Ðối với những nước đang thực hiện công nghiệp hoá, đô thị hoá, chuyển từ sản xuất thuần nông sang phát triển các ngành công nghiệp và dịch vụ, xây dựng các khu đô thị nhỏ, thị trấn, thị
Trang 1NGUYỄN THỊ HUYỀN
MỘT SỐ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH
XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN CHƯƠNG MỸ TỪ KINH NGHIỆM THÍ ĐIỂM
TẠI XÃ THỤY HƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Hà Nội, 2012
Trang 2NGUYỄN THỊ HUYỀN
MỘT SỐ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH
XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN CHƯƠNG MỸ TỪ KINH NGHIỆM THÍ ĐIỂM TẠI XÃ
THỤY HƯƠNG
Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp
Mã số: 60.31.10
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS TS NGUYỄN VĂN TUẤN
Hà Nội, 2012
Trang 3ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu
Nông thôn là một kiểu tổ chức xã hội đặc thù nơi có trên 70% dân số Việt Nam sinh sống Nông nghiệp, nông thôn luôn là vấn đề có vị trí quan trọng đặc biệt trong chiến lược và đường lối phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam Phát triển nông nghiệp nông thôn theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa đã được khẳng định trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của nước ta
Để phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa Đảng ta đã chủ trương cần giải quyết đồng bộ cả ba vấn đề là
“Nông nghiệp, nông thôn, nông dân” Xuất phát từ chủ trương đó Đảng và
Nhà nước ta đã đưa ra nghị quyết số 26 Hội nghị lần thứ VII Ban chấp hành
TW khóa X về “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn” (năm 2008) đã chỉ ra đường lối, quan điểm, nhiệm vụ và giải pháp lớn về công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn đến năm 2020
Chương trình xây dựng nông thôn mới là một trong nhiều phương pháp thúc đẩy công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn Quyết định 491/QĐ-TTg năm 2009 về Bộ tiêu chí quốc gia xây dựng nông thôn mới do Thủ tướng chính phủ ban hành đã chỉ ra những chỉ tiêu nhằm mục đích hướng chương trình xây dựng nông thôn mới đạt kết quả tốt Xây dựng nông thôn mới đã được triển khai thí điểm ở 11 xã trọng điểm, làm cơ sở và kinh nghiệm cho việc triển khai trên diện rộng
Thụy Hương là một trong số các xã được chọn làm thí điểm thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới của Trung ương
Mô hình đã khơi dậy được niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước Nói chung mô hình đã thúc đẩy được sự tăng trưởng khá mạnh mẽ kinh tế - xã hội nông thôn ở Thụy Hương Tuy nhiên, mô hình thí
Trang 4điểm xây dựng nông thôn mới theo phương pháp tiếp cận mới còn nhiều khó khăn và bất cập
Xuất phát từ những vấn đề trên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Một số
giải pháp góp phần thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Chương Mỹ từ kinh nghiệm thí điểm tại xã Thụy Hương”
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu tổng quát:
Trên cơ sở nghiên cứu kết quả thực hiện chương trình thí điểm xây dựng nông thôn mới tại xã Thuỵ Hương, sẽ đề ra một số giải pháp góp phần thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn Huyện Chương
Mỹ từ kinh nghiệm thí điểm tại xã Thuỵ Hương
- Mục tiêu cụ thể:
+ Hệ thống hoá được cơ sở lý luận về xây dựng nông thôn mới
+ Đánh giá được thực trạng và kết quả thực hiện thí điểm chương trình xây dựng nông thôn mới tại xã Thuỵ Hương - Chương Mỹ - Hà Nội
+ Rút ra được bài học kinh nghiệm qua mô hình thí điểm thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới tại xã Thụy Hương
+ Đề xuất một số giải pháp góp phần thực hiện chương trình XDNTM trên địa bàn Huyện Chương Mỹ từ kinh nghiệm thí điểm tại xã Thuỵ Hương
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là quá trình và kết quả thực hiện thí điểm chương trình XDNTM tại xã Thuỵ Hương - Chương Mỹ - Hà Nội
- Phạm vi nghiên cứu:
Luận văn tập trung nghiên cứu về thực hiện chương trình XDNTM tại
xã Thuỵ Hương
4 Nội dung nghiên cứu
- Cơ sở lý luận về xây dựng nông thôn mới
Trang 5- Thực trạng và kết quả thực hiện thí điểm xây dựng nông thôn mới ở
xã Thụy Hương
- Bài học kinh nghiệm từ xã thí điểm Thụy Hương
- Một số giải pháp góp phần thực hiện chương trình xây dựng NTM trên địa bàn Huyện Chương Mỹ từ kinh nghiệm thí điểm tại xã Thụy Hương
Trang 6Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN
NÔNG THÔN VÀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
1.1 Cơ sở lý luận về phát triển nông thôn
1.1.1 Khái niệm và vai trò của nông thôn
1.1.1.1 Khái niệm nông thôn
Hiện nay trên thế giới vẫn chưa có định nghĩa chuẩn xác về nông thôn, còn nhiều quan điểm khác nhau Có quan điểm cho rằng cần dựa vào chỉ tiêu trình độ phát triển của cơ sở hạ tầng, có nghĩa vùng nông thôn có cơ sở
hạ tầng không phát triển bằng vùng đô thị Quan điểm khác lại cho rằng nên dựa vào chỉ tiêu trình độ tiếp cận thị trường, phát triển hàng hoá để xác định vùng nông thôn vì cho rằng nông thôn có trình độ sản xuất hàng hoá và khả năng tiếp cận thị trường so với đô thị là thấp hơn Cũng có ý kiến nên dùng chỉ tiêu mật độ dân cư và số lượng dân trong vùng để xác định Theo quan điểm này, vùng nông thôn thường có số dân và mật độ dân thấp hơn vùng thành thị
Một quan điểm khác nêu ra, vùng nông thôn là vùng có dân cư làm nông nghiệp là chủ yếu, tức là nguồn sinh kế chính của cư dân trong vùng là
từ sản xuất nông nghiệp Những ý kiến này chỉ đúng khi đặt trong bối cảnh
cụ thể của từng nước, phụ thuộc vào trình độ phát triển, cơ cấu kinh tế, cơ chế
áp dụng cho từng nền kinh tế Ðối với những nước đang thực hiện công nghiệp hoá, đô thị hoá, chuyển từ sản xuất thuần nông sang phát triển các ngành công nghiệp và dịch vụ, xây dựng các khu đô thị nhỏ, thị trấn, thị tứ rải rác ở các vùng nông thôn thì khái niệm về nông thôn có những đổi khác
so với khái niệm trước đây Có thể hiểu nông thôn hiện nay bao gồm cả những đô thị nhỏ, thị tứ, thị trấn, những trung tâm công nghiệp nhỏ có quan
hệ gắn bó mật thiết với nông thôn, cùng tồn tại, hỗ trợ và thúc đẩy nhau phát triển
Trang 7Hội nghị nhóm chuyên viên của Liên Hợp Quốc đã đề cập đến một khái niệm - CONTINIUM nông thôn - đô thị Có thể hiểu nông thôn - đô thị
là một khu vực kinh tế hỗn hợp gồm nông thôn, nông thị và đô thị kế tiếp, xen kẽ nhau Trong đó, nông thôn được coi là các làng xã nông nghiệp cổ truyền, nông thị là các đô thị nhỏ, thị trấn, thị tứ, chợ có chức năng như cầu nối giữa nông thôn và thành thị, còn đô thị là các thành phố lớn, vừa, hoặc các khu công nghiệp tập trung Trong CONTINIUM nông thôn - đô thị, các hoạt động nông nghiệp được gắn với công nghiệp và các ngành dịch vụ, có tác dụng chuyển dịch nông thôn theo hướng công nghiệp hoá và đô thị hoá
Như vậy, khái niệm về nông thôn chỉ có tính chất tương đối, thay đổi theo thời gian và theo tiến trình phát triển kinh tế, xã hội của các quốc gia trên thế giới Trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam, khái ni ệm về nông
thôn có thể hiểu: “Nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp cư dân, trong
đó có nhiều nông dân Tập hợp cư dân này tham gia vào các hoạt động kinh
tế, văn hóa - xã hội và môi trường trong một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác” [6, tr.11]
1.1.1.2 Vai trò của nông thôn
Nông nghiệp nông thôn Việt Nam tập trung vào ba ngành quan trọng gồm: Chăn nuôi, thủy sản và gạo Trong đó, gạo và chăn nuôi đóng vai trò quan trọng trong an ninh lương thực quốc gia và tạo sinh kế cho hàng triệu người dân Ngành thủy sản hiện đóng vai trò đầu tàu trong xuất khẩu nông lâm thủy sản nói riêng và xuất khẩu của cả nước nói chung
Nông thôn ở nước ta bao gồm những vai trò sau:
- Thứ nhất, nông thôn là địa bàn sản xuất và cung cấp lương thực thực phẩm cho tiêu dùng của cả xã hội Người nông dân ở nông thôn sản xuất lương thực, thực phẩm để nuôi sống họ và cung cấp cho nhân dân cả nước Sự gia tăng dân số là sức ép to lớn đối với sản xuất nông nghiệp trong việc cung
Trang 8ứng đủ lương thực, thực phẩm cho toàn xã hội Vì vậy, sự phát triển bền vững nông thôn sẽ góp phần đáp ứng nhu cầu lương thực và thực phẩm tiêu dùng cho toàn xã hội và nâng cao năng lực xuất khẩu các mặt hàng này cho quốc gia
- Thứ hai, với số dân chiếm đa số sống bằng nông nghiệp, khu vực nông thôn thực sự là nguồn nhân lực dồi dào cho khu vực thành thị Sự thâm nhập của lao động vào thành thị cũng như sự gia tăng dân số đều đặn ở các vùng thành thị là không đủ để đáp ứng nhu cầu lâu dài của phát triển kinh tế quốc gia Nếu việc di chuyển nhân công ra khỏi nông nghiệp sang các ngành khác bị hạn chế thì sự tăng trưởng sẽ bị ảnh hưởng và việc phát triển kinh tế
sẽ phiến diện Vì vậy, phát triển bền vững nông thôn sẽ góp phần làm ổn định kinh tế của quốc gia
- Thứ ba, nông thôn là thị trường quan trọng để tiêu thụ sản phẩm của khu vực thành thị hiện đại Trước hết nông thôn là địa bàn quan trọng tiêu thụ các sản phẩm của công nghiệp Nếu thị trường rộng lớn ở nông thôn được khai thông, thu nhập người dân nông thôn được nâng cao, sức mua của người dân tăng lên, công nghiệp có điều kiện thuận lợi để tiêu thụ sản phẩm sản xuất của toàn ngành không chỉ hàng tiêu dùng mà cả các yếu tố đầu vào của nông nghiệp Phát triển nông thôn sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển công nghiệp
và những ngành sản xuất khác trên phạm vi toàn xã hội Năm 2010, xuất khẩu nông sản của Việt Nam đạt hơn 19 tỷ USD Và ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản vẫn tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế với hơn 20% GDP và 28% kim ngạch xuất khẩu cả nước trong năm 2010 [15]
- Thứ tư, nông thôn có rất nhiều dân tộc khác nhau sinh sống, bao gồm nhiều tầng lớp, nhiều thành phần khác nhau Mỗi sự biến động dù tích cực hay tiêu cực đều sẽ ảnh hưởng mạnh mẽ đến tình hình kinh tế, chính trị, xã hội và an ninh quốc phòng của cả nước Do đó, sự phát triển và ổn định nông
Trang 9thôn sẽ góp phần quan trọng trong việc đảm bảo ổn định tình hình của cả nước
- Thứ năm, nông thôn chiếm đại đa số nguồn tài nguyên, đất đai, khoáng sản, động thực vật, rừng, biển, nên sự phát triển bền vững nông thôn
có ảnh hưởng to lớn đến việc bảo vệ môi trường sinh thái, việc khai thác sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên khu vực nông thôn bảo đảm cho sự phát triển lâu dài và bền vững của đất nước
Với những vai trò quan trọng nêu trên, nông thôn là phần cơ bản và đòi hỏi tất yếu cần phát triển nông thôn trong quá trình phát triển quốc gia
1.1.2 Đặc điểm nông thôn Việt Nam
Nông thôn Việt Nam là nơi có khoảng 70% dân cư sinh sống, tạo nên nét riêng biệt với những đặc điểm sau:
- Ở vùng nông thôn, các cư dân chủ yếu là nông dân và làm nghề nông Đây là địa bàn hoạt động chủ yếu của các ngành sản xuất vật chất nông, lâm, ngư nghiệp và các ngành nghề sản xuất kinh doanh, dịch vụ phi nông nghiệp Trong các làng xã truyền thống, sản xuất nông nghiệp chiếm vị trí chủ chốt
và là nguồn sinh kế chính của đại bộ phận nông dân Cùng với sự phát triển
và tiến bộ của đất nước, đặc điểm này có sự thay đổi Các vùng nông thôn trong tương lai sẽ không phải chủ yếu có các nông dân sinh sống và làm nông nghiệp, thay vào đó là các cư dân cư trú và tiến hành nhiều hoạt động kinh tế khác nhau, gồm cả sản xuất nông nghiệp, sản xuất công nghiệp và thương mại dịch vụ Theo đó, tỷ trọng lao động và GDP của các ngành kinh tế ở nông thôn cũng thay đổi theo hướng gia tăng cho công nghiệp và dịch vụ
- Nông thôn thể hiện tính chất đa dạng về điều kiện tự nhiên, môi trường sinh thái, các vùng nông thôn quản lý một lượng tài nguyên thiên nhiên to lớn, phong phú và đa dạng, bao gồm các tài nguyên đất, nước, khí hậu, rừng, sông suối, ao hồ, khoáng sản, hệ động thực vật gồm cả tự nhiên và
Trang 10cả do con người tạo ra
- Cư dân nông thôn có mối quan hệ họ tộc và gia đình khá chặt chẽ với những quy định cụ thể của từng họ tộc và gia đình Ở nông thôn, có nhiều gia đình trong một dòng họ cùng sinh sống và gắn bó với nhau gần gũi, khăng khít lâu đời Những người ngoài dòng họ cùng chung sống, góp sức phòng tránh thiên tai, giúp đỡ nhau trong sản xuất và đời sống tạo nên tình làng nghĩa xóm lâu bền
- Nông thôn lưu giữ và bảo tồn nhiều di sản văn hoá của quốc gia như các phong tục, tập quán cổ truyền về đời sống, lễ hội, sản xuất nông nghiệp
và ngành nghề truyền thống, các di tích lịch sử, văn hoá, các danh lam thắng cảnh Ðây chính là nơi chứa đựng kho tàng văn hoá dân tộc, đồng thời là khu vực giải trí, du lịch sinh thái phong phú và hấp dẫn đối với mọi người
1.1.3 Phát triển nông thôn
1.1.3.1 Khái niệm phát triển nông thôn
Phát triển nông thôn có tác động theo nhiều khía cạnh khác nhau Ðây
là một quá trình thu hút mọi người dân tham gia vào các chương trình phát triển, nhằm mục tiêu cải thiện chất lượng cuộc sống của các cư dân nông thôn Ðồng thời, phát triển nông thôn là quá trình thực hiện hiện đại hoá nền văn hoá nông thôn, nhưng vẫn bảo tồn được những giá trị truyền thống thông qua việc ứng dụng khoa học và công nghệ
Khái niệm phát triển nông thôn mang tính toàn diện và đa phương, bao gồm phát triển các hoạt động nông nghiệp và các hoạt động có tính chất liên kết phục vụ nông nghiệp, công nghiệp quy mô vừa và nhỏ, các ngành nghề truyền thống, cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, nguồn nhân lực nông thôn và xây dựng, tăng cường các dịch vụ và phương tiện phục vụ cộng đồng nông thôn
Phát triển vùng nông thôn phải đảm bảo sự bền vững về môi trường,
Trang 11ngày nay vấn đề phát triển nông thôn bền vững được đặt ra nhằm tạo sự phát triển lâu dài, ổn định không những cho các vùng nông thôn mà còn đối với cả quốc gia Có thể hiểu phát triển nông thôn bền vững một cách ngắn gọn là
sự phát triển tập trung vào người dân, đồng thời phải phát triển đa ngành và giải quyết thích đáng mối quan hệ liên ngành (tiếp cận tổng hợp) và phát triển đảm bảo sự cân xứng với việc quản lý môi trường
Phát triển nông thôn là sự phát triển tổng hợp của tất cả các hoạt động
có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau giữa các yếu tố vật chất, kinh tế, công nghệ, văn hoá, xã hội, thể chế và môi trường Nó không thể tiến hành một cách độc lập mà phải được đặt trong khuôn khổ của một chiến lược, chương trình phát triển của quốc gia Sự phát triển của các vùng nông thôn sẽ đóng góp tích cực vào sự nghiệp phát triển kinh tế nói riêng và sự phát triển chung của cả đất nước
Như vậy, có rất nhiều quan điểm về khái niệm phát triển nông thôn Trong điều kiện của Việt Nam, tổng hợp quan điểm từ các chiến lược phát triển kinh tế xã hội của chính phủ, thuật ngữ này có thể hiểu như sau:
“Phát triển nông thôn là một quá trình cải thiện có chủ ý một cách bền
vững về kinh tế, xã hội, văn hóa và môi trường, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân nông thôn Quá trình này, trước hết là do chính người dân nông thôn và có sự hỗ trợ tích cực của Nhà nước và các tổ chức khác” [6, tr.20]
1.1.3.2 Các nguyên tắc phát triển nông thôn
Phát triển nông thôn có vị trí quan trọng trong sự phát triển chung của mỗi quốc gia Đặc biệt với Việt Nam, một nước có nền sản xuất nông nghiệp làm nền tảng, sự đóng góp của nông thôn vào sự phát triển chung của đất nước ngày càng to lớn Vì vậy, phát triển nông thôn cần phải tuân thủ theo các nguyên tắc sau:
Trang 12+ Một là, đảm bảo sự phát triển nông nghiệp bền vững
+ Hai là, phát triển nông thôn đạt hiệu quả kinh tế cao
+ Ba là, phát triển cơ sở hạ tầng, dịch vụ xã hội và xây dựng môi trường nông thôn xanh sạch đẹp
+ Bốn là, phát triển nông thôn đem lại hiệu quả kinh tế cao
+ Năm là, đảm bảo công bằng kinh tế - xã hội
+ Sáu là, quy hoạch cho nông thôn và khuyến khích vấn đề tự quản lý ở nông thôn
1.1.3.3 Các mô hình phát triển nông thôn
Từ các nguyên tắc phát triển nông thôn được nêu ở trên, nông thôn Việt Nam cần có các cách tiếp cận để phát triển nông thôn
- Phương pháp tiếp cận toàn diện trong phát triển nông thôn
Theo khái niệm phát triển nông thôn không phải chỉ ưu tiên hoặc chú trọng vào một khía cạnh, lĩnh vực nhất định mà là sự tiếp cận toàn diện
Sự toàn diện đó, xét về lĩnh vực liên quan đến chủ thể nông thôn, phát
triển nông thôn nhấn mạnh tất cả các khía cạnh: kinh tế, văn hóa - xã hội và
môi trường Xét dưới góc độ sự liên quan của chủ thể đối với chính phủ và
các tổ chức, phát triển nông thôn chú trọng cả “từ trên xuống” và “từ dưới lên” và có sự tham gia của mọi khu vực (chủ thể nông thôn, nhà nước và các
tổ chức) và phải dựa trên tinh thần hợp tác và cộng tác
Một cách tổng quát, tiếp cận toàn diện trong phát triển nông thôn từ khái niệm trên, có thể sử dụng thuật ngữ “bốn chân” hoặc trụ cột của phát triển nông thôn, đó là:
+ Con người, cùng với kỹ năng của họ Điều này liên quan đến khía
cạnh xã hội là sự công bằng, dịch vụ xã hội và cơ sở hạ tầng
+ Kinh tế liên quan đến nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ
+ Môi trường liên quan đến môi trường, tài nguyên thiên nhiên và di
Trang 13sản văn hóa
+ Ý tưởng và tổ chức liên quan đến khía cạnh thể chế nhà nước, các tổ
chức quốc gia, quốc tế, các tổ chức khu vực và địa phương
- Phương pháp tiếp cận phát triển nông thôn có sự tham gia của
cộng đồng
Phát triển nông thôn còn chỉ ra mục tiêu của phát triển nông thôn
là cải thiện cuộc sống cho người dân nông thôn và nhấn mạnh quá trình này trước hết là do chính họ Điều này thể hiện một phương pháp tiếp cận dựa vào cộng đồng, nghĩa là sự phát triển nông thôn phải dựa trên lợi ích và sự tham gia của cộng đồng sống trong khu vực đó
Tiếp cận có sự tham gia của cộng đồng dựa vào những triết lý sau: + Chính người dân biết rõ nhất những khó khăn và nhu cầu của mình + Cộng đồng là người quản lý các nguồn tài nguyên như đất đai, nhà xưởng, sản phẩm địa phương là những cơ sở cho phát triển nông thôn
+ Kỹ năng, truyền thống và năng lực của cộng đồng là tiềm năng chính
- Sự hợp tác trong phát triển nông thôn
Phát tri ển nông thôn còn chỉ ra một khía cạnh quan trọng khác, đó là sự tham gia hay hợp tác giữa chính phủ, người dân và các tổ
chức khác trong phát triển nông thôn “Phát triển nông thôn là một công việc
phức tạp Nó đòi hỏi sự đóng góp của tất cả mọi người, mọi tổ chức cũng như
hỗ trợ của nhà nước”
Trang 14Sự hợp tác và cộng tác giữa nhiều lợi ích khác nhau trong phát triển nông thôn ở Việt Nam cũng như một số nước khác gặp phải những khó khăn, vì những lý do sau:
+ Chính phủ thường được chia thành các bộ và ngành khác nhau Mỗi
bộ hoặc ngành ảnh hưởng đến nông thôn thông qua những chương trình, hệ thống và những đặc trưng riêng của mình Vì vậy, không dễ dàng kết hợp những quan điểm khác nhau để giải quyết một mục tiêu chung
+ Có rất nhiều tổ chức khác nhau: tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ và các tổ chức khác cùng giúp đỡ, tác động đến quá trình phát triển nông thôn, nhưng họ có các ưu tiên và quan điểm khác nhau đối với phát triển nông thôn
+ Các công ty tư nhân, kể cả công ty liên doanh và nhà đầu tư nước ngoài có động cơ và tiêu chí riêng của mình khi đầu tư vào khu vực nông thôn Những tiêu chí này có thể khác với tiêu chí của tổ chức nhà nước
+ Người dân là nhân tố tham gia chính trong quá trình phát triển nông thôn, nhưng họ có những hạn chế về kiến thức hoặc thông tin hoặc cơ hội tham gia
Có những giải pháp để khắc phục những khó khăn nói trên trong vấn
đề hợp tác Một trong những chương trình phát triển nông thôn mang lại lý luận và bài học kinh nghiệm tốt cho việc hợp tác đó là chương trình LEADER của châu Âu Quá trình này có thể tóm tắt như sau:
- Vào những năm 50 của thế kỷ XX, liên hiệp châu Âu (EU) đã cấp vốn cho các nước thành viên để khuyến khích phát triển khu vực Vốn này tập trung cho các nước hoặc vùng có nền kinh tế yếu kém nhất Trọng tâm của chương trình là những kế hoạch phát triển cơ sở hạ tầng và những công trình công nghiệp lớn nhằm tạo công ăn việc làm Đến thập kỷ 80, người ta nhận thấy rằng, các chương trình này đã không giải quyết được các vấn đề
Trang 15của nông thôn Thực tế cho thấy, một số lượng lớn dân nông thôn đã dời đến các thành phố tìm việc làm, càng làm cộng đồng nông thôn thêm yếu kém
Do đó, vào năm 1991 EU đã đưa ra chương trình giúp đỡ các vùng nông thôn yếu kém hơn Trong đó, gồm một sáng kiến cơ bản gọi là chương trình LEADER Chương trình này nhằm khuyến khích sự hợp tác giữa các lợi ích khác nhau ở nông thôn nói chung và ở từng địa phương nói riêng Các nhóm hành động địa phương được thành lập và tiền của EU được chuyển tới các nhóm để phục vụ cho mục đích này Các nhóm này hoạt động dưới hình thức hợp tác chính thức giữa các lợi ích của các tổ chức công cộng, tư nhân và tình nguyện trong khu vực Điều rất đặc trưng là các tổ chức tham gia trong quan
hệ hợp tác này là chính quyền địa phương, hội nông nghiệp, liên hiệp du lịch và các công ty địa phương Sự hợp tác này thường được đăng ký hợp pháp như là một hiệp hội dân sự [6, tr.23]
Mỗi nhóm hành động địa phương phụ trách mỗi khu vực có khoảng 100.000 dân Nhóm phải làm một bản phân tích khó khăn và nhu cầu của vùng mình, cùng với một kế hoạch hành động và ngân sách để giải quyết nhu cầu đó Giai đoạn I của chương trình LEADER (1991-1994) đã có 213 nhóm
và giai đoạn II (1995-1999) có hơn 900 nhóm được thành lập và cấp vốn hoạt động Các nhóm đã thành công lớn trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế
- xã hội tại các vùng và trong việc sử dụng tiềm năng của các tổ chức thành viên, cùng với vốn hỗ trợ của chính phủ và EU Hiện nay, EU đang tiếp tục với các giai đoạn sau của chương trình LEADER với trọng tâm vào cải tiến
và chuyển giao công tác phát triển cho các cộng đồng [6, tr.23]
Chương trình LEADER đã gợi những ý tưởng có thể áp dụng trong phát triển nông thôn Việt Nam, thể hiện trong các nguyên tắc sau:
+ Chọn một vùng nông thôn, hoạt động trên cơ sở hợp tác giữa chính phủ, chính quyền địa phương, người dân và các tổ chức có lợi ích khác
Trang 16+ Tham gia hoàn toàn với cộng đồng địa phương, huy động sự tham gia và nâng cao năng lực người dân địa phương để sau này họ có thể tự lực theo đuổi và duy trì chương trình phát triển của họ
+ Phân tích thận trọng tiềm năng và nhu cầu của địa phương để hiểu được các điểm mạnh, yếu, cơ hội và mối đe dọa ảnh hưởng đến vùng đó, làm
cơ sở cho việc xây dựng chiến lược phát triển của vùng
+ Duy trì và đẩy mạnh nông nghiệp, cho phép nông dân đa dạng hóa nguồn thu nhập một cách thích hợp
+ Phát triển lâm nghiệp như một hoạt động đa mục đích, mang lại các lợi ích kinh tế, xã hội và môi trường
+ Gia tăng giá trị tại địa phương của các nông, lâm sản thông qua chế biến
+ Thúc đẩy sản xuất, ngành nghề thủ công và dịch vụ, trên cơ sở hợp đồng địa phương
+ Thúc đẩy du lịch nông thôn bền vững ở những nơi thích hợp
+ Đẩy mạnh dịch vụ xã hội, cơ sở hạ tầng ở các địa phương, bảo vệ và
kế thừa hợp lý các di sản văn hóa, động vật hoang dã, các nguồn đa dạng sinh học và phong cảnh
1.1.4 Vấn đề phát triển nông thôn ở Việt Nam
1.1.4.2 Chủ trương về phát triển nông thôn mới ở Việt Nam
Chủ trương về phát triển nông thôn mới ở Việt Nam bao gồm các mục tiêu, định hướng và nội dụng phát triển nông thôn như sau:
- Mục tiêu phát triển nông thôn:
+ Thứ nhất, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của cư dân nông thôn, hài hòa giữa các vùng, đặc biệt tạo sự chuyển biến nhanh hơn ở các vùng còn nhiều khó khăn, nông dân có trình độ sản xuất ngang bằng với các nước tiên tiến trong khu vực đủ bản lĩnh chính trị giữ vai trò làm chủ nông thôn mới
Trang 17+ Thứ hai, xây dựng nền nông nghiệp toàn diện theo hướng hiện đại hóa, bền vững, sản xuất hàng hóa lớn, có năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao, đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia cả trước mắt và lâu dài
+ Thứ ba, xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại, cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch, xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc dân tộc, môi trường sinh thái được bảo
vệ, nâng cao sức mạnh của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng, xây dựng giai cấp nông dân, củng cố liên minh công nông và đội ngũ trí thức thành nền tảng bền vững bảo đảm thực hiện thành công sự nghiệp CNH – HĐH theo định hướng xã hội chủ nghĩa
- Định hướng phát triển nông thôn:
+ Hoàn chỉnh việc rà soát, bổ sung, điều chỉnh quy hoạch đất đai, quy hoạch phát triển nông, lâm, ngư nghiệp, công nghiệp, khu công nghiệp và quy hoạch chuyên ngành theo vùng Quy hoạch xây dựng nông thôn gắn với phát triển đô thị
+ Đổi mới mạnh mẽ cơ chế, chính sách bằng cách hoàn thành việc sửa đổi bổ sung Luật đất đai theo hướng tiếp tục khẳng định đất đai là sở hữu toàn dân, nhà nước thống nhất quản lý theo quy hoạch, kế hoạch để phân bổ sử dụng có hiệu quả Bổ sung, hoàn thiện các chính sách về tăng cường nguồn lực cho nông nghiệp, nông thôn Mở rộng hợp tác quốc tế, thu hút đầu tư nước ngoài vào sản xuất nông nghiệp và xây dựng nông thôn
+ Tăng đầu tư ngân sách cho công tác nghiên cứu, chuyển giao khoa học công nghệ để sớm đạt trình độ tương đương các nước tiên tiến trong khu vực Thúc đẩy quan hệ hợp tác giữa doanh nghiệp, nhà khoa học với nông dân trong sản xuất kinh doanh
Trang 18+ Đảm bảo tiến độ các công trình xây dựng cơ bản phục vụ sản xuất nông nghiệp, phòng chống thiên tai
+ Tiếp tục triển khai có hiệu quả các chương trình mục tiêu quốc gia trên địa bàn nông thôn, nhất là xóa đói giảm nghèo ở các huyện xã có tỷ lệ hộ nghèo trên 50% Triển khai chương trình “xây dựng nông thôn mới”, trong đó thực hiện xây dựng kết cấu hạ tầng đi trước một bước
+ Củng cố bộ máy quản lý nhà nước về nông nghiệp yêu cầu phải nắm bắt được thời cơ, vượt qua thách thức với những giải pháp linh hoạt, sáng tạo, hợp lý và đồng bộ
- Nội dung phát triển nông thôn Việt Nam:
+ Phát triển nông thôn nên có các tiêu chí về quy hoạch phát triển nông thôn, vệ sinh môi trường nông thôn văn hoá
+ Dự báo quy hoạch dân số, bao gồm cả việc quy hoạch làng xã nhằm tránh tình trạng giảm dân số đặc biệt ở vùng sâu vùng xa
+ Năng lực sản xuất của người dân vẫn còn thấp và cần được nâng cao Nên tăng cường sự hỗ trợ của chính phủ, xác định nhu cầu của người nông dân
+ Xây dựng các mô hình phát triển nông thôn để tăng cường sự phối hợp hiệu quả giữa các bên tham gia đặc biệt là khu vực tư nhân
+ Cơ sở hạ tầng nông thôn vẫn chưa đủ Vấn đề này cần sự hỗ trợ lớn của các tổ chức và các nhà tài trợ quốc tế
+ Công nghiệp hoá nên gắn kết với quá trình hiện đại hoá điều kiện sống và cải thiện sinh kế tại khu vực nông thôn
+ Tăng cường phát triển ngành chăn nuôi
+ Chiến lược phát triển nông thôn mới sẽ là bước khởi đầu cho sự phát triển kinh tế nông thôn, có sự liên kết với phát triển kinh tế nông thôn và thành thị
Trang 19+ Chiến lược phát triển nông thôn bao gồm cả nội dung phát triển thị trường lao động cho người dân nông thôn
- Chương trình quốc gia xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam, bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn đang triển khai chương trình mục tiêu quốc gia
về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020 do Chính phủ phê duyệt Chương trình gồm các nội dung: Quy hoạch xây dựng nông thôn mới, phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội, chuyển dịch cơ cấu, phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập, giảm nghèo và an sinh xã hội, đổi mới và phát triển các hình thức tổ chức sản xuất có hiệu quả ở nông thôn, phát triển giáo dục - đào tạo ở nông thôn, phát triển y tế, chăm sóc sức khỏe cư dân nông thôn, xây dựng đời sống văn hóa - thông tin và truyền thông nông thôn, cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn, nâng cao chất lượng tổ chức Đảng, chính quyền đoàn thể chính trị - xã hội trên địa bàn, giữ vững an ninh và trật tự xã hội nông thôn
Trong đó, Chính phủ đã ban hành bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới gồm 19 tiêu chí liên quan đến xây dựng hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại, cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp
lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp và dịch vụ, gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch, đồng thời đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao Theo đó, đến năm 2015 có 20%
số xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới và đạt 50% vào năm 2020 theo bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới [16]
1.1.4.3 Bộ tiêu chí quốc gia về phát triển nông thôn ở Việt Nam
Bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới bao gồm năm nhóm tiêu chí xã nông thôn mới:
Vấn đề quy hoạch nông thôn: Gồm 01 tiêu chí
- Mục tiêu là đánh giá tình trạng các quy hoạch đã có như quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội và quy hoạch các khu dân cư, trong đó làm rõ những nội dung sau:
Trang 20+ Những quy hoạch đã có không cần phải bổ sung
+ Những quy hoạch còn thiếu cần phải xây dựng mới theo yêu cầu + Những quy hoạch cần phải bổ sung, điều chỉnh
Vấn đề xây dựng kinh tế - xã hội: Gồm 08 tiêu chí
- Nội dung thực hiện:
+ Hoàn thiện hệ thống đường giao thông cấp xã và sự tham gia của cộng đồng dân cư
+ Phản ánh thực trạng công tác quản lý các công trình thủy lợi, có sự tham gia của người dân Đồng thời hoàn thiện công tác duy tu bảo dưỡng và vận hành công trình, quản lý môi trường nguồn nước
+ Mô tả hiện trạng hệ thống cung cấp điện cho xã như: Trạm điện, hệ thống hạ thế, lưới điện, tình hình quản lý, vận hành, bảo dưỡng hệ thống điện
Và xác định các hạng mục đã đạt chuẩn, các hạng mục cần xây dựng mới hoặc sửa chữa, nâng cấp
+ Mô tả số trường học, phòng học và mức độ đạt chuẩn của từng trường học, phòng học theo từng bậc học
+ Xác định số lượng và mô tả hiện trạng các nhà văn hóa và khu thể thao thôn, xác định tỷ lệ (%) thôn có nhà văn hóa và khu thể thao đạt yêu cầu
+ Xác định số lượng và mô tả hiện trạng cơ sở hạ tầng và hoạt động các chợ trên địa bàn
+ Xác định số lượng và mô tả hiện trạng các điểm phục vụ bưu chính viễn thông
+ Mô tả hiện trạng chung về bố trí, sắp xếp dân cư và chất lượng nhà ở của xã
Trang 21 Vấn đề phát triển kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất gồm 04 tiêu chí và cần thực hiện những nội dung sau:
+ Tình hình sản xuất kinh doanh trên địa bàn xã với các lĩnh vực sản xuất, trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, hoạt động ngành tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, tỷ trọng hàng hoá
+ Xác định thu nhập bình quân đầu người/năm của xã
+ Xác định số hộ nghèo và tỷ lệ hộ nghèo của xã tại thời điểm của năm lập đề án
+ Thống kê tổng số lao động trong độ tuổi của xã và số lao động trong
độ tuổi làm việc trong các lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp của xã
+ Xác định tỷ lệ lao động trong độ tuổi việc làm trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp của xã
+ Đánh giá tình hình phát triển kinh tế trang trại, các tổ hợp tác, hợp tác
xã, các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực nông, lâm, ngư, nghiệp và trong hoạt động ngành nghề nông thôn
+ Thống kê các tổ hợp tác, hợp tác xã hoạt động và kinh doanh có hiệu quả trong tổng số các tổ hợp tác, hợp tác xã trên địa bàn xã
Vấn đề văn hóa - xã hội - môi trường: Gồm 06 tiêu chí và cần thực hiện những nội dung sau:
+ Phổ cập giáo dục trung học cơ sở
+ Thống kê tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở được tiếp tục học lên trung học phổ thông, bổ túc hoặc học nghề
+ Xác định tỷ lệ lao động qua đào tạo như là được cấp chứng chỉ học nghề từ ba tháng trở lên
+ Đánh giá hiện trạng trạm y tế xã và xác định tỷ lệ người dân tham gia các hình thức bảo hiểm y tế
Trang 22+ Xác định số thôn, làng/tổng số thôn, làng của xã đạt tiêu chuẩn làng văn hoá
+ Mô tả hiện trạng sử dụng nước của dân cư, tình trạng ô nhiễm môi trường của các cơ sở sản xuất kinh doanh và các hộ chăn nuôi, các hoạt động gây ô nhiễm môi trường và các hoạt động của cộng đồng về xây dựng môi trường gồm hoạt động thu gom, xử lý rác thải, làm chuồng trại chăn nuôi hợp
vệ sinh, rãnh thoát nước và hỗ trợ xử lý nước thải trong thôn, xóm, tình trạng các nghĩa trang ở xã
+ Xác định tỷ lệ hộ sử dụng nước sạch hợp vệ sinh theo tiêu chuẩn quốc gia
+ Số cơ sở sản xuất kinh doanh/tổng số cơ sở đạt tiêu chuẩn về môi trường
+ Liệt kê các hoạt động gây suy giảm môi trường và các hoạt động bảo
vệ môi trường xanh - sạch - đẹp ở địa phương
+ Có hay không có nghĩa trang được xây dựng theo quy hoạch
+ Mô tả hiện trạng đội ngũ cán bộ xã và đánh giá so với chuẩn
+ Mô tả và đánh giá các tổ chức trong hệ thống tổ chức chính trị cơ sở
từ cấp xã đến cấp thôn, làng theo quy định
+Thực trạng về công tác giữ gìn an ninh, trật tự xã hội trên địa bàn về
tổ chức hiệu quả hoạt động Đánh giá mức độ đạt và không đạt so với tiêu chí
1.2 Kinh nghiệm thực tiễn về phát triển nông thôn
1.2.1 Trên Thế Giới
Phát triển nông thôn để xây dựng một nông thôn mới trong giai đoạn hiện nay, từ các góc cạnh khác nhau, đang là mối quan tâm chung của cả cộng đồng thế giới Kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới về vấn đề này là bài học cho Việt Nam
Trang 23 Mỹ: phát triển ngành “kinh doanh nông nghiệp”
Mỹ là nước có điều kiện tự nhiên cực kỳ thuận lợi để phát triển nông nghiệp Vùng Trung Tây của nước này có đất đai màu mỡ nhất thế giới Lượng mưa vừa đủ cho hầu hết các vùng của đất nước, nước sông và nước ngầm cho phép tưới rộng khắp cho những nơi thiếu mưa
Bên cạnh đó, các khoản vốn đầu tư lớn và việc tăng cường sử dụng lao động có trình độ cao cũng góp phần vào thành công của ngành nông nghiệp
Mỹ Điều kiện làm việc của người nông dân làm việc trên cánh đồng rất thuận lợi: máy kéo với các ca bin lắp điều hòa nhiệt độ, gắn kèm theo những máy cày, máy xới và máy gặt có tốc độ nhanh và đắt tiền Công nghệ sinh học giúp phát triển những loại giống chống được bệnh và chịu hạn Phân hóa học và thuốc trừ sâu được sử dụng phổ biến, thậm chí, theo các nhà môi trường, quá phổ biến Công nghệ vũ trụ được sử dụng để giúp tìm ra những nơi tốt nhất cho việc gieo trồng và thâm canh mùa màng Định kỳ, các nhà nghiên cứu lại giới thiệu các sản phẩm thực phẩm mới và những phương pháp mới phục vụ việc nuôi trồng thủy, hải sản, chẳng hạn như tạo các hồ nhân tạo để nuôi cá
Ngành nông nghiệp Mỹ đã phát triển thành một ngành “kinh doanh nông nghiệp”, một khái niệm được đặt ra để phản ánh bản chất tập đoàn lớn của nhiều doanh nghiệp nông nghiệp trong nền kinh tế Mỹ hiện đại Kinh doanh nông nghiệp bao gồm rất nhiều doanh nghiệp nông nghiệp và các cơ cấu trang trại đa dạng, từ các doanh nghiệp nhỏ một hộ gia đình cho đến các
tổ hợp rất lớn hoặc các công ty đa quốc gia sở hữu những vùng đất đai lớn hoặc sản xuất hàng hóa và nguyên vật liệu cho nông dân sử dụng Cũng giống như một doanh nghiệp công nghiệp tìm cách nâng cao lợi nhuận bằng việc tạo
ra quy mô lớn hơn và hiệu quả hơn, nhiều nông trại Mỹ cũng ngày càng có quy mô lớn hơn và củng cố hoạt động của mình sao cho linh hoạt hơn
Trang 24Sự ra đời ngành kinh doanh nông nghiệp vào cuối thế kỷ XX đã tạo ra
ít trang trại hơn, nhưng quy mô các trang trại thì lớn hơn nhiều Đôi khi được
sở hữu bởi những cổ đông vắng mặt, các trang trại mang tính tập đoàn này sử dụng nhiều máy móc hơn và ít bàn tay của nông dân hơn Vào năm 1940, Mỹ
có 6 triệu trang trại và trung bình mỗi trang trại có diện tích khoảng 67 ha, đến cuối thập niên 90 của thế kỷ XX, số trang trại chỉ còn 2,2 triệu nhưng trung bình mỗi trang trại có diện tích 190 ha Cũng chính trong khoảng giai đoạn này, số lao động nông nghiệp giảm rất mạnh - từ 12,5 triệu người năm
1930 xuống còn 1,2 triệu người vào cuối thập niên 90 của thế kỷ trước - dù cho dân số của Mỹ tăng hơn gấp đôi Và gần 60% trong số nông dân còn lại
đó đến cuối thế kỷ này chỉ làm việc một phần thời gian trên trang trại, thời gian còn lại họ làm những việc khác không thuộc trang trại để bù đắp thêm thu nhập cho mình [14]
Nhật Bản: “Mỗi làng một sản phẩm”
Từ thập niên 70 của thế kỷ trước, ở tỉnh Oita (miền tây nam Nhật Bản)
đã hình thành và phát triển phong trào “Mỗi làng một sản phẩm”, với mục tiêu phát triển vùng nông thôn của khu vực này một cách tương xứng với sự phát triển chung của cả nước Nhật Bản Trải qua gần 30 năm hình thành và phát triển, phong trào “Mỗi làng một sản phẩm” ở đây đã thu được nhiều thắng lợi rực rỡ Sự thành công của phong trào này đã lôi cuốn sự quan tâm không chỉ của nhiều địa phương trên đất nước Nhật Bản mà còn rất nhiều khu vực, quốc gia khác trên thế giới Một số quốc gia, nhất là những quốc gia trong khu vực Đông Nam Á đã thu được những thành công nhất định trong phát triển nông thôn của đất nước mình nhờ áp dụng kinh nghiệm phong trào
“Mỗi làng một sản phẩm”
Những kinh nghiệm của phong trào “Mỗi làng một sản phẩm” được những người sáng lập, các nhà nghiên cứu đúc rút để ngày càng có nhiều
Trang 25người, nhiều khu vực và quốc gia có thể áp dụng trong chiến lược phát triển nông thôn, nhất là phát triển nông thôn trong quá trình công nghiệp hóa đất nước mình [14]
Kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới ở Trung Quốc
Báo cáo về “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn Trung Quốc” của GS.TS Phạm Vân Đình, CN Nguyễn Thanh Phong trong công cuộc cải cách dân chủ mới ở nông thôn mang đậm màu sắc chủ nghĩa xã hội Trung Quốc là bài học quý đối với Việt Nam
Qua mười năm thực hiện chính sách cải cách mở cửa, đời sống nông dân đã thay đổi đáng kể, nhưng vẫn còn rất nhiều vấn đề cần phải quan tâm giải quyết Nông thôn Trung Quốc hiện nay còn tồn tại nhiều vấn đề nổi cộm: Trong xã hội, địa vị của nông dân và thu nhập của cư dân nông thôn còn thấp, khoảng cách so với thành thị ngày càng lớn, diện mạo của nông thôn còn lạc hậu, còn khoảng cách khá xa so với thành thị trên nhiều phương diện, nông nghiệp phát triển còn gặp rất nhiều khó khăn, vấn đề nổi bật là thu nhập ở nông thôn còn thấp, tăng chậm, trong khi đó ở thành thị thu nhập tăng rất nhanh Chẳng hạn, năm 1978 chênh lệch thu nhập giữa thành thị và nông thôn
là 2,9 lần, sau 10 năm là 3,31 lần và có xu hướng ngày càng gia tăng Trước tình hình đó Trung Quốc đã đưa ra chính sách “tam nông” nhằm thay đổi bộ mặt của nông thôn Mục đích của chính sách “tam nông” là xây dựng xã hội nông thôn Trung Quốc ngày càng hiện đại, nâng cao thu nhập cho người dân nông thôn, góp phần đưa đất nước phát triển
Quá trình cải cách khu vực nông nghiệp nông thôn Trung Quốc diễn ra từng giai đoạn Năm 1955, cải cách về dịch vụ, thị trường nông thôn Từ năm
1998, Chính phủ đầu tư vào nông thôn tương đối lớn nhưng hiệu quả còn hạn chế, được tập trung cho hệ thống đường giao thông, trường học, hệ thống điện
và cơ sở khám chữa bệnh ở nông thôn Năm 2002, Chính phủ đưa ra 16 vấn
Trang 26đề lớn với các chính sách tổng hợp phát triển thành thị - nông thôn nhằm mục đích rút ngắn khoảng cách giàu nghèo giữa nông thôn và thành thị
Chính phủ Trung Quốc đã xác định được vấn đề quan trọng là đã đến lúc yêu cầu thành thị và công nghiệp tác động hỗ trợ lại cho phát triển nông nghiệp, nông thôn Vì vậy, đã thí điểm xây dựng mô hình nông thôn mới và liên tiếp trong 5 năm gần đây, năm nào BCH TW Đảng cộng sản Trung Quốc
cũng cho ra Văn kiện số 1 về “tam nông”, năm nào Chính phủ cũng tặng quà
cho nông dân một món quà như miễn đóng học phí đối với học sinh học đến hết lớp 9, hỗ trợ cho lao động nông thôn hết tuổi lao động 50 NDT/người/tháng, bảo hiểm y tế miễn phí
Những yêu cầu về phát triển nông thôn bao gồm:
- Một là, tăng sản lượng lương thực và thực phẩm
- Hai là, tăng phát triển nông thôn
- Ba là, tăng đầu tư cơ sở hạ tầng
- Bốn là, tăng phát triển phi nông nghiệp
- Năm là, xây dựng môi trường nông thôn xanh sạch đẹp, chăm lo đời sống tinh thần và xây dựng diện mạo mới cho nông thôn
- Sáu là, quy hoạch cho nông thôn và khuyến khích vấn đề tự quản lý ở nông thôn
Đứng trước những vấn đề khó khăn như trên, Trung Quốc đã có các chính sách về “tam nông” như: Tăng cường đầu tư, giảm đóng góp cho nông thôn, lấy trọng điểm đầu tư vào nông nghiệp, xây dựng các điểm nông thôn mới, đưa vào chương trình, chính sách quốc gia, hỗ trợ cho người dân lãi suất
ưu đãi, thời hạn trả nợ kéo dài, lao động nông thôn ra thành thị, bảo hiểm xã hội, hỗ trợ mua máy móc để cơ giới hóa, hỗ trợ giống 50NDT/mẫu, miễn thuế đất nông nghiệp từ năm 2006, trợ giá nông sản đối với một số loại chủ lực và
Trang 27đầu tư vào một số lĩnh vực trọng yếu như đường, điện thoại, khí đốt và nước sạch
Vì vậy, Trung Quốc đã có chủ trương mỗi huyện lựa chọn bốn thôn để xây dựng mô hình nông thôn mới Có ba điểm về sự mới trong phát triển nông thôn ở Trung Quốc:
- Thứ nhất, nông thôn đang được phát triển trong bối cảnh mới, cần đầu
tư thêm nhân lực mới cho giải quyết tình hình mới, tài chính cần được tăng cường
- Thứ hai, nông thôn Trung Quốc phát triển ở giai đoạn mới chuyển từ sản xuất tự cung tự cấp sang giai đoạn phát triển hàng hóa, xuất khẩu và tiêu thụ sản phẩm
Đại hội Đảng cộng sản Trung Quốc lần thứ 17 đã chỉ rõ: Chiến lược phát triển kinh tế xã hội Trung Quốc là lấy công nghiệp nuôi nông nghiệp, lấy thành thị dẫn dắt nông thôn, thành thị và nông thôn phát triển hài hòa Trung Quốc đang cố gắng chuyển đổi từ phương pháp tiếp cận từ trên xuống sang có
sự tham gia và cũng đang tìm phương thức áp dụng phương thức tiếp cận sinh
kế và đa ngành Kết quả của chương trình phát triển nông thôn mới mà Trung Quốc đang thực hiện là nông thôn phát triển [14]
Kinh nghiệm của Hàn Quốc
Tại Hàn Quốc, nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực đến khu vực kinh tế nông thôn khi thực hiện Kế hoạch 5 năm lần thứ I (1962-1966) và thứ II (1966-1971) với chủ trương công nghiệp hóa hướng đến xuất khẩu, tháng 4 năm 1970, chính phủ Hàn Quốc phát động phong trào làng mới (Saemaul Undong) Mục tiêu của phong trào này là "nhằm biến đổi cộng đồng nông thôn cũ thành cộng đồng nông thôn mới, mọi người làm việc và hợp tác với nhau xây dựng cộng đồng mình ngày một đẹp hơn và giàu hơn Cuối cùng là
để xây dựng một quốc gia ngày một giàu mạnh hơn" Để xây dựng thành công
Trang 28nông thôn mới, Hàn Quốc đã áp dụng những giải pháp chính sau đây:
- Đoàn kết nhân nhân, khơi dậy tinh thần tự lực, tự cường trong nhân dân để xây dựng nông thôn mới: Để đoàn kết, tập hợp nhân dân trong sự nghiệp chung, phong trào Saemaul Undong đề cao ba phẩm chất chính, đó là
“Sự cần cù, tự lực và hợp tác” Cần cù mang lại tính chân thật, không cho phép sự giả tạo và thói kiêu căng ngạo mạn Tính tự lực giúp cho con người
tự quyết định vận mệnh của chính mình, không phải nhờ cậy đến bất kỳ sự giúp đỡ nào từ bên ngoài Hợp tác dựa trên mong muốn phát triển chung cả cộng đồng để nỗ lực vì mục tiêu chung Chính vì vậy, ba nguyên tắc chủ yếu của phong trào Saemaul cũng chính là hạt nhân của công cuộc xây dựng một
xã hội tiên tiến và một quốc gia thịnh vượng
- Kích thích sự tham gia bằng những lợi ích thiết thực: Giai đoạn đầu của sự nghiệp xây dựng nông thôn mới, chính phủ Hàn Quốc không có nhiều kinh phí Do đó, chính phủ đã khéo léo sử dụng chính sách kích cầu đầu tư, huy động sức mạnh của nhân dân Chính phủ chỉ hỗ trợ một phần nguyên vật liệu còn nông dân mới chính là đối tượng ra quyết định và thực thi mọi việc Kết quả là sau tám năm (1971-1978), nhờ khơi dậy nội lực của nông dân mà nông thôn Hàn Quốc đã có những biến đổi to lớn Cuối những năm 80, nông thôn Hàn Quốc đã có những dấu hiệu của sự phát triển và đô thị hóa
- Phát triển kinh tế hộ và các loại hình kinh tế có sức cạnh tranh cao như: + Đẩy mạnh phát triển kinh tế hộ Ông Lee Sang Mu, cố vấn đặc biệt
của chính phủ Hàn Quốc về nông - lâm - ngư nghiệp cho biết: “Quan điểm
của Hàn Quốc là không kêu gọi đầu tư nước ngoài cho nông nghiệp, vì lo ngại lợi nhuận các công ty nước ngoài hưởng, còn nông dân suốt đời làm thuê” Chính vì vậy, chính phủ Hàn Quốc chủ trương hỗ trợ để nông dân tự
mình đứng lên trở thành người chủ đích thực
Trang 29+ Thành lập các khu liên hiệp nông nghiệp trồng các sản phẩm như: nấm,
thuốc lá, rau sạch quanh năm đem lại lợi nhuận cao cho người nông dân
+ Chính phủ cho xây dựng các nhà máy ở nông thôn để tạo việc làm và
tăng thu nhập cho nhiều phụ nữ Kết quả là thu nhập ở nông thôn tăng đều
đặn Năm 1977, có 98% các xã đã có thể độc lập về kinh tế
- Đẩy mạnh nghiên cứu và chuyển giao khoa học kỹ thuật cho nông
dân: Đi kèm với việc phát triển hạ tầng và tăng cường các cơ sở đào tạo nghề
nông, đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật, các loại giống mới như nấm, cây thuốc
lá vào sản xuất Các làng xã và xí nghiệp đều được trang bị thư viện Saemaul và các phương tiện vui chơi giải trí khác Khi đất nước đã giàu có, chính phủ Hàn Quốc có thêm nhiều chính sách hỗ trợ đầu tư phát triển khoa học công nghệ phục vụ nông nghiệp, thôn thôn Như thành lập các trung tâm chuyên về nông nghiệp nhằm nghiên cứu và phát triển nông nghiệp, giúp người nông dân tiếp cận nhanh nhất với các dịch vụ hỗ trợ kỹ thuật và marketing
Nhờ hiệu quả của phong trào Saemaul Undong mà Hàn Quốc từ một nước nông nghiệp nghèo nàn, lạc hậu trở thành một quốc gia giàu có, hiện đại bậc nhất châu Á [14]
Thái Lan: sự trợ giúp mạnh mẽ của nhà nước
Thái Lan vốn là một nước nông nghiệp truyền thống với dân số nông thôn chiếm khoảng 80% dân số cả nước Để thúc đẩy sự phát triển bền vững nền nông nghiệp, Thái Lan đã áp dụng một số chiến lược như: Tăng cường vai trò của cá nhân và các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, đẩy mạnh phong trào học tập, nâng cao trình độ của từng cá nhân và tập thể bằng cách mở các lớp học và các hoạt động chuyên môn trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn, tăng cường công tác bảo hiểm xã hội cho nông dân, giải
Trang 30quyết tốt vấn đề nợ trong nông nghiệp, giảm nguy cơ rủi ro và thiết lập hệ thống bảo hiểm rủi ro cho nông dân
Đối với các sản phẩm nông nghiệp, nhà nước đã hỗ trợ để tăng sức cạnh tranh với các hình thức, như tổ chức hội chợ triển lãm hàng nông nghiệp, đẩy mạnh công tác tiếp thị, phân bổ khai thác tài nguyên thiên nhiên một cách khoa học và hợp lý, từ đó góp phần ngăn chặn tình trạng khai thác tài nguyên bừa bãi và kịp thời phục hồi những khu vực mà tài nguyên đã bị suy thoái, giải quyết những mâu thuẫn có liên quan đến việc sử dụng tài nguyên lâm, thủy hải sản, đất đai, đa dạng sinh học, phân bổ đất canh tác Trong xây dựng kết cấu hạ tầng, nhà nước đã có chiến lược trong xây dựng và phân bố hợp lý các công trình thủy lợi lớn phục vụ cho nông nghiệp Hệ thống thủy lợi bảo đảm tưới tiêu cho hầu hết đất canh tác trên toàn quốc, góp phần nâng cao năng suất lúa và các loại cây trồng khác trong sản xuất nông nghiệp Chương trình điện khí hóa nông thôn với việc xây dựng các trạm thủy điện vừa và nhỏ được triển khai rộng khắp cả nước
Về lĩnh vực công nghiệp phục vụ nông nghiệp, chính phủ Thái Lan đã tập trung vào các nội dung sau: Cơ cấu lại ngành nghề phục vụ phát triển công nghiệp nông thôn, đồng thời cũng xem xét đến các nguồn tài nguyên, những kỹ năng truyền thống, nội lực, tiềm năng trong lĩnh vực sản xuất và tiếp thị song song với việc cân đối nhu cầu tiêu dùng trong nước và nhập khẩu
Thái Lan đã tập trung phát triển các ngành mũi nhọn như sản xuất hàng nông nghiệp, thủy, hải sản phục vụ xuất khẩu, thúc đẩy mạnh mẽ công nghiệp chế biến nông sản cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, nhất là các nước công nghiệp phát triển Ngành công nghiệp chế biến thực phẩm ở Thái Lan phát triển rất mạnh nhờ một số chính sách sau:
Trang 31- Chính sách phát triển nông nghiệp: Một trong những nội dung quan trọng nhất của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội thời kỳ 2000 - 2005 là kế hoạch cơ cấu lại mặt hàng nông sản của bộ nông nghiệp Thái Lan, nhằm mục đích nâng cao chất lượng và sản lượng của 12 mặt hàng nông sản, trong đó có các mặt hàng: gạo, dứa, tôm sú, gà và cà phê Chính phủ Thái Lan cho rằng, càng có nhiều nguyên liệu cho chế biến thì ngành công nghiệp chế biến lương thực thực phẩm mới phát triển và càng thu được nhiều ngoại tệ cho đất nước Nhiều sáng kiến làm gia tăng giá trị cho nông sản được khuyến khích trong chương trình “mỗi làng một sản phẩm” và chương trình “quỹ làng”
- Chính sách bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm: Chính phủ Thái Lan thường xuyên thực hiện chương trình quảng bá vệ sinh an toàn thực phẩm Năm 2004, Thái Lan phát động chương trình “Năm an toàn thực phẩm và Thái Lan là bếp ăn của thế giới” Mục đích chương trình này là khuyến khích các nhà chế biến và nông dân có hành động kiểm soát chất lượng vệ sinh thực phẩm để bảo đảm an toàn cho người tiêu dùng trong nước và xuất khẩu Bên cạnh đó, chính phủ thường xuyên hỗ trợ cho doanh nghiệp cải thiện chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm Do đó, ngày nay thực phẩm chế biến của Thái Lan được người tiêu dùng ở các thị trường khó tính như Hoa Kỳ, Nhật Bản và EU chấp nhận
- Mở cửa thị trường khi thích hợp: Chính phủ Thái Lan đã xúc tiến đầu
tư, thu hút mạnh các nhà đầu tư nước ngoài vào liên doanh với các nhà sản xuất trong nước để phát triển ngành công nghiệp chế biến thực phẩm, thông qua việc mở cửa cho các quốc gia dù lớn hay nhỏ vào đầu tư kinh doanh Trong tiếp cận thị trường xuất khẩu, chính phủ Thái Lan là người đại diện thương lượng với chính phủ các nước để các doanh nghiệp đạt được lợi thế cạnh tranh trong xuất khẩu thực phẩm chế biến Bên cạnh đó, chính phủ Thái Lan có chính sách trợ cấp ban đầu cho các nhà máy chế biến và đầu tư trực
Trang 32tiếp vào kết cấu hạ tầng như: Cảng kho lạnh, sàn đấu giá và đầu tư vào nghiên cứu, phát triển, xúc tiến công nghiệp và phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ Xúc tiến công nghiệp là trách nhiệm chính của cục xúc tiến công nghiệp thuộc
bộ công nghiệp, nhưng việc xúc tiến và phát triển công nghiệp chế biến thực phẩm ở Thái Lan do nhiều cơ quan cùng thực hiện Chẳng hạn, trong bộ nông nghiệp và hợp tác xã, cùng với cục xúc tiến nông nghiệp, cục hợp tác xã giúp nông dân xây dựng hợp tác xã để thực hiện các hoạt động, trong đó có chế biến thực phẩm Và cục thủy sản giúp đỡ nông dân từ nuôi trồng, đánh bắt đến chế biến thủy sản Cơ quan tiêu chuẩn sản phẩm công nghiệp thuộc bộ công nghiệp xúc tiến tiêu chuẩn hoá và hệ thống chất lượng, cơ quan phát triển công nghệ và khoa học quốc gia xúc tiến việc áp dụng khoa học và công nghệ cho chế biến và bộ đầu tư xúc tiến đầu tư vào vùng nông thôn [14]
Một số kinh nghiệm trong phát triển nông nghiệp, nông thôn ở các nước trên cho thấy, những ý tưởng sáng tạo, khâu đột phá và sự trợ giúp hiệu quả của nhà nước trên cơ sở phát huy tính tự chủ, năng động, trách nhiệm của người dân để phát triển khu vực này, có ý nghĩa và vai trò hết sức quan trọng đối với việc công nghiệp hóa, hiện đại hóa thành công nông nghiệp - tạo nền tảng thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
1.2.2 Ở Việt Nam
Ở Việt Nam, bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn đang triển khai chương trình mục tiêu quốc gia về nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020 do chính phủ phê duyệt Vấn đề xây dựng “nông thôn mới” hay phát triển “tam nông” còn khá mới đối với lĩnh vực nghiên cứu Cho đến nay ở Đồng bằng sông Cửu Long chưa có công trình nghiên cứu đầy đủ nào về “nông thôn mới” hay phát triển “tam nông” Năm 2002, Ban kinh tế TW Đảng đã thực hiện “Nghiên cứu mô hình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn cho huyện Ô Môn, tỉnh Cần Thơ Nghiên cứu này đã đánh giá và phân
Trang 33tích một cách toàn diện hiện trạng và tiềm năng cho phát triển kinh tế - xã hội theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn ở cấp huyện Cách tiếp cận của nghiên cứu này, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, dựa trên các phân tích nguồn lực sẵn có của địa phương và đề xuất các giải pháp phát triển Các kết quả và đề xuất của nghiên cứu này có giá trị tham khảo về mặt chiến lược, áp dụng chỉ đạo phát triển kinh tế - xã hội một cách toàn diện ở quy mô cấp huyện
Gần đây viện nghiên cứu phát triển đồng bằng sông Cửu Long thuộc đại học Cần Thơ có thực hiện một nghiên cứu về “Lập kế hoạch xây dựng mô hình xã nông thôn mới thành phố Cần Thơ giai đoạn 2007 - 2010” Nghiên cứu này được thực hiện tại xã Nhơn Nghĩa, huyện Phong Điền, một vùng ven của thành phố Cần Thơ Nghiên cứu trên đã sử dụng cách tiếp cận có sự tham gia của cộng đồng trong phân tích đánh giá Kết quả nghiên cứu đã đánh giá được hiện trạng về nguồn lực kinh tế - xã hội cho việc xây dựng phát triển cấp
độ xã Báo cáo cũng phân tích được nhu cầu và khả năng phát triển xã theo nhận thức của người dân, đồng thời người dân cũng tham gia lập kế hoạch khả thi cho sự phát triển nông thôn mới Các kết quả của nghiên cứu này đã phân tích và đánh giá rất đầy đủ các tiêu chí phát triển liên quan phát triển kinh tế và nông nghiệp, trong khi các tiêu chí về mặt xã hội còn hạn chế Thêm nữa, các tiêu chí phát triển xã hội nông thôn mới dựa vào nhu cầu và tiềm lực địa phương hơn là theo tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới Tuy nhiên, đây là bước tiếp cận mới tạo cơ sở khoa học cho các nghiên cứu tiếp theo
Từ khi nghị quyết 26 TW Đảng ra đời, vấn đề “tam nông” và xây dựng
“nông thôn mới” không những là sự quan tâm của các nhà khoa học, nhà quản
lý và chính sách, mà còn là nhiệm vụ phải thực hiện để đưa nghị quyết vào cuộc sống Đây là quốc sách mà đảng và chính phủ đã đề ra Các địa phương
Trang 34ở các vùng miền cả nước đã và đang chuẩn bị thực hiện nghị quyết, đưa nghị quyết vào đời sống của người dân, trong đó xây dựng nông thôn mới theo quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của thủ tướng Chính phủ
Xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ hàng đầu của cả hệ thống chính trị xã hội, cần có sự huy động của toàn dân cùng tham gia Tuy nhiên, việc xây dựng nông thôn mới vẫn đang ở bước khởi động và cũng có không ít các chỉ tiêu còn đang lúng túng, khó thực hiện, đòi hỏi phải có nhiều thời gian và
sự chung tay góp sức của toàn đảng, toàn dân Thời gian qua được sự quan tâm chỉ đạo của các ngành cấp trên cùng với tinh thần đoàn kết, quyết tâm của toàn đảng bộ, nhân dân huyện Mỏ Cày Nam đã khắc phục khó khăn, tập trung thực hiện các nghị quyết của huyện đề ra và đã đạt nhiều thành quả quan trọng, làm thay đổi bộ mặt nông thôn huyện nhà trên tất cả các lĩnh vực, cơ sở vật chất, kết cấu hạ tầng được quan tâm đầu tư, hệ thống giao thông được nhựa hóa - bê tông hóa, xóa cầu khỉ, mạng lưới điện, nước, bưu chính, viễn thông ngày càng hoàn chỉnh, tỷ lệ hộ dân sử dụng nước sạch, nước hợp vệ sinh ngày càng tăng Kinh tế nông thôn tăng trưởng khá, chuyển dịch theo hướng tăng công nghiệp, dịch vụ, ngành nghề, các hình thức tổ chức sản xuất tiếp tục đổi mới, đời sống vật chất và tinh thần của dân cư ở hầu hết các vùng nông thôn ngày càng được cải thiện, tỷ lệ hộ nghèo ngày càng giảm
Nông thôn Huyện Mỏ Cày Nam tuy có phát triển nhưng vẫn chưa đạt được chỉ tiêu của bộ tiêu chí nông thôn mới Đời sống nhân dân một số nơi còn ở mức thấp, vấn đề giải quyết việc làm, ô nhiễm môi trường ở nông thôn còn đang gặp khó khăn, lĩnh vực văn hóa - xã hội một số mặt còn hạn chế, hệ thống chính trị còn một số nơi chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, việc thực hiện dân chủ ở cơ sở còn một số nội dung mang tính hình thức Sự phối hợp giữa mặt trận tổ quốc, đoàn thể và chính quyền chưa thật sự đồng bộ Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội từng lúc, từng nơi còn xảy ra, chuyển dịch
Trang 35cơ cấu lao động còn chậm, thiếu chính sách thu hút đầu tư nguồn nhân lực và vốn ngân sách địa phương ít, các chính sách thu hút nguồn vốn đầu tư vào địa phương còn hạn chế [17]
Do vậy để xây dựng thành công xã nông thôn mới của huyện nhà cần
có các giải pháp cụ thể như sau:
- Tổ chức tuyên truyền sâu rộng với nhiều hình thức về nội dung, tư tưởng chỉ đạo, cơ chế chính sách của đảng và nhà nước về xây dựng nông thôn mới, nhằm cung cấp đầy đủ thông tin để cả hệ thống chính trị và toàn xã hội hiểu và cùng tham gia
- Xem xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ trọng tâm thường xuyên của cả hệ thống chính trị, cần có sự kiên trì, liên tục, phù hợp, có trọng tâm, trọng điểm Các chương trình phải được thực hiện bằng sức mạnh tổng hợp, nhà nước và nhân dân cùng làm, xây dựng nông thôn mới là sự nghiệp của dân, do dân, dân làm, dân hưởng
- Rà soát hiện trạng, xác định thứ tự ưu tiên các tiêu chí để triển khai thực hiện, trong đó, đặc biệt quan tâm đến giáo dục đào tạo và học nghề, lưu ý đào tạo cán bộ quản lý xây dựng nông thôn mới ở xã, huyện
- Về quy hoạch: Hoàn thành việc rà soát, bổ sung, điều chỉnh quy hoạch đất đai, quy hoạch phát triển nông, lâm, ngư nghiệp, công nghiệp, khu công nghiệp và quy hoạch chuyên ngành theo vùng Quy hoạch nông thôn mới bảo đảm hiện đại, văn minh, bền vững, ổn định cho phát triển sản xuất và phát triển đô thị
- Phát triển mạnh công nghiệp, dịch vụ ở các vùng nông thôn theo quy hoạch Khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, phát triển nhanh và nâng cao chất lượng các loại dịch vụ phục vụ sản xuất, nâng cao đời sống, thu nhập của dân cư nông thôn
- Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại,
Trang 36cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc dân tộc, môi trường sinh thái được bảo vệ
- Đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho nông dân là nhiệm vụ ưu tiên xuyên suốt trong mọi chương trình phát triển kinh tế - xã hội, định rõ chính sách bảo đảm việc làm cho nông dân ở các vùng chuyển đổi mục đích sử dụng đất gắn với kế hoạch phát triển của địa phương và đẩy mạnh xuất khẩu lao động từ nông thôn
- Ðổi mới và xây dựng các hình thức tổ chức sản xuất, dịch vụ có hiệu quả ở nông thôn như: Hỗ trợ phát triển hợp tác xã, sản xuất hàng hóa theo mô hình gia trại, trang trại, phát triển các làng nghề, ngành nghề truyền thống nông thôn quan tâm củng cố và phát triển nhân rộng mô hình kinh tế hợp tác làm ăn có hiệu quả
- Tạo môi trường thuận lợi để thu hút vốn đầu tư, hình thành và phát triển mạnh loại hình doanh nghiệp nông thôn, nhất là các doanh nghiệp có đầu
tư sản xuất, chế biến nông lâm thủy sản, sử dụng nguyên liệu và thu hút nhiều lao động tại chỗ Phát triển doanh nghiệp công nghiệp phục vụ nông nghiệp
- Ðẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng khoa học - công nghệ tiên tiến, công nghệ sinh học, xây dựng nhiều mô hình mới, các mô hình liên kết sản xuất mang lại hiệu quả, sản xuất gắn với thị trường tiêu thụ và bảo
vệ môi trường
- Tiếp tục nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đảm bảo nông nghiệp phát triển bền vững, đúng định hướng, tăng cường sự lãnh đạo của đảng, quản lý của nhà nước, phát huy sức mạnh của các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội và dân cư vùng nông thôn
- Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã đạt chuẩn theo quy định Đồng thời chú trọng làm tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý của chính quyền Thực hiện tốt pháp
Trang 37lệnh dân chủ cơ sở, làm tốt công tác tiếp dân và giải quyết đơn thư khiếu nại,
tố cáo của công dân ngay từ cơ sở
Thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội phục vụ nhân dân, trước tiên
áp dụng cho các gia đình chính sách, hộ nghèo, hộ cận nghèo
- Xây dựng xã vững mạnh toàn diện đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ quốc phòng - an ninh trong tình hình mới, giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội nông thôn, nâng chất hoạt động phong trào toàn dân bảo vệ an ninh tổ quốc, đội dân phòng, tổ nhân dân tự quản, trong đấu tranh phòng chống các loại tội phạm
Tóm lại việc xây dựng nông thôn mới là một nhiệm vụ cấp bách, lâu dài đòi hỏi sự tham gia của cả hệ chống chính trị và của toàn dân, qua đó phát huy được sức mạnh đoàn kết gắn bó cùng thực hiện nhiệm vụ chung, nhằm mang lại lợi ích thiết thực, thay đổi toàn diện bộ mặt nông thôn, góp phần đưa đất nước ngày càng phát triển văn minh, hiện đại
Trang 38Chương 2: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 2.1 Đặc điểm cơ bản của địa bàn nghiên cứu
2.1.1 Đặc điểm cơ bản của huyện Chương Mỹ
2.1.1.1 Đặc điểm tự nhiên
- Vị trí điạ lý:
+ Huyện Chương Mỹ nằm chính giữa rìa phía Tây Nam Hà Nội
+ Phía Đông giáp huyện Thanh Oai
+ Phía Bắc và phía Tây Bắc giáp huyện Quốc Oai
+ Phía chính Nam giáp huyện Mỹ Đức
+ Một góc phía Đông Nam giáp huyện Ứng Hòa
+ Phía Tây và Tây Nam giáp huyện Lương Sơn của tỉnh Hòa Bình Trên địa bàn huyện có quốc lộ 6A đi các tỉnh phía Tây Bắc dài 18km, đường tỉnh lộ 419, có chuỗi đô thị Xuân Mai - Hòa Lạc - Sơn Tây, có tuyến đường
Hồ Chí Minh chạy qua huyện với chiều dài 16,5 km Với những ưu đãi về vị trí địa lý, Chương Mỹ trở thành trung tâm giao thương kinh tế giữa các tỉnh vùng Tây Bắc với vùng Đông Bắc Bộ Huyện có diện tích tự nhiên là 232,9
km2
- Địa hình, khí hậu, thuỷ văn:
Địa hình huyện Chương Mỹ khá đa dạng, vừa có đặc trưng của vùng đồng bằng châu thổ, vừa có đặc trưng của vùng bán sơn địa với núi, sông, đồng, bãi, hồ, hang động, nằm xen kẽ lẫn nhau, chia thành ba vùng rõ rệt: Vùng bãi, vùng đồi gò và vùng chuyên lúa Có các sông Đáy, sông Tích, sông Bùi chảy qua và các hồ chứa nước lớn như hồ Đồng Sương, Văn Sơn, hồ Miếu đã được quy hoạch để phát triển thành các khu du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng
Trang 39- Cơ cấu đất đai của huyện Chương Mỹ được nêu trên bảng 2.1:
Chương Mỹ có 32 xã, thị trấn nên tình hình sử dụng đất đai đang là vấn
đề được quan tâm của huyện Sử dụng đất đúng mục đích sẽ đem lại lợi ích lớn về kinh tế cho người dân
Bảng 2.1: Tình hình sử dụng đất đai của Huyện Chương Mỹ năm 2011
(ha)
Tỷ lệ (%)
(Nguồn: UBND huyện Chương Mỹ)
Qua bảng trên cho thấy, tổng diện tích tự nhiên huyện Chương Mỹ là
Trang 4023.240,92 ha Đất dùng cho nông nghiệp là 14.032,65 ha chiếm 60,38 % tổng diện tích đất tự nhiên
Trong đó, đất dùng cho sản xuất nông nghiệp 12.984 ha chiếm 92,53% tổng diện tích đất nông nghiệp, đất dùng cho lâm nghiệp 303,84 ha chiếm 2,17% tổng diện tích đất nông nghiệp, đất nuôi trồng thủy sản 599,3 ha chiếm 4,27% diện tích đất nông nghiệp và diện tích đất nông nghiệp khác 144,89 ha chiếm 1,03 % diện tích đất nông nghiệp Đất dùng cho phi nông nghiệp 8.081,23 ha chiếm 34,77% tổng diện tích đất tự nhiên Và đất chưa sử dụng 1.127,04 ha chiếm 4,85 % tổng diện tích đất tự nhiên, đất bằng chưa sử dụng 215,43 ha chiếm 19,11 % tổng diện tích đất chưa sử dụng Đây là diện tích đất cần được đầu tư khai hoang, mở mang phát triển sản xuất nâng cao hiệu quả kinh tế trong huyện
2.1.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội huyện Chương Mỹ
- Dân số, lao động của huyện được nêu trên bảng 2.2:
Huyện Chương Mỹ có 32 xã, thị trấn với số lượng dân số lớn và nguồn lao động dồi dào
Qua bảng cho thấy, tổng dân số huyện Chương Mỹ năm 2011 có 299.391 người Mật độ dân số là 1.120 người/km2
Dân số trong độ tuổi lao động tính đến hết năm 2011 là 174.073 người, chiếm 58,14% dân số và được phân bổ lao động theo các ngành kinh tế
Nguồn nhân lực là thế mạnh nổi bật của huyện, tạo ra thị trường nội huyện to lớn về mọi mặt Song đồng thời cũng là áp lực lớn trong việc giải quyết việc làm