kinh doanh luôn biến đổi liên tục, do đó nếu không có tổ chức rõ ràng cho các chức năng quản trị, việc đạt được mục tiêu chung của DN sẽ gặp nhiều khó khăn, dẫn đến việc khó khăn trong việc đạt được sự tăng trưởng bền vững Vì vậy, việc nghiên cứu về sự tăng trưởng bền vững của các DNVVN cần tập trung vào việc tổ chức phòng, ban thực hiện các chức năng quản trị một cách hiệu quả.

Trong bối cảnh kinh tế thế giới diễn biến phức tạp với lạm phát gia tăng và giá cả nguyên liệu đầu vào, cũng như thực phẩm tăng cao, các doanh nghiệp Việt Nam đã phải đối mặt với nhiều thách thức (theo Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 24/2/2011 và Nghị quyết số 13/NQ-CP ngày 10/5/2013) Những doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNVVN) vẫn tồn tại và phát triển trong giai đoạn này là minh chứng cho sức mạnh vượt qua khó khăn của họ Đây chính là nhóm đối tượng cần thiết để tác giả nghiên cứu về sự thành công.

+ Về không gian: DNVVN tại các tỉnh Đông Nam bộ là nơi thực hiện nghiên cứu.

Vùng Đông Nam Bộ đóng góp lớn nhất về GDP, ngân sách nhà nước và việc làm, với tỷ lệ đóng góp GDP đạt 50,8% vào năm 2020, vượt qua tổng mức của ba vùng kinh tế trọng điểm còn lại Khu vực này bao gồm 6 tỉnh/thành phố: TP Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Phước và Tây Ninh, trong đó TP Hồ Chí Minh, Bình Dương và Đồng Nai là ba tỉnh hạt nhân phát triển kinh tế Do đó, việc nghiên cứu doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNVVN) tại các tỉnh này là hợp lý Thời gian khảo sát được thực hiện từ tháng 10/2018 đến tháng 10/2019.

Phương pháp nghiên cứu

1.4.1 Nghiên cứu định tính Để điều chỉnh thang đo, tác giả đã thực hiện phỏng vấn 10 người là chuyên gia tại các trường Đại học Lạc Hồng, Đại học Thủ Dầu một, Đại học Kinh tế Công nghiệp Long An, Đại học Công nghiệp Thực phẩm TP.HCM Việc thảo luận với những chuyên gia đồng thời cũng hiện đang làm quản lý tại các DN là để kiểm tra xem có cần bổ sung thêm câu hỏi nào hay không Bên cạnh đó, tác giả thảo luận với những người hiện đang là giám đốc, các quản lý là để xác định xem họ có ý kiến hay cần điều chỉnh câu hỏi hay không.

Nghiên cứu định lượng sơ bộ được thực hiện dựa trên kết quả của nghiên cứu định tính, nhằm xây dựng mô hình nghiên cứu và các thang đo sơ bộ Chúng tôi tiến hành khảo sát các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) tại các tỉnh Đông Nam Bộ thông qua bảng câu hỏi được thiết kế sẵn, sử dụng các thang đo phù hợp.

Để kiểm định độ tin cậy của thang đo, chúng tôi đã sử dụng thang đo Likert từ 1 đến 5 với kích thước mẫu 70 Phân tích Cronbach’s Alpha được thực hiện bằng phần mềm SPSS 20.0 nhằm gạn bỏ các biến quan sát không phù hợp, từ đó hoàn thiện thang đo và mô hình nghiên cứu chính thức.

Nghiên cứu định lượng chính thức được thực hiện với dữ liệu sơ cấp từ 400 DNVVN, sử dụng phần mềm SPSS 20.0 và AMOS 20.0 để phân tích thống kê Các bước phân tích bao gồm kiểm tra độ tin cậy bằng hệ số Cronbach’s Alpha, thực hiện phân tích nhân tố khám phá (EFA), phân tích nhân tố khẳng định (CFA), kiểm định mô hình nghiên cứu bằng phương pháp cấu trúc (SEM), và kiểm định Bootstrap với N00.

Tính mới và những đóng góp

1.5.1 Đóng góp về mặt lý thuyết

Luận án đã xác định các khoảng trống trong nghiên cứu để giải quyết các vấn đề hiện tại của DNVVN Nghiên cứu đề xuất khái niệm STC cho DNVVN với sự chú trọng vào các chỉ tiêu phi tài chính trong đánh giá Đồng thời, nghiên cứu cũng làm rõ yếu tố CSR từ nhiều góc độ khác nhau, bao gồm các yếu tố thành công quan trọng mà DNVVN cần quan tâm.

Mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến sự tăng trưởng của doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) đã được xây dựng, với việc điều chỉnh thang đo cho phù hợp với điều kiện thị trường tại các tỉnh Đông Nam Bộ Cụ thể, thang đo về Quản lý đã được điều chỉnh để tập trung vào quản lý và đào tạo nguồn nhân lực, vấn đề cốt lõi trong môi trường nội bộ của doanh nghiệp Đối với thang đo Khả năng tiếp thị KNTT4, nghiên cứu cũng đã thực hiện điều chỉnh để phù hợp với đặc thù của khu vực nghiên cứu, đảm bảo tính hiệu quả trong hoạt động bán hàng và quảng bá.

Do phần lớn doanh nghiệp nằm trong các khu công nghiệp và chủ yếu là doanh nghiệp sản xuất, việc chú trọng đến các trung gian thương mại và nhà phân phối là rất quan trọng để đưa hàng hóa đến tay người tiêu dùng Điều này cho phép doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) không phải lo lắng về việc bán hàng, từ đó có thể tập trung nguồn lực vào các khâu trong dây chuyền sản xuất, nâng cao chất lượng và giá trị sản phẩm Sau khi thảo luận, các chuyên gia đã điều chỉnh khái niệm "KNTT4" thành “Mức độ quan hệ với nhà phân phối”, và kết quả kiểm định cho thấy các thang đo đều phù hợp với dữ liệu khảo sát, đáp ứng các tiêu chí về giá trị tin cậy, giá trị hội tụ, giá trị phân biệt và giá trị liên hệ lý thuyết.

Nghiên cứu này đóng góp vào việc xây dựng hệ thống thang đo cho các khái niệm được đo lường, đồng thời kiểm định lại các mối quan hệ chưa rõ ràng trong các nghiên cứu trước đó, đặc biệt là mối quan hệ giữa CSR và STC Bằng cách so sánh kết quả với các nghiên cứu trước và thảo luận với các chuyên gia, nghiên cứu nhằm tái khẳng định mô hình nghiên cứu và đưa ra các hàm ý để nâng cao STC cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại các tỉnh Đông Nam Bộ.

1.5.2 Đóng góp về mặt thực tiễn

Nghiên cứu của tác giả chỉ ra rằng các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNVVN) cần nhận diện rõ các yếu tố quan trọng như quản lý, tài chính, khả năng tiếp thị, đổi mới công nghệ, trách nhiệm xã hội (CSR) và sự hỗ trợ của chính phủ để nâng cao khả năng thành công Từ đó, DNVVN có thể xây dựng các chiến lược và giải pháp phù hợp nhằm cải thiện kết quả kinh doanh Luận án cũng cung cấp cái nhìn tổng quan cho chủ DN và các cấp quản lý nhà nước, giúp họ thiết lập chính sách và phương pháp quản lý hiệu quả, hỗ trợ DNVVN đạt được thành công bền vững.

Kết cấu của luận án

Kết cấu của nghiên cứu bao gồm 05 chương như sau:

Chương 1: Tổng quan về đề tài

Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu

Chương 3: Thiết kế nghiên cứu

Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị

Chương 1 tác giả giới thiệu về tổng quan đề tài nghiên cứu, tác giả đã trình bày sự cần thiết của đề tài, kế đến là lược khảo các công trong nghiên cứu trong và ngoài nước nhằm xác định khoảng trống của các nghiên cứu trước, từ đó tác giả xác định được mục tiêu nghiên cứu và các câu hỏi nghiên cứu, tiếp theo tác giả xác định đối tượng và phạm vi nghiên cứu đồng thời xác định phương pháp nghiên cứu là định tính và định lượng Sau đó tác giả nêu những đóng góp của luận án về mặt lý thuyết và thực tiễn.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

Sự thành công của DNVVN

Theo Bridge và O’Neill (2003), doanh nghiệp (DN) thu nhận thông tin từ môi trường xung quanh để lựa chọn phản ứng hành vi phù hợp Mục tiêu chính của DN bao gồm sản phẩm, dịch vụ, hiệu suất hoạt động và hiệu quả tài chính Theo Luật DN Việt Nam, doanh nghiệp được định nghĩa là tổ chức kinh tế có tên riêng, tài sản và trụ sở giao dịch ổn định, đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật nhằm thực hiện các hoạt động kinh doanh DN là đơn vị sản xuất kinh doanh được tổ chức để tạo ra sản phẩm và dịch vụ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, đồng thời tối đa hóa lợi nhuận trong khuôn khổ tôn trọng luật pháp và quyền lợi của người tiêu dùng.

Theo Tổ chức Kinh tế Hợp tác và Phát triển (OECD, 2005), doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNVVN) được định nghĩa là các doanh nghiệp độc lập với số lượng nhân viên xác định, con số này có sự khác biệt giữa các quốc gia Tại Liên minh Châu Âu, một doanh nghiệp vừa thường có quy mô nhất định.

Các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNVVN) thường được định nghĩa dựa trên số lượng nhân viên, với tiêu chí phổ biến là 250 nhân viên Tuy nhiên, một số quốc gia quy định giới hạn này ở mức 200 nhân viên, trong khi tại Hoa Kỳ, DNVVN bao gồm cả các công ty có dưới 500 nhân viên.

Doanh nghiệp nhỏ thường được định nghĩa là những doanh nghiệp có dưới 50 nhân viên, trong khi doanh nghiệp siêu nhỏ chỉ có tối đa 10 nhân viên, hoặc trong một số trường hợp, chỉ có 5 công nhân.

Tại Liên minh châu Âu, từ ngày 01/01/2005, một định nghĩa mới được áp dụng cho các chương trình hành động và tài trợ, cho phép các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNVVN) nhận viện trợ quốc gia và khu vực với cường độ cao hơn so với các công ty lớn Định nghĩa này cũng quy định rằng doanh thu của các doanh nghiệp cỡ trung bình, với quy mô từ 50 đến 249 nhân viên, không được vượt quá một mức trần tài chính nhất định.

Các doanh nghiệp nhỏ (DN nhỏ) có số vốn tối đa là 50 triệu EUR, trong khi DN nhỏ với 10-49 nhân viên không được vượt quá 10 triệu EUR, và DN siêu nhỏ (dưới 10 nhân viên) không được vượt quá 2 triệu EUR Theo Baenol (1994), định nghĩa về DNVVN có sự khác biệt giữa các quốc gia, với các tiêu chí xác định khác nhau như tổng tài sản, quy mô lao động, doanh thu hàng năm và đầu tư vốn.

Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) cho rằng hiện chưa có định nghĩa phổ biến nào về doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNVVN) DNVVN đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phúc lợi kinh tế và xã hội, đồng thời là công cụ hiệu quả để đào tạo và phát triển kỹ năng quản lý cũng như kỹ thuật cho người lao động địa phương Hơn nữa, chúng còn góp phần tạo ra một thế hệ nhà phát minh và nhà đầu tư mới, là nguồn cảm hứng cho sự sáng tạo và lan tỏa các ý tưởng mới (ILO, 2015).

Doanh nghiệp (DN) là tổ chức kinh tế có tài sản và tên riêng, hoạt động tại một địa điểm ổn định, được cấp giấy đăng ký kinh doanh theo pháp luật Theo luật DN 2014, DN nhỏ trong nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, công nghiệp và xây dựng có tối đa 100 lao động tham gia bảo hiểm xã hội và tổng doanh thu không vượt quá 50 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 20 tỷ đồng.

Việc xác định loại hình doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNVVN) thường dựa vào hai yếu tố chính: số lượng lao động và vốn.

2.1.2 Khái niệm về sự thành công

Việc xác định tiêu chí thành công cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) có sự khác biệt rõ rệt Nghiên cứu của Devins (2009) và Muhammad cùng cộng sự (2010) chỉ ra rằng không tồn tại một định nghĩa chung về thành công trong DNVVN, với nhiều tác giả đưa ra các tiêu chí khác nhau như quy mô, số lượng nhân viên, doanh thu và tình hình tài chính Trong lĩnh vực nghiên cứu kinh doanh, khái niệm thành công thường liên quan đến khả năng tài chính của doanh nghiệp, tuy nhiên, không có một định nghĩa nào được chấp nhận phổ biến, và thành công kinh doanh đã được diễn giải theo nhiều cách khác nhau (Foley và Green, 1989).

Thành công trong kinh doanh được định nghĩa là khả năng đạt được các mục tiêu của doanh nghiệp, mặc dù những mục tiêu này không luôn được xác định rõ ràng (Ngwangwama và cộng sự, 2013) Điều này cũng có thể hiểu là cách mà doanh nghiệp thực hiện các hoạt động hiệu quả để đạt được thành tựu.

Theo nghiên cứu của Van Praag (2003) và Marom cùng Lussier (2014), không có một định nghĩa chung nào về thành công trong kinh doanh (STC) Auken và Werbel (2006) cùng Reijonen và Komppula (2007) cũng cho rằng hầu hết các nghiên cứu đều đo lường thành công từ góc độ hiệu quả Thực tế, khái niệm hiệu quả trong doanh nghiệp rất phức tạp và đa chiều, phản ánh qua nhiều khía cạnh khác nhau.

Theo nghiên cứu của Islam và cộng sự (2011), có hai khía cạnh chính của thành công bền vững trong kinh doanh (STC): tài chính so với phi tài chính và thành công ngắn hạn so với dài hạn Dựa trên phân chia này, STC có thể được đo lường qua nhiều chỉ số như lợi nhuận, lợi tức đầu tư, tăng trưởng doanh thu, số lượng nhân viên, mức độ hạnh phúc, danh tiếng công ty và nhiều yếu tố khác (Weidinger và cộng sự, 2014).

Sau khi nghiên cứu lý thuyết về các khái niệm liên quan đến STC của các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN), tác giả nhận định rằng STC trong kinh doanh của DNVVN là việc đạt được các mục tiêu cụ thể Những mục tiêu này có thể bao gồm lợi nhuận, xây dựng mối quan hệ, nâng cao danh tiếng thương hiệu, đảm bảo phúc lợi và thực hiện trách nhiệm xã hội Đồng thời, các mục tiêu này có thể thay đổi theo từng thời điểm, phản ánh sự đa dạng trong chiến lược kinh doanh của mỗi DNVVN.

2.1.3 Đo lường sự thành công Để đo lường STC theo Schmidpeter và Weidinger (2014) cũng có nhiều cách khác nhau như: thời gian tồn tại của DN, lợi nhuận, lợi nhuận đầu tư, tăng trưởng doanh số, số lượng nhân sự làm việc, hạnh phúc, DN danh tiếng

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Ngày đăng: 19/05/2021, 07:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w