1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quá trình đô thị hóa ở quận tân phú, thành phố hồ chí minh từ năm 2003 đến năm 2015

198 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 198
Dung lượng 3,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Về phạm vi nội dung: Đô thị hóa là một vấn đề rộng lớn, trong khuôn khổ của bản luận án này, phạm vi nội dung của luận án tập trung nghiên cứu các vấn đề sau: Những yếu tố tác động đến

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN BÁ CƯỜNG

QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA

Ở QUẬN TÂN PHÖ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TỪ NĂM 2003 ĐẾN NĂM 2015

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ

HÀ NỘI - 2021

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN BÁ CƯỜNG

QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA

Ở QUẬN TÂN PHÖ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các tài liệu, số liệu đƣợc sử dụng trong luận án là trung thực, có nguồn gốc và đƣợc trích dẫn rõ ràng theo quy định Những kết luận của luận án chƣa đƣợc công

bố trong bất kỳ công trình khoa học nào khác

Tác giả

Nguyễn Bá Cường

Trang 4

DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ

CNH, HĐH Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chư ng 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHI N CỨU LI N QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 6

1.1 Các công trình nghiên cứu về đô thị và đô thị hoá ở Việt Nam 6

1.1.1 Những nghiên cứu về đô thị và đô thị hóa ở Việt Nam 6

1.1.2 Những nghiên cứu về đô thị hóa ở Thành phố Hồ Chí Minh và quận Tân Phú 10 1.1.3 Những nghiên cứu về đô thị và đô thị hóa ở nước ngoài có liên quan đến đề tài luận án 14

1.2 Kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã công bố và những vấn đề luận án tiếp tục giải quyết 19

1.2.1 Kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã công bố 19

1.2.2 Những vấn đề luận án tiếp tục giải quyết 20

Chư ng 2: QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA QUẬN TÂN PHÖ TỪ NĂM 2003 ĐẾN NĂM 2010 22

2.1 Khái niệm đô thị, đô thị hóa và tiêu chí đánh giá đô thị hóa 22

2.1.1 Khái niệm đô thị, đô thị hóa 22

2.1.2 Tiêu chí đánh giá đô thị hóa 23

2.2 Khái quát về sự ra đời và những yếu tố tác động đến quá trình đô thị hóa quận Tân Phú 24

2.2.1 Sự thay đổi về địa giới hành chính, tên gọi của quận Tân Phú trước khi tách khỏi quận Tân Bình và việc thành lập quận Tân Phú 24

2.2.2 Điều kiện tự nhiên, kinh tế và văn hoá, xã hội trước khi quận Tân Phú ra đời 27 2.2.3 Chủ trư ng, chính sách về đô thị hóa của Đảng, Chính phủ, Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh và quận Tân Phú 31

2.3 Quá trình quy hoạch đô thị quận Tân Phú 35

2.3.1 Quy hoạch mở rộng không gian đô thị quận 35

2.3.2 Xây dựng c sở vật chất và hạ tầng đô thị 37

2.3.3 Phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thư ng mại và dịch vụ 41

2.3.4 Dân cư đô thị 47

2.4 Quản lý đô thị quận Tân Phú 48

2.4.1 Sự quản lý của chính quyền quận Tân Phú 48

2.4.2 Công tác quản lý đất đai, nhà ở, sở hữu tài sản và c sở hạ tầng đô thị 50

2.4.3 Quản lý về cảnh quan, tài nguyên, môi trường đô thị 52

2.4.4 Công tác thông tin tuyên truyền 54

Trang 6

2.4.5 Giám sát quy hoạch và trật tự đô thị 57

2.4.6 Đảm bảo đời sống nhân dân và phát triển văn hóa, giáo dục 60

Tiểu kết 63

Chư ng 3: QUẬN TÂN PHÖ ĐẨY MẠNH QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA TỪ NĂM 2010 ĐẾN NĂM 2015 64

3.1 Những yếu tố mới tác động đến quá trình đô thị hóa của quận Tân Phú 64

3.2 Công tác quy hoạch đô thị 67

3.2.1 Mở rộng không gian đô thị 67

3.2.2 C sở vật chất và hạ tầng đô thị 69

3.2.3 Phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thư ng mại và dịch vụ 72

3.2.4 Dân cư đô thị 81

3.3 Công tác quản lý đô thị quận Tân Phú 83

3.3.1 Sự quản lý của chính quyền quận Tân Phú 83

3.3.2 Quản lý đất đai, nhà ở, sở hữu tài sản, c sở hạ tầng đô thị 85

3.3.3 Quản lý về cảnh quan, tài nguyên, môi trường đô thị 88

3.3.4 Đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia xây dựng đô thị 89

3.3.5 Giám sát quy hoạch và trật tự đô thị 91

3.3.6 Sự chuyển biến về lối sống dân cư đô thị và công tác quản lý, đảm bảo đời sống dân cư 93

Tiểu kết 96

Chư ng 4: NHẬN XÉT VỀ QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA QUẬN TÂN PHÖ VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM 97

4.1 Thành tựu, hạn chế và nguyên nhân 97

4.1.1 Thành tựu 97

4.1.2 Hạn chế 124

4.2 Đặc điểm của quá trình đô thị hóa quận Tân Phú 129

4.3 Một số kinh nghiệm 135

Tiểu kết 141

KẾT LUẬN 142

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LI N QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 147

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 148

PHỤ LỤC 162

Trang 7

DANH MỤC BẢNG BIỂU, BẢN ĐỒ

Biểu đồ 2.1 Giá trị sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp quận Tân

Bảng 3.1 Cơ sở hạ tầng giao thông quận Tân Phú đến năm 2015 70

Biểu đồ 3.1 Giá trị sản xuất công nghiệp - thủ công nghiệp, xây dựng quận

Biểu đồ 3.2 Tổng doanh thu thương mại - dịch vụ quận Tân Phú

Bảng 3.2 Dân số trung bình năm của quận Tân Phú chia theo phường 82

Bảng 4.1 Thu nộp ngân sách của quận Tân Phú từ năm 2003 đến năm 2010 102

Bảng 4.2 Thu nộp ngân sách của quận Tân Phú từ năm 2011 đến năm 2015 103

Bảng 4.3 Dân số và biến động dân số ở quận Tân Phú (2008-2012) 110

Bảng 4.4 Số liệu công tác xóa đói giảm nghèo ở quận Tân Phú đến năm

Trang 8

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật và sự phát triển nhanh của kinh tế công - thương nghiệp, đặc biệt là cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 hiện nay đã làm thay đổi nhiều mặt của đời sống xã hội, ảnh hưởng mạnh mẽ đến quá trình đô thị hóa đã và đang diễn ra trên toàn thế giới, trong đó có Việt Nam Đô thị hóa là một trong những giải pháp quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế, xã hội của Việt Nam nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển mạnh các ngành công nghiệp, thương mại - dịch vụ, du lịch, thu hẹp dần tỷ trọng nông nghiệp, đáp ứng mục tiêu CNH, HĐH do Đảng và Nhà nước Việt Nam đề ra trong giai đoạn 2000-2020, qua đó góp phần đẩy nhanh quá trình phát triển kinh tế, xã hội và từng bước nâng cao đời sống nhân dân

Quận Tân Phú nằm ở phía Tây của Thành phố Hồ Chí Minh, được thành lập

từ năm 2003 trên cơ sở tách ra từ quận Tân Bình Nằm ở vị trí cửa ngõ và là một quận tương đối lớn, nên sự phát triển của quận Tân Phú gắn bó mật thiết với sự phát triển chung của Thành phố Hồ Chí Minh là địa phương có tốc độ phát triển kinh tế

xã hội và quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ nhất cả nước Chịu tác động bởi quá trình đô thị hóa, cùng với chủ trương mở rộng, phát triển nội thị của Thành phố Hồ Chí Minh, quá trình đô thị hóa ở quận Tân Phú đã diễn ra nhanh chóng và đạt được nhiều thành tựu quan trọng Nghiên cứu đô thị hoá của quận Tân Phú để thấy rõ bước khởi đầu của việc quy hoạch và xây dựng đô thị của một quận mới - quận nội thành và nội dung xây dựng đối với một đô thị ở thời điểm hiện tại của Việt Nam

Cũng giống như sự phát triển chung của nhiều đô thị khác trong cả nước, quá trình đô thị hóa ở quận Tân Phú đã và đang đặt ra nhiều vấn đề cần được quan tâm giải quyết Bên cạnh những mặt tích cực, đô thị hóa ở quận Tân Phú cũng có bất cập

và đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết như: Lao động và việc làm, nhất là việc làm cho người nông dân không còn đất để sản xuất nông nghiệp; áp lực tăng nhanh của dân số đối với các vấn đề xã hội; tác động của đô thị hóa đến môi trường sinh thái Bên cạnh đó, một đô thị hiện đại cần có một hệ thống hạ tầng tốt, việc này không chỉ thúc đẩy đô thị phát triển về cấu trúc đô thị mà các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, đời sống nhân dân cũng phải được nâng cao, văn minh, hiện đại hơn Phương thức phát triển hạ tầng hợp lý có vai trò quyết định tới sự phát triển bền vững của đô thị chứ không chỉ nhìn nhận trên giải pháp thiết kế hay quy hoạch Đây

Trang 9

và hạn chế để tham khảo góp phần vào công cuộc phát triển đô thị bền vững ở Thành phố Hồ Chí Minh nói chung và quận Tân Phú nói riêng trong các thời kỳ tiếp theo

Nghiên cứu về đô thị hóa đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của các chuyên gia, các nhà quản lý và nhiều nhà nghiên cứu ở những chuyên ngành khác nhau Cũng

đã có những nghiên cứu chuyên sâu và các bài viết đăng trên các tạp chí khoa học chuyên ngành theo từng lĩnh vực về quá trình đô thị hóa ở Việt Nam Nhưng đến nay vẫn chưa có một nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện, có hệ thống về quá trình đô thị hóa quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh Do đó, việc nghiên cứu quá trình đô thị hóa của quận Tân Phú nhằm hiểu rõ hơn về những thuận lợi, khó khăn trong quá trình

đô thị hóa và rút ra những kinh nghiệm cần thiết, góp phần cung cấp cơ sở khoa học

và thực tiễn giúp cho các cơ quan chức năng trong việc hoạch định chủ trương, chính sách về đô thị hóa và cung cấp những kinh nghiệm bổ ích cho các địa phương khác

Do đó kết quả nghiên cứu đề tài là cần thiết và có ý nghĩa khoa học Trên những ý

nghĩa đó, tôi quyết định chọn nghiên cứu về “Quá trình đô thị hoá ở Quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2003 đến năm 2015” làm đề tài Luận án

- Làm rõ quá trình chuyển biến về quy hoạch đô thị và công tác quản lý đô thị

ở quận Tân Phú từ sau khi thành lập (năm 2003);

Trang 10

3

- Làm rõ những chuyển biến trên các lĩnh vực kinh tế, cơ sở hạ tầng, văn hóa,

xã hội, đời sống của dân cư quận Tân Phú trong quá trình đô thị hóa (2003-2015);

- Đưa ra những nhận xét, đánh giá khách quan, khoa học về quá trình đô thị hóa quận Tân Phú trong hơn 10 năm (2003-2015)

3 Đối tư ng và phạm vi nghiên cứu của luận án

3.1 ối t ng nghiên cứu Quá trình đô thị hóa quận Tân Phú từ năm 2003 đến năm 2015

3.2 Ph m vi nghiên cứu

Về phạm vi không gian: Toàn bộ địa bàn Quận Tân Phú từ năm 2003-2015,

bao gồm 11 phường: Hiệp Tân, Hòa Thạnh, Phú Thạnh, Phú Thọ Hòa, Phú Trung,

Sơn Kỳ, Tân Quý, Tân Sơn Nhì, Tân Thành, Tân Thới Hòa, Tây Thạnh

Về phạm vi thời gian: Từ năm 2003 đến năm 2015

Luận án chọn mốc năm 2003 bắt đầu nghiên cứu vì năm 2003 quận Tân Phú được thành lập Năm 2015 là năm kết thúc nghiên cứu của luận án vì quận Tân Phú

đã trải qua hơn 10 năm đô thị hóa, đã đủ thời gian để tống kết, đánh giá tuy mới chỉ đạt bước đầu về những thành công quan trọng và những tồn tại hạn chế trong quá trình quy hoạch, quản lý đô thị và ổn định đời sống nhân dân trên địa bàn quận Ngoài ra, để có cái nhìn toàn diện và có thêm những cơ sở để đánh giá về quá trình

đô thị hoá quận Tân Phú, trong quá trình thực hiện luận án, tác giả đã đề cập đến một số vấn đề có liên quan đến đề tài trước năm 2003 và sau năm 2015

Về phạm vi nội dung:

Đô thị hóa là một vấn đề rộng lớn, trong khuôn khổ của bản luận án này, phạm vi nội dung của luận án tập trung nghiên cứu các vấn đề sau: Những yếu tố tác động đến sự chuyển biến quá trình đô thị hóa quận Tân Phú từ năm 2003 đến năm 2015; Quá trình chuyển biến về quy hoạch đô thị, sự thay đổi diện mạo của quận Tân Phú trên nhiều khía cạnh từ chủ trương, chính sách xây dựng và phát triển đô thị, quy hoạch về kiến trúc đến thay đổi về địa giới hành chính và môi trường đô thị; Quá trình chuyển biến về công tác quản lý đô thị quận Tân Phú (quản lý nhà đất, xây dựng đô thị, đường xá giao thông, quản lý vệ sinh môi trường đô thị, an ninh trật tự); Quá trình chuyển biến về sinh hoạt đô thị (dân cư đô thị, đời sống dân cư, lao động việc làm, các ngành kinh tế đô thị, văn hóa, xã hội, y tế, giáo dục)

4 C sở lý luận, phư ng pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu

Cơ sở lý luận Luận án dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư

tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước về

Trang 11

4

phát triển kinh tế, xã hội nói chung, về quy hoạch xây dựng và phát triển đô thị trong

thời kỳ CNH, HĐH và hội nhập quốc tế ở Việt Nam

Luận án sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin làm cơ sở phương pháp luận nghiên cứu Phương pháp luận duy vật biện chứng nhằm nghiên cứu những biến chuyển về kinh tế - xã hội và những thay đổi trong lối sống của dân cư dưới tác động của đô thị hóa của quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh Phương pháp luận duy vật lịch sử nhằm xem xét những chuyển biến đó trong những điều kiện lịch sử cụ thể và theo trình tự thời gian phù hợp với tiến trình phát triển của lịch sử, làm rõ mối quan hệ chặt chẽ giữa phương pháp tiếp cận lịch sử với các phương pháp tiếp cận liên ngành và đa ngành

Ph ơng pháp nghiên cứu Luận án sử dụng hai phương pháp nghiên cứu

chủ yếu là phương pháp lịch sử và phương pháp logic

Với phư ng pháp lịch sử, luận án trình bày quá trình đô thị hóa ở quận Tân

Phú trải qua các giai đoạn phát triển theo lịch đại và đồng đại từ năm 2003 đến năm

2015 trên các chiều cạnh khác nhau Phư ng pháp logic để xem xét các vấn đề, các

nội dung nghiên cứu theo một trật tự đảm bảo sự hợp lý và chiều hướng phát triển tất yếu của quá trình đô thị hóa

Bên cạnh đó, luận án còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu liên ngành, đa ngành như: phân tích, tổng hợp, so sánh đối chiếu, phân tích, xử lý thông tin để thẩm định làm phong phú thêm nguồn tư liệu của luận án Ngoài ra, luận án còn sử dụng phương pháp khác như: khu vực học, điền dã, khảo sát thực địa

guồn tài li u

Trước hết là các văn kiện, chỉ thị, nghị quyết của Đảng, Nhà nước và của

Thành ủy, UBND Thành phố Hồ Chí Minh, Tổng cục thống kê, các sở Ban ngành

thuộc Thành phố Hồ Chí Minh về những vấn đề có liên quan đề tài luận án Thứ hai

là các tài liệu, báo cáo tổng kết các ngành, các lĩnh vực hàng năm của Quận Tân Phú

từ năm 2003 đến năm 2015, số liệu thống kê hàng năm của quận Tân Phú và các

phòng chuyên môn trực thuộc quận Tân Phú Thứ ba là các công trình nghiên cứu,

sách, bài tạp chí, kỷ yếu hội thảo khoa học, luận văn, luận án có liên quan về đô thị,

đô thị hóa

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án

- Luận án tập hợp và hệ thống hóa khối lượng tài liệu về đô thị hóa nói chung

và đô thị hóa ở Thành phố Hồ Chí Minh, quận Tân Phú nói riêng, trên cơ sở đó dựng lại một cách toàn diện, có hệ thống về quá trình đô thị hóa ở quận Tân Phú, Thành phố

Hồ Chí Minh từ năm 2003 đến năm 2015

Trang 12

5

- Luận án phân tích và làm rõ quá trình đô thị hóa quận Tân Phú từ năm 2003 đến năm 2015 trên các nội dung: Quá trình chuyển biến về quy hoạch đô thị trên nhiều khía cạnh từ chủ trương, chính sách xây dựng và phát triển đô thị, kiến trúc đến thay đổi về địa giới hành chính và môi trường đô thị; Quá trình chuyển biến về công tác quản lý đô thị như: quản lý nhà đất, xây dựng đô thị, giao thông, quản lý vệ sinh môi trường đô thị, an ninh trật tự; Quá trình chuyển biến về sinh hoạt đô thị gồm: dân

cư đô thị, đời sống dân cư, lao động việc làm, các ngành kinh tế đô thị, văn hóa, xã hội, y tế, giáo dục

- Luận án làm rõ đặc điểm, thành tựu, hạn chế và nguyên nhân, nêu lên một số kinh nghiệm trong quá trình đô thị hóa ở quận Tân Phú từ năm 2003 đến năm 2015

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

Ý nghĩa lý luận: Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp thêm luận cứ khoa

học cho các nhà quản lý và các nhà hoạch định chính sách trong xây dựng cũng như

tổ chức thực hiện có hiệu quả chủ trương đô thị hóa đối với các địa phương trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập quốc tế

Ý nghĩa thực tiễn: Cung cấp thêm cơ sở thực tiễn cho các nhà quản lý và các

nhà hoạch định chính sách đề ra chủ trương và chỉ đạo thực hiện có hiệu quả trong quá trình xây dựng và phát triển đô thị ở Việt Nam hiện nay Luận án làm tài liệu tham khảo phục vụ cho công tác nghiên cứu, giảng dạy học tập về lịch sử Việt Nam hiện đại nói chung, về quá trình đô thị hóa và văn hóa đô thị ở Việt Nam nói riêng

7 Bố cục của luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, nội dung luận án được bố cục thành 4 chương:

Chư ng 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

Chư ng 2 Quá trình đô thị hóa quận Tân Phú từ năm 2003 đến năm 2010 Chư ng 3 Quận Tân Phú đẩy mạnh quá trình đô thị hóa từ năm 2010 đến năm 2015

Chư ng 4 Một số nhận xét về quá trình đô thị hóa quận Tân Phú và một số kinh nghiệm

Trang 13

6

Chư ng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHI N CỨU

LI N QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.1 Các công trình nghiên cứu về đô thị và đô thị hoá ở Việt Nam

1.1.1 hững nghiên cứu về đô thị và đô thị hóa ở Vi t am

Ở Việt Nam vấn đề đô thị và đô thị hóa đã được nhiều nhà nghiên cứu ở trong và ngoài nước nghiên cứu tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau như: Sử học, kinh tế học,

xã hội học, nhân học, địa lý học, kiến trúc,…

Nghiên cứu về vấn đề dân số và nhà ở đô thị đáng chú ý là cuốn Dân số và nhà ở

đô thị của Phạm Văn Trình (Nxb Xây dựng, Hà Nội, 1987) Trong đó, tác giả nghiên

cứu về chính sách, biện pháp và phương hướng kỹ thuật nhằm giải quyết vấn đề nhà ở

đô thị, môi trường đô thị và vấn đề dân số

Tác giả Trương Quang Thao trong công trình nghiên cứu về Đô thị hôm qua, hôm nay và ngày mai (Nxb Xây dựng, Hà Nội, 1988), tác giả đã nghiên cứu làm rõ một

số vấn đề về đô thị trong quá khứ, hiện tại và tương lai với một số nội dung như: Đô thị hoá, sự bùng nổ dân số, cuộc sống trong đô thị, sự phát triển và tàn tạ của đô thị Trên

cơ sở đó, tác giả nghiên cứu tìm ra những phương hướng và giải pháp cho việc điều chỉnh, quy hoạch xây dựng đô thị trong tương lai

Ở góc độ sử học, đáng chú ý là công trình nghiên cứu Đô thị cổ Việt Nam do

Viện Sử học xuất bản năm 1989 Đây là một công trình tập hợp nhiều bài viết của các nhà nghiên lịch sử về các đô thị cổ trong tiến trình phát triển của lịch sử Việt Nam Các tác giả nhận định, thế kỷ XVII - XVIII là thời kỳ hưng khởi của đô thị cổ Việt Nam Thời kỳ này, nhiều đô thị Việt Nam xuất hiện và đạt được những thành tựu đáng kể Hàng loạt các đô thị trở nên nổi tiếng, trong đó phải kể đến Thăng Long - Kẻ Chợ, Thanh Hà, Phố Hiến, Hội An Một thời, Phố Hiến là một đô thị thương cảng phát triển rực rỡ, một trung tâm đô hội với rất nhiều ngành nghề, nơi tụ hội buôn bán giữa các

vùng miền Đại Nam nhất thống chí mô tả: N i đây phong vật phồn thịnh, nhà ngói như bát úp Trong đó, có nhiều bài viết nghiên cứu sâu về quá trình hình thành, phát triển

của các đô thị như Thăng Long, Hoa Lư, Phố Hiến, Hội An

Các nghiên cứu về văn hóa đô thị và lối sống đô thị đã ngày càng thu hút được

sự quan tâm nghiên cứu của nhiều học giả , trong số đó có thể kể đến cuốn Lối sống trong đời sống đô thị hiện nay của tác giả Lê Như Hoa (Nxb Văn hóa Thông tin, Hà

Nội, 1993) Sách là tập hợp những bài viết nghiên cứu về lối sống đô thị Theo nhận

Trang 14

7

định của các tác giả thì lối sống đô thị là nhân tố quy định nét đặc thù của đô thị, nội dung của lối sống đô thị rất rộng gồm: nếp sống văn hóa đô thị, lối sống tiểu nông thực dụng trong xã hội đô thị, giao tiếp văn hóa hay giao lưu văn hóa ở đô thị, quản lý

đô thị, lối sống vùng ngoại vi, văn hóa gia đình, giáo dục thẩm mỹ, nghệ thuật, tuổi trẻ

đô thị, giáo dục trẻ em, tiêu dùng văn hóa, thời trang, nhà ở,

Nghiên cứu về đô thị hóa đáng chú ý là công trình Đô thị Việt Nam gồm tập 1

và tập 2 của tác giả Đàm Trung Phường (Nxb Xây Dựng, Hà Nội, 1995) Công trình này đã tập trung giải quyết hai vấn đề chính là: Đánh giá thực trạng mạng lưới đô thị Việt Nam và Nghiên cứu - định hướng phát triển trong bối cảnh đô thị hoá thế giới và bước sang CNH, HĐH của thời kỳ đổi mới Bên cạnh đó, tác giả cũng mở rộng những khái niệm về đô thị học có quan hệ với những tiến bộ của khoa học thế giới Đây là một trong những công trình quan trọng góp phần gợi mở cho các nhà nghiên cứu khác và bạn đọc hướng tiếp cận các vấn đề lý luận về đô thị nói chung cũng như đại cương về

đô thị hoá ở Việt Nam nói riêng Tuy nhiên, như chính tác giả của công trình đã giới thiệu, cuốn sách cũng chưa có điều kiện đi sâu vào từng đô thị, mà mới dừng ở những cấp vĩ mô

Tác giả Trần Cao Sơn trong cuốn Dân số và tiến trình đô thị hóa - Động thái phát triển và triển vọng (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1995) đã đề cập đến mức độ đô

thị hóa, quy mô dân số đô thị, các tụ điểm đô thị lớn nhất thế giới, cấu trúc hệ thống đô thị, đặc điểm và triển vọng đô thị hóa ở Việt Nam Một điểm lưu ý trong công trình này

là tác giả đã nêu đặc điểm hệ thống cấu trúc đô thị theo “không gian chùm”, “đô thị chuỗi”, “cấu trúc đô thị theo không gian điểm”

Bên cạnh đó vấn đề nhà ở cũng là một trong những nội dung của vấn đề của đô

thị hóa Nghiên cứu vấn đề này có thể kể đến các công trình như: Vấn đề nhà ở đô thị trong nền kinh tế thị trường của thế giới thứ ba (1996), Các đô thị lớn của Việt nam và trên thế giới (1998), Tác động kinh tế - xã hội của Đổi mới trong lĩnh vực nhà ở đô thị

(1998)…

Công trình Lối sống đô thị miền Trung, mấy vấn đề lý luận và thực tiễn của tác

giả Lê Như Hoa (Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 1996) là tập hợp các bài viết về nhiều vấn đề của đời sống văn hóa đô thị miền Trung như: Vai trò của nhân cách trong lối sống đô thị, tính hai mặt trong sự phát triển nhân cách; môi trường sinh thái; phân tầng xã hội và phân tầng về văn hóa; lối sống đô thị, nếp sống Thiên chúa giáo; văn hóa cảng đô thị miền Trung, ảnh hưởng của đạo Phật với lối sống; trang phục Huế; giá trị văn hóa của cư dân đô thị cổ Hội An

Trang 15

8

Tác giả Nguyễn Viết Chức có nhiều công trình nghiên cứu, bài viết về Hà Nội Tác giả đã dành nhiều quan tâm, nghiên cứu về đời sống văn hóa, tinh thần của người

dân Hà Nội Trong cuốn Nếp sống người Hà Nội (Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội,

2001) của Nguyễn Viết Chức (Chủ biên) đã không bàn trực tiếp vào văn hóa đô thị, mà xem xét nếp sống người Hà Nội trong các mối quan hệ “lẽ sống” và “lối sống” Theo các tác giả thì lẽ sống là mặt ý thức của lối sống, còn nếp sống là mặt ổn định của lối sống Nói cách khác, lối sống là cơ sở đầu tiên để hình thành nếp sống và lẽ sống thì dẫn dắt lối sống Lối sống được hình thành trên cơ sở những điều kiện sinh hoạt vật chất nhất định Nếp sống vừa phản ánh nhu cầu khách quan của đời sống xã hội, vừa thể hiện ý chí chủ quan của con người Nếp sống bao gồm những cách thức hay những quy ước đã trở thành thói quen trong sản xuất như: săn bắn, trồng cây; trong sinh hoạt như:

ăn, mặc, ở; trong tổ chức đời sống xã hội như: phong tục, lễ nghi, đạo đức, pháp luật

Cuốn Ảnh hưởng của đô thị hóa đến nông thôn ngoại thành Hà Nội: thực trạng

và giải pháp tác giả Lê Du Phong (Chủ biên) (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002)

đã trình bày về tốc độ đô thị hóa tại khu vực ngoại thành Hà Nội trong giai đoạn

1991-2000 Quá trình đô thị hóa một mặt góp phần làm thay đổi diện mạo của các làng quê trước đó của khu vực ngoại thành, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao đời sống của nhân dân Mặt khác, cũng chính do tốc độ đô thị hóa nhanh chóng đã phát sinh nhiều vấn đề cần phải giải quyết Nội dung cuốn sách còn phân tích, nhận xét thực trạng ảnh hưởng tích cực và những hạn chế vướng mắc trong quá trình đô thị hóa nông thôn ngoại thành Hà Nội, đồng thời nêu những bức xúc trong quá trình giải quyết đền bù khi bị thu hồi đất Từ đó các tác giả đã đưa ra những kiến nghị đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm giải quyết những khó khăn bất cập do quá trình đô thị hóa ở khu vực nông thôn hiện nay và những phương án đền bù khi thu hồi đất sản xuất nông nghiệp

Năm 2005, tác giả Trịnh Duy Luân trong công trình nghiên cứu về Xã hội học

đô thị (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2005) đã cho chúng ta cách tiếp cận nghiên cứu

về các vấn đề xã hội trong khu vực đô thị Trong công trình này, các vấn đề như: dân

cư, đời sống, việc làm, lao động, kiến trúc, văn hóa, ứng xử, thương mại đã được tác giả trình bày và làm rõ, gợi mở những hướng tiếp cận vấn đề đặt ra những nội dung chủ yếu cần đi sâu nghiên cứu trong xã hội đô thị

Tác giả Hoàng Vinh trong công trình Những vấn đề văn hoá trong đời sống xã hội Việt Nam hiện nay (Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2006) đã cho rằng: văn hóa là

toàn bộ sự hiểu biết của con người, đúc kết thành hệ giá trị xã hội, hình thành trong quá

Trang 16

xã hội, của cư dân đô thị; nó có khả năng chi phối và điều tiết đời sống tâm lý cũng như

mọi hoạt động xã hội của cộng đồng cư dân đô thị

Tác giả Nguyễn Thanh Tuấn trong công trình nghiên cứu Biến đổi văn hóa đô thị Việt Nam hiện nay (Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2007) xác định 5 đặc trưng của

văn hóa đô thị so với văn hóa nông thôn là: 1 Lối sống văn hóa đô thị tùy thuộc vào các dịch vụ công; 2 Trong văn hóa đô thị, hệ số sử dụng các phương tiện giao thông lớn và tăng lên không ngừng cùng với quá trình hiện đại hóa; 3 Văn hóa đô thị có tính phân hóa cao và rõ nét; 4 Hoạt động ứng xử đa phương hóa, đa dạng hóa ngày càng rộng mở; 5 Là phức hợp văn hóa bác học (hàn lâm, chuyên nghiệp), văn hóa dân gian và văn hóa đại chúng Từ các đặc trưng trên, có thể thấy văn hóa đô thị là một phức hợp văn hóa bác học, dân gian và đại chúng với lối sống mang tính công cộng hay tính xã hội hóa cao, tính mở, đa phương hóa, đa dạng hóa

Không thể kể đến bộ Lịch sử Việt Nam (15 tập) từ khởi thủy đến năm 2000 của

Viện Sử học (Nxb Khoa học xã hội, 2017) Đây là bộ thông sử đồ sộ, không có riêng

chuyên đề về đô thị và đô thị hóa, song từ tập 2 (từ thế kỷ X đến thế kỷ XIV) đến tập

15 (từ năm 1986 đến năm 2000) đều có các nội dung về đô thị, đô thị hóa được nghiên

cứu rất sâu sắc, trình bày trong các chương mục của các tập theo diễn trình lịch sử

Bên cạnh những công trình nghiên cứu trên còn có những bài viết, tham luận

trên các tạp chí, hội thảo khoa học như: Lịch sử tụ cư, quá trình đô thị hóa và những đặc điểm dân số học: nghiên cứu trường hợp phường Phúc Xá, quận Ba Đình, Hà Nội của Nguyễn Thị Thùy Dương trên Tạp chí Xã hội học số 2/2011; Từ làng đến phố: đô thị hóa và quá trình chuyển đổi lối sống ở một làng ven đô (trường hợp phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội) của tác giả Bùi Thị Kim Phượng;

Nghiên cứu về đô thị còn có các Luận án đã bảo vệ thành công như: Đô thị Hải

Dư ng thời kỳ thuộc địa (1883-1945) của Phạm Thị Tuyết bảo vệ ở Khoa Lịch sử

trường Đại học Sư phạm Hà Nội năm 2011; Luận án Tiến sĩ lịch sử của Nguyễn Thị

Hoài Phương về “Thành phố Hải Phòng từ năm 1888 đến năm 1945” bảo vệ năm 2015

tại trường Đại học KHXH&NV, Đại học Quốc gia Hà Nội; Luận án Tiến sĩ lịch sử về

đề tài “Thành phố Thanh Hóa từ năm 1804 đến năm 2010” của tác giả Nguyễn Thị Thu

Hà, bảo vệ tại trường Đại học KHXH&NV, Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2015; Luận

Trang 17

10

án Tiến sĩ chuyên ngành Lịch sử Đảng với đề tài“Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo điều chỉnh địa giới hành chính Thành phố Hà Nội từ năm 1978 đến năm 2008” của Đỗ

Thị Thanh Loan bảo vệ năm 2015; Luận án Tiến sĩ lịch sử của Đỗ Thị Hương Liên về

đề tài “Quá trình hình thành và phát triển thành phố Lạng S n từ năm 1925 đến năm 2012” đã bảo vệ thành công tại trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên năm 2018

Các công trình nghiên cứu, luận án, các bài viết trên đây đã đi sâu nghiên cứu làm sáng rõ đô thị hóa là một quá trình tất yếu diễn ra mạnh mẽ ngay từ cuối thế kỷ XIX và cho tới hiện nay ở Việt Nam cũng như các quốc gia đến đầu thế kỷ XX trên khắp thế giới Quá trình đô thị hoá đã làm biến đổi mạnh mẽ và sâu sắc về đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, làm thay đổi từ diện mạo đô thị, cảnh quan môi trường đến lối sống của cư dân đô thị… nhất là ở những đô thị lớn và tại những quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam

1.1.2 hững nghiên cứu về đô thị hóa ở Thành phố Hồ Chí Minh và quận Tân Phú

Từ trước đến nay, nghiên cứu về đô thị hóa ở Thành phố Hồ Chí Minh và quận Tân Phú chưa được quan tâm nghiên cứu nhiều, chỉ mới có một số công trình nghiên cứu chủ yếu sau đây:

Trong công trình nghiên cứu Đô thị hóa và phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam

1954 đến 1989 do Viện Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh xuất bản năm 1991, trong đó

đề cập đến tác động, ảnh hưởng của đô thị hóa ở Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh trong gần 40 năm (từ năm 1954 đến năm 1989)

Bài viết của tác giả Lê Hồng Liêm về Xu hướng phát triển đô thị, xu hướng gia tăng dân số và lao động ở các quận ven Thành phố Hồ Chí Minh trong cuốn Ngoại thành Thành phố Hồ Chí Minh những vấn đề lịch sử và truyền thống của các tác giả Lê

Hồng Liêm, Lê Sơn, Trương Minh Nhật, Quách Thu Nguyệt (Nxb Trẻ, Hồ Chí Minh, 1994), đã tập trung phân tích, làm rõ bối cảnh lịch sử thế giới và trong nước, thực tiễn của Thành phố Hồ Chí Minh và yêu cầu đặt ra cũng như xu hướng tất yếu của quá trình

đô thị hóa ở Thành phố Hồ Chí Minh Hệ quả tất yếu là sự gia tăng dân số và nhu cầu phải giải quyết là vấn đề lao động và việc làm, tình trạng thất nghiệp, đời sống của người lao động và các vấn đề xã hội khác Đó là những áp lực đối với không chỉ Thành phố Hồ Chí Minh mà nhất là đối với các quận vùng ven

Trong cuốn Những mặt tồn tại trong quá trình đô thị hóa ở Thành phố Hồ Chí Minh của tác giả Nguyễn Văn Tài (Nxb Nông nghiệp, Hà Nội,1995) đã tập trung đi sâu

nghiên cứu những vấn đề bức xúc trong quá trình đô thị hóa như: sự gia tăng dân số

Trang 18

11

một cách nhanh chóng, vấn đề ô nhiễm môi trường, khoảng cách giàu nghèo gia tăng, vấn đề lao động, giải quyết việc làm, sự gia tăng các loại hình tội phạm, tệ nạn xã hội…

Công trình Quy hoạch xây dựng phát triển đô thị (Nxb Xây dựng, Hà Nội, 1997)

của Nguyễn Thế Bá là công trình cơ bản trình bày về nguyên lý thiết kế và quy hoạch xây dựng đô thị; giúp chúng ta có hướng tiếp cận khi tìm hiểu, nghiên cứu về công tác quy hoạch trong việc phát triển đô thị hiện đại Đây là một công trình rất có giá trị về vấn đề quy hoạch đô thị

Công trình đồ sộ Địa chí Văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh (4 tập) do Trần Văn

Giàu, Trần Bạch Đằng, Nguyễn Công Bình, (Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh, 1998) đã khảo cứu toàn diện về các mặt lịch sử, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, nghệ thuật của Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh

Tác giả Tôn Nữ Quỳnh Trân có nhiều nghiên cứu về Thành phố Hồ Chí Minh,

riêng về góc độ đô thị hóa, khổng thể không kể đến công trình Văn hóa làng xã trước sự thách thức của đô thị hóa tại Thành phố Hồ Chí Minh (Nxb Trẻ, Hà Nội, 1999) Công

trình gồm có 3 chương, trong đó đáng chú ý là nội dung chương 1 trình bày về tình hình

đô thị hóa tại quận Tân Bình Tuy được trình bày ngắn gọn nhưng nội dung này cũng đã giúp ích rất nhiều cho chúng tôi nắm bắt một cách khái quát những bước phát triển đô thị của Tân Bình vào giai đoạn tiếp sau chính sách Đổi mới năm 1986 Đồng thời giúp cho nghiên cứu sinh có những hiểu biết rất chân xác về thực trạng của quận Tân Bình trước khi tách thành hai quận Tân Bình và Tân Phú

Một trong những nghiên cứu tiêu biểu về mối quan hệ giữa vấn đề đô thị hóa và

dân số là công trình hợp tác nghiên cứu về Dân số và di chuyển nội thị - trường hợp thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội của Viện Nghiên Cứu Phát triển Paris, Viện Kinh

tế Thành phố Hồ Chí Minh, Trung tâm Dân số, Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội (2002) Nghiên cứu này đã chỉ ra một số điểm đáng chú ý như từ khi thực hiện các biện pháp tự do hóa kinh tế theo chính sách đổi mới vào năm 1986, Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội, hai đô thị lớn nhất Việt Nam, đã bước vào giai đoạn phát triển đô thị mạnh mẽ Hiện nay, việc phát triển đô thị chủ yếu do làn sóng di dân từ nông thôn ra thành thị vì mức tăng trưởng kinh tế cao ở thành thị, cộng với sự khác biệt nông thôn thành thị ngày càng lớn và việc quản lý hộ khẩu không còn chặt chẽ Thứ hai là tỷ lệ dân số ở nông thôn hiện nay vẫn cao (hơn 75% dân số, theo điều tra dân số năm 1999), điều này cho phép chúng ta dự đoán rằng quá trình tăng trưởng dân số đô thị sẽ còn tiếp tục diễn ra trong nhiều năm tới Thứ ba là trong bối cảnh đó, sự tái cấu trúc nhà ở và dân cư đô thị diễn ra ngày càng mạnh mẽ, do giá nhà đất tăng cao ở trung

Trang 19

12

tâm thành phố, do có nhiều dự án phát triển đô thị và do sự xuất hiện các khu công nghiệp mới và do tiến trình phân tầng xã hội Điều đó đặt ra nhiều vấn đề về hạ tầng

kỹ thuật và phương tiện giao thông đô thị

Luận án Tiến sĩ Tổ chức không gian quy hoạch - kiến trúc Trung tâm thư ng

mại Dịch vụ tại Thành phố Hồ Chí Minh của Nguyễn Thanh Hà (Trường Đại học Kiến

trúc Thành phố Hồ Chí Minh, 2005) là một đề tài chuyên ngành Quy hoạch Không gian

đô thị Thông qua tổng quan đánh giá quy hoạch kiến trúc trung tâm thương mại dịch

vụ đô thị nói chung và của Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng, tác giả đề xuất các mô hình lý thuyết tổ chức không gian và đề xuất áp dụng cho Thành phố Hồ Chí Minh về quy hoạch và tổ chức không gian các trung tâm thương mại dịch vụ Đề tài không đề

cập đến nghiên cứu về quản lý và kiểm soát phát triển đô thị và khu trung tâm

Trên cơ sở nghiên cứu tổng quan về xu thế đô thị hoá và phát triển các thành phố

cực lớn thế kỷ 21 đáng chú ý là luận án Tiến sĩ “Giải pháp quy hoạch tổ chức không gian đô thị cực lớn theo hướng phát triển bền vững lấy thành phố Hồ Chí Minh làm ví dụ” của Nguyễn Tiến Thành (Trường Đại học Kiến trúc, Thành phố Hồ Chí Minh,

2006) Các lý luận về quy hoạch cấu trúc không gian đô thị lớn trên thế giới, thực trạng

và định hướng phát triển và quy hoạch phát triển không gian Thành phố Hồ Chí Minh, tác giả đề xuất các giải pháp tổ chức quy hoạch cấu trúc không gian Thành phố Hồ Chí Minh theo 2 phương án (mô hình): Mô hình cấu trúc không gian xuyên tâm - vành đai (đây là phương án hữu hiệu) có điều chỉnh hoàn thiện theo hướng lan toả ra ngoại thành theo một số trục lớn xuyên tâm Mô hình tổ chức quy hoạch cấu trúc không gian Thành phố Hồ Chí Minh theo hướng “Đô thị trong đô thị” bằng việc xây dựng các đô thị vệ tinh, các đô thị đối trọng mới xung quanh Thành phố Hồ Chí Minh

Công trình nghiên cứu về Nông dân ngoại thành Thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình đô thị hóa (Nxb Tổng hợp TP Hồ Chí Minh, 2007) tác giả Lê Văn Năm là

công trình nghiên cứu khá công phu, viết về những “xáo trộn” trong đời sống của người nông dân ngoại thành Thành phố Hồ Chí Minh trong bối cảnh đô thị hóa, trong đó tập trung vào tình hình chuyển dịch đất đai và cơ cấu nghề nghiệp, cũng như sự thay đổi về môi trường sống, trong đó có môi trường văn hóa của họ Theo tác giả, ở vùng ngoại thành thành phố, đang có sự chuyển dịch kinh tế từ nông nghiệp sang phi nông Đó cũng là tiến trình người nông dân dần dần xa rời đồng ruộng để trở thành thị dân Tác giả còn mô tả những thay đổi mạnh mẽ trong đời sống nông dân Đô thị hóa làm cho họ dần dần rời bỏ ruộng đồng, chuyển sang những hoạt động kinh doanh, buôn bán, lao động bằng những ngành nghề khác hay rơi vào cảnh thất nghiệp Tác giả Lê Văn Năm

Trang 20

13

còn đề cập tới những thuận lợi và khó khăn tiêu cực do quá trình đô thị hóa mang lại Đây là công trình để chúng tôi nghiên cứu về những chuyển biến trên lĩnh vực xã hội ở quận Tân Phú trong quá trình đô thị hóa

Cuốn sách Tiềm năng cho kỳ tích sông Sài Gòn của Nguyễn Minh Hòa, (Nxb

Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2008) đã nêu bật vai trò trung tâm kinh tế, văn hóa,

xã hội của Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh Tác giả Nguyễn Minh Hòa chứng minh thành phố này là nơi tiếp thu sớm nhất và mạnh mẽ nhất các khoa học công nghệ và kỹ thuật tiên tiến từ các nước phương Tây để phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng

xã hội, đến ứng dụng có hiệu quả các kiểu quy hoạch - kiến trúc phương Tây vào thành phố Tác giả cho rằng ở Sài Gòn đã hình thành nên một nền công nghiệp tiên tiến so với các nước trong khu vực Đông Nam Á và sớm nhất so với những vùng miền khác trong

cả nước

Phân tích vấn đề đô thị dưới góc nhìn quản lý có công trình Chính quyền đô

thị tại Việt Nam: Nghiên cứu tình huống từ Thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng do

trường Đại học Kinh tế - Luật Thành phố Hồ Chí Minh và Qũy Châu Á thực hiện năm 2013 Công trình tập trung phân tích những tranh cãi đã và đang tồn tại về tính hiệu quả của hệ thống quản lý đô thị ba lớp (thành phố, quận, phường) và những khó khăn trong việc áp dụng mô hình tổ chức chung này vào cả chính quyền đô thị và nông thôn Nghiên cứu này được chia thành các giai đoạn khác nhau, trong đó giai đoạn đầu nghiên cứu xác định những điểm chính có được từ các nghiên cứu trước và định vị những vấn đề liên quan đến quản lý đô thị, chính quyền đô thị tại Việt Nam Giai đoạn thứ hai đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính thông qua khảo sát thực tế, phỏng vấn sâu về nhìn nhận của các bên từ đó có cái nhìn so sánh, phân tích, tổng hợp về vấn đề quản lý đô thị tại Thành phố Hồ Chí Minh

Cũng bàn về vấn đề quản lý đô thị, tác giả Nguyễn Thanh Quang trong Luận án

Tiến sĩ về Địa lý học Kiểm soát và phát triển trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh trong bối cảnh hội nhập đã chỉ ra rằng: 1 Kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế cộng với việc

đẩy mạnh tiến trình CNH, HĐH đã và đang tạo ra nhiều động lực mạnh mẽ cho phát triển kinh tế xã hội nói chung và các đô thị, nhất là khu trung tâm đô thị nước ta nói riêng; 2 Với những ưu thế vượt trội so với những khu vực khác, khu trung tâm đô thị là địa bàn mầu mỡ hấp dẫn và thu hút nhiều nhà đầu tư vào phát triển các lĩnh vực thương mại, dịch vụ kéo theo các hoạt động xây dựng phát triển đô thị diễn ra rất sôi động, đa dạng cả về nội dung lẫn hình thức, làm cho công tác quản lý đô thị trở nên phức tạp hơn, nhiều khi vượt ra ngoài tầm kiểm soát của chính quyền và các cơ quan chức năng

Trang 21

động quản lý đô thị của thành phố; 5 Luận án đã đánh giá tình hình phát triển và kiểm soát phát triển không gian đô thị khu trung tâm hiện hữu của Thành phố Hồ Chí Minh Luận án đã làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về kiểm soát phát triển không gian đô

thị và đề xuất tổ chức hệ thống kiểm soát phát triển không gian đô thị Thành phố Hồ Chí Minh theo mô hình trực tuyến - chức năng, độc lập riêng và trực thuộc UBND thành phố; theo mô hình 3 cấp: Thành phố - Quận, Huyện - Phường, Xã trực thuộc sự quản lý hành chính của UBND cấp tương ứng; đề xuất Bộ tiêu chí kiểm soát phát triển không gian đô thị Thành phố Hồ Chí Minh với 8 nhóm tiêu chí tiêu biểu, bao quát các

hoạt động cơ bản về phát triển và khai thác sử dụng không gian đô thị

Các công trình nghiên cứu và bài viết trên đây đã cung cấp nguồn sử liệu khá phong phú, đa dạng, trong đó đã trình bày khá cụ thể về vị trí địa lý, dân cư, truyền thống lịch sử, văn hóa và có những phân tích và đánh giá khá toàn diện trên các phương diện: Kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội, quân sự, quốc phòng an ninh của Thành phố Hồ Chí Minh nói chung, trong đó có đề cập đến quận Tân Phú

1.1.3 hững nghiên cứu về đô thị và đô thị hóa ở n ớc ngoài có liên quan đến đề tài luận án

Cho đến nay cũng đã có ít nhiều công trình nghiên, bài viết của tác giả ở nước ngoài nghiên cứu về đô thị, các vấn đề kinh tế, xã hội của đô thị và quá trình đô thị hóa, như:

Tác giả Davis, K trong cuốn World Urbanization 1950-1970 (Đô thị hoá thế giới 1950-1970), (Institute of International Studies, University of California at

Berkeley, Berkeley, Califinia, 1972) Nội dung cuốn sách đã trình bày một phân tích mang tính truyền thống về đô thị hoá thế giới từ năm 1950-1970 và dự đoán cho hệ

Trang 22

15

thống đô thị đến năm 2000 Lý thuyết này tập trung vào sự thay đổi dân số nông thôn - đô thị, coi đó là nền tảng của đô thị hoá Quá trình đô thị hoá được xác định rằng: Công nghiệp là động lực cơ bản đằng sau sự di chuyển của cư dân nông thôn

ra thành thị kiếm việc làm tại các nhà máy Với lý thuyết đó, tác giả nhận định rằng, trước cách mạng công nghiệp ở Anh, không có xã hội nào có thể được mô tả như là đô thị

Trong bài viết “The World City Hypothesis, Development and Change” (Giả thuyết thành phố thế giới, phát triển và thay đổi) của Friedmann, đăng trên International Journal of Urban and Regional Research, 1986, 17, 69-83 đã trình

bày các giả thuyết hiện đại hoá và lý thuyết toàn cầu hoá về đô thị hoá tiếp tục từ những năm 1970 đến năm 1980, các siêu đô thị trên thế giới đã bắt đầu hình thành

và có tầm ảnh hưởng ngày càng mạnh và có cấu trúc liên kết Tác giả cho rằng các thành phố trên thế giới là một số lượng nhỏ các khu vực đô thị rộng lớn trong hệ thống đô thị toàn cầu kiểm soát về sản xuất và mở rộng thị trường trên toàn thế giới Trong công trình của mình, Friedmann đã đưa ra ba giả thuyết với dân số đô thị và không gian hoá Thứ nhất là các thành phố trên thế giới tập trung tạo nguồn vốn thế giới Thứ hai, sự tăng trưởng kinh tế của các thành phố trên thế giới minh họa cho những mâu thuẫn của chủ nghĩa tư bản công nghiệp, đáng chú ý nhất là sự phân cực không gian và giai cấp của Hồi giáo Thứ ba, chi phí cho thành phố trên thế giới thường vượt xa khả năng tài chính của bang mà kết quả là tiếp tục khủng hoảng tài chính và xã hội

Tác giả Timberlake, M trong công trình World-system theory and the study

of comparative urbanization (Lý thuyết hệ thống thế giới và nghiên cứu về đô thị hóa so sánh), (In: Smith, M.P and Feagin, J.R (eds.), được công bố bởi The

Capitalist City, Blackwell, Oxford, 1987) Trong đó, tác giả đã khẳng định rằng đô thị hoá có thể xem như là một phản ứng nội tại của địa phương trong kinh tế toàn cầu Tác giả đã đưa ra ba khung lý thuyết để nghiên cứu về đô thị hóa so sánh Thứ nhất, các tác giả định rằng mô hình phát triển tư bản chủ nghĩa tồn tại là duy nhất, khẳng định chủ nghĩa tư bản là một hình thức duy nhất của chủ nghĩa xã hội Thứ hai, chủ nghĩa tư bản đòi hỏi một xã hội có cấu trúc nhất định, được đặc trưng bởi trao đổi bất bình đẳng, phát hiện không đồng đều và bất bình đẳng xã hội Thứ ba, lý luận về toàn cầu hoá thiết lập mô hình tổ chức xã hội, công nghệ và biến động dân

số như yếu tố nội sinh trong phát triển và đô thị hoá bị hạn chế bởi yếu tố ngoại sinh

Trang 23

16

Cùng đưa ra lý thuyết trong để nghiên cứu về đô thị hóa, Kasarda, J.D and E

M.Crenshaw trong một nghiên cứu liên ngành Third World Urbanization: Dimensions, Theories, and Determinants (Đô thị hóa thế giới thứ ba: kích thước, lý thuyết và các yếu tố quyết định) (Annual Review of Sociology, 1991, Vol.17) Các

tác giả đã đưa ra ba khung lý thuyết nghiên cứu đô thị hoá dưới cách tiếp cận hiện đại hoá, đó là: 1 Thực trạng đô thị hoá trong bất kỳ xã hội nào phụ thuộc bởi trạng thái ban đầu khi bắt đầu đô thị hoá 2 Công nghệ là nhân tố quan trọng hơn so với tổ chức xã hội trong quá trình đô thị hoá 3 Cách thức và mô hình đô thị giữa các nước phát triển và đang phát triển có nhiều điểm tương đồng mặc dù có sự khác biệt về văn hoá Bên cạnh đó, các tác giả còn đưa ra phương pháp phác họa mô hình đô thị hóa trong “Thế giới thứ ba” trong nghiên cứu liên ngành này Thứ nhất, theo dõi các

xu hướng và kích thước của đô thị hóa ở các nước đang phát triển và sau đó thảo luận về các lý thuyết chính hướng dẫn nghiên cứu đô thị toàn cầu Thứ hai, xem xét

và phê bình các cuộc điều tra xuyên quốc gia về các yếu tố quyết định đô thị hóa và kích thước của nó Thứ ba, thảo luận về các vấn đề cần đảm bảo điều tra bổ sung trong tương lai gần

Một trong nghiên cứu kinh điển trong những năm 1990 về tương lai nhằm tái hiện bức tranh sinh động về nền văn minh của thế kỷ 21, làm rõ những mối quan hệ trong kinh doanh, cuộc sống gia đình, chính trị, kinh tế và cuộc sống của từng cá nhân

đó là Toffler, Alvin với công trình The third wawe (Làn sóng thứ ba) (New York:

Bantam Books, 1990) Nội dung công trình nghiên cứu khá nổi tiếng này đã chỉ rõ nguyên nhân của những biến đổi văn hóa của các xã hội loài người từ trước đến nay là

sự phát triển của lực lượng sản xuất, đặc biệt là của khoa học kỹ thuật, công nghệ Cuốn sách lần lượt trình bày, minh họa, ví dụ làm rõ ba làn sóng sẽ diễn ra trong tương lai Làn sóng thứ nhất là sự ra đời của nông nghiệp và nền văn minh nông nghiệp Làn sóng thứ hai là công nghiệp hóa và sự ra đời của nền văn minh công nghiệp Làn sóng thứ ba

là nền văn minh hậu công nghiệp; con người chứng kiến sự hội nhập quốc tế rộng rãi và phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, công nghệ sinh học

Trong bài viết “Urbanization in the Out City: A case Study in Ho Chi Minh

City’s Suburbs” (Đô thị hóa ở ngoài thành phố: Một trường hợp nghiên cứu tại Thành phố Hồ Chí Minh) của Drummond được đăng trên Malaysian Journal of Tropical Geography, 29, No.1 (1998): p 23-38, đã đi sâu nghiên cứu về những thay đổi rất sâu

sắc của một khu vực ngoại ô Thành phố Hồ Chí Minh trong “cơn bão của tốc độ đô thị hóa” Tác giả Drummond đã phân tích và đưa ra các bằng chứng về những mặt tích cực,

Trang 24

17

những cái được như tăng trưởng kinh tế, đời sống vật chất và tinh thần của người dân được nang cao, diện mạo chung thay đổi nhanh chóng Song bên cạnh đó cũng chỉ rõ những hạn chế bất cập của tốc độ đô thị hóa ở đây như tình trạng ô nhiễm môi trường,

sự chênh lệch giàu nghèo, quy hoạch bừa bãi không thể kiểm soát, các tệ nạn xã hội gia tăng, nhất là trong giới trẻ… Điều đó là những cảnh báo đối với các cấp chính quyền và nhân dân cần phải có sự điều chỉnh cho phù hợp

Nghiên cứu về trung tâm nền kinh tế có sức ảnh hưởng toàn cầu trong quá

trình đô thị hóa của các nước trên thế giới đáng chú ý là công trình của Sassen S The Global City: New York, London, Tokyo, (Thành phố toàn cầu New York, London và Tokyo), (Princeton University Press, New Jersey, 2001) Trong công trình này, tác

giả Sassen đã làm rõ quá trình New York, London và Tokyo trở thành trung tâm chỉ huy cho nền kinh tế toàn cầu Điều khác biệt là phương pháp, lý thuyết của Sassen nhấn mạnh vào sự hình thành các động lực xuyên biên giới Theo Sassen, các thành phố toàn cầu có chức năng như: 1 Điểm tập trung cao độ các yêu cầu trong tổ chức kinh tế thế giới; 2 Địa điểm quan trọng cho tài chính và các dịch vụ chuyên nghiệp;

3 Các trung tâm sáng tạo trong sản xuất của các ngành công nghiệp hàng đầu; 4 Thị trường cho các sản phẩm và đổi mới trong các ngành công nghiệp đó Quan điểm thành phố toàn cầu đã giải thích được những mối quan hệ lịch sử và đương đại giữa công nghiệp hoá, đô thi hoá và toàn cầu hoá

Các tác giả Orum A and X Chen với The World of Cities Places in Comparative and Historical Perspective (Thế giới của các thành phố: Các địa điểm trong quan điểm so sánh và lịch sử) (Malden Ma: Blackwell, 2003) đã giới thiệu về

lý thuyết và thực nghiệm về xã hội học đô thị, cung cấp và giới thiệu ngắn gọn về xã hội học đô thị Cuốn sách lần lượt tập trung và làm rõ năm nội dung lớn gồm: 1 Thành phố và địa điểm 2 Lý thuyết xã hội và thành phố 3 Bất bình đẳng xã hội và tạo ra không gian đô thị 4 Thay đổi địa điểm và liên tục: Thành phố trong bối cảnh

so sánh và toàn cầu 5 Từ một xã hội quan trọng đến một xã hội tái cấu trúc của các thành phố Hai nhà nghiên cứu sử dụng lý thuyết để mô tả cấu trúc và tiến hoá của các thành phố của Mỹ, đặc biệt là Chicago trong những năm 1920-1930, dựa trên giả định về vai trò tương tác của biến động dân số, thị trường, cạnh tranh, công nghệ

Trang 25

18

hoá dẫn đến một tiến trình mới của đô thị công nghiệp và đưa ra cách tiếp cận mới

về vị trí phát triển kinh tế toàn cầu Xét tốc độ đô thị hoá trên thế giới từ khía cạnh dân số Lý thuyết đô thị hoá nội sinh cho rằng đô thị hoá đòi hỏi phải có hai điều kiện tiên quyết, có sản phẩm thặng dư cung cấp cho người dân trong các hoạt động phi nông nghiệp Các tác giả nhận định tốc độ đô thị hoá tăng nhanh trong tương lai, tỷ lệ dân số đô thị trên thế giới sẽ đạt 75% vào năm 2050, có hơn 10% so với năm 1990

Nghiên cứu về đô thị hóa ở vùng ven Thành phố Hồ Chí Minh còn phải kể

đến công trình Saigon’s edge on the margins of Ho Chi Minh City (Cạnh Sài Gòn bên lề thành phố Hồ Chí Minh), (Publisher University of Minnesota Press, 2011)

của Erik Harms Từ quan điểm “Phần lớn dân số thế giới sinh sống ở rìa đô thị, một khu vực không hoàn toàn là nông thôn hay thành thị”, Erik Harms đã chọn Hóc Môn, một quận nằm dọc theo một hành lang giao thông quan trọng ở ngoại ô thành phố Hồ Chí Minh để nghiên cứu Erik Harms khám phá cuộc sống ở Hóc Môn, đưa

ra một viễn cảnh tiết lộ về mức độ đô thị hóa nhanh chóng tác động đến những người sống ở ngã tư giữa nông thôn và thành thị Không chỉ là một nghiên cứu điển hình về thay đổi đô thị, tác phẩm của Harms đã chỉ ra sự thay đổi của Việt Nam trong nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế Cuốn sách bố cục thành 6 vấn đề lớn (I Sự hăng hái trong xã hội; 1 Sự chuyển đổi của Bittersweet: Đô thị hóa ở rìa thành phố; 2 Quyền lực và loại trừ ở rìa: Sự kết hợp của không gian nông thôn và thành thị; Phần II Không gian, thời gian và mở rộng đô thị; 3 Định hướng tương lai

ở đất nước của trí nhớ: Các quan niệm xã hội về thời gian; 4 Đàm phán Thời gian

và không gian: Hộ gia đình, Lao động, Đất đai và Phong trào; Phần III Hiện thực hóa lý tưởng; 5 Đường đến thiên đường: Xây dựng đường cao tốc xuyên châu Á; 6 Vấn đề văn minh đô thị ở rìa của Sài Gòn) để làm rõ những nội dung trên

Nghiên cứu trực tiếp về đô thị hóa ở Việt Nam khá điển hình và được công bố

gần đây nhất là công trình “Urbanization in Vietnam” (Đô thị hóa ở Việt Nam) của

Gisele Bousquet, (Routledge Published, January 3, 2018) Từ quan điểm “hầu hết các nghiên cứu về đô thị hóa tập trung vào việc di chuyển của người dân nông thôn đến các thành phố và tác động của nó, cả về các thành phố mà người dân đã di chuyển và các cộng đồng nông thôn mà họ đã rời đi”, công trình đã xem xét tác động của quá trình đô thị hóa đến các cộng đồng nông thôn của sự mở rộng cơ sở vật chất của các thành phố

Từ kết quả nghiên cứu ban đầu tại một khu định cư, một xã nông thôn trong suốt hai thập kỷ đã bị thay đổi bởi sự mở rộng đô thị của Hà Nội, tác giả đã làm rõ những gì xảy

Trang 26

19

ra khi người dân nông thôn trở thành dân thành thị và các vấn đề khác như: khi nông nghiệp bị bỏ rơi; mật độ dân số tăng; giá trị của đất đai; người dân phải kiếm sống trong thành phố; sự thay đổi trong cuộc sống gia đình bao gồm cả quan hệ giới tính, văn hóa Nội dung cuốn sách làm rõ 6 vấn đề: 1 Tái cấu trúc không gian đô thị; 2 Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu và phát triển đô thị; 3 Nuôi trồng ở rìa thành phố; 4 Kiếm sống trong thành phố; 5 Làng đô thị; 6 Quan hệ giới trong cảnh quan đô thị mới

Nhìn chung trong những công trình nghiên cứu ở ngước ngoài trên đây, tuy nội dung không trực tiếp nghiên cứu về vấn đề đô thị hóa ở quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh, nhưng đó là những công trình nghiên cứu quan trọng, mang tính lý luận, cung cấp cho nghiên cứu sinh tham khảo để hiểu rõ thêm những lý thuyết về đô thị, phương pháp nghiên cứu, cách tiếp cận vấn đề nghiên cứu cũng như đưa ra một số thực trạng về quá trình đô thị hóa ở một số quốc gia trên thế giới và Việt Nam

1.2 Kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã công bố và những vấn đề luận án tiếp tục giải quyết

1.2.1 Kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã công bố

Các công trình nghiên cứu về đô thị và đô thị hóa ở nước ngoài và Việt Nam được công bố giúp ích rất nhiều cho nghiên cứu sinh có thêm hiểu biết và những kiến thức, lý thuyết về đô thị, đô thị hóa, về cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu về đô thị hóa trên thế giới và ở Việt Nam hiện nay Những kết quả nghiên cứu

đó còn giúp cho nghiên cứu sinh định hướng nghiên cứu một số vấn đề về quá trình đô thị hóa từ kinh nghiệm một số nước; đồng thời các công trình cung cấp cho nghiên cứu sinh những tư liệu về dân số, nhà ở, hiện trạng về mức sống và lối sống của cư dân đô thị, các số liệu và tỷ lệ về sự chênh lệch mức sống giữa người dân đô thị và người dân nông thôn; Các tư liệu, tài liệu về dân số nội và ngoại thành, về hiện trạng kinh tế - văn hóa, xã hội của các địa phương ở khu vực ngoại thành Thành phố Hồ Chí Minh như: Thủ Đức, Quận 8, Quận Bình Thạnh, Quận Tân Bình, Quận Gò Vấp, huyện Bình Chánh

Đã cung cấp lượng kiến thức về các khía cạnh đa dạng của đời sống đô thị với nhiều cách tiếp cận, trào lưu, trường phái, quan điểm khác nhau, nhất là những kết quả nghiên cứu thực nghiệm Các phương pháp nghiên cứu về đô thị và đô thị hóa đã mở rộng ra các chủ đề như: kinh tế học đô thị, xã hội học đô thị, văn hóa học đô thị Mặc

dù chưa có một định nghĩa chung nhất, nhưng các công trình nghiên cứu về đô thị và đô thị hoá đã làm rõ được về đô thị có các đặc điểm về tổ chức, chức năng và tương tác xã hội: Số dân tương đối đông, mật độ dân số cao và không thuần nhất; Ít nhất có một bộ

Trang 27

20

phận dân cư làm các công việc phi nông nghiệp và có những người làm công việc tri thức; Đảm nhận những chức năng thị trường và ít nhất phải có một phần quyền lực quản lý điều hành; Có những quan hệ xã hội công cộng và hình thức tương tác giữa các

cá nhân thông qua các chức năng công cộng; Sự “gắn kết xã hội” không phải dựa trên quan hệ gia đình trực hệ hay bộ lạc, mà có thể dựa trên luật lệ hợp lý hay truyền thống,

như tôn giáo hay quan hệ thần phục nhà vua, nhà nước

Các công trình nghiên cứu về đời sống xã hội văn hóa đô thị đã chứng minh được đời sống xã hội văn hóa đô thị theo hai nhóm thành tố có quan hệ với nhau là các thành tố không gian - vật chất do con người tạo ra: kiến trúc, quy hoạch, cảnh quan đô thị, kết cấu hạ tầng kỹ thuật, điều kiện tự nhiên (khí hậu, đất, thổ nhưỡng, cây xanh, sông hồ ) và các thành tố tổ chức - xã hội: sự sinh sống của cộng đồng dân cư trên lãnh thổ đô thị, nhất là việc con người sử dụng và có liên quan đến không gian địa lý (trong sinh thái học nhân văn hay sinh thái học đô thị)

Trong các công trình nghiên cứu các tác giả Việt Nam đã khái quát khá rõ ràng các khía cạnh của đô thị hiện đại, đó là quy hoạch tổng thể, quản lý cơ sở hạ tầng kỹ thuật - cơ sở hạ tầng xã hội, dân số, phát triển bền vững, văn hóa lối sống Các công trình đã đưa ra được những góc nhìn toàn cảnh về quá trình đô thị hóa trên thế giới, tại Việt Nam cũng như Thành phố Hồ Chí Minh Dựa trên những kết quả nghiên cứu, các nhà hoạch định, quản lý đô thị có thể định hình và dự báo tốc độ phát triển đô thị Việt Nam nói chung và Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng trong giai đoạn tiếp theo, từ đó đưa ra những chính sách quản lý đúng đắn Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu và bài viết đã công bố do mục tiêu nghiên cứu của từng tác giả và đối với từng vấn đề hay từng khía cạnh khác nhau nên chưa đi sâu được vào thực trạng đô thị hóa và những vấn

đề nảy sinh trong quá trình đô thị hóa trên từng địa bàn cụ thể và trên những phạm vi quận, huyện cụ thể mà thường là chỉ đánh giá trên mặt tổng thể, diện rộng của toàn thành phố hay khu vực

Riêng những nghiên cứu về quá trình đô thị hóa ở quận Tân Phú mới chỉ được

đề cập chung trong các công trình nghiên cứu chung về quá trình đô thị hóa ở Thành phố Hồ Chí Minh Trong các công trình đó, các tác giả đã đề cập đến vùng đất Tân Phú trong tổng thể của quận Tân Bình trước đây, mà chưa có nghiên cứu nào đi sâu nghiên cứu toàn diện và có hệ thống riêng về quận Tân Phú

1.2.2 Những vấn đề luận án tiếp tục giải quyết

Một là, phân tích điều kiện về tự nhiên, kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội

của quận Tân Phú trước và sau khi thành lập; Khái quát về chủ trương, chính

Trang 28

21

sách của Đảng và sự vận dụng của Thành phố Hồ Chí Minh về phát triển kinh tế,

xã hội; trong đó cần làm rõ những yếu tố tác động đến quá trình đô thị hóa ở quận Tân Phú từ năm 2003 sau khi quận được thành lập

Hai là, làm rõ quá trình đô thị hóa trên các nội dung chủ yếu là quy hoạch

đô thị và quản lý đô thị ở quận Tân Phú từ năm 2003 đến năm 2015 như: Quy hoạch mở rộng không gian đô thị; Xây dựng cơ sở vật chất và hạ tầng đô thị; Kinh tế, đầu tư tài chính, thu ngân sách; Dân cư đô thị; Tổ chức và hoạt động quản lý của chính quyền; Công tác quản lý đất đai, nhà ở, sở hữu tài sản, cơ sở hạ tầng đô thị; Về cảnh quan, tài nguyên, môi trường đô thị; Công tác thông tin tuyên truyền; Giám sát quy hoạch và trật tự đô thị; Sự chuyển biến của lối sống dân cư đô thị và công tác quản lý dân cư, văn hóa, giáo dục

Ba là, làm rõ những thành tựu, hạn chế, nguyên nhân của thành tựu và hạn

chế trong quá trình đô thị hóa của quận Tân Phú từ năm 2003 đến năm 2015

Bốn là, rút ra đặc điểm, nhận xét và một số kinh nghiệm trong quá trình đô thị

hóa của quận Tân Phú từ năm 2003 đến năm 2015

Trang 29

22

Chư ng 2 QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA QUẬN TÂN PHÖ

TỪ NĂM 2003 ĐẾN NĂM 2010

2.1 Khái niệm đô thị, đô thị hóa và tiêu chí đánh giá đô thị hóa

2.1.1 Khái ni m đô thị, đô thị hóa

Khái niệm đô thị: Có nhiều khái niệm khác nhau về đô thị, theo những nhà quy

hoạch đô thị Mỹ, “đô thị là nơi tập trung dân cư với quy mô lớn tại một khu vực địa dư

cụ thể, trong đó người ta hỗ trợ nhau một cách thường xuyên và sòng phẳng thông qua các họat động kinh tế của khu vực đó… và là nơi có cơ hội để có được môi trường sống

đa dạng và nhiều kiểu sống khác nhau” Còn theo các nhà nghiên cứu Brazil thì: “Quy

mô dân số không được sử dụng để xác định các đô thị, đơn giản chỉ có thủ đô mới là đô thị Định nghĩa này chủ yếu là dựa trên chức năng chính trị của đô thị” [73, tr.25]

Ở Việt Nam, xuất phát từ lịch sử hình thành đô thị, các nhà nghiên cứu đã đưa ra

những quan niệm khác nhau về đô thị Từ điển Tiếng Việt định nghĩa đô thị là: “N i dân cư đông đúc, là trung tâm thư ng nghiệp và có thể cả công nghiệp, được gọi là thành phố hoặc thị trấn” [122, tr.332] Kiến trúc sư Nguyễn Thế Bá cho rằng “Đô thị là

điểm dân cư tập trung với mật độ cao, chủ yếu là lao động phi nông nghiệp, có hạ tầng

cơ sở thích hợp, là trung tâm chuyên ngành hay tổng hợp, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, của một miền lãnh thổ, của một tỉnh, một huyện hoặc một vùng trong tỉnh, trong huyện” [4, tr.5]

Khái niệm về đô thị hóa: Khái niệm đô thị hóa bao hàm nội dung rất rộng, chứa

đựng nhiều hiện tượng và nhiều biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau Từ góc độ quy hoạch đô thị: Đô thị hóa là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ sở hạ tầng, văn hóa, lối sống dân cư Trên quan điểm một vùng, đô thị hoá là một quá trình hình thành, phát triển các hình thức và điều kiện sống theo kiểu đô thị

Đô thị hóa là quá trình tập trung dân cư ngày càng đông vào các đô thị và làm nâng cao vai trò thành thị đối với sự phát triển của xã hội [117, tr.354] Đô thị hóa là

hiện tượng dân cư tập trung ngày càng cao và dày đặc tại những địa điểm có tính chất

đô thị và sự phát triển không gian của thành phố Theo đó quá trình đô thị hóa về bản chất là sự thu hoạch được lối sống của đô thị, bởi trong quá trình hiện đại hóa, có sự di chuyển tập trung nhân khẩu nông nghiệp về thành thị, nhưng nếu lối sống của các cư dân ấy không trở thành lối sống đô thị, thì quá trình đô thị hóa cũng có thể coi như chưa

đi đến bản chất của vấn đề

Trang 30

23

Như vậy, đô thị là nơi dân cư đông đúc, một vùng lãnh thổ đặc biệt nơi diễn ra

các hoạt động kinh tế thuộc lĩnh vực công nghiệp - dịch vụ, có hệ thống cơ sở vật chất

kỹ thuật ngày càng hiện đại, nơi tập trung đông dân cư hoạt động phi nông nghiệp, là vị trí trung tâm về kinh tế - chính trị - văn hóa đồng thời có vai trò thúc đẩy sự phát triển của các vùng xung quanh, có những vấn đề đặc thù riêng mà vùng nông thôn không có

Đô thị hóa là quá trình tập trung dân cư ngày càng đông vào đô thị và làm nâng cao vai

trò thành thị đối với sự phát triển của xã hội

2.1.2 Tiêu chí đánh giá đô thị hóa

Các quốc gia trên thế giới dựa trên những tiêu chí và phương pháp khác nhau

để xác định tốc độ hay sự phát triển của một đô thị Theo thống kê, 105 quốc gia dựa trên các tiêu chí hành chính, thủ đô hoặc thị xã, các đô thị tự trị hoặc thuộc phạm vi quản lý của các địa phương khác, 83 quốc gia sử dụng tiêu chí hành chính để phân biệt đô thị và nông thôn, 100 quốc gia định nghĩa thành phố dựa trên số dân hoặc mật độ dân số với mức độ tập trung tối thiểu từ 200 đến 50.000 người, 57 quốc gia

sử dụng tiêu chí này là tiêu chí duy nhất, 25 quốc gia xác định đô thị chủ yếu dựa vào đặc điểm kinh tế mặc dù không loại trừ các tiêu chí khác như tỉ lệ lực lượng lao động làm việc trong các ngành phi nông nghiệp, 18 quốc gia tính đến sự sẵn có của

cơ sở hạ tầng đô thị trong định nghĩa của họ bao gồm sự hiện diện của các con đường nhựa, hệ thống điện cấp nước và thoát nước [79, tr.14]

Ở Việt Nam, đến năm 2009, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 42/2009/NĐ

- CP ngày 07- 5- 2009 về việc phân loại đô thị cũng như đưa ra chương trình phát triển đô thị Theo Nghị định này, đô thị ở Việt Nam được phân thành 6 loại: Loại đặc biệt; Loại I, II, III, IV, V được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định công

nhận Theo đó: Đô thị loại đặc biệt là thành phố trực thuộc Trung ương có các quận nội thành, huyện ngoại thành và các đô thị trực thuộc; Đô thị loại I, loại II là thành

phố trực thuộc Trung ương có các quận nội thành, huyện ngoại thành và có thể có các

đô thị trực thuộc; đô thị loại I, loại II là thành phố thuộc tỉnh có các phường nội thành

và các xã ngoại thành; Đô thị loại III là thành phố hoặc thị xã thuộc tỉnh có các phường nội thành, nội thị và các xã ngoại thành, ngoại thị; Đô thị loại IV là thị xã thuộc tỉnh có các phường nội thị và các xã ngoại thị; Đô thị loại V là thị trấn thuộc

huyện có các khu phố xây dựng tập trung và có thể có các điểm dân cư nông thôn

Thông tư số 34/2009/TT-BXD, ngày 07-05-2009, Quy định chi tiết một số nội dung của Nghị định 42/2009/NĐ-CP của Chính phủ về việc phân loại đô thị Những

tiêu chí quan trọng nhất gồm có: 1 Chức năng đô thị: Là trung tâm tổng hợp hoặc trung tâm chuyên ngành, cấp quốc gia, cấp vùng liên tỉnh, cấp tỉnh, cấp huyện hoặc

Trang 31

24

là một trung tâm của vùng trong tỉnh; có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước hoặc một vùng lãnh thổ nhất định 2 Quy mô dân số toàn đô thị tối thiểu phải đạt 4 nghìn người trở lên 3 Mật độ dân số phù hợp với quy mô, tính chất và đặc điểm của từng loại đô thị và được tính trong phạm vi nội thành, nội thị và khu phố xây dựng tập trung của thị trấn 4 Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp được tính trong phạm

vi ranh giới nội thành, nội thị, khu vực xây dựng tập trung phải đạt tối thiểu 65% so với tổng số lao động 5 Hệ thống công trình hạ tầng đô thị gồm hệ thống công trình hạ tầng

xã hội và hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật: a) Đối với khu vực nội thành, nội thị phải được đầu tư xây dựng đồng bộ và có mức độ hoàn chỉnh theo từng loại đô thị; b) Đối với khu vực ngoại thành, ngoại thị phải được đầu tư xây dựng đồng bộ mạng hạ tầng và bảo đảm yêu cầu bảo vệ môi trường và phát triển đô thị bền vững 6 Kiến trúc, cảnh quan đô thị: việc xây dựng phát triển đô thị phải theo quy chế quản lý kiến trúc đô thị được duyệt, có các khu đô thị kiểu mẫu, các tuyến phố văn minh đô thị, có các không gian công cộng phục vụ đời sống tinh thần của dân cư đô thị; có tổ hợp kiến trúc hoặc công trình kiến trúc tiêu biểu và phù hợp với môi trường, cảnh quan thiên nhiên

Huyện Tân Bình được hình thành rất sớm ngay từ khi nền hành chính được thiết lập ở vùng đất Nam Bộ: Huyện Tân Bình - năm Mậu Dần (1698), Nguyễn Hữu Cảnh vào Nam kinh lý, thấy nơi đây đã có dân cư trên 40.000 hộ và đất đai đã khai mở hàng ngàn dặm; ông lấy đất Nông Đại lập phủ Gia Định gồm huyện Phước Long trên đất Đồng Nai và huyện Tân Bình trên đất Sài Gòn Huyện Tân Bình khi đó rất rộng, nằm từ hữu ngạn sông Sài Gòn đến tả ngạn sông Vàm Cỏ, với diện tích khoảng 11.000 km2, chiếm trên 1/5 diện tích toàn Nam Bộ (63.058 km2)

Trang 32

25

Năm 1808, huyện Tân Bình được nâng cấp lên thành phủ Tân Bình gồm 4 huyện: Bình Dương, Tân Long, Thuận An, Phước Lộc nhưng diện tích vẫn giữ nguyên Đến năm 1832, phủ Tân Bình cắt đất lập thêm phủ Tân Long nên diện tích còn khoảng 6.080 km2 Năm 1838, đặt thêm phủ Tây Ninh, nên diện tích phủ Tân Bình chỉ còn lại khoảng 1.280 km2 Năm 1841, dưới thời vua Thiệu Trị (1807-1847), phủ Tân Bình gồm

3 huyện: Bình Dương, Tân Long, Bình Long (mới lập gồm đất Hóc Môn, Củ Chi), diện tích khoảng 1.280 km2 Năm 1859, liên quân Pháp - Tây Ban Nha đánh chiếm thành Gia Định Năm 1862, triều đình Huế nhượng cho Pháp 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ (Biên Hòa, Gia Định, Định Tường) làm thuộc địa Pháp đổi lại cơ cấu hành chính của Nam Kỳ, theo đó phủ Tân Bình gồm 3 huyện Bình Dương, Tân Long và Phước Lộc, diện tích như cũ

Năm 1867, Pháp chiếm 3 tỉnh miền Tây Nam Kỳ (Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên) Sau đó, Pháp bỏ danh xưng phủ Tân Bình mà chia tỉnh Sài Gòn (trước gọi Gia Định) làm 7 địa hạt tham biện gồm: hạt Sài Gòn (trên địa bàn phủ Tân Bình trước đó), hạt Chợ Lớn, hạt Phước Lộc, hạt Tân Hòa, hạt Tân An, hạt Tây Ninh, hạt Quang Hóa Hạt Sài Gòn gồm 2 huyện Bình Dương và Bình Long Năm 1872, hạt Sài Gòn gồm 3 huyện Bình Dương, Bình Long, Ngãi An (tức Thủ Đức, trước thuộc tỉnh Biên Hòa)

Đến năm 1900, vùng đất này sáp nhập về quận Gò Vấp thuộc tỉnh Gia Định gồm

có 1 tổng tên là Dương Hòa Thượng gồm các xã: Chí Hòa, Phú Thọ Hòa, Phú Nhuận, Tân Sơn Nhì, Tân Sơn Nhất (khi làm sân bay, địa danh Tân Sơn Nhất không còn), Tân Thới Hòa, Bình Hưng Đông, Bình Hưng, Tân Trụ và Vinh Lộc [5, tr.16]

Đến năm 1940, tổng Dương Hòa Thượng có thay đổi địa danh và sáp nhập một

số xã, Tổng Dương Hòa Thượng từ 9 xã còn 5 xã là Phú Nhuận, Bình Hưng Hòa, Phú Thọ Hòa, Tân Sơn Hòa, Tân Sơn Nhì [5, tr.16] Như vậy, địa danh Tân Bình không còn, địa phận Tân Bình xưa cũng bị cắt xén, sáp nhập cho đến năm 1944 Ngày 11-5-

1944, chính quyền thuộc địa ra Nghị định thành lập tỉnh Tân Bình gồm địa bàn các huyện bao quanh Sài Gòn - Chợ Lớn với mục đích phát triển đô thị hóa, nhưng thực chất là để bảo vệ an ninh cho Sài Gòn - Chợ Lớn Tỉnh Tân Bình mới lập đặt tỉnh lỵ tại

Trang 33

26

Đến tháng 3-1945, tỉnh Tân Bình giải thể, tổng Dương Hòa Thượng được tách ra khỏi quận Gò Vấp và lập thành quận Tân Bình Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954), tỉnh Tân Bình được gọi là quận Tân Bình

Ngày 22-10-1956, chính quyền Sài Gòn ban hành Sắc lệnh “thay đổi địa giới và tên đô thành Sài Gòn - Chợ Lớn cùng các tỉnh Nam Việt” Theo đó, tỉnh Gia Định gồm

8 quận, trong đó có quận Tân Bình rộng 113,8 km2 với dân số là 418.781 người Quận Tân Bình có 7 xã: Bình Hưng Hòa, Phú Nhuận, Phú Thọ Hòa, Tân Phú, Tân Sơn Hòa, Tân Sơn Nhì, Vĩnh Lộc Từ năm 1963, đế quốc Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm cho di dân một cách ồ ạt từ các nơi khác về, nên phải lập thêm một xã mới là xã Tân Phú trên cơ sở chia đôi xã Phú Thọ Hòa Đến trước ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng (1975), quận Tân Bình gồm 7 xã với 57 ấp [5, tr.17]

Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng (năm 1975), thành phố Sài Gòn và tỉnh Gia Định sáp nhập Năm 1976, thành phố Sài Gòn - Gia Định đổi tên thành Thành phố Hồ Chí Minh Sau khi đổi tên, Thành phố Hồ Chí Minh có sự điều chỉnh

về địa giới một số quận, trong đó quận Tân Bình cắt 2 xã Bình Hưng Hòa và Vĩnh Lộc về huyện Bình Chánh, tách xã Phú Nhuận thành lập quận Phú Nhuận Quận Tân Bình (mới) có 26 phường, mang tên từ phường số 1 đến phường số 26 Ngày 27-8-

1988, Hội đồng Bộ trưởng ra Quyết định số 136-HĐBT về việc phân vạch địa giới các phường của quận Tân Bình, từ 26 phường sáp nhập lại còn 20 phường [5, tr.18] Địa bàn các phường thuộc quận Tân Phú hiện nay đã tồn tại và phát triển từ năm 1988 cho đến năm 2003, thời điểm trước khi tách quận Tân Bình thành hai quận Tân Bình và quận Tân Phú

Thành lập quận Tân Phú: Do địa bàn quận Tân Bình (cũ) có diện tích tự nhiên

rộng (3.845,2 ha), dân số tăng và chủ yếu là dân số tăng cơ học, dân cư ngày càng đông đúc (dần một triệu dân), trật tự trị an diễn biến theo chiều hướng ngày càng phức tạp, trình độ quản lý nhà nước chưa ngang tầm… Ban Thường vụ Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh chủ trương kiến nghị Trung ương Đảng, Chính phủ cho phép tách một phần quận Tân Bình để lập mới quận Tân Phú, tạo điều kiện thuận lợi

để quận Tân Bình và quận Tân Phú phát triển đúng tiềm năng, thế mạnh của mình, nhằm góp phần để Thành phố Hồ Chí Minh phát huy lợi thế, tiềm năng tương xứng với vị trí và tầm vóc của thành phố đối với khu vực và cả nước

Năm 2003, Thành phố Hồ Chí Minh đã tiến hành điều chỉnh lại địa giới hành chính, theo đó một số quận được chia tách để thực hiện việc phát triển đô thị thuận lợi hơn như quận Bình Tân tách ra từ huyện Bình Chánh, quận Tân Phú tách ra từ quận Tân Bình

Trang 34

27

Quận Tân Phú thành lập ngày 02-12-2003 theo Nghị định số

130/2003/NĐ-CP ngày 05-11-2003 của Chính phủ về việc thành lập các quận Bình Tân, Tân Phú

và các phường trực thuộc Tại thời điểm thành lập, quận Tân Phú có 1.606,98 ha diện tích đất tự nhiên với 310.876 nhân khẩu Quận Tân Phú bao gồm toàn bộ diện tích đất tự nhiên và dân số của các Phường 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20 của quận Tân Bình [5, tr.18]

Địa giới hành chính quận Tân Phú phía đông giáp quận Tân Bình; phía tây giáp quận Bình Tân; phía nam giáp các Quận 6, Quận 11; phía bắc giáp Quận 12 Quận Tân Phú phân chia thành 11 đơn vị hành chính trực thuộc, gồm các phường: Tân Sơn Nhì, Tây Thạnh, Sơn Kỳ, Tân Quý, Tân Thành, Phú Thọ Hòa, Phú Thạnh, Phú Trung, Hòa Thạnh, Hiệp Tân, Tân Thới Hòa Ủy ban nhân dân quận Tân Phú có

13 cơ quan chuyên môn bao gồm: Văn phòng Ủy ban nhân dân quận, Phòng Nội

vụ, Phòng Tư pháp, Thanh tra, Phòng Tài chính - Kế hoạch, Phòng Kinh tế, Phòng Giáo dục và Đào tạo, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội, Phòng Văn hóa và Thông tin, Phòng Y tế, Phòng Quản lý đô thị, Phòng Tài nguyên và Môi trường, Thanh tra xây dựng và 09 đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc như: Ban Quản lý đầu tư xây dựng công trình, Ban Bồi thường, giải phóng mặt bằng, Văn phòng đăng

ký quyền sử dụng đất, Đội quản lý nhà, Trung tâm dạy nghề, Bệnh viện quận, Trung tâm Y tế dự phòng, Trung tâm Kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp, Trung tâm Văn hóa - Thể dục thể thao

Sau khi thành lập, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân quận Tân Phú đã khắc phục khó khăn, vượt qua mọi thử thách, xây dựng hệ thống chính trị từ phường đến quận ngày càng hoàn thiện và lớn mạnh về mọi mặt Nhiều vấn đề về an sinh xã hội

đã được Đảng bộ, chính quyền quận giải quyết kịp thời, có trách nhiệm, cùng với sự phối hợp chặt chẽ của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội và sự đồng thuận, ủng hộ của nhân dân Quận Tân Phú đã thực hiện bước đột phá ban đầu là vận động nhân dân hiến đất làm đường, di dời phần mộ để phục vụ xây dựng cơ sở hạ tầng,… những phong trào này có sức lan tỏa mạnh mẽ, cơ sở hạ tầng kỹ thuật bước đầu có tác dụng thúc đẩy kinh tế, xã hội phát triển

2.2.2 iều ki n tự nhiên, kinh tế và văn hoá, xã hội của quận Tân Phú

tr ớc khi ra đời

Về điều kiện tự nhiên

Địa hình quận Tân Phú ngày nay nhìn chung tương đối bằng phẳng, có độ cao trung bình nền từ 2,78m đến 4,07m (theo hệ độ cao Hòn Dấu) Hướng dốc chính của quận Tân Phú là từ phía Đông - Nam sang Tây - Bắc Đặc trưng về thổ nhưỡng của

Trang 35

28

quận Tân Phú là đất nền được cấu tạo từ phù sa cổ, thành phần gồm cát pha sét, sét chứa laterite Sức chịu nén của nền đất từ 0,7 đến 1,2kg/m2

Diện tích đất của toàn quận Tân Phú khi thành lập là 1.606,98 ha (2003), được

sử dụng cho các mục đích: Nhà ở; Công trình đô thị cấp cơ sở; Đất cây xanh sử dụng công cộng; Đất giao thông; Đất thể dục thể thao; Đất công nghiệp; Đất công trình tôn giáo, tín ngưỡng; Đất nghĩa trang; Đất quốc phòng; Đất sân bãi; Đất sông rạch, ao hồ và đất trống

Tân Phú là một quận nội thành của Thành phố Hồ Chí Minh, nằm trong vùng khí hậu chung là nhiệt đới gió mùa Một năm có hai mùa chính là mùa mưa và mùa khô, mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10 hàng năm; mùa khô bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Nhiệt độ trung bình của quận dao động từ 280C đến 300C Tháng

có nhiệt độ thấp nhất là tháng 12 (260C), tháng có nhiệt độ cao nhất (360C) Lượng mưa trung bình hàng năm là 1900mm Hướng gió thay đổi chiều nhiều trong một năm, hướng gió chủ yếu là Tây Nam (60%) và Đông Nam (30-40%), tốc độ trung bình của gió 2-3m/s Độ ẩm không khí thường biến thiên theo mùa, tỷ lệ nghịch với chế độ nhiệt

Độ ẩm cao nhất vào tháng 9 và tháng 10 là 87%, độ ẩm thấp nhất vào tháng 3 là 20%,

độ ẩm cao trung bình là 82%, độ ẩm thấp trung bình là 30% Độ bốc hơi, lượng bốc hơi trong năm khá lớn, tổng lượng 1.399 mm/năm, trong các tháng nắng là 5-6mm/ngày, các tháng mưa 2-3mm/ngày Mùa khô mực nước ngầm xuống rất thấp

Mực nước ngầm cách mặt đất từ 2m đến 5m có khả năng khai thác lớn để phục

vụ đời sống cho nhân dân Hệ thống kênh rạch của quận phong phú, góp phần lưu thông nước chính của quận là kênh Tham Lương, kênh Tân Hóa, kênh Nước Đen Diện tích đất sông rạch, ao hồ chiếm khoảng 14,62 ha Trong đó, một phần phường Phú Thạnh, phần lớn phường Hòa Thạnh, toàn bộ phường Phú Trung, Hiệp Tân và phường Tân Thới Hòa chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi chế độ bán nhật triều không đều trên sông Sài Gòn và sông Nhà Bè Trên các địa bàn này, mỗi ngày có hai lần triều lên

và hai lần triều xuống

Khu vực này là một trong những vùng trũng, bị nhiễm phèn, mặn, thường ngập nước lúc triều cường, nên sản xuất nông nghiệp gặp nhiều khó khăn, muốn có năng suất và hiệu quả cao phải đầu tư lớn Vì thế, tiến hành xây dựng đô thị với định hướng kinh tế theo hướng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại - dịch vụ là yêu cầu bức thiết

Đồng thời với địa hình tương đối bằng phẳng, nền đất tốt là cơ sở quan trọng cho việc xây dựng đô thị; diện tích đất dành cho xây dựng các công trình cở sở, nhà ở các công trình công cộng, đất có thể cải tạo lớn là tiềm năng lớn để xây dựng những khu đô

Trang 36

29

thị mới, khu công nghiệp và mở rộng hệ thống giao thông và cơ sở hạ tầng dịch vụ - thương mại Khí hậu mát mẻ cùng hệ thống thủy văn là điều kiện thuận lợi để Tân Phú hình thành nên các khu công viên cây xanh ven kênh, tạo điểm nhấn, cảnh quan và nơi vui chơi, giải trí của nhân dân Đây là những điều kiện tương đối thuận lợi để quận Tân Phú phát triển kinh tế và đẩy nhanh tốc độ đô thị hóa

Kinh tế, văn hóa, xã hội

Trước năm 2003, vùng đất thuộc Tân Phú hiện nay là vùng đất nông nghiệp

nhưng đang phát triển theo hướng đô thị hóa, có thế mạnh về vị trí đất đai thuận lợi, lực lượng lao động dồi dào, có điều kiện thuận lợi cho việc cải thiện hạ tầng giao thông, kỹ thuật, trường học… tạo môi trường cảnh quan thông thoáng, thu hút đầu tư, phát triển kinh tế, xã hội Cơ cấu kinh tế của quận đang trong thời kỳ chuyển dịch khá mạnh, theo

hướng dịch vụ, thương mại, tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp

Thế mạnh kinh tế của vùng đất thuộc Tân Phú là sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, đặc biệt trên địa bàn có 1 khu công nghiệp đã hình thành từ rất sớm với hơn 133 doanh nghiệp đang hoạt động với hơn 11.000 công nhân, lao động đang tham gia lao động sản xuất Tính đến năm 2003, trên địa bàn quận Tân Phú đã có 2.655 cơ sở sản xuất công nghiệp Giá trị sản xuất công nghiệp toàn quận thực hiện trong năm 2003 là 2.293 tỷ đồng, trong đó khu vực ngoài quốc doanh chiếm tỷ trọng hơn 97% Về đầu tư, các doanh nghiệp đã đầu tư đổi mới công nghệ, trang thiết bị, máy móc hiện đại với tổng trị giá 421 tỷ đồng, tập trung vào các ngành dệt may, sản xuất các sản phẩm từ cao su, nhựa [155, tr.1]

Tuy nhiên, trước năm 2003, kinh tế khu vực Tân Phú hiện nay mặc dù có phát triển nhưng chưa vững chắc, do các doanh nghiệp, hộ cá thể chỉ đầu tư chiều rộng, các

cơ sở đăng ký mới nhiều nhưng đầu tư chiều sâu ít, thương mại - dịch vụ chưa phát triển do hạ tầng yếu kém Trên địa bàn lúc đó vẫn còn những doanh nghiệp, cơ sở sản xuất chưa đảm bảo theo yêu cầu do các nguyên nhân khách quan như: tiến độ đầu tư hạ tầng ở các khu công nghiệp chậm, việc hợp thức hóa cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất cho các doanh nghiệp, hộ sản xuất cá thể kéo dài dẫn đến việc chuyển nhượng di dời, tạo vốn đầu tư nơi khác chậm,

Giá trị công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp chỉ ở mức trung bình và không có ngành nghề hoặc sản phẩm chủ lực Thương mại - dịch vụ (ngoài các doanh nghiệp

do Trung ương và Thành phố quản lý như Metro, Reverside, Phú Nhuận, Parkland, kho chân cầu Sài Gòn, Toyota đông Sài Đòn, Công ty APSC ) vẫn còn mang hình dáng của một nền sản xuất nhỏ tại nông thôn với các chợ thôn quê, chưa hình thành mạng lưới dịch vụ của một đô thị hiện đại Trước khi tách quận Tân Phú vẫn

Trang 37

30

duy trì hoạt động nông nghiệp, công nghiệp, thương mại - dịch vụ Tuy nhiên, như trên đã nói, hoạt động sản xuất nông nghiệp của quận rất khó khăn do là vùng trũng, hệ thống thủy lợi không đáp ứng được nhu cầu tưới tiêu, năng suất kém và phải đầu tư lớn Trên địa bàn đã có những khu chuyên sản xuất hàng thủ công nghiệp, có nhiều khu công nghiệp, tuy nhiên chưa khai thác hết tiềm năng về quỹ đất cũng như lao động của vùng Hơn thế, những khu công nghiệp ở đây do không

quản lý tốt nên ảnh hưởng lớn đến môi trường

Hạ tầng kỹ thuật rất nghèo nàn, chưa hoàn thiện, đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo khá đông; cơ sở hạ tầng thấp kém; công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp phát triển tự phát; hệ thống trường học, trạm y tế, trung tâm văn hóa, khu vui chơi cho thanh thiếu niên còn nhiều thiếu thốn Trong khi đó, đội ngũ cán bộ quận, phường rất non trẻ Đến trước năm 2003, khi còn là địa bàn quận Tân Bình, ở nhiều nơi vẫn còn khá nhiều đường đất (chiếm 58%), đá sỏi và thường xuyên lầy lội Hệ thống đường trục chính xuống cấp trầm trọng, mặt đường nhỏ hẹp Hệ thống giao thông thường xuyên bị tắc nghẽn trong khi nhu cầu về đường, cầu nối các khu vực để tăng cường hoạt động thương mại, dịch vụ rất bức thiết Hầu hết các tuyến đường huyết mạch trên địa bàn quận do thành phố quản lý chưa được thi công nâng cấp, mở rộng; hai phường Tây Thạnh và Sơn Kỳ hầu như chưa

có đường nhựa và hệ thống cống thoát nước Bên cạnh đó, các phường Phú Thạnh, Phú Trung, Phú Thọ Hòa, Tân Thới Hòa, Hiệp Tân, Tân Sơn Nhì có cống thoát nước, đường nhựa khoảng 40-50%, 2 phường Tân Quý và Phú Thạnh có trên 50% đường nhựa, cống thoát nước, duy chỉ có phường Tân Thành có khoảng 80% đường nhựa, cống thoát nước [155, tr.2] Hệ thống cấp điện, cấp nước và thoát nước chưa đáp ứng được nhu cầu sử dụng trong nhân dân cũng như trong sản xuất

Hạ tầng xã hội như trường học, bệnh viện đa khoa, trạm y tế, chợ, nhà văn hóa, trung tâm thể dục thể thao.v.v chưa đáp ứng được nhu cầu của quận

Trước năm 2003, dân cư, lao động sinh sống tại khu vực quận Tân Phú hiện nay đa số là người Kinh, ngoài ra là một số ít người Hoa và người Khmer (Người Hoa chiếm khoảng hơn 8,5% dân số, sống tập trung ở các phường Phú Thạnh, Phú Trung, Hòa Thạnh, Hiệp Tân và Tân Thới Hòa) Tại thời điểm chia tách quận, dân

cư ở Tân Phú chủ yếu là dân nhập cư, lực lượng lao động phần đông là trẻ, chịu khó nhưng thiếu đào tạo, không có chuyên môn và chủ yếu là lao động thời vụ Đây là một đặc điểm rất lớn về tỷ lệ về cơ cấu dân cư ở Tân Phú trong quá trình đô thị hóa

Lao động tại chỗ chủ yếu là lao động phổ thông, một số ít vẫn tiếp tục nghề nông theo kiểu tiểu nông hoặc các ngành nghề lao động giản đơn, thủ công Một số

Trang 38

31

cư dân ở các khu đô thị mới như Phú Mỹ Hưng, An Khánh có trình độ cao thì làm việc ở quận khác, sự đóng góp để xây dựng quận nhà rất ít Do vậy, trong quy hoạch phát triển quận phải dựa vào lực lượng lao động và chất xám chủ yếu là từ bên ngoài quận Mức sống của nhân dân và mặt bằng dân trí còn khá thấp, tình trạng đói nghèo, nhà ở tạm bợ, tệ nạn xã hội cũng là vấn đề quận Tân Phú phải giải quyết trong quá trình đô thị hóa

Về văn hóa, xã hội, cơ sở vật chất ngành giáo dục trên địa bàn quận Tân Phú hiện

nay còn đang trong giai đoạn được đầu tư, do đó đã ảnh hưởng đến các công tác phổ cập giáo dục và các hoạt động chuyên môn khác Thực trạng các trường mầm non, tiểu học bị quá tải nên dẫn đến tình trạng các nhóm trẻ gia đình hình thành tự phát theo nhu cầu của xã hội

Một thực tế khó khăn đối với địa bàn này trước khi thành lập quận Tân Phú trước năm 2003 là số cán bộ - công chức tốt nghiệp đại học và trên đại học ít, số được đào tạo chuyên sâu về chuyên môn nghiệp vụ và bố trí đúng ngành nghề còn

ít hơn, sự am hiểu thực tiễn, đặc biệt là những vấn đề phát sinh của một đô thị mới còn nhiều hạn chế

Công tác xã hội ở địa bàn cũng gặp không ít khó khăn Trên toàn địa bàn có

942 gia đình liệt sĩ, 468 thương binh, 34 bệnh binh, 12 mẹ Việt Nam anh hùng, 2.027 người hoạt động kháng chiến, 176 gia đình có công với cách mạng Năm

2003, khảo sát toàn quận có 318 hộ thuộc diện XĐGN, trong đó có 112 hộ trong diện và 206 hộ bảo lưu; có 2 phường không còn hộ nghèo theo tiêu chí 3 triệu đồng/người/năm (Tân Thành, Tân Sơn Nhì) [5, tr.76] Đây là một vấn đề rất lớn của quận trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội

Đầu thế kỷ XXI, Thành phố Hồ Chí Minh đã đạt được những thành tựu rất lớn

về phát triển kinh tế, xã hội Trước yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập quốc tế, nhu cầu phát triển cả về quy mô và tốc độ của Thành phố Hồ Chí Minh rất lớn, cần phải quy hoạch lại các quận huyện trên địa bàn thành phố Mặt khác, bản thân các quận cũng đứng trước yêu cầu phát triển và mở rộng Trong bối cảnh

đó, sự ra đời của quận Tân Phú là một tất yếu

2.2.3 Chủ tr ơng, chính sách về đô thị hóa của ảng, Chính phủ, của Thành phố Hồ Chí Minh và quận Tân Phú

Từ khi tiến hành Đổi mới toàn diện đất nước (năm 1986), Đảng đã đề ra nhiều chủ trương để phát triển đất nước và Chính phủ cũng ban hành nhiều chính sách để khuyến khích phân bố tăng trưởng kinh tế và phát triển đô thị đồng đều hơn

Trang 39

32

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng (năm 1996), Đảng đã đề

ra mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2020, Việt Nam sẽ trở thành “Một nước công nghiệp có c sở vật chất - kỹ thuật hiện đại” Tại Đại hội IX của Đảng (năm 2001), mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2020 là: “Đến năm 2020, nước ta c bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại” Đại hội X của Đảng (năm 2006), một lần nữa xác định: “Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển kinh tế tri thức tạo nền tảng để đưa nước ta c bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020” [29, tr.186] Đến Đại hội XI (năm 2011), Đảng tiếp tục khẳng định: “ tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta c bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại” [30, tr.33]

Quán triệt và thực hiện chủ trương của Đảng, Chính phủ cũng đề ra những chính sách để thể hiện quyết tâm đưa đất nước tiến lên theo con đường công nghiệp hóa, hiện

đại hóa Chính phủ đã ban hành Quyết định số 10 năm 1998 về Chiến lược phát triển và

xây dựng hệ thống đô thị đến năm 2020, với định hướng phát triển các đô thị vừa và nhỏ, đồng thời kiềm chế sự tăng trưởng của các đô thị lớn Chiến lược phát triển kinh tế

- xã hội giai đoạn 2011 - 2020 nhận định rằng, đô thị hóa là điều cần thiết để thúc đẩy thực hiện các mục tiêu công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng, phát biểu tại Hội nghị Đô thị toàn quốc, ngày 7-11-2009 nhấn mạnh: “Việt Nam sẽ chỉ có một cơ hội duy nhất để đô thị hóa đi đúng hướng Nếu thất bại trong đô thị hóa, chúng ta cũng sẽ thất bại trong công nghiệp hóa và hiện đại hóa”

Từ năm 2001, Nhà nước Chuyển hướng sang các chính sách phát triển đô thị vì người nghèo Theo đó, Nghị định 72/NĐ-CP, ngày 05-10-2001 về việc phân loại đô thị

và cấp quản lý đô thị và Nghị định 42/NĐ-CP, ngày 7-5-2009 về việc phân loại đô thị

để phân biệt rõ vai trò của các đô thị Hệ thống phân loại nói trên có tác động đến các chức năng quản lý hành chính, thu thuế và phân bổ ngân sách nhà nước Một hệ quả không mong muốn của hệ thống này là xu hướng các đô thị khai thác những lỗ hổng trong hệ thống phân loại để nâng hạng đô thị Những động thái này chủ yếu mang tính hành chính và không phải lúc nào cũng dựa trên kết quả hoạt động kinh tế thực sự của thành phố Quyết định số 10 (năm 1998) của Chính phủ nhằm ban hành Chiến lược phát triển và hệ thống đô thị đến năm 2020 đã kêu gọi phát triển các đô thị vừa và nhỏ

và kiềm chế sự tăng trưởng của các thành phố lớn Tuy nhiên, năm 2009, Quyết định

số 445 của chính phủ nhằm cập nhật nội dung của Quyết định năm 1998 và mở rộng tầm nhìn đến năm 2050 lại chấp nhận khả năng phát triển của các siêu đô thị trên 10 triệu dân Quan điểm hiện nay là phát triển một hệ thống đô thị, mà trong đó mỗi một

đô thị đều có vai trò trong nền kinh tế đô thị của cả nước Tuy nhiên, những quyết

Trang 40

33

định nói trên không có tính bắt buộc và chỉ được coi như những tuyên bố định hướng

chiến lược Chiến lược Phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2011 - 2020 thừa nhận đô thị hóa là điều cần thiết để thúc đẩy các mục tiêu CNH, HĐH đất nước

Năm 2003, Nhà nước đã sửa đổi và ban hành Luật Đất đai sửa đổi để tiếp tục

cấp quyền sử dụng đất, cũng như việc góp vốn cho hoạt động kinh doanh và chủ sở hữu được đền bù khi nhà nước thu hồi đất cho các dự án phát triển Khung giá đất (thường thấp hơn giá thị trường khoảng 30 - 70%) được quy định nhằm mục đích thúc đẩy sự phát triển kinh tế Điều này tạo thu hút đầu tư bất động sản, tuy nhiên đó cũng là nguyên nhân dẫn đến tình trạng đầu cơ đất đai, tạo mâu thuẫn về đất đai và làm cho giá đất tăng khi đến tay người sử dụng trực tiếp

Đối với Thành phố Hồ Chí Minh, để phù hợp với thời kỳ phát triển mới, chủ động hội nhập kinh tế với khu vực và thế giới, Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ VIII năm 2005 đã chỉ rõ “Thành phố Hồ Chí Minh cần xây dựng chính quyền đô thị”, Nghị quyết 20 - BCT năm 2002: Đến năm 2010, để trở thành trung tâm công nghiệp dịch vụ, Thành phố Hồ Chí Minh cần xây dựng thành một thành phố văn minh hiện đại, phát huy vai trò của thành phố với cả nước, với khu vực và từng bước trở thành trung tâm công nghiệp dịch vụ của khu vực Đông Nam Á xứng đáng là thành phố mang tên Bác Trong buổi làm việc với lãnh đạo thành phố ngày 25-09-2006, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã nhấn mạnh: “Tập trung rà soát chỉ đạo phát triển nguồn nhân lực phục vụ ngành công nghiệp công nghệ cao và ngành dịch vụ; trước mắt cần tiến hành điều chỉnh

bổ sung quy hoạch thành phố gắn kết với vùng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, trong đó chú trọng quy hoạch hạ tầng đô thị…” [129]

Trong mục tiêu đô thị hóa chung của Thành phố Hồ Chí Minh, các thế hệ lãnh đạo của Thành phố luôn tạo điều kiện để các quận nội thành xây dựng quận theo hướng đô thị hóa Ngày 21-9-2005, tại Đại hội Đảng bộ quận Tân Phú lần thứ IX (2005-2010), ông Lê Hoàng Quân phát biểu chỉ đạo, gợi ý thêm những vấn đề trọng tâm để tập trung xây dựng quận Tân Phú trong sự nghiệp CNH, HĐH Theo đó, quận Tân Phú “cần phải có các giải pháp thiết thực để tập trung phát triển kinh tế - xã hội bền vững, cải thiện nâng cao đời sống vật chất và tinh thần nhân dân địa phương”,

“thúc đẩy nhanh tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế chung của thành phố là dịch vụ - công nghiệp - nông nghiệp”, “Phát triển và quản lý đô thị cần làm rõ việc làm, cách làm nào để quận sớm hoàn thành công tác quy hoạch tổng thể, quy hoạch chi tiết, quy hoạch ngành, qua đó làm cơ sở pháp lý để thực hiện chặt chẽ công tác quản lý đô thị theo đúng quy hoạch” [5, tr.167]

Ngày đăng: 19/05/2021, 01:23

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w