1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TĂNG CƯỜNG THƯƠNG mại VIỆT NAM – hàn QUỐC TRONG bối CẢNH HIỆP ĐỊNH THƯƠNG mại tự DO VIỆT NAM – hàn QUỐC (VKFTA) có HIỆU lực

101 71 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TĂNG CƯỜNG THƯƠNG mại VIỆT NAM – hàn QUỐC TRONG bối CẢNH HIỆP ĐỊNH THƯƠNG mại tự DO VIỆT NAM – hàn QUỐC (VKFTA) có HIỆU lực TĂNG CƯỜNG THƯƠNG mại VIỆT NAM – hàn QUỐC TRONG bối CẢNH HIỆP ĐỊNH THƯƠNG mại tự DO VIỆT NAM – hàn QUỐC (VKFTA) có HIỆU lực

Trang 1

HỌC VIỆN TÀI CHÍNH KHOA KẾ TOÁN

Trang 3

MỤC LỤC CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VÀ HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO VIỆT NAM – HÀN QUỐC (VKFTA) 11.1 Các vấn đề chung về quan hệ thương mại quốc tế 11.1.1 Các lý thuyết về thương mại quốc tế 11.1.2 Các khái niệm liên quan đến quan hệ thương mại quốc tế 131.2 Căn cứ hình thành và tác động đến mối quan hệ thương mại giữa hai quốc gia181.2.1 Cơ sở hình thành quan hệ thương mại quốc tế 181.2.2 Các yếu tố tác động đến quan hệ thương mại giữa hai quốc gia 201.3 Khái quát về Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Hàn Quốc (VKFTA) 22

1.3.2 Quá trình đàm phán VKFTA của Việt Nam và Hàn Quốc 22

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THƯƠNG MẠI GIỮA VIỆT NAM VÀ HÀN

2.1 Thực trạng thương mại hàng hóa Việt Nam – Hàn Quốc 41

2.1.2 Cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu hàng hóa giữa Việt Nam và Hàn Quốc 442.2 Thực trạng thương mại dịch vụ Việt Nam – Hàn Quốc 492.2.1 Tình hình chung về thương mại dịch vụ của Việt Nam và thương mại dịch vụ

2.2.2 Cơ cấu thương mại dịch vụ Việt Nam – Hàn Quốc theo phương thức XNK512.2.3 Cơ cấu xuất nhập khẩu dịch vụ Việt Nam – Hàn Quốc theo loại hình dịch vụ

57

Trang 4

2.3 Đánh giá quan hệ thương mại Việt Nam – Hàn Quốc 61

CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG, GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ THÚC ĐẨY QUAN HỆ THƯƠNG MẠI GIỮA VIỆT NAM VÀ HÀN QUỐC TRONG BỐI CẢNH

3.1 Bối cảnh kinh tế, cơ hội và thách thức của VKFTA đối với quan hệ thương mại

3.2 Định hướng thúc đẩy quan hệ thương mại Việt Nam – Hàn Quốc 683.2.1 Triển vọng hợp tác thương mại Việt Nam – Hàn Quốc 683.2.2 Định hướng hợp tác thương mại Việt Nam – Hàn Quốc 693.3 Giải pháp thúc đẩy quan hệ thương mại Việt Nam – Hàn Quốc đến năm 203071

3.3.2 Nhóm giải pháp về phía doanh nghiệp 78

3.4.1 Hoàn thiện hệ thống chính sách pháp luật và ổn định kinh tế vĩ mô 813.4.2 Tăng cường liên kết giữa các cơ quan quản lý 823.4.3 Ban hành các chiến lược, kế hoạch cụ thể phát triển thương mại dịch vụ.823.4.4 Tạo ra các cơ chế hỗ trợ cho doanh nghiệp và người lao động 833.4.5 Tăng cường xúc tiến thương mại hàng hóa và dịch vụ 85

Trang 5

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VÀ HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO VIỆT NAM – HÀN QUỐC (VKFTA)

1.1 Các vấn đề chung về quan hệ thương mại quốc tế

1.1.1 Các lý thuyết về thương mại quốc tế

❖ Các lý thuyết cổ điển về thương mại quốc tế

❖ Lý thuyết Trọng thương

- Chủ nghĩa trọng thương là tư tưởng kinh tế đầu tiên của giai cấp tư sản trong giaiđoạn thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII

- Vào thời gian chủ nghĩa trọng thương, vàng và bạc được sử dụng với tư cách làtiền tệ và tạo nên kho của cải của các quốc gia Một quốc gia càng tích lũy đượcnhiều vàng bạc thì càng trở nên giàu có mà hùng mạnh hơn Do đó, mục tiêu chủyếu trong các chính sách kinh tế của mỗi nước là phải gia tăng được khối lượngtiền tệ (vàng và bạc) Một nước càng có nhiều tiền (vàng) thì càng giàu có, cònhàng hóa chỉ là phương tiền để tăng thêm khối lượng tiền tệ mà thôi

- Những học giả trọng thương cho rằng: lợi nhuận thương nghiệp là kết quả của sựtrao đổi không ngang giá, là sự lừa gạt giống như chiến tranh Họ cho tăng traođổi phải có một bên thua để bên kia đợc, dân tộc này làm giàu bằng cách hy sinhlợi ích của dân tộc khác Xuất khẩu đối với một quốc gia là rất có ích vì nó kíchthích sản xuất trong nước, đồng thời làm gia tăng lượng của cải quốc gia Ngượclại, nhập khẩu là gánh nặng vì nó làm giảm nhu cầu đối với hàng sản xuất trongnước, và hơn nữa dẫn đến sự thất thoát của cải quốc gia Chính vì thế, nhữngkhuyến nghị của các học giả bao gồm:

+ Đối với hoạt động xuất khẩu, giá trị xuất khẩu phải càng nhiều càng hay, nghĩa

là không những số lượng hàng hóa xuất khẩu phải nhiều, mà còn phải cố gắngxuất khẩu những hàng hóa có giá trị cao ưu tiên hơn hàng hóa có giá trị thấp

Trang 6

+ Đối với hoạt động nhập khẩu, giữ nhập khẩu ở mức độ tối thiểu, dành ưu tiêncho nhập khẩu nguyên liệu so với thành phẩm Hạn chế hoặc cấm nhập khẩuthành phẩm, nhất là hàng xa xỉ

+ Khuyến khích chở hàng bằng tàu của nước mình, vì vừa bán được hàng màcòn thu được cả những món lợi khác như cước vận tải, phí bảo hiểm

+ Đối với Chính phủ, cần khuyến khích sản xuất và xuất khẩu thông qua trợ cấp,hạn chế nhập khẩu bằng các công cụ bảo hộ mậu dịch, đặc biệt đối với nhữngngành quan trọng Ngoài ra, buôn bán được thực hiện bởi các công ty độcquyền của Nhà nước

❖ Lý thuyết lợi thế tuyệt đối

- Tác giả của lý thuyết lợi thế tuyệt đối, Adam Smith (1723-1790) cho rằng sựgiàu có thực sự của mô nước là tổng số hàng hóa và dịch vụ có sẵn ở nước đó.Ông cho rằng những quốc gia khác nhau có thể sản xuất những loại hàng hóakhác nhau có hiệu quả hơn những thứ khác

- Adam Smith cho rằng nếu thương mại không bị hạn chế thì lợi ích của thươngmại quốc tế thu đợc do thực hiện nguyên tắc phân công

- Theo A.Smith, nếu quốc gia chuyên môn hóa vào những ngành sản xuất mà họ cólợi thế tuyệt đối thì cho phép họ sản xuất sản phẩm với chi phí hiệu quả hơn nướckhác

- A.Smith đã xây dựng mô hình thương mại đơn giản dựa trên ý tưởng về lợi thếtuyệt đối để giải thích thương mại quốc tế có lợi như thế nào đối với các quốc gia.Nếu quốc gia A có thể sản xuất mặt hàng X rẻ hơn so với nước B, và nước B cóthể sản xuất mặt hàng Y rẻ hơn so với nước A, thì lúc đó mỗi quốc gia nên tậptrung vào sản xuất mặt hàng mà mình có hiệu quả hơn và xuất khẩu mặt hàng nàysang quốc gia kia Trong trường hợp này mỗi quốc gia được coi là có lợi thế tuyệtđối về sản xuất từng mặt hàng cụ thể Nói cách khác, một quốc gia sẽ được coi là

có lợi thế tuyệt ối về một mặt hàng nếu với cùng một đơn vị nguồn lực, quốc gia

đó có thể sản xuất ra nhiều sản phẩm hơn, nghĩa là có năng suất cao hơn

Trang 7

- Theo A.Smith, thương mại còn có thể làm tăng khối lượng sản xuất và tiêu dùngcủa toàn thế giới do mỗi nước thực hiện chuyên môn hóa sản xuất của toàn thếgiới do mỗi nước thực hiện chuyên môn hóa sản xuất mặt hàng mà mình có lợithế tuyệt đối

❖ Lý thuyết về lợi thế so sánh

- Có thể phát biểu quy luật lợi thế như sau: “Một quốc gia sẽ xuất khẩu những mặthàng có giá cả thấp hơn một cách tương đối với quốc gia kia Nói cách khác, mộtquốc gia sẽ xuất khẩu những mặt hàng mà quốc gia đó có thể sản xuất với hiệuquả cao hơn một cách tương đối so với quốc gia kia”

- Chi phí cơ hội: Trong hai quốc gia thì quốc gia nào có chi phí cơ hội của mặthàng nào thấp hơn thì sẽ có lợi thế so sánh về mặt hàng đó

b) Các lý thuyết mới về thương mại quốc tế

❖ Thương mại quốc tế dựa trên quy mô

- Một trong những lý do quan trọng dẫn đến thương mại quốc tế là tính hiệu quảtăng dần theo quy mô Sản xuất được coi là có hiệu quả nhất khi được tổ chứctrên quy mô lớn Lúc đó một sự gia tăng đầu vào với tỷ lệ nào đó sẽ dẫn tới sự giatăng đầu ra (sản lượng) với tỷ lệ cao hơn

- Mức giá hàng hóa tương quan giống nhau không cản trở việc hai nước buôn bánmột cách có lợi với nhau Trong mô hình thương mại dựa trên hiệu suất theo quy

mô, tỷ lệ trao đổi quốc tế cũng đúng bằng mức giá tương quan trước khi cóthương mại, và mỗi nước thực hiện chuyên môn hóa hoàn toàn nhưng với hướngchuyên môn hóa là không xác định Những điểm này cho thấy sự khác biệt giữathương mại dựa trên hiệệu suất theo quy mô và thương mại dựa trên lợi thế sosánh

❖ Lý thuyết về vòng đời quốc tế của sản phẩm

- Lý thuyết về khoảng cách công nghệ:

Trang 8

+ Lý thuyết về khoảng cách công nghe được đứa ra dựa trên ý tưởng cho rằng côngnghệ luôn luôn thay đổi dưới hình thức ra đời các phát minh và sáng chế mới, vàđiều này tác động đến xuất khẩu của quốc gia.

+ Sau khi một phát minh ra đời, một sản phẩm mới xuất iện và trở thành mặt hàng

mà quốc gia phát minh có lợi thế tuyệt đối tạm thời Ban đầu hãng phát minh sảnphẩm giữ vị trí độc quyền, và sản phẩm được tiêu thụ trên thị trường nội địa Saumột thời gian, nhu cầu từ phía nước ngoài xuất hiện và sản phẩm bắt đầu đượcsản xuất Dần dần các nhà sản xuất nước ngoài sẽ bắt chước công nghệ và sảnphẩm được sản xuất ngay tại nước ngoài một cách có hiệu quả hơn Khi đó lợi thế

so sánh về sản xuất sản phẩm này lại thuộc về quốc gia khác Nhưng ở quốc giaphát minh một sản phẩm mới khác có thể ra đời và quá trình mô tả trên được lặplại

+ Lý thuyết trên có thể được giải thích cho hai dạng thương mại Thứ nhất, nếu nhưcả hai quốc gia đều có tiềm năng về công nghệ như nhau thì vẫn có thể hình thànhquan hệ thương mại, bởi vì phát minh sáng chế trong chừng mực nào đó là mộtquá trình ngẫu nhiên Dạng thương mại thứ hai được hình thành khi một nước tỏ

ra năng động hơn về công nghệ so với nước kia Khi đó nước thứ nhất thườngxuất khẩu những mặt hàng mới và phức tạp để đổi lấy những mặt hàng đã chuẩnhóa từ nước thứ hai Dần dần, các mặt hàng mới này trở nên chuẩn hóa, nhưngvới tính ưu việt về công nghệ cho nên nước thứ nhất lại cho ra đời các sản phẩmmới khác

+ Các yếu tố quyết định vai trò tiên phong của một nước trong linh vực công nghệ:Thứ nhất là sự khác biệt về thể chế; thứ hai là những nguồn lực thích hợp chocông tác nghiên cứu và phát triển; thứ ba là trong nước tồn tại thị trường thíchhợp đối với sản phẩm mới

- Lý thuyết về vòng đời sản phẩm

+ Xét về mặt lí thuyết thì thực chất quan điểm về vòng đời sản phẩm chính là sự mởrộng lý thuyết khoảng cách công nghệ Các phát minh có thể ra đời ở các nước

Trang 9

giàu, nhưng điều đó không có nghĩa là qua trình sản xuất sẽ chỉ được thực hiện ởcác nước đó mà thôi Lý thuyết khoảng cách công nghệ chưa trả lời được câu hỏi

là phải chăng các hãng phát minh sẽ tiến hành sản xuất tại những nước có điềukiện thích hợp nhất (tài nguyên, các yếu tố sản xuất) đối với mặt hàng mới TheoVermon (1966) các nhân tố cần thiết cho sản xuất một sản phẩm mới sẽ thay đổitùy theo vòng đời của sản phẩm đó

+ Đầu tiên khi sản phẩm mới được giới thiệu, việc sản xuất và tiêu thụ còn mangtính chưa chắc chắn và còn phụ thuộc nhiều vào nguồn cung cấp nhân công lànhnghề và khoảng cách gần gũi với thị trường Lúc đó sản phẩm sẽ được sản xuất(với chi phí cao) và xuất khẩu bởi các nước lớn và giàu có (chẳng hạn như Mỹ).+ Khi sản phẩm trở nên chín muồi, công nghệ sản xuất dần dần trở nên tiêu chuẩnhóa và được phát triển rộng rãi Thị trường tiêu thụ mở rộng tạo điều kiện choviệc tổ chức sản xuất trên quy mô lớn với chi phí thấp Các quốc gia khác thường

là những nước tương đối về vốn (Tây Âu, Nhật Bản), có thể bắt chước công nghệsản xuất và do đó lợi thế so sánh được chuyển từ nước phát minh sang các quốcgia này Nước phát minh khi đó có thể chuyển đổi vai trò từ nước xuất khẩu sangnước nhập khẩu

Thương mại dựa trên vòng đời sản phẩm có thể được minh họa bằng hình 1.8 Đầu tiên , khi sản phẩm mới được giới thiệu (tại t0 ) , việc sản xuất và tiêu thụ cònmang tính chưa chắc chắn và phụ thuộc nhiều vào nguồn cung cấp nhân công lànhnghề và khoảng cách gần gũi với thị trường Lúc đó sản phẩm sẽ được sản xuất với chiphí cao ) và xuất khẩu ( tại t1 ) bởi các nước lớn và giàu có ( chẳng hạn như Mỹ )

Khi sản phẩm trở nên chín muối , công nghệ sản xuất dần dần trở nên chuẩn hóa vàđược phát triển rộng rãi Thị trường tiêu thụ mở rộng tạo điều kiện cho việc tổ chứcsản xuất trên quy mô lớn với chi phí thấp Các quốc gia khác , thường là những nướcdồi dào tương đối về vốn ( Tây Âu , Nhật Bản ) , có thể bắt chước Công nghệ sản xuất( tại t2 ) , và do đó lợi thế so sánh được chuyển từ nước phát minh sang các quốc gia

Trang 10

này Nước phát minh khi đó có thể chuyển đổi vai trò từ nước xuất khẩu sang nướcnhập khẩu ( tại t3).

Hình 1.8 Vòng đời sản phẩm và thương mai quốc tế

+ Cuối cùng khi công nghệ trở nên hoàn toàn được chuẩn hóa, quá trình sản xuất cóthể được chia ra thành nhiều công đoạn khác nhau và tương đối đơn giản Lợi thế

so sánh được chuyển tới nhưng nước đang phát triển, nơi có lực lượng lao độngdồi dào và mức lương thấp, và những nước này trở thành những nước xuất khẩuròng

❖ Lý thuyết về lợi thế cạnh tranh quốc gia

Lý thuyết về lợi thế cạnh tranh quốc gia do Michael Porter đưa ra vào những năm

1990 ( đây là công trình nghiên cứu của một tập thể các nhà khoa học ở 12 nước bắtđầu từ năm 1986 ) Mục đích của lý thuyết này là giải thích tại sao một số quốc gia lại

có được vị trí dẫn dầu trong việc sản xuất một số sản phẩm , hay nói khác đi tại sao lại

có những quốc gia có lợi thế cạnh tranh về một số sản phẩm Lý thuyết này được xâydựng dựa trên cơ sở lập luận rằng khả năng cạnh tranh của một ngành công nghiệpđược thể hiện tập trung ở khả năng sáng tạo và đổi mới của ngành đó Điều này đượckhái quát cho một thực thể lớn hơn một quốc gia Lý thuyết của M.Porter đã kết hợpđược các cách giải thích khác nhau trong các lý thuyết thương mại quốc tế trước đó vàđồng thời đưa ra một khái niệm khá quan trọng là lợi thế cạnh tranh quốc gia

Trang 11

Theo lý thuyết này , lợi thế cạnh tranh quốc gia được thể hiện ở sự liên kết của 4nhóm yếu tố Mối liên kết của 4 nhóm này tạo thành mô hình kim cương ( diamond ).Các nhóm yếu tố đó bao gồm :

( 1 ) Điều kiện các yếu tố sản xuất ( factor of production )

( 2 ) Điều kiện về cầu ( demand conditions )

( 3 ) Các ngành công nghiệp hỗ trợ và có liên quan (related and supporting industries)( 4 ) Chiến lược, cơ cấu và mức độ cạnh tranh của ngành (strategies, structures andcompetition) Các yếu tố này tác động qua lại lẫn nhau và hình thành nên khả năngcạnh tranh quốc gia Ngoài ra, còn có 2 yếu tố khác là chính sách của Chính phủ và cơhội Đây là 2 yếu tố có thể tác động đến 4 yếu tố cơ bản kể trên

Trang 12

Hình 1.9 Khối kim cương của M.Porter

- Điều kiện các yếu tố sản xuất

Sự phong phú dồi dào của yếu tố sản xuất có vai trò nhất định đối với lợi thế cạnhtranh quốc gia; các quốc gia có lợi hơn khi sản xuất và xuất khẩu các sản phẩm các sảnphẩm nhiều yếu tố đầu vào mà quốc gia đó có nhiều Các doanh nghiệp có thể có đượclợi thế cạnh tranh nếu họ sử dụng các nhân tố đầu vào có chi phí thấp, chất lượng cao

và có vai tròng quan trọng trong cạnh tranh Tuy nhiên, sử dụng, tạo ra, cải tiến vàchuyên biệt hóa đầu vào có tầm quan trọng lớn hơn số lượng yếu tố đầu vào trong việctạo ra lợi thế cạnh tranh

Việc duy trì lợi thế cạnh tranh đầu vào phụ thuộc nhiều vào việc đầu vào đó là đầuvào cơ bản hay đầu vào cao cấp; được sử dụng phổ biến hay mang tính chất chuyênngành Đầu vào cơ bản bao gồm nguồn tài nguyên, khí hậu, vị trí địa lý, lao động giảnđơn và nguồn vốn tài chính Đầu vào cao cấp bao gồm hệ thống hạ tầng viễn thônghiện đại, lao động có tay nghề và trình độ cao

+ Tầm quan trọng của đầu vào cơ bản trong việc tạo ra lợi thế cạnh tranh ngày mộtgiảm đi do nhu cầu sử dụng chúng giảm dần và khả năng cung ứng hoặc tiếp cậntới chúng ngày càng mở rộng

+ Ngược lại, các đầu vào cao cấp hiện đang là những đầu vào quan trọng nhất giúpcác doanh nghiệp tạo được lợi thế cạnh tranh trình độ cao, đó là lợi thế cạnh tranh

Trang 13

dự vào tính độc đáo sản phẩm và công nghệ Số lượng đầu vào này không nhiều

do việc tạo ra chúng đòi hỏi phải đầu tư lớn và thường xuyên về nhân lực và vậtlực và việc có được chúng không phải là điều dễ dàng

+ Do vậy, lợi thế cạnh tranh dựa vào đầu vào cao cấp ổn định hơn Tuy nhiên, cácnhân tố đầu vào cao cấp của quốc gia lại được xây dựng từ các nhân tố cơ bản

Có loại đầu vào sử dụng chung cho tất cả các ngành, thí dụ như hệ thống đường caotốc, vốn tín dụng, lao động có trình độ trung học Có đầu vào chuyên ngành chỉ phùhợp với số ít hoặc thậm chú là một ngành, như cơ sở hạ tầng có tính chất đặc thù, trithức của một chuyên ngành cụ thể, kỹ năng cụ thể So với các đầu vào chung, các đầuvào chuyên ngành có vai trò quyết định và bền vũng hơn trong việc tạo lợi thế cạnhtranh Các đầu vào chung thường hỗ trọe tạo dựng các lợi thế cạnh tranh cấp thấp vàthường có ở nhiều quốc gia Các đầu vào cao chuyên ngành thường do tư nhân đầu tư,mang tính tập trung hơn và rủi ro hơn và do vậy khan hiếm hơn

Như vậy có thể thấy rằng một quốc gia có thể duy trì lợi thế cạnh tranh dựa trênđầu vào khi quốc gia đó có các đầu vào cần thiết cho cạnh trạnh trong ngành cụ thểnào đó là các đầu vào cao cấp và chuyên ngành Loại đầu vào nào cần được tự chế tạo

và cải tiến, làm thế nào để chế tạo và cải tiến đầu vào một cách có hiệu quả Điều đóphụ thuộc vào các nhân tố khác của môi trường kinh doanh Đó là điều kiện nhu cầutrong nước, hệ thống các ngành hỗ trợ và liên quan, mục tiêu của doanh nghiệp và bảnchất của cạnh tranh

Việc đánh giá năng lực cạnh tranh theo yếu tố đầu vào được xây dựng từ 5 nhómđầu vào, đó là: nguồn nhân lực, nguồn tài nguyên thiên nhiên, nguồn tri thức, nguồnvốn và cơ sở hạ tầng Mỗi nhóm yếu tố đầu vào lại bao gồm nhiều yếu tố cụ thể hơn

- Điều kiện nhu cầu trong nước

Thông qua các tác động tĩnh và động, nhu cậu trong nước xác định mức đầu tư, tốc

độ và động cơ đổi mới của các doanh nghiệp trong nước Ba khía cạnh của nhu cầu

Trang 14

trong nước có ảnh hưởng lớn tới lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp là: bản chất củanhu cầu, dung lượng và mô hình tăng trưởng của nhu cầu và cơ chế lan truyền nhu cầutrong nước trong nước ra các thị trường quốc tế Ban chất nhu cầu trong nước xácđiịnh cách thức doanh nghiệp nhận thức, lý giải và phản ứng trước nhu cầu của ngườimua Bản chất nhu cầu tác đôngh tới lợi thế cạnh tranh thông qua cấu trúc nhu càu,mức độ đòi hỏi của người mua và tính hướng dẫn của nhu cầu.

Nhu cầu thường được chia thành nhiều phân đoạn Một phân đoạn thị trườngtrong nước có dunh lượng lớn có thể thu hút sự chú ý và ưu tiên đáp ứng của doanhnghiệp và cho phét họ khai thác hiệu quả kinh tế nhờ quy mô; sự đa dạng của phânđoạn thị trường giúp doanh nghiệp có kinh nghiệm phong phú để thâm nhập thịtrường quốc tế, phân đoạn nhu cầu đòi hỏi lợi thế cạnh tranh và duy trì vị trí trên phânđoạn thị trường đó Người mua đòi hỏi cao sẽ tạo áp lực đáp ứng các tiêu chuẩn cao vềchất lượng, đặc tính kỹ thuật và dịch vụ; tạo sức ép chuyển sang đáp ứng đoạn nhu cầumới, cáo cấp hơn và do đó nâng cao lợi thế cạnh tranh Cuối cùng, nếu nhu cầu trongnước lan tỏa sang các nước khác thì doanh nghiệp không chỉ được lợi từ sản phẩm mới

đó mà còn được lợi từ việc tiếp cận đến khách hàng có yêu cầu cao

Quy mô và mô hình tăng trưởng nhu cầu trong nước có tác dụng tăng cường lợi thếquốc gia Tác động của quy mô thị trường đến lợi thế cạnh tranh không rõ ràng Quy

mô thị trường lớn có thể tạo ra lợi thế cạnh tranh trong những ngành có hiệu quả kinh

tế nhờ quy mô, do khuyến khích các doanh nghiệp trong nước tích cực đầu tư vào thiết

bị, nhà xưởng sản xuất quy mô lớn, phát triển công nghệ và nâng cao năng suất Mặtkhác, quy mô thị trường lớn cũng có thể làm giảm sức ép bán hàng ra thị trường quốc

tế và do đó làm giảm tính năng động của doanh nghiệp trong nước

Mức độ cạnh tranh trong nước, một nhân tố khác của môi trường kinh doanh có vaitrò quyết định đối với tác động tích cực hoặc tiêu cực của quy mô thị trường đến lợithế cạnh tranh Một khía cạnh khác của quy mô thị trường là số lượng người mua Số

Trang 15

lượng người mua ít có thể tạo ra lợi thế tĩnh, nhưng có thể làm giảm lợi thế động Sốlượng người mua nhiều sẽ tạo sự đa dạng về nhu cầu và sức ép cạnh tranh giữa họ,nhờ đó mở rộng thông tin thị trường và thúc đẩy doanh nghiệp cải tiến kỹ thuật Hơnnữa, nhiều người mua sẽ làm giảm rủi ro khả năng mặc cả của người mua quá mạnh

và do vậy khuyến khích các doanh nghiệp khác tham gia kinh doanh và đầu tư

Tốc độ tăng trưởng nhu cầu trong nước nhanh sẽ kích thích doanh nghiệp áp dụngcác công nghệ mới nhanh hơn vì làm giảm lo ngại rằng các kỹ thuật mới sẽ làm cho đầu

tư hiện tại bỏ dư thừa Một khía cạnh đáng lưu ý là nhu cầu bão hòa nhanh chóng cũng

có thể tạo lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp trong nước, buộc các doanh nghiệpphải tiếp tục đổi mới và cải tiến, tạo sức ép giảm giá, tạo ra các đặc tính mới của sảnphẩm, nâng cao hiệu quả sản xuất, tăng cường mức độ cạnh tranh giữa các doanhnghiệp trong nước, buộc các doanh nghiệp phải giảm chi phí, loại bỏ các doanh nghiệpyếu nhất và số doanh nghiệp còn lại sẽ ít hơn nhưng là những doanh nghiệp mạnh hơn,đổi mới hơn

- Các ngành công nghiệp hỗ trợ và liên quan

Đối với mỗi doanh nghiệp, các ngành sản xuất hỗ trợ là những ngành sản xuất cungứng đầu vào cho chuỗi hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp Trong khi

đó, các ngành sản xuất liên quan là những ngành mà doanh nghiệp có thể phối hợphoặc chia sẻ các hoạt động thuộc chuỗi hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc nhữngngành mà sản phẩm của chúng mang tính chất bổ trợ viêc chia sẻ hoạt động thườngdiễn ra ở các khâu phát triển kỹ thuật, sản xuất, phân phối, tiếp thị hoặc dịch vụ Nóichung, một quốc gia có lợi thế canh tranh trong nhiều ngành hỗ trợ và nhiều ngànhliên quan sẽ tạo ra lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp Lợi thế cạnh tranh của cácngành hỗ trợ và liên quan sẽ tạo ra lợi thế tiềm tàng cho các doanh nghiệp như cungcấp trong thời gian ngắn và với chi phí thấp; duy trì quan hệ hợp tác liên tục; các nhàcung ứng giúp doanh nghiệp nhận thức các phương pháp và cơ hội mới để áp dụng

Trang 16

công nghệ mới; ngược lại, doanh nghiệp ở khâu sau có cơ hội tác động tới những nỗlực về kỹ thuật của các nhà cung ứng và là nơi kiểm chứng ý kiến đề xuất cải tiến củanhà cung ứng; trao đổi về nghiên cứu và phát triển để tìm ra các giải pháp nhanh hơn

và hiệu quả hơn

Hơn nữa, ngành hỗ trợ là chất xúc tác chuyển tải thông tin và đổi mới từ doanhnghiệp này đến doanh nghiệp khác, đẩy nhanh tốc độ đổi mới trong toàn bộ nền kinh

tế Tuy nhiên, một quốc gia không nhất thiết phải có lợi thế cạnh tranh trong tất cả cácngành hỗ trợ và liên quan để tạo lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp Những đầu vàokhông có tác động quan trọng tới sự đổi mới hoặc hiệu quả của sản phẩm hoặc côngnghệ thì có thể nhập khẩu

- Chiến lược, cơ cấu và môi trường cạnh tranh

Khả năng cạnh tranh còn được quyết định bởi các yếu tố như mục tiêu , chiến lược

và cách thức tổ chức doanh nghiệp Lợi thế cạnh tranh thường là kết quả của việc kếthợp tất các yếu tố trên với cơ sở của lợi thế cạnh tranh

+ Tình hình cạnh tranh trong nước có vai trò rất lớn trong quá trình đổi mới vàthành công trên thị trường quốc tế Những khác biệt về trình độ quản lý và kỹnăng tổ chức như trình độ học vấn, năng lực, sức mạnh động cơ cá nhân , quan hệ, thái độ với khách hàng ,với hoạt động quốc tế… tạo ra lợi thể hoặc bất lợi chodoanh nghiệp

+ Mục tiêu của công ty bị tác động chủ yếu bởi : cấu trúc , động cơ của chủ sở hữu,bản chất cơ cấu quản lý công ty Cả người quản lý và người lao động cần cóđộng cơ phát triển kỹ năng của mình để tạo ra và duy trì lợi thế cạnh tranh Cácnhân tố quan trọng xác định ứng xử của cá nhân như : lương , thưởng , quan hệvới doanh nghiệp , sự đầu tư tăng cường kỹ năng , hiểu biết …

+ Cạnh tranh trong nước có tác động mạnh hơn cạnh tranh quốc tế trong nhữngtrường hợp mà cải tiến và đổi mới là yếu tố cơ bản của lợi thế cạnh tranh Cạnh

Trang 17

tranh trong nước tạo ra những lợi ích như tạo sức ép phải cải tiến đối với các đốithủ cạnh tranh hiện tại và thu hút đối thủ mới nhập cuộc , ngoài ra sức ép cạnhtranh còn tới từ lý do danh dự và cá nhân , tạo sức ép bán hàng ra thị trường nướcngoài , đặc biệt khi có yếu tố hiệu quả kinh tế nhờ quy mô , đó là bước chuẩn bịtốt để khi phải chịu áp lực cạnh tranh ở nước ngoài

+ Việc tạo ra sức ép sẽ làm thay đổi cách thức cải tiến lợi thế cạnh tranh : tập trungvào lợi thế về tính chất độc đáo và hàm lượng công nghệ của sản phẩm hơn là lợithế về tài nguyên và chi phí lao động thấp Doanh nghiệp sẽ phải năng động hơn ,giảm sức ép lên Chính phủ về việc đưa ra các hình thức hỗ trợ sản xuất trongnước Do đó toàn bộ ngành công nghiệp sẽ tiến bộ nhanh hơn do những ý tưởngmới được phổ biến và ứng dụng nhanh hơn

Đối với một nước nhỏ có ít đối thủ cạnh tranh trong nước thì thị trường trong nướchoàn toàn mở cửa cùng với chiến lược kinh doanh quốc tế có thể là giải pháp thay thếhữu hiệu để tăng hiệu quả cạnh tranh

- Vai trò của Chính phủ đối với lợi thế cạnh tranh quốc gia

Chính phủ có thể tác động tới lợi thế cạnh tranh của quốc gia thông qua 4 nhóm nhântố xác định lợi thế cạnh tranh là điều kiện các nhân tố đầu vào, nhu cầu trong nước, các ngành công nghiệp hỗ trợ và liên quan, và chiến lược, cơ cấu và môi trường cạnhtranh Các tác động của Chính phủ có thể là tích cực hoặc tiêu cực Chính phủ có thểtác động tới các điều kiện đầu vào thông qua các công cụ trợ cấp, chính sách thị trườngvốn, chính sách giáo dục, y tế

Vai trò của Chính phủ đối với nhu cầu trong nước thường phức tạp hơn, có thể thúcđẩy hoặc gây bất lợi cho lợi thế cạnh tranh Các cơ quan chính phủ có thể xác lập cáctiêu chuẩn hoặc quy định về sản phẩm trong nước có ảnh hưởng lớn tới cầu của ngườimua; Chính phủ cũng có thể là người mua lớn đối với nhiều hàng hóa Chính phủ có thểkiến tạo hệ thống các ngành hỗ trợ và liên quan theo rất nhiều cách khác nhau, ví dụ nhưkiểm soát phương tiện quảng cáo hoặc các quy định về các dịch vụ hỗ trợ Chính phủ

Trang 18

cũng có thể tác động tới chiến lược, cơ cấu và môi trường cạnh tranh bằng các công cụnhư các quy định về thị trường vốn, chính sách thuế và luật chống độc quyền

Vai trò điều hành của Chính phủ được xác định trên các mặt sau đây:

+ Thứ nhất là định hướng phát triển thông qua chiến lược, quy hoạch, kế hoạch,

chính sách phát triển kinh tế Thế định hướng phát triển đóng vai trò như là mộtkim chỉ nam hướng dẫn các quyết định, hành động và quan niệm của tất cả cácđối tượng trong nền kinh tế

+ Thứ hai là tạo môi trường pháp lý và kinh tế cho các chủ thể kinh tế hoạt động và

cạnh tranh lành mạnh

+ Thứ ba là điều tiết hoạt động và phân phối lợi ích một cách công bằng không qua

việc sử dụng các công cụ ngân sách, thuế khoá, tín dụng v.v… tăng trưởngkinh tế Không phải mục đích tự thân, mà là phương tiện mang lại một cuộc sốngtốt đẹp hơn do vậy điều hành của Chính phủ cần phải chú trọng vào các giá trịnhư công bằng xã hội, bình đẳng và cơ hội ngang bằng trong mọi người

+ Thứ tư là kiểm tra, tra kiểm soát các hoạt động kinh tế theo đúng ảnh pháp luật

và chính sách đề ra

- Vai trò của cơ hội

Các thành phần của lợi thế quốc gia định hình môi trường cạnh tranh trong nhữngngành kinh tế cụ thể Tuy nhiên, cơ hội là những sự kiện xảy ra ít liên quan đến tìnhtrạng hiện tại của quốc gia và thường nằm ngoài phạm vi ảnh hưởng của các công ty( và thường của cả Chính phủ) Những cơ hội đặc biệt quan trọng ảnh hưởng đến lợithế cạnh tranh như sự thay đổi bất ngờ về công nghệ ( như công nghệ sinh học, côngnghệ vi điện tử) : Thay đổi về chi phí đầu vào như tăng giá đột ngột dầu mỏ; Thay đỏiđáng kể trên thị trường chứng khoán thế giới, tỷ giá hối đoái; Tăng mạnh của cầu thếgiới hay khu vực; Quyết định chính trị của các Chính phủ nước ngoài

Trang 19

Các cơ hội rất quan trọng vì chính chúng tạo ra sự thay đổi bất ngờ cho phép dịchchuyển vị thế cạnh tranh Chúng có thể xóa đi lợi thế của những công ty thành lậptrước đó và tạo ra tiềm năng mà các công ty mới có thể khai thác để có được lợi thếđáp ứng những điều kiện mới và khác biệt.

Các thành phần của lợi thế cạnh tranh quốc gia sẽ cùng nhau tạo nên một hệthống mạnh để duy trì lợi thế cạnh tranh Tuy nhiên, ở một mức độ nhất định, hệthống này thường hướng theo một cơ cấu ngành nhất định Do đó, cần phải có sự độtbiến để đủ thay đổi những cơ sở của lợi thế và tạo ra đủ để cho phép một mô hình kimcương mới thay thế mô hình kim cương cũ

Các cơ hội cũng thực hiện vai trò của mình một phần thông qua thay đổi của cácđiều kiện của mô hình kim cương Chẳng hạn, những thay đổi về chi phí đầu vafo hay

tỷ giá hối đoái tạo ra những bất lợi thế về nhân tố sẽ có tác dụng thúc đẩy những giaiđoạn đổi mới mạnh mẽ Cạnh tranh theo quan điểm này có thể nâng cao mức độ vàtính khẩn cấp của các khoản đầu tư khoa học trong nước ( hình thành nhân tố) và thayđổi quan hệ khách hàng ( các điều kiện về cầu)

1.1.2 Các khái niệm liên quan đến quan hệ thương mại quốc tế

- Thương mại có nghĩa là trao đổi hàng hóa và dịch vụ giữa hai bên

Các bên tham gia trao đổi hàng hóa cùng cư trú trong một quốc gia gọi là thươngmại trong nước (thương mại nội địa) Các bên tham gia trao đổi hàng hóa cư trú tại cácquốc gia khác nhau thì gọi là thương mại quốc tế

- Thương mại quốc tế là sự trao đổi hàng hóa và dịch vụ giữa các nước thông quahoạt động xuất khẩu (bán) và nhập khẩu (mua) Đây là một quan hệ kinh tế, phảnánh mối quan hệ giữa người cung cấp với người sử dụng hàng hóa và dịch vụ ởcác quốc gia khác nhau

Đặc điểm

Trang 20

- Đối tượng trao đổi trong thương mại quốc tế là hàng hóa và dịch vụ.

- Các bên tham gia thương mại quốc tế là những chủ thể kinh tế khác quốc gia, cóthể là chính phủ, công ty, doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế

- Hoạt động thương mại quốc tế diễn ra trên thị trường thế giới, tùy theo góc độnghiên cứu có thể là thị trường toàn thế giới, thị trường khu vực hoặc thị trườngcủa nước xuất khẩu hay nước nhập khẩu

- Phương tiện thanh toán trong thương mại quốc tế giữa bên mua và bên bán làđồng tiền có khả năng chuyển đổi

Mục tiêu

Thương mại quốc tế là hình thức quan hệ kinh tế quốc tế xuất hiện sớm nhất,hiện nay vẫn giữ vai trò quan trọng đối với phát triển kinh tế từng quốc gia và pháttriển kinh tế thế giới

Từ các góc độ nghiên cứu khác nhau, mục tiêu nghiên cứu thương mại quốc tếcũng khác nhau

- Giải quyết những mâu thuẫn và hài hòa mối quan hệ lợi ích

Góc độ nền kinh tế quốc gia tham gia vào thương mại quốc tế (còn gọi là hoạt động

Trang 21

- Hài hòa lợi ích chung của quốc gia với lợi ích riêng của công ty và người tiêudùng.

Góc độ kinh doanh xuất nhập khẩu của các công ty

- Nghiên cứu chính sách và biện pháp của các chính phủ và các đối tác để xây dựngchiến lược kinh doanh, nhằm khai thác lợi ích kinh tế tối đa từ hoạt động xuấtnhập khẩu

Hiệp định thương mại tự do ASEAN – Hàn Quốc nghĩa là Hiệp Định Khung về HợpTác Kinh Tế Toàn Diện giữa Các Chính phủ Các Nước Thành Viên Hiệp Hội Các Quốc GiaĐông Nam Á và Chính Phủ Nước Đại Hàn Dân Quốc và các hiệp định có liên quan khácđược liệt kê tại đoạn 1 Điều 1.4 của Hiệp Định Khung

Cơ quan hải quan nghĩa là cơ quan, theo pháp luật của mỗi Bên, có thẩm quyềnquản lý và giám sát thực thi các luật và quy định hải quan của Bên đó :

(a) Đối với Việt Nam, là Tổng Cục Hải Quan ; và

(b) Đối với Hàn Quốc, là Bộ Chiến lược và Tài chính, hoặc Cơ quan Dịch vụ Hảiquan Hàn Quốc

Hoặc cơ quan kế nhiệm tương ứng;

Thuế hải quan nghĩa là bất kỳ loại hình thuế hải quan hoặc thuế nhập khẩu và bất

kỳ khoản phí nào bao gồm thuế phụ thu và phí phụ thu, được áp dụng với việc nhậpkhẩu hàng hóa, nhưng không bao gồm:

(a) Phí tương đương với thuế nội địa được áp dụng theo các quy định của Điều III:2của GATT 1994 liên quan đến hàng hóa tương tự hoặc hàng hóa có tính cạnhtranh trực tiếp của một Bên, hoặc hàng hóa có thể thay thế hoặc liên quan đếnhàng hóa làm nguyên liệu để chế biến hoặc sản xuất toàn bộ hay một phàn hànghóa nhập khẩu;

Trang 22

(b) Thuế theo quy định của luật và các quy định trong nước của một Bên phù hợp vớiChương 7 ( Phòng vệ Thương mại ) ;

(c) Phí hoặc bất cứ khoản lệ phí nào khác liên quan đến việc nhập khẩu tương ứngvới chi phí dịch vụ phải trả

(d) Các khoản phí bảo hiểm được cung cấp hoặc phải thu đối với hàng hóa nhập khẩuphát sinh từ bất kỳ hệ thống đấu thầu nào đối với việc quản lý hạn chế số lượngnhập khẩu hay hạn ngạch thuế quan ; hoặc

(e) Thuế được quy định đối với bất kỳ biện pháp tự vệ trong nông nghiệp nào đượcthực hiện theo Hiệp định Nông nghiệp;

Các luật và quy định hải quan nghĩa là các luật và các quy định được quản lý và

giám sát thực thi bởi cơ quan hải quan của các Bên liên quan đến nhập khẩu, xuấtkhẩu, quá cảnh, trung chuyển hàng hóa, có liên quan đến thuế hải quan, các lệ phí, vàcác loại thuế khác, hoặc liên qun đến việc cấm, hạn chế, và các biện pháp kiểm soáttương tự đối với sự di chuyển của các hạng mục được kiểm soát qun biên giới lãnh thổhải quan của mỗi Bên;

Hiệp định Định giá Hải quan nghĩa là các luật và các quy định được quản lý và giám

sát thực thi bởi cơ quan hải quan của các Bên liên quan đến nhập khẩu, xuất khẩu, quácảnh, trung chuyển hàng hóa, có liên quan đến thuế hải quan, các lệ phí, và các loạithuế khác, hoặc liên quan đến việc cấm, hạn chế , và các biệp pháp kiểm soát quanbiên giới lãnh thổ hri qun của mỗi Bên;

Hiệp định Định giá Hải quan nghĩa là Hiệp định về thực thi Điều VII của Hiệp định

chung về Thuế quan và Thương mại 1994

Ngày nghĩa là ngày dương lịch, bao gồm cả các ngày cuối tuần và các ngày nghỉ lễ; Doanh nghiệp là bất kỳ tổ chức nào được thành lập hợp pháp hoặc được tổ chức

theo các luật và quy định hiện hành, dù là hoạt động vì lợi nhuận hy không, và dù làdoanh nghiệp do tư nhân hay do chính phủ sở hữu hoặc kiểm soát, bao gồm công ty,

Trang 23

quỹ tín thác, hợp doanh, doanh nghiệp tư nhân, liên doanh, hiệp hội, hoặc tổ chứctương tự;

Đang có hiệu lực nghĩa là còn hiệu lực thi hành vào ngày có hiệu lực thi hành của

Hiệp định này;

GATS nghĩa là Hiệp định chung về Thương mại Dịch vụ

GATT 1994 nghĩa là Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại 1994, bao gồm

các điều khoản bổ sung và các ghi chú của nó, là một phần Hiệp định WTO

Hàng hóa nghĩa là bất kỳ vật phẩm, sản phẩm, hoặc nguyên liệu, vật liệu nào;

Hệ thống Hài hòa (HS) nghĩa là tập hợp của Hệ thống Hài hòa Mô tả và Mã hóa

Hàng hóa được nêu trong Công ước Quốc tế về Hệ thống Hài hòa Mô tả và Mã hóa và

các ghi chú pháp lý kèm theo, có hiệu lực và được sửa đổi tùy từng thời điểm;

Pháp nhân nghĩa là bất kỳ tổ chức nào được thành lập hợp pháp hoặc tổ chức theo

các luật và các quy định hiện hành, dù là hoạt động vì lợi nhuận hay không, và thuộc ởhữu tư nhân hay sở hữu nhà nước, bao gồm công ty, quỹ tín thác, hợp danh, liêndoanh, doanh nghiệp tư nhân hay hiệp hội;

Biện pháp nghĩa là bất kỳ biện pháp nào của môt Bên, dù dưới hình thức luật, quy

định, quy tắc, thủ tục, quyết định, hành vi/quyết định hành chính hay hình thức nàokhác;

Biện pháp do một Bên ban hành hoặc duy trì nghĩa là biện pháp được ban hành

hoặc duy trì bởi:

(a) Chính phủ và cơ quan có thẩm quyền cấp trung ương hoặc địa phượng; và

(b) Các cơ quan phi chính phủ thực hiện theo sự ủy quyền/phân công của chính phủ

và cơ quan có thẩm quyền cấp trung ương hoặc địa phương

Công dân nghĩa là:

Trang 24

(a) Đối với Việt Nam, bất kỳ người nào mang quốc tịch Việt Nam theo quy định tại

Hiến pháp và Luật Quốc tịch Việt Nam, hoặc văn bản sửa đổi sau này; và

(b) Đối với Hàn Quốc, công dân Hàn Quốc được quy định tại Luật Quốc tịch, hoặc

băn bản sửa đổi sau này;

Hàng hóa có xuất xứ nghĩa là hàng hóa hoặc nguyên liệu đáp ứng đủ quy định về

(b) Đối với Hàn Quốc, lãnh thổ đất liền, vùng biển, và vùng trời thuộc chủ quyền củaHàn Quốc, và cá vùng lãnh hải bao gồm cả đáy biển và lòng đất dưới đáy biểntiếp giáp với lãnh hải và bên ngoài lãnh hải mà Hàn Quốc có quyền chủ quyềnhoặc quyền tài phán phù hợp với pháp luật quốc tế và pháp luật trong nước;

UNCITRAL nghĩa là Ủy ban Liên hợp quốc về Luật Thương mại Quốc tế;

WTO nghĩa là Tổ chức Thương mại Thế giới; và

Hiệp định WTO nghĩa là Hiệp định Marrakesh thành lập Tổ chức Thương mại Thế

giới, hoàn thành vào ngày 15 tháng 4 năm 1994

1.2 Căn cứ hình thành và tác động đến mối quan hệ thương mại giữa hai quốc gia

1.2.1 Cơ sở hình thành quan hệ thương mại quốc tế

❖ Quan hệ đối ngoại

Trang 25

Việc thiết lập quan hệ đối ngoại sẽ là nền tảng cho phép tạo lập các mối quan hệ

về thương mại quốc tế giữa hai quốc gia Sự ràng buộc giữa hai nhà nước ở trên cả haimặt chính trị và kinh tế, vì vậy chính sách về đối ngoại thường đi song song với cácchính sách về kinh tế Việc thiết lập quan hệ ngoại giao sẽ mở đường cho các thươngmại giao dịch quốc tế của các chủ thể trong nền kinh tế giữa các quốc gia Các quanđiểm của mỗi nhà nước trong quan hệ đối ngoại cũng sẽ ảnh hưởng đến quan hệthương mại quốc tế Bởi vậy, việc ổn định chính trị và thiết lập quan hệ ngoại giao trên

cơ sở “hòa bình, muốn làm bạn với tất cả các quốc gia trên thế giới” như quan điểmcủa Việt Nam sẽ tạo ra tác động tốt đến quan hệ thương mại của Việt Nam với cácnước khác trên thế giới

❖ Lợi thế của mỗi quốc gia

Có thể thấy hầu hết các quốc gia khi tham gia vào thị trường quốc tế đều dựa trên

cơ sở các lợi thế của mình Phần lớn các quốc gia sẽ tăng cường xuất khẩu những mặthàng và nhập khẩu những mặt hàng trong nước chưa sản xuất được howcj sản xuấtchưa có hiệu quả Các nước phát triển cần lợi thế về nhân công hoặc tài nguyên từ cácnước đang và chậm phát triển để làm cho giá cả các mặt hàng trên thế giới giảmxuống Ngược lại, lợi thế về công nghệ và các sản phẩm từ công nghệ của các bướcphát triển tạo ra sự hấp dẫn đối với các nước đang và chậm phát triển Ngoài ra, cáchoạt động đầu tư quốc tế cũng góp phần làm cho dòng chảy thương mại quốc tế ngàycàng mạnh mẽ hơn

❖ Các nguyên tắc thực thi thương mại quốc tế

Dựa trên cơ sở các nguyên tắc công bằng, không phân biệt đối xử và đối bên cùng

có lợi, các mối quan hệ thương mại quốc tế được phát triển trên nhiều cấp độ khácnhau Các hiệp định thương mại song phương và đa phương thương dựa trên cácnguyên tắc chủ yếu như:

Trang 26

Nguyên tắc tối huệ quốc (MFN – Most Favoured Nation): Là nguyên tắc trong đó đòihỏi các quốc gia khi dành sự đối xủa tốt nhất trong quan hệ thương mại với quốc giathứ hai thế nào thì cũng dành sự đối xử tốt nhất như thế với quốc gia thứ ba Theo yêucầu của nguyên tắc, các quốc gia phải cắt giảm tối đa thuế quan tức là dành cho nhau

ưu đãi cao nhất để mức độ cản trở thương mại được giảm thiểu và việc đó thực hiệnkhông phân biệt giữa các nước thành viên

Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia (NT – Nation Treatment), bắt buộc các nước thành viênkhông được phân biệt đối xử đối với các thể nhân và tự nhiên nhân trong nước vànước ngoài Đây là nguyên tắc đảm bảo tính công bằng trong đối xử với các thể nhân

và tự nhiên nhân của các nước thành viên hay công bằng theo chiều ngang

Hai nguyên tắc trên là các nguyên tắc chủ đạo trong Hiệp định thương mại quốc

tế Ngoài ra, các nước thành viên trong WTO còn phải tuân thủ các nguyên tắc như:

Nguyên tắc thương mại tự do hơn thông qua đàm phán, đặt ra yêu cầu các nướcthành viên cần phải sử dụng đàm phán làm phương tiện để hướng tới một nên thươngmại tự do với các rào cản được giảm thiểu thay vì các hành vi như cấm vận, trả đũa,trừng phạt,…

Nguyên tắc dành ưu đãi với các nước đang phát triển tạo nền tảng để các nướcđang phát triển với năng lực cạnh tranh thấp có những khoản lợi ích trong quá trìnhtham gia vào thương mại bình đẳng với các nước phát triển với năng lực cạnh tranhcao Nguyên tắc này tạo điều kiện để cán cân thương mại giữa các ít bị thâm hụt hơn

về phía các nước đang phát triển Đối với các nước đang phát triển, nếu xuất hiệnthặng dư thương mại với các nước đang phát triển cũng có nghĩa là các nước đó đãxuất khẩu cả những mặt hàng mà chúng ta không có lợi thế so sánh Ngược lại, đối vớicác nước đang phát triển, việc nhập khẩu ồ ạt hàng hóa và dịch vụ từ các nước pháttriển thì cũng có nghĩa là nhập khẩu cả những mặt hàng mà chúng ta có lợi thế so sánh

Trang 27

1.2.2 Các yếu tố tác động đến quan hệ thương mại giữa hai quốc gia

Việc phát triển quan hệ thương mại giữa hai quốc gia có thể dựa trên nhiều yếu

tố khác nhau, có thể bao gồm sự tương đồng trong văn hóa, lịch sử của hai quốc gia; vịtrí địa lý, bối cảnh chính trị; sự phát triển về kinh tế của hai quốc gia; nhu cầu về pháttriển trong bối cảnh toàn cầu hóa về kinh tế quan hệ song phương về chính trị; các camkết thương mại tự do song phương và đa phương…Các yếu tố này vừa xuất phát từ cảhai phía, tạo nên lực đẩy và lực hút, vừa là các nhận tố hình thành, nhưng cũng đồngthời là các nhân tố tác động đến mối quan hệ thương mại giữa hai quốc gia

Các yếu tố này bao gồm cả các yếu tố tác động đến quan hệ thương mại hàng hóa

và thương mại dịch vụ giữa hai quốc gia, trong đó, các yếu tố chủ yếu bao gồm:

- Phát triển kinh tế:

+ Sự phát triển kinh tế của nước xuất khẩu đã tạo nên nền tảng sản xuất tốt, giúpcác nước có thể sản xuất hàng loạt, qua đó giảm chi phí sản xuất, tạo ra các sảnphẩm rẻ hơn, giúp thâm nhập vào nền kinh tế quốc tế tốt hơn

+ Việc tăng trưởng kinh tế ở nước nhập khẩu cũng sẽ góp phần tạo ra nhu cầu tăngđối với hàng hóa và dịch vụ không phải chỉ đối với hàng hóa trong nước mà cònđối với hàng ngoại nhập

- Chính sách thương mại quốc tế: Góp phần thúc đẩy quan hệ kinh tế đối ngoại

với các quốc gia khác

- Hoạt động đầu tư quốc tế: Tăng cường đầu tư quốc tế sẽ dẫn tới tăng thu hút

vốn đầu tư từ nước ngoài, kích thích sản xuất và có tác động gia tăng thương mạiquốc tế Vốn FDI cho phép tạo ra các ngành mới hoàn toàn hoặc thúc đẩy sự pháttriển của một số ngành quan trọng trong quá trình công nghiệp hoá đất nước.Thông qua quan hệ đầu tư, quan hệ thương mại giữa nước chủ đầu tư và nước tiếpnhận đầu tư cũng được thúc đẩy mạnh mẽ hơn

- Cơ sở hạ tầng: Cơ sở hạ tầng có tính quyết định đến năng lực sản xuất, năng lực

cạnh tranh và lợi thế của mỗi quốc gia khi tham gia vào nền kinh tế thế giới Các

Trang 28

quốc gia sở hữu nguồn lực về hạ tầng, đặc biệt là công nghệ hiện đại sẽ có lợi thếtrong việc giảm chi phí sản xuất, nâng cao năng suất, nâng cao chất lượng sảnphẩm, dịch vụ, mở rộng đa dạng hóa các loại hình sản phẩm, dịch vụ, tăng nguồncung cho thị trường quốc tế

- Cơ cấu sản phẩm hàng hóa, dịch vụ: Cơ cấu sản phẩm hiện đại, theo kịp xu thế

của thị trường thế giới sẽ giúp các quốc gia duy trì được lợi thế trong quan hệthương mại quốc tế

- Tỷ giá hối đoái

Chính sách tỷ giá hối đoái là một trong những chính sách kinh tế vĩ mô quantrọng của mỗi quốc gia Nếu đồng tiền của một quốc gia mạnh lên, hàng hóaxuất khẩu của quốc gia này ra nước ngoài sẽ đắt đỏ hơn và hàng hóa nhập khẩu

sẽ rẻ hơn Ngược lại, một đồng tiền yếu sẽ làm cho hàng hóa xuất khẩu của mộtquốc gia rẻ hơn và nhập khẩu đắt hơn ở thị trường nước ngoài Khi tỷ giá hốiđoái tăng cao, cán cân thương mại của một nước thường giảm đi và khi tỷ giáhối đoái thấp hơn, cán cân thương mại sẽ tăng

1.3 Khái quát về Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Hàn Quốc (VKFTA)

1.3.1 Cơ sở ra đời

- Hàn Quốc là đối tác đã có FTA với Việt Nam trong khuôn khổ FTA ASEAN–Hàn Quốc

- Cơ cấu sản phẩm của Hàn Quốc và Việt Nam phần lớn có tính bổ sung cho nhau,

ít cạnh tranh trực tiếp

- Quan hệ thương mại Việt Nam - Hàn Quốc:

+ Về Xuất Nhập khẩu : Từ năm 1992 đến 2014, kim ngạch thương mại hai chiềutăng từ 500 triệu USD lên hơn 26 tỷ USD Trong nhiều năm qua, Hàn Quốcluôn là đối tác thương mại lớn của Việt Nam Năm 2014, Hàn Quốc đứng thứ

Trang 29

3 trong số 10 đối tác lớn nhất của Việt Nam, là thị trường xuất khẩu lớn thứ 5

và thị trường nhập khẩu lớn thứ 2 của Việt Nam

+ Về Đầu tư: Trong nhiều năm qua, Hàn Quốc luôn là nhà đầu tư lớn nhất tạiViệt Nam Trong năm 2014, đầu tư của Hàn Quốc vào Việt Nam tiếp tục dẫnđầu với 505 dự án cấp mới, 179 dự án tăng vốn, với tổng số vốn đầu tư đăng

ký cấp mới và tăng vốn là 7,32 tỷ USD chiếm 36,2% tổng vốn đầu tư tại ViệtNam

→ Việc hợp tác và kí kết VKFTA sẽ mang lại nhiều tác động tích cực cho hai nước nói chung và cho VN nói riêng.

1.3.2 Quá trình đàm phán VKFTA của Việt Nam và Hàn Quốc

- Ngày 6/8/2012, hai bên khởi động đàm phán Trong khoảng thời gian từ 8/2012

– 12/2014, hai bên đã tiến hành 8 vòng đàm phán chính thức và 8 phiên họp giữa

kỳ, họp cấp Trưởng đoàn đàm phán

- Ngày 10/12/2014, hai bên ký kết Biên bản thỏa thuận về kết thúc đàm phán

VKFTA Cho đến ngày 29/3/2015, hai bên ký tắt VKFTA, hướng tới ký kết chínhthức Hiệp định trong vòng 6 tháng đầu năm 2015

- Hiệp định được ký kết ngày 5/5/2015 và chính thức có hiệu lực từ ngày

20/12/2015 So với FTA ASEAN – Hàn Quốc (AKFTA), trong VKFTA ViệtNam và Hàn Quốc dành thêm nhiều ưu đãi cho nhau trong cả lĩnh vực hàng hóa,dịch vụ và đầu tư Tuy nhiên, VKFTA không thay thế AKFTA mà cả hai FTAnày đều cùng có hiệu lực và doanh nghiệp có thể tùy chọn sử dụng FTA nào cólợi hơn

1.3.3 Nội dung chính của VKFTA

Hiệp định gồm 17 Chương (208 Điều), 15 Phụ lục và 01 Thỏa thuận thực thi quyđịnh

Các Chương chính là:

- Thương mại hàng hoá

Trang 30

+ Các quy định chung (gọi là cam kết lời văn) và

+ Các biểu cam kết thuế quan cụ thể (gọi là cam kết mở cửa thị trường)

- Quy tắc xuất xứ

- Thuận lợi hóa hải quan

- Phòng vệ thương mại

- Các biện pháp vệ sinh an toàn thực phẩm và kiểm dịch động thực vật (SPS)

- Hàng rào kỹ thuật trong thương mại (TBT)

- Thương mại Dịch vụ

+ Các quy định chung (gọi là cam kết lời văn) với các Phụ lục về Dịch vụ Viễnthông, Dịch vụ Tài chính, Di chuyển thể nhân

+ Các biểu cam kết mở cửa dịch vụ cụ thể (gọi là cam kết mở cửa thị trường)

- Đầu tư

- Sở hữu trí tuệ

- Thương mại Điện tử

- Cạnh tranh

- Minh bạch

- Hợp tác kinh tế

- Thể chế và các vấn đề pháp lý

Dưới đây là tóm lược một số nội dung chính trong VKFTA

(1) Thương mại hàng hóa

(1).1 Các cam kết thuế quan

Về cơ bản, các cam kết thuế quan trong VKFTA được xây dựng trên nền các cam kếtthuế quan trong FTA ASEAN

- Hàn Quốc (AKFTA), nhưng với mức độ tự do hóa cao hơn Nói cách khác,VKFTA sẽ cắt giảm thêm một số dòng thuế mà trong AKFTA chưa được cắtgiảm hoặc mức độ cắt giảm còn hạn chế

Trang 31

Cụ thể, so với AKFTA, trong VKFTA:

- Hàn Quốc sẽ xóa bỏ thêm cho Việt Nam 506 dòng thuế (chiếm 4,14% biểu thuế

và tương đương với 5,5% tổng kim ngạch nhập khẩu từ Việt Nam vào Hàn Quốcnăm 2012)

- Việt Nam sẽ xóa bỏ thêm cho Hàn Quốc 265 dòng thuế (chiếm 2,2% biểu thuế vàtương đương với 5,91% tổng kim ngạch nhập khẩu vào từ Hàn Quốc vào ViệtNam năm 2012)

Vì vậy, tổng hợp cả các cam kết trong VKFTA và AKFTA thì:

- Hàn Quốc sẽ xóa bỏ cho Việt Nam 11.679 dòng thuế (chiếm 95,44% biểu thuế vàtương đương với 97,22% tổng kim ngạch nhập khẩu từ Việt Nam vào Hàn Quốcnăm 2012)

- Việt Nam sẽ xóa bỏ cho Hàn Quốc 8.521 dòng thuế (chiếm 89,15% biểu thuế vàtương đương 92,72% tổng kim ngạch nhập khẩu từ Hàn Quốc vào Việt Nam năm2012)

Bảng 1 – Cam kết thuế quan trong VKFTA và AKFTA

Trang 33

Bảng 2– Về các dòng thuế Hàn Quốc xóa bỏ cho Việt Nam trong VKFTA1

Trang 34

Bảng 3 – Về các dòng thuế Việt Nam cam kết xóa bỏ cho Hàn Quốc

Trang 35

Bảng 4 – Hạn ngạch thuế quan của Hàn Quốc đối với một số sản phẩm tôm Việt NamVKFTA

Loại sản phẩm

Mức hạn ngạch áp dụng

Cách đọc biểu thuế quan

Biểu cam kết thuế quan của Việt Nam và Hàn Quốc được quy định trong các Phụlục riêng (các Phụ lục 2-A), chia thành 02 Phần:

Trang 36

- Phần A (Sector A) – Bao gồm chủ yếu các dòng thuế còn duy trì thuế suất cơ sở5ở mức tương đối cao: Các dòng thuế này sẽ được thực hiện lộ trình giảm thuếtheo như quy định cụ thể tại Biểu thuế.

- Phần B (Sector B) – Bao gồm chủ yếu các dòng thuế mà mức thuế suất cơ sở đãvề 0% (chỉ còn một số ít dòng duy trì ở mức 5%, 10%): Các dòng thuế này đượcquy định cụ thể về mức cắt giảm cho từng năm 2016, 2017 trong Biểu thuế và tấtcả sẽ về 0% từ năm 2018 trở đi

Bảng 5 - Các ký hiệu trong biểu thuế quan (chỉ dành cho phần A)

Trang 37

(1).2 Cam kết về Quy tắc xuất xứ:

Để được hưởng ưu đãi thuế quan trong VKFTA, hàng hóa phải đáp ứng được cácquy tắc xuất xứ của Hiệp định

Tiêu chí xuất xứ

Theo quy định tại Hiệp định, hàng hóa sẽ được coi là có xuất xứ tại một Bên (ViệtNam hoặc Hàn Quốc) nếu đáp ứng được một trong các điều kiện sau:

- Có xuất xứ thuần túy hoặc được sản xuất toàn bộ tại lãnh thổ của Bên xuất khẩu;

- Được sản xuất toàn bộ tại lãnh thổ của Bên xuất khẩu và chỉ từ các nguyên liệu cóxuất xứ; hoặc

Trang 38

- Không có xuất xứ thuần túy hoặc không được sản xuất toàn bộ tại lãnh thổ củaBên xuất khẩu nhưng đáp ứng được các yêu cầu về quy tắc xuất xứ được quy địnhcụ thể trong Phụ lục về Quy tắc xuất xứ cụ thể từng mặt hàng (Phụ lục 3-A) hoặcPhụ lục về các hàng hóa đặc biệt (Phụ lục 3-B)

Nói chung, Quy tắc xuất xứ trong VKFTA chặt hơn so với AKFTA nhưng vẫn tươngđối đơn giản Nhìn chung, để được hưởng ưu đãi thuế quan theo VKFTA, hàng hóa cầnđáp ứng được một trong các tiêu chí sau:

- Tỷ lệ Hàm lượng giá trị khu vực (RVC) theo quy định (thường là trên 40%);

- Chuyển đổi mã HS (2 số, 4 số hoặc 6 số); hoặc

- Trải qua một công đoạn sản xuất hoặc chế biến nhất (các sản phẩm dệt may) Hộp 1 - Cách tính Hàm lượng giá trị khu vực (RVC) trong VKFTA

VKFTA quy định 02 cách tính RVC – Cách tính trực tiếp và gián tiếp Tùy theo

cách tính nào có lợi hơn, doanh nghiệp có thể sử dụng theo cách đó:

- Cách tính trực tiếp (còn gọi là phương pháp Build-Up):

RVC VOM / FOB 100% Trong đó VOM là trị giá của các nguyên liệu có xuất xứ (bao gồm trị giá của chi

phí nguyên liệu có xuất xứ, chi phí lao động, chi phí sản xuất chung (overhead

cost), lợi nhuận và các chi phí khác, trong đó:

i) Chi phí nguyên liệu là trị giá nguyên liệu, bộ phận hay hàng hóa có

xuất xứ do người sản xuất mua hoặc tự sản xuất;

ii) Chi phí lao động bao gồm lương, thưởng và các khoản phúc lợi khác

cho người lao động;

iii) Chi phí sản xuất chung là tất cả các chi phí phát sinh tại nơi sản xuất

mà không phải là chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và chi phí tiền lương

trực tiếp (như chi phí điện, nước…); và

Trang 39

iv) Các chi phí khác bao gồm các chi phí liên quan đến việc xếp hàng lên

tàu hoặc các phương tiện vận tải khác để xuất khẩu hàng, bao gồm

nhưng không giới hạn bởi các chi phí vận chuyển nội địa, lưu kho bãi,

bốc dỡ hàng tại cảng, phí môi giới và phí dịch vụ

- Cách tính gián tiếp (còn gọi là phương pháp Buil-Down)

RVC FOB VNM / FOB 100% Trong đó VNM là trị giá nguyên liệu không có xuất xứ, cụ thể là:

i) Trị giá CIF của nguyên liệu, bộ phận hay hàng hóa tại thời điềm nhập

khẩu; hoặc

ii) Giá mua đầu tiên xác định được của nguyên liệu, bộ phận hay hàng hóa

không xác định được xuất xứ tại lãnh thổ của Bên nơi diễn ra các công

đoạn sản xuất hoặc chế biến

Cộng gộp xuất xứ

Giống như nhiều FTA khác, VKFTA cho phép cộng gộp xuất xứ, nghĩa là nguyênliệu dù được sản xuất từ Việt Nam hay Hàn Quốc đều được coi là có xuất xứ trong quátrình tính toán Hàm lượng khu vực (RVC) để được hưởng ưu đãi thuế quan theo Hiệpđịnh

Tỷ lệ không đáng kể (De Minimis)

Hàng hóa không đáp ứng được tiêu chí xuất xứ chuyển đổi mã HS vẫn được coi

là có xuất xứ nếu:

- Đối với các hàng hóa không thuộc các Chương từ 50 đến 63 trong Hệ thống Hàihòa (HS), trị giá của tất cả các nguyên liệu không có xuất xứ không vượt quá 10%trị giá FOB của hàng hóa, và

Trang 40

- Đối với các hàng hóa thuộc các Chương từ 50 đến 63 trong Hệ thống Hài hòa(HS), trọng lượng của tất cả các nguyên liệu không có xuất xứ không vượt quá10% tổng trọng lượng hàng hóa, hoặc giá trị của tất cả các nguyên liệu không cóxuất xứ không được vượt quá 10% trị giá FOB của hàng hóa

Quy định đối với một số hàng hóa đặc biệt

Hiệp định bao gồm một Phụ lục (3-B) về 100 hàng hóa đặc biệt (Danh mục cáchàng hóa này có thể được sửa đổi nếu được cả hai Bên đồng ý)

Đây là các loại hàng hóa được sản xuất hoặc gia công chế biến tại Khu côngnghiệp Khai Thành thuộc Bán đảo Triều Tiên Hiệp định có quy định riêng về xuất xứ và

cơ chế tự vệ đối với loại hàng hóa này Cụ thể:

- Quy định về xuất xứ: Hàng hóa vẫn được xem là có xuất xứ dù được sản xuấthoặc gia công chế biến tại Khu công nghiệp Khai Thành thuộc Bán đảo TriềuTiên từ nguyên liệu xuất khẩu từ một Bên (Hàn Quốc là chủ yếu), sau đó được táinhập trở lại Bên đó, với điều kiện tổng giá trị nguyên liệu đầu vào không có xuấtxứ không vượt quá 40% trị giá FOB của hàng hóa

- Cơ chế tự vệ đặc biệt:

Điều kiện áp dụng: Khi một Bên (Việt Nam là chủ yếu) xác định số lượng nhậpkhẩu các sản phẩm đặc biệt được áp dụng Quy định về xuất xứ ở trên đang tăng lên,theo đó có thể gây ra hoặc đe dọa gây ra tổn thất nghiêm trọng đối với ngành sản xuấttrong nước, thì Bên đó được tự do đình chỉ việc áp dụng Quy định xuất xứ đó trongmột khoảng thời gian mà Bên đó coi là cần thiết để ngăn chặn hoặc đối phó với tổnthất hoặc đe dọa tổn thất đối với ngành sản xuất trong nước

Thông báo áp dụng: Việc đình chỉ của một Bên (Việt Nam là chủ yếu) phải đượcthông báo cho Bên kia 02 tháng trước khi bắt đầu giai đoạn đình chỉ và phải cho phépBên kia có cơ hội để trao đổi về việc này, trừ trường hợp khẩn cấp nếu việc đình chỉ bị

Ngày đăng: 19/05/2021, 02:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w