1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp phát triển chăn nuôi vịt theo hướng an toàn sinh học trên địa bàn huyện mỹ đức, hà nội

114 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 1,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với tốc độ phát triển chăn nuôi như hiện nay để đảm bảo tính bền vững và mang lại hiệu quả cao, hạn chế tối đa việc ảnh hưởng dịch bệnh trong tình hình dịch cúm gia cầm đã và đang diễn b

Trang 1

VÕ THỊ HẢI HIỀN

GIảI PHÁP PHÁT TRIểN CHĂN NUÔI VịT THEO HƯớNG

AN TOÀN SINH HọC TRÊN ĐịA BÀN HUYệN Mỹ ĐứC, HÀ NộI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

HÀ NộI, 2016

Trang 2

VÕ THỊ HẢI HIỀN

GIảI PHÁP PHÁT TRIểN CHĂN NUÔI VịT THEO HƯớNG

AN TOÀN SINH HọC TRÊN ĐịA BÀN HUYệN Mỹ ĐứC, HÀ NộI

Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp

Mã Số: 60620115

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS NGUYỄN VĂN TUẤN

HÀ NộI, 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của riêng Tôi, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo

vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan, mọi việc giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cảm ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, Ngày 10 tháng 4 năm 2016

Tác giả luận văn

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập và thực tập tốt nghiệp, ngoài sự cố gắng của bản thân, Tôi đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ nhiệt tình của nhiều tập thể, cá nhân trong và ngoài trường

Để hoàn thành luận văn thạc sỹ kinh tế của mình, Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến toàn thể Quý Thầy giáo, Cô giáo trong Trường đại học Lâm Nghiệp Việt Nam, Quý Thầy Cô giáo trong Khoa Kinh tế và Quản trị kinh doanh

đã trang bị cho Tôi những kiến thức quý báu trong học tập

Đặc biệt, cho phép Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Thầy giáo PGS.TS Nguyễn Văn Tuấn người đã dành nhiều thời gian, tâm huyết tận tình chỉ bảo hướng dẫn Tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn

Tôi xin trân trọng cảm ơn Phòng nông nghiệp và Trạm khuyến nông huyện

Mỹ Đức, Huyện ủy - HĐND – UBND và bà con nông dân các xã Tuy Lai, Phù Lưu Tế, An Phú đã tạo điều kiện thuận lợi, giúp đỡ Tôi trong quá trình thực tế tại địa bàn

Cuối cùng, Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè đã động viên, giúp đỡ Tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, Ngày 10 tháng 4 năm 2016

Tác giả luận văn

Võ Thị Hải Hiền

Trang 5

MỤC LỤC

Trang Trang phụ bìa

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v

DANH MỤC CÁC BẢNG vi

DANH MỤC ĐỒ THỊ viii

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN CHĂN NUÔI THEO HƯỚNG AN TOÀN SINH HỌC 4

1.1 Cơ sở lý luận về phát triển chăn nuôi theo hướng an toàn sinh học 4

1.1.1 Khái niệm, vai trò và ý nghĩa của phát triển chăn nuôi theo hướng an toàn sinh học 4

1.1.3 Các biện pháp thực hành chăn nuôi gia cầm theo hướng an toàn sinh học 9

1.1.4 Yêu cầu kỹ thuật trong chăn nuôi vịt thịt theo hướng an toàn sinh học 9 1.1.5 Một số nội dung thực hiện an toàn sinh học trong chăn nuôi 11

1.2 Cơ sở thực tiễn về phát triển chăn nuôi gia cầm theo hướng an toàn sinh học 12

1.2.1 Tình hình chăn nuôi gia cầm theo hướng ATSH trên thế giới 12

1.2.2 Tình hình chăn nuôi vịt theo hướng an toàn sinh học tại một số địa phương ở Việt Nam 18

1.2.3 Bài học kinh nghiệm cho huyện Mỹ Đức 21

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA HUYỆN MỸ ĐỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23

2.1 Đặc điểm cơ bản của huyện Mỹ Đức, Hà Nội 23

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 23

Trang 6

2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 30

2.1.3 Đánh giá chung 37

2.2 Phương pháp nghiên cứu 38

2.2.1 Phương pháp chọn địa điểm nghiên cứu, khảo sát 38

2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu 38

2.2.4 Hệ thống chỉ tiêu sử dụng trong nghiên cứu đề tài 41

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 44

3.1 Thực trạng phát triển chăn nuôi vịt của huyện Mỹ Đức 44

3.1.1 Quy mô chăn nuôi vịt huyện Mỹ Đức, Hà Nội 44

3.1.2 Tình hình tổ chức chăn nuôi vịt tại huyện Mỹ Đức 48

3.1.3 Chủ trương của Huyện về phát triển chăn nuôi gia cầm theo hướng ATSH 52

3.2.2 Quy mô và cơ cấu đàn vịt ATSH tại các hộ điều tra 55

3.2.3 Quy trình chăn nuôi vịt ATSH tại các hộ điều tra 58

3.2.4 Tình hình đầu tư cơ sở hạ tầng cho chăn nuôi vịt ATSH tại các hộ điều tra 60

3.2.5 Công tác cung ứng vật tư, kỹ thuật cho chăn nuôi vịt ATSH tại các hộ điều tra 63

3.2.6 Quản lý và phòng chống dịch bệnh trong chăn nuôi vịt ATSH tại các hộ điều tra 68

3.2.7 Tình hình tiêu thụ sản phẩm vịt ATSH tại hộ điều tra 70

3.2.8 Hiệu quả chăn nuôi vịt theo hướng an toàn sinh học của các hộ điều tra 71

3.3.3 Cơ hội trong chăn nuôi vịt theo hướng ATSH trên địa bàn Huyện 77

3.3.4 Thách thức trong chăn nuôi vịt theo hướng ATSH trên địa bàn Huyện77 3.4 Những thành công, tồn tại trong phát triển chăn nuôi vịt theo hướng an toàn sinh học trên địa bàn Huyện 80

3.4.1 Những thành công 80

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 88 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Chữ viết tắt Diễn giải nội dung

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

1.2 Sản lượng thịt gia cầm năm 2014 của một số nước trên thế giới 14 1.3 Sản lượng trứng gia cầm năm 2014 của một số nước trên thế

2.4 Giá trị sản xuất và cơ cấu giá trị sản xuất 2013 – 2015 35

3.1 Quy mô đàn vịt của Huyện trong 3 năm (2013 – 2015) 45 3.2 Quy mô cơ sở chăn nuôi vịt trên toàn huyện năm 2015 47 3.3 Tình hình sản xuất và cung cấp vịt giống tại Huyện 49 3.4 Tình hình tiêu thụ thức ăn chăn nuôi của Huyện 50 3.5 Tình hình dịch bệnh xảy ra trên địa bàn Huyện qua 3 năm

(2013-2015)

51

3.7 Quy mô và cơ cấu đàn vịt 3 xã của các HGĐ điều tra 57 3.8 Cơ sở hạ tầng của các hộ chăn nuôi theo hướng ATSH năm 2015 61 3.9 So sánh cơ sở hạ tầng của các hộ chăn nuôi theo hướng ATSH

và hộ nuôi truyền thống năm 2015

62

3.10 So sánh quy hoạch về diện tích chăn nuôi hộ theo hướng ATSH

và hộ nuôi truyền thống năm 2015

63

3.11 Tỷ lệ hộ chăn nuôi vịt theo hướng ATSH theo nguồn mua

giống năm 2015

64

Trang 9

3.12 So sánh tỷ lệ theo nguồn mua giống của hộ chăn nuôi vịt theo

hướng ATSH và hộ nuôi truyền thống năm 2015

3.15 Tình hình thực hiện 1 số chỉ tiêu kỹ thuật của các hộ chăn nuôi

theo hướng ATSH năm 2015

67

3.16 So sánh thực hiện 1 số chỉ tiêu kỹ thuật giữa nuôi theo hướng

ATSH và chăn nuôi truyền thống năm 2015

68

3.17 Tình hình thực hiện phương án phòng chống dịch bệnh của hộ

chăn nuôi vịt theo hướng ATSH năm 2015

3.20 So sánh đối tượng tiêu thụ của hộ chăn nuôi vịt theo hướng

3.21 Tổng hợp chi phí trong chăn nuôi vịt theo hướng ATSH của các

3.22 So sánh chi phí trong chăn nuôi vịt theo hướng ATSH và hộ

3.23 Tỷ lệ các hình thức thụ sản phẩm của các hộ điều tra năm 2015 74 3.24 Tỷ lệ nuôi sống trong chăn nuôi vịt tại các hộ điều tra năm 2015 75 3.25 So sánh kết quả chăn nuôi vịt của các hộ điều tra năm 2015 76

3.27 Tình hình tiếp cận các kiến thức về chăn nuôi ATSH của các

Trang 10

DANH MỤC ĐỒ THỊ

3.1 Cơ cấu số lượng vịt giống chăn nuôi theo hướng ATSH năm 2015 58

3.2 Tỷ lệ hộ chăn nuôi theo hướng ATSH theo nguồn mua thức ăn

3.3 Nguồn cung cấp dịch vụ thú y tại 3 xã năm 2015 70

3.4 So sánh tỷ lệ sống giữa chăn nuôi vịt theo hướng ATSH và truyền

Trang 11

ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu

Trong những năm qua, chăn nuôi gia cầm luôn được quan tâm và phát triển

để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về tiêu dùng thực phẩm trong nước Với tốc độ phát triển chăn nuôi như hiện nay để đảm bảo tính bền vững và mang lại hiệu quả cao, hạn chế tối đa việc ảnh hưởng dịch bệnh trong tình hình dịch cúm gia cầm đã

và đang diễn biến hết sức phức tạp thì giải pháp chăn nuôi theo hướng an toàn sinh học là một trong những yếu tố quan trọng, nhằm góp phần phát triển bền vững trong sản xuất nông nghiệp

Mô hình chăn nuôi an toàn sinh học thay đổi phương thức chăn nuôi gia cầm từ chăn nuôi truyền thống (chăn thả nhỏ lẻ, tận dụng thức ăn tự nhiên, mua bán tự do), sang chăn nuôi theo qui trình an toàn sinh học (nuôi tập trung, có quản lý, chích ngừa đầy đủ các loại vacxin, mua bán, giết mổ tập trung) Đảm bảo an toàn cho đàn gia cầm,

an toàn cho người chăn nuôi, an toàn cho người tiêu dùng và an toàn cho môi trường sống của cộng đồng Đảm bảo sạch và an toàn từ nơi sản xuất đến bàn ăn

Nước ta có tổng đàn vịt đứng thứ hai thế giới, sau Trung Quốc là một trong

10 quốc gia có sản lượng thịt và trứng vịt lớn nhất trên thế giới, được đánh giá là đối tượng vật nuôi có tiềm năng Tuy nhiên, thời gian gần đây ngành chăn nuôi vịt nói riêng và ngành chăn nuôi gia cầm nói chung đang đối mặt với nhiều khó khăn như: giá thức ăn chăn nuôi liên tục tăng cao, chưa chủ động con giống nội địa, dịch bệnh đàn gia cầm diễn biến phức tạp nhất là khi Việt Nam gia nhập Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) và Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC)

Tận dụng lợi thế về địa hình nhiều ao hồ mà những năm gần đây, nhiều hộ gia đình trên địa bàn Huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội đã tiến hành và phát triển chăn nuôi vịt.Trong đó có nhiều hộ nuôi với quy mô lớn, trên 1.000 con Nhờ chăn nuôi vịt mà những hộ dân trong Huyện từ chỗ khó khăn đã vươn lên phát triển kinh

tế, mang lại thu nhập cao

Nhưng đa số người chăn nuôi chủ yếu là nuôi vịt chạy đồng, thả lan, tận dụng nguồn thức ăn từ đồng ruộng, vẫn còn mang tính chất tự phát, chăn nuôi theo hướng lấy công làm lãi hoặc tận dụng những sản phẩm phụ như chất thải để phục vụ

Trang 12

trong trồng trọt, gây khó khăn trong việc kiểm soát dịch bệnh trên đàn gia cầm Chính vì vậy mà mô hình chăn nuôi vịt theo hướng an toàn sinh học được các hộ chăn nuôi quan tâm và chú trọng Để góp phần tháo gỡ những khó khăn cho ngành chăn nuôi vịt, định hướng cho người chăn nuôi lựa chọn hình thức chăn nuôi vịt, con giống phù hợp theo điều kiện của từng địa phương và khả năng thị trường tiêu thụ, giúp hộ chăn nuôi thay đổi tập quán chăn nuôi, từ nuôi truyền thống kém hiệu quả, chuyển sang đầu tư nuôi theo hướng an toàn sinh học Đồng thời cũng đề xuất các chính sách phù hợp, quy hoạch vùng chăn nuôi vịt tập trung và đưa ra các giải pháp phát triển nuôi vịt bền vững, đảm bảo chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm góp phần thực hiện tốt đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp của vùng

Từ những lý do trên, để góp phần nâng cao thu nhập cho các hộ chăn nuôi, sản

phẩm từ vịt đảm bảo an toàn thực phẩm, tôi đã lựa chọn đề tài “Giải pháp phát triển

chăn nuôi vịt theo hướng an toàn sinh học trên địa bàn huyện Mỹ Đức, Hà Nội”

làm luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu tổng quát

Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng phát triển chăn nuôi, phân tích những yếu

tố thuận lợi và khó khăn, Luận văn đề xuất các giải pháp phát triển chăn nuôi vịt theo hướng an toàn sinh học trên địa bàn huyện Mỹ Đức, Hà Nội

Trang 13

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động chăn nuôi vịt theo hướng an toàn sinh học quy mô hộ gia đình trên địa bàn huyện Mỹ Đức, Hà Nội

3.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

+ Phạm vi về nội dung:

Đề tài nghiên cứu tập trung vào các khía cạnh sau đây:

- Nghiên cứu công tác tổ chức quản lý các hoạt động chăn nuôi vịt theo hướng an toàn sinh học

- Các điều kiện đảm bảo an toàn sinh học trong chăn nuôi vịt

- Các biện pháp quản lý phát triển chăn nuôi vịt thịt theo hướng an toàn sinh học trên địa bàn Huyện

+ Phạm vi về không gian: Địa bàn huyện Mỹ Đức, Hà Nội

4 Nội dung nghiên cứu

- Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển chăn nuôi theo hướng an toàn sinh học

- Thực trạng phát triển chăn nuôi vịt theo hướng an toàn sinh học trên địa bàn huyện Mỹ Đức, Hà Nội

- Những thành công, tồn tại trong phát triển chăn nuôi vịt theo hướng an toàn sinh học trên địa bàn huyện Mỹ Đức, Hà Nội

- Một số giải pháp phát triển chăn nuôi vịt theo hướng an toàn sinh học trên địa bàn nghiên cứu

5 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được chia làm 3 chương, bao gồm: Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển chăn nuôi theo hướng an toàn sinh học

Chương 2 Đặc điểm cơ bản huyện Mỹ Đức, Hà Nội và phương pháp nghiên cứu Chương 3 Kết quả nghiên cứu

Trang 14

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN CHĂN NUÔI

THEO HƯỚNG AN TOÀN SINH HỌC

1.1 Cơ sở lý luận về phát triển chăn nuôi theo hướng an toàn sinh học

1.1.1 Khái niệm, vai trò và ý nghĩa của phát triển chăn nuôi theo hướng an toàn sinh học

1.1.1.1 Các khái niệm cơ bản

 Khái niệm về phát triển chăn nuôi

 Chăn nuôi:

Chăn nuôi là hệ thống các biện pháp về giống, thức ăn, thú y, kĩ thuật cần được áp dụng đúng quy trình để nuôi dưỡng, chăm sóc vật nuôi nhằm đáp ứng nhu cầu cần thiết của con người [1]

 Phát triển:

Phát triển được hiểu là một phạm trù triết học dùng để chỉ quá trình vận

động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của sự vật Quá trình đó diễn ra vừa dần dần, vừa nhảy vọt, đưa tới

sự ra đời của cái mới thay thế cái cũ Quan điểm này cũng cho rằng, sự phát triển

là kết quả của quá trình thay đổi dần về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất, là quá trình diễn ra theo đường xoáy ốc và hết mỗi chu kỳ sự vật lặp lại dường như sự vật ban đầu nhưng ở cấp độ cao hơn [1]

 Phát triển kinh tế:

Có thể hiểu phát triển kinh tế là một quá trình biến đổi nền kinh tế quốc dân bằng một sự gia tăng sản xuất và nâng cao mức sống của dân cư Đối với các nước đang phát triển thì phát triển kinh tế là quá trình mà nền kinh tế chậm phát triển thoát khỏi lạc hậu, đói nghèo, thực hiện CNH - HĐH Đó là sự tăng trưởng kinh tế gắn liền với sự thay đổi cơ cấu kinh tế, thể chế kinh tế, văn hóa, pháp luật, thậm chí về kĩ năng quản lí, phong tục và tập tục Tăng trưởng kinh tế là tiền đề

và điều kiện tất yếu của phát triển kinh tế, nhưng không đồng nghĩa với phát triển kinh tế Tăng trưởng kinh tế là tăng thu nhập và sản phẩm bình quân đầu người

Trang 15

Phát triển kinh tế bao gồm cả sự tăng về qui mô sản lượng và sự tiến bộ về cơ cấu kinh tế xã hội [1]

 Phát triển chăn nuôi:

Khi nói đến phát triển chăn nuôi, người ta thường quan tâm đến các khía cạnh: số lượng, chất lượng, hình thức tổ chức chăn nuôi và phương thức chăn nuôi Phát triển về mặt số lượng: số lượng hay quy mô vật nuôi phụ thuộc vào mục tiêu chăn nuôi hay nhu cầu tiêu thụ các sản phẩm chăn nuôi Với mục tiêu chăn nuôi để giải quyết vấn đề thực phẩm gia đình thì người chăn nuôi không nuôi

số lượng lớn và không quan tâm đến hạch toán chi phí Với mục tiêu hàng hóa thì

số lượng vật nuôi đưa vào chăn nuôi lớn hơn nhiều so với chăn nuôi để giải quyết thực phẩm gia đình Chăn nuôi là ngành có lợi thế kinh tế nhờ quy mô [1]

Quy mô chăn nuôi phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó các yếu tố quan trọng nhất là: mặt bằng sản xuất, vốn đầu tư, trình độ chuyên môn kỹ thuật của người chăn nuôi Các hộ chăn nuôi có những điều kiện tốt về mặt bằng sản xuất, vốn đầu tư, khả năng tiêu thụ sản phẩm, có chuyên môn kỹ thuật cao sẽ thuận lợi trong việc phát triển chăn nuôi với số lượng lớn và ngược lại[1]

Phát triển về mặt chất lượng: chất lượng phát triển chăn nuôi có thể được đánh giá trên nhiều khía cạnh khác nhau về sự tăng trưởng ổn định trong một thời

kỳ nhất định, khả năng chiếm lĩnh thị trường và khả năng cạnh tranh trên thị trường, năng suất lao động đạt được khi phát triển chăn nuôi, lợi ích thu được của người chăn nuôi và của cộng đồng xã hội [1]

Chất lượng phát triển chăn nuôi cũng phụ thuộc nhiều yếu tố, trong đó có các yếu tố quan trọng là: Khả năng ứng dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ trong chăn nuôi của người chăn nuôi là cao hay chất lượng chăn nuôi cung cấp ra thị trường cao hay thấp, thu nhập và lợi nhuận tính trên một đơn vị sản phẩm cao hay thấp, tổng thu nhập và lợi nhuận thu được của người chăn nuôi cao hay thấp [1]

Các hình thức tổ chức chăn nuôi: Chăn nuôi có nhiều hình thức tổ chức sản xuất khác nhau phụ thuộc mục tiêu chăn nuôi, các yếu tố về nguồn lực, thị trường tiêu thụ sản phẩm và các yếu tố khác Nghiên cứu về các hình thức tổ chức chăn

Trang 16

nuôi ở Việt Nam hiện nay, các nhà nghiên cứu chia thành 2 nhóm chăn nuôi là chăn nuôi nhỏ lẻ và chăn nuôi tập trung [1]

Chăn nuôi nhỏ lẻ hiện nay khá phổ biến ở tất cả các vùng sinh thái Hộ nông dân chăn nuôi nhỏ lẻ với mục tiêu chính là giải quyết thực phẩm gia đình, phần sản phẩm của các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ bán ra thị trường không nhiều và phần lớn chỉ được thực hiện khi các hộ có nhu cầu chi tiêu tiền mặt với số lượng nhỏ Chăn nuôi nhỏ lẻ rất tiện dụng đối với các hộ nông dân nhưng đây lại là hình thức chăn nuôi

có hiệu quả thấp, luôn luôn tiềm ẩn nguy cơ lây lan dịch bệnh [1]

Chăn nuôi tập trung được phát triển trong các hộ, các trang trại, doanh nghiệp có điều kiện về mặt bằng sản xuất, về vốn đầu tư, về nhân lực, công nghệ

và thị trường tiêu thụ Mục tiêu chính của những người chăn nuôi theo những hình thức này là chăn nuôi hàng hóa tìm kiếm lợi nhuận Tại Việt Nam hiện nay số lượng các chủ hộ, trang trại, doanh nghiệp chăn nuôi gia cầm tập trung tuy không nhiều nhưng lại chiếm tỷ trọng đáng kể về sản phẩm hàng hóa cung cấp cho thị trường xã hội Phát triển chăn nuôi tập trung sẽ có những thuận lợi nhất định trong việc hình thành vùng sản xuất hàng hóa và tiện kiểm soát dịch cúm lây lan

 Khái niệm về an toàn sinh học trong chăn nuôi

An toàn sinh học trong chăn nuôi là những biện pháp tổng hợp nhằm bảo vệ vật nuôi và người chăn nuôi không bị tấn công của dịch bệnh, tạo cho đàn gia súc, gia cầm có sức đề kháng tốt nhất [Trung tâm khuyến nông khuyến ngư quốc gia, 2009 ]

Các biện pháp tổng hợp bao gồm: Chế độ cách ly, chế độ chăm sóc nuôi dưỡng, quy trình vệ sinh thú y, quy trình thú y phòng trị bệnh, xử lý chất thải trong chăn nuôi, quản lý việc ấp nở gia cầm, vận chuyển và giết mổ gia cầm Các biện pháp này phải được thực hiện đồng bộ

Thực hiện tốt các biện pháp an toàn sinh học sẽ mang lại lợi ích cao nhất cho người chăn nuôi, vật nuôi sẽ đạt được năng suất cao, chi phí sản xuất thấp, giảm thiểu những rủi ro do dịch bệnh, hạn chế việc lây lan dịch bệnh từ vùng này sang vùng khác, từ trại này sang trại khác và cuối cùng là tạo ra được những sản phẩm chăn nuôi an toàn cho người sử dụng

Trang 17

Đảm bảo an toàn sinh học cũng giúp cho người chăn nuôi hạn chế đến mức tối đa sự ảnh hưởng trực tiếp của dịch bệnh từ con vật sang con người cũng như sự

ô nhiễm của môi trường chăn nuôi đưa lại

1.1.1.2 Đặc điểm của phát triển chăn nuôi theo hướng an toàn sinh học

Chăn nuôi an toàn sinh học là biện pháp ngăn ngừa sự tiếp xúc giữa động vật và mầm bệnh An toàn sinh học có thể không cần chi phí nhiều tiền, chủ yếu là những thói quen tốt diễn ra hàng ngày ở trang trại của người nông dân

Chăn nuôi theo hướng an toàn sinh học có thể áp dụng cho cả chăn nuôi quy

mô nhỏ và qui mô lớn Với các trại chăn nuôi gia cầm ở qui mô nhỏ, an toàn sinh học gồm nhiều hình thức khác nhau, đơn giản và không tốn kém như ngăn chặn không cho mầm bệnh xâm nhập vào gia cầm hoặc giữ gia cầm không cho tiếp xúc với mầm bệnh

- Chuồng trại cần được thiết kế thoáng mát về mùa hè, đảm bảo kín ấm vào

mùa đông Có hàng rào ngăn cách nhằm quản lý sự ra vào, tránh sự tiếp xúc với đàn khác hoặc với vật nuôi khác và động vật hoang

- Con giống được mua về nuôi có nguồn gốc rõ ràng Con giống cũng là biện

pháp rất tốt để quản lý dịch bệnh

- Thức ăn sử dụng trong chăn nuôi cũng có xuất xứ, nguồn gốc rõ ràng Thức

ăn đầy đủ các thành phần dinh dưỡng đáp ứng cho các giai đoạn phát triển (tuổi) của vật nuôi

- Tiêm phòng định kỳ (theo lịch) và vệ sinh khu vực chăn nuôi thường xuyên

là biện pháp quan trọng để ngăn chặn, giảm thiểu nguy cơ xâm nhập của các mầm bệnh vào đàn vật nuôi

- Thực hiện nguyên tắc “cùng nhập, cùng xuất”

1.1.1.3 Vai trò và ý nghĩa của phát triển chăn nuôi theo hướng an toàn sinh học

Ngày nay do sự phát triển của kinh tế, thu nhập và đời sống của nhân dân ngày một tăng do đó cơ cấu bữa ăn hàng ngày của người dân cũng dần có sự thay đổi Càng ngày tỷ trọng về lương thực trong bữa ăn càng có xu hướng giảm xuống nhường chỗ cho các sản phẩm từ chăn nuôi có tỷ lệ đạm cao Do đó vai trò của

Trang 18

ngành chăn nuôi ngày càng tăng lên Vì vậy, mật độ gia cầm tăng cao ở các vùng chăn nuôi thâm canh, dẫn đến nhiều bệnh truyền nhiễm trở nên trầm trọng hơn như: cúm gia cầm, niucátxơn, gumboro, hen, bạch lỵ, ký sinh trùng đường máu…

Tình trạng vận chuyển và buôn bán gia cầm gia tăng trong khi khả năng kiểm soát dịch bệnh chưa đáp ứng được làm tăng khả năng lây nhiễm Một số bệnh của gia cầm có thể ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng đã bùng phát và lây nhiễm Vì vậy, người tiêu dùng ngày càng có nhu cầu cao hơn về sản phẩm gia cầm chất lượng

và an toàn

Các biện pháp an toàn sinh học chính là công cụ đắc lực để tránh được các rủi ro về bệnh dịch cho gia cầm, tăng hiệu quả sản xuất chăn nuôi và hướng đến an toàn thực phẩm cho người tiêu dùng

Việc áp dụng các biện pháp an toàn sinh học cho chăn nuôi gia cầm mang lại những lợi ích cụ thể:

- Giữ cho gia cầm khỏe mạnh và có năng suấtcao

- Giảm chi phí thuốc thú y, tăng thêm thu nhập cho người chăn nuôi

- Cung cấp cho người tiêu dùng các sản phẩm gia cầm có chất lượng cao hơn

1.1.2 Mục tiêu, nguyên tắc áp dụng trong chăn nuôi theo hướng an toàn sinh học 1.1.2.1 Các mục tiêu của chăn nuôi gia cầm theo hướng an toàn sinh học

Có 4 mục tiêu cơ bản trong chăn nuôi gia cầm theo hướng an toàn sinh học Bao gồm:

- Ngăn cản sự xâm nhập của mầm bệnh từ bên ngoài trại vào trong trại

- Không để mầm bệnh lây lan giữa các khu vực trong trại

- Không để gia cầm trong trại phát bệnh

- Ngăn cản sự lây lan mầm bệnh từ trong trại (nếu có) ra ngoài trại

1.1.2.2 Các nguyên tắc cơ bản trong thực hành chăn nuôi gia cầm theo hướng an toàn sinh học

Trong quá trình chăn nuôi gia cầm theo hướng an toàn sinh học, cần phải tuân thủ các nguyên tắc sau:

- Đàn gia cầm phải được nuôi trong một môi trường được bảo vệ

Trang 19

- Đàn gia cầm phải được chăm sóc nuôi dưỡng tốt

- Tất cả mọi sự di chuyển ra vào trại và giữa các khu vực trong trại đều phải được kiểm soát

1.1.3 Các biện pháp thực hành chăn nuôi gia cầm theo hướng an toàn sinh học

- Chuồng trại: Chuồng trại phải được xây dựng ở nơi cao ráo, có vành đai

trắng tính từ tường rào đến chuồng nuôi Chuồng trại phải thoáng, mát và phải có

khu cách ly mới nhập gây bệnh [1]

- Giống: Chỉ nhập giống ở những trại có uy tín, không mang mầm bệnh

Đàn giống mới nhập về phải có thời gian cách ly để theo dõi sau đó mới cho vào chuồng nuôi Loại thải triệt để những con giống nhiễm bệnh để tránh làm lây lan mầm bệnh cho những con gia cầm khoẻ trong trại Thực hiện quy trình

“cùng vào - cùng ra” trên cùng một dãy chuồng hay trong trại Không nuôi “gối đầu” dễ làm lây truyền mầm bệnh từ lứa này sang lứa khác [1]

-Tăng sức đề kháng trên cơ thể vật nuôi: Tiêm phòng vaccin đúng lịch một

số loại bệnh truyền nhiễm thường gặp trên vật nuôi Tăng sức đề kháng trên cơ thể vật nuôi bằng cách cho ăn đủ đầy dinh dưỡng Nước uống phải luôn sạch và đầy

đủ Bổ sung thuốc tăng lực tăng sức Cần chú ý vào thời điểm giao mùa, và những giai đoạn thường xảy ra stress cho vật nuôi (như tiêm phòng, cai sữa, lẻ bầy, chuyển chuồng, ồn ào, tiếng động đột ngột…) [1]

- Giảm mật độ mầm bệnh từ môi trường nuôi: Thực hiện việc vệ sinh

chuồng trại nuôi mỗi ngày Định kỳ phun thuốc sát trùng chuồng trại và đàn gia cầm Không đưa sản phẩm vật nuôi từ bên ngoài vào chuồng trại (thịt, trứng …) Khi gia cầm chết do bệnh, hay chết đột ngột không rõ nguyên nhân phải được tiêu hủy Không được giết mổ bán thịt Không bán chạy gia cầm bệnh, hay đang điều trị bệnh Khách tham quan, thăm viếng, xe chuyên chở ra vào trại nuôi phải vệ sinh sát trùng kỹ lưỡng Đối với hộ chăn nuôi gia đình nên tự thực hiện công tác thú y Chỉ tham khảo ý kiến, báo với cán bộ thú y khi có dịch bệnh xảy ra [1]

1.1.4 Yêu cầu kỹ thuật trong chăn nuôi vịt thịt theo hướng an toàn sinh học

Nghề chăn nuôi vịt thịt đã có từ lâu đời ở Việt Nam, nhưng chủ yếu là quy

Trang 20

mô nhỏ, phân tán, mang tính tự cung tự cấp Phương thức nuôi cổ truyền là sử dụng các giống vịt cỏ địa phương năng suất thấp, nuôi thả đồng tự nhiên, chịu tác động của mùa vụ và phải đối mặt với nguy cơ lây nhiễm dịch bệnh cao, nhất là dịch cúm gia cầm H5N1

Trước tình hình đó, chăn nuôi vịt thịt theo hướng an toàn sinh học ngày càng được triển khai rộng rãi với những biện pháp kỹ thuật đơn giản, dễ thực hiện:

Thứ nhất: Vịt giống

Chỉ nên mua vịt giống từ những cơ sở giống tốt, có nguồn gốc rõ ràng và chỉ chọn những con vịt giống khỏe mạnh, nhanh nhẹn Con giống cần được tiêm phòng đầy đủ và đảm bảo

Nên nhốt riêng đàn vịt giống mới mua về (cách xa đàn gia cầm nhà đang nuôi) và cho uống thuốc bổ trong vòng 10 ngày đến 15 ngày, khi thấy khỏe mạnh mới thả vào cùng đàn gia cầm nhà

Thứ hai: đảm bảo điều kiện chuồng nuôi và môi trường nuôi được vệ sinh

Trước khi nuôi: Cần chuẩn bị tốt chuồng trại trước khi mua vịt về

- Trại cần phải có mái che để vịt trú nắng, mưa Mật độ nuôi cần vừa phải: nếu nuôi quá đông, vịt hay cắn mổ, môi trường quá ô nhiễm dễ phát sinh bệnh tật

- Cần chú ý vệ sinh tiêu độc chuồng nuôi, khu vực xung quanh chuồng, dụng cụ chăn nuôi trước khi đưa vịt vào nuôi

Trong thời gian nuôi:

- Nên giữ cho chuồng nuôi luôn khô ráo, sạch sẽ, thoáng mát, không bị mưa tạt gió lùa

- Sân thả vịt cần khô sạch sẽ, có hàng rào bao quanh

- Nếu chuồng nuôi có chất độn chuồng thì độn chuồng phải luôn khô ráo, nên phơi nắng trước khi cho vào chuồng nuôi

- Cần định kỳ quét phân, thay chất độn chuồng, rắc vôi bột vào các nơi ẩm

ướt, quét vôi chuồng nuôi, sân thả vịt, phun thuốc diệt muỗi, mò, mạt

Trang 21

- Phân vịt, chất độn chuồng lẫn phân cần được gom và ủ để diệt bệnh

- Trong thời gian này cần định kỳ vệ sinh, tiêu độc sát trùng chuồng trại sử dụng các loại hóa chất sát trùng như: cloramin, iodine, benkocid… để sát trùng chuồng, khu vực xung quanh chuồng, dụng cụ chăn nuôi… nhằm giảm thiểu mầm bệnh

Sau mỗi đợt nuôi:

Cần tổng vệ sinh sát trùng và để trống chuồng 7 - 15 ngày mới nuôi lứa khác để cắt đứt các loại mầm bệnh

Thứ ba: Biện pháp cách ly để hạn chế lây lan bệnh

- Nên hạn chế người ra vào nơi nuôi vịt Nếu có dịch bệnh xảy ra ở địa phương xung quanh thì không cho người ngoài đến Người nuôi vịt không được đến nơi xảy ra dịch

- Cần có biện pháp ngăn ngừa không cho vịt nuôi tiếp xúc với các động vật khác như chim hoang, heo, chuột

- Thường xuyên loại thải những con vịt gầy yếu ra khỏi đàn để tránh lây lan bệnh

- Tiêm phòng bệnh tụ huyết trùng cho vịt lúc 60 ngày tuổi

1.1.5 Một số nội dung thực hiện an toàn sinh học trong chăn nuôi

Chuồng trại: Chuồng trại phải được xây dựng ở nơi cao ráo, có vành đai

trắng tính từ tường rào đến chuồng nuôi Chuồng trại phải thoáng, mát và phải

có khu cách ly mới nhập gây bệnh [1]

Giống: Chỉ nhập giống ở những trại có uy tín, không mang mầm bệnh

Đàn giống mới nhập về phải có thời gian cách ly để theo dõi sau đó mới cho

Trang 22

vào chuồng nuôi Loại thải triệt để những con giống nhiễm bệnh để tránh làm lây lan mầm bệnh cho những con gia cầm khoẻ khỏe trong trại Thực hiện quy trình “cùng vào - cùng ra” trên cùng một dãy chuồng hay trong trại Không nuôi

“gối đầu” dễ làm lây truyền mầm bệnh từ lứa này sang lứa khác [1]

Tăng sức đề kháng trên cơ thể vật nuôi: Tiêm phòng vaccin đúng lịch

một số loại bệnh truyền nhiễm thường gặp trên vật nuôi Tăng sức đề kháng trên cơ thể vật nuôi bằng cách cho ăn đủ đầy dinh dưỡng Nước uống phải luôn sạch và đầy đủ Bổ sung thuốc tăng lực tăng sức Cần chú ý vào thời điểm giao mùa, và những giai đoạn thường xảy ra stress cho vật nuôi (như tiêm phòng, cai sữa, lẻ bầy, chuyển chuồng, ồn ào, tiếng động đột ngột…) [1]

Giảm mật độ mầm bệnh từ môi trường nuôi: Thực hiện việc vệ sinh

chuồng trại nuôi mỗi ngày Định kỳ phun thuốc sát trùng chuồng trại và đàn gia cầm Không đưa sản phẩm vật nuôi từ bên ngoài vào chuồng trại (thịt, trứng

…) Khi gia cầm chết do bệnh, hay chết đột ngột không rõ nguyên nhân phải được tiêu hủy Không được giết mổ bán thịt Không bán chạy gia cầm bệnh, hay đang điều trị bệnh Khách tham quan, thăm viếng, xe chuyên chở ra vào trại nuôi phải vệ sinh sát trùng kỹ lưỡng Đối với hộ chăn nuôi gia đình nên tự thực hiện công tác thú y Chỉ tham khảo ý kiến, báo với cán bộ thú y khi có dịch bệnh xảy ra [1]

1.2 Cơ sở thực tiễn về phát triển chăn nuôi gia cầm theo hướng an toàn sinh học

1.2.1 Tình hình chăn nuôi gia cầm theo hướng ATSH trên thế giới

Chăn nuôi gia cầm cũng như thương mại các sản phẩm gia cầm trên thế giới phát triển mạnh trong vòng 35 năm qua Sản lượng thịt và trứng gia cầm tăng nhanh hơn sản lượng thịt bò và thịt lợn Năm 1970, sản lượng thịt gia cầm thế giới chỉ đạt 53.363 triệu tấn thì năm 2014 là 89.477 triệu tấn Sản lượng thịt gia cầm năm 1970 chỉ xấp xỉ 50% sản lượng thịt lợn và 25% thịt bò nhưng năm 2014, sản lượng thịt gia cầm tăng cao hơn 25% so với thịt bò và bằng 75% thịt lợn Trứng gia cầm tăng từ 35.232 ngàn tấn năm 1990 tăng lên 76.089 ngàn tấn năm 2014 [Bảng 1.1]

Trang 23

Bảng 1.1: Sản phẩm chăn nuôi gia cầm của thế giới

64.399 76.089

Sản lượng trứng ở các nước đang phát triển trong những năm đầu của thập kỉ

90, thế kỉ trước vượt trội so với các nước phát triển và chiếm 2/3 sản lượng trứng thế giới Năm 2014, sản lượng trứng gia cầm ở khu vực châu Á chiếm hơn 60% và chủ yếu là đóng góp của Trung Quốc là 35,6 triệu tấn/ năm (sản lượng của nước này chiếm gần 40% sản lượng trứng thế giới), châu Âu giảm xuống còn 16,8%, khu vực Bắc và Trung Mỹ chiếm 13,6% Các nước Nam Mỹ đã chiếm lĩnh thị trường từ năm

1990 nhưng họ đã không giữ được thị trường.Sản lượng trứng của 10 nước đứng đầu thế giới chiếm 72,4% tổng lượng trứng thế giới và tập trung ở khu vực có các nước dẫn đầu về sản lượng thị trường [Bảng 1.2]

Trang 24

Bảng 1.2: Sản lượng thịt gia cầm năm 2014 của một số nước trên thế giới

Quốc gia Sản lượng (1000 tấn) Tỉ lệ (%)

Trang 25

Bảng 1.3: Sản lượng trứng gia cầm năm 2014 của một số nước trên thế giới

Quốc gia Sản lượng (1000 tấn) Tỷ lệ (%)

1.2.1.1 Hình thức chăn nuôi vịt ở Thái Lan

Thái Lan cũng như một số nước Đông Nam Á bị thiệt hại nặng nề trong dịch cúm gia cầm Để phòng chống hiệu quả dịch cúm gia cầm, Thái Lan đã đổi mới chăn nuôi gia cầm nhằm nâng cao an toàn sinh học, trong đó có đổi mới chăn nuôi vịt Năm 2003, Thái Lan có khoảng 23,8 triệu con vịt, 80% được nuôi thả

Trang 26

đồng Sau 4 đợt dịch cúm gia cầm rải rác từ tháng 1/2004 đến tháng 8/2006, tổng đàn vịt đã giảm xuống còn khoảng 10 triệu tính đến tháng11/2006

Hiện nay, có 4 hình thức chăn nuôi vịt ở nước này gồm:

- Hệ thống nuôi vịt chuồng kín có mức độ an toàn sinh học cao

Vịt Bắc Kinh và vịt trắng Cherry Valley được nuôi trong các khu chuồng khép kín hiện đại có từ 5.000 - 6.000 con Vịt con một ngày tuổi được nuôi lấy thịt trong khoảng 50 đến 55 ngày trong hệ thống trang bị công nghệ hiện đại có điều khiển tự động hoàn toàn các hoạt động của trại như điều hoà nhiệt độ, độ ẩm, thông gió, lượng khí độc, thức ăn, nước uống, khẩu phần thức ăn, kiểm tra tăng trọng, hồ

sơ theo dõi

- Nuôi vịt trong hệ thống mở nhưng có hệ thống lưới để ngăn ngừa chim sẻ xâm nhập

Hệ thống này được áp dụng để nuôi vịt thịt hoặc vịt đẻ Hai loài vịt thịt được nuôi là vịt Bắc Kinh và vịt trắng Cherry Walley Quá trình lấy mẫu để phân lập vi rút được thực hiện như trong hình thức nuôi (1) Năm 2005, có khoảng 1 - 2 triệu con vịt thịt nuôi trong hệ thống này Giống vịt đẻ được nuôi là Khali Cambell hoặc vịt bản địa Mỗi đàn vịt đẻ nuôi nhốt khoảng 3.000 - 4.000 con Vịt thường đẻ sau 5 - 6 tháng tuổi Sau khi đẻ, vịt sẽ được giữ trong khoảng 12 - 13 tháng hoặc được giữ đến tận khi thôi đẻ và được bán cho lò mổ Vịt đẻ được lấy mẫu phân lập

vi rút 3 tháng/lần Khi đàn vịt đẻ bị nhiễm vi rút cúm gia cầm, toàn bộ đàn sẽ bị tiêu huỷ

Có thể thấy, an toàn sinh học ở hình thức này ở mức trung bình

- Nuôi vịt chăn thả có mức độ an toàn sinh học thấp

Năm 2004, vịt chủ yếu được chăn thả trên đồng lúa Các đàn vịt đẻ nuôi thả đồng thuộc giống Khali Campbell hoặc vịt lai giữa giống bản địa với Khali Campbell Tuy nhiên, một phần vịt thịt cũng được nuôi theo hình thức này Vịt con sau khi nở được úm trong 3 tuần trước khi được đưa ra ruộng lúa Trong 5 - 6 tháng tiếp theo, vịt sẽ kiếm ăn trên đồng lúa; nguồn thức ăn chủ yếu là ốc, giáp xác nhỏ, cá và thóc rơi sau khi thu hoạch Khi thức ăn ở cánh đồng này cạn kiệt, vịt sẽ

Trang 27

được chuyển đến cánh đồng khác bằng xe tải Đàn vịt được di chuyển từ vùng này tới vùng khác, thậm chí từ tỉnh này tới tỉnh khác Thời gian chăn thả trên một khu vực phụ thuộc vào nguồn thức ăn có sẵn Theo ước tính, mỗi hecta ruộng lúa sau thu hoạch có thể chăn 7.500 con vịt trong từ 1 - 2 ngày Trước khi đưa vịt vào ruộng, chủ đàn vịt phải ký hợp đồng với chủ ruộng để bàn về thời gian thu hoạch và diện tích lúa thu hoạch Một đàn vịt cỡ này có thể được chăn thả trên một cánh đồng trong vòng 1 tháng

- Nuôi vịt trong nông hộ không có an toàn sinh học

Một số giống vịt tiếp tục được nuôi trong nông hộ cùng với các loài gia cầm khác như gà, ngỗng và lợn Các giống vịt nuôi trong nông hộ gồm: Vịt Bắc Kinh, Cherry Valley, Barbary Muscovy, Khali Campbell, vịt đẻ bản địa và vịt lai ngan Nếu có con gia cầm nào bị nhiễm cúm gia cầm ở trong làng, toàn bộ gia cầm của làng sẽ bị tiêu huỷ [Tống Xuân Trinh, 2013]

1.2.1.2 Ở Mỹ

Hiện nay có khoảng 2.000 gia đình kinh doanh trại nuôi gia cầm trên bán đảo Delmarva, nơi giáp ranh 3 tiểu bang Delaware, Maryland và Virginia Mỗi năm các cơ sở này mang lại một số doanh thu khoảng 1,7 tỷ đôla, biến khu vực này thành trung tâm sản xuất gia cầm hàng đầu của toàn nước Mỹ Ý thức rõ hiểm họa của bệnh cúm gia cầm, một chứng bệnh rất dễ lây lan xuất phát từ châu Á, các nhà chăn nuôi gia cầm tại Delmarva muốn bảo đảm với công chúng Hoa Kỳ rằng gia cầm của họ bán ra là an toàn

Dịch bệnh cúm gia cầm không những gây khó khăn cho nền kinh tế đất nước, mà nó còn trở thành một mối đe dọa đối với ngành y tế công cộng, nếu con người bị lây nhiễm loại vi rút cúm gia cầm có khả năng gây bệnh rất cao Có đến một nửa trong số 120 người bị lây bệnh từ các con gia cầm ở châu Á đã thiệt mạng Nếu vi rút cúm gia cầm xuất hiện trong đàn gia cầm của các nhà chăn nuôi trên bán đảo Delmarva đã có sẵn một kế hoạch đối phó khẩn cấp

Ông Bill Satterfield, giám đốc điều hành một tổ hợp kinh doanh gia cầm tại địa phương nói rằng, kế hoạch này được soạn thảo dựa trên các biện pháp phòng

Trang 28

bệnh giống như những biện pháp được áp dụng tại trại gia cầm của bà Jenny

Rhodes, cũng căn cứ vào những hướng dẫn về công tác y tế của chính phủ dành

cho các nhân viên có nhiệm vụ đối phó với một vụ bộc phát cúm gia cầm Ông

Satterfield cho biết thêm một số chi tiết như sau: “Kế hoạch này quy định việc sử

dụng các thiết bị an toàn sinh học, máy hô hấp, kiểm tra sức khỏe trước khi những người có nhiệm vụ đi vào các trại gia cầm, kiểm tra sức khỏe sau khi họ rời khỏi trại nhiều tuần lễ để chắc chắn là họ không mang theo một loại vi rút nào Kế hoạch cũng quy định việc sử dụng chất kháng sinh, sử dụng các loại dược phẩm kháng vi rút, và áp dụng các biện pháp an toàn sinh học có hiệu quả”

Ông Bill Satterfield nói rằng, kế hoạch này là một biện pháp chủ động nhằm phòng ngừa một trận bộc phát cúm gia cầm trong loài vật và loài người Ông rất tin tưởng rằng các biện pháp an toàn sinh học đã được chuẩn bị sẵn có thể giúp ngăn ngừa, kiểm soát và đối phó với bất cứ một sự cố y tế nào, bất kỳ là lớn hay nhỏ Bản chất của vấn đề thực ra là theo một triết lý rằng cẩn trọng phòng ngừa vẫn luôn là nguyên tắc cơ bản của đời sống [Đào Xuân Toán,2014]

1.2.2 Tình hình chăn nuôi vịt theo hướng an toàn sinh học tại một số địa phương ở Việt Nam

1.2.2.1 Chăn nuôi vịt thịt theo hướng an toàn sinh học tại tỉnh Đồng Tháp

Nuôi vịt thịt theo hướng an toàn sinh học thay thế cho vịt chạy đồng, tạo ra sản phẩm an toàn cho người tiêu dùng, an toàn dịch bệnh, mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người chăn nuôi Bình quân nuôi vịt an toàn sinh học cho lãi từ 10.000 đến 20.000 đồng/con Trung tâm Khuyến nông - Khuyến ngư tỉnh Đồng Tháp cho biết: mỗi hộ nuôi được hỗ trợ 60% con giống, 15% thức ăn và 100% chế phẩm sinh học Các hộ thực hiện mô hình này phải tuân thủ triệt để qui trình kỹ thuật đã được hướng dẫn xây dựng chuồng trại xa nhà, chuồng thoáng mát, có ao hồ, đủ máng ăn, máng uống, cho ăn đầy đủ về số lượng và đảm bảo chất lượng, thường xuyên bổ sung rau xanh, phòng ngừa các bệnh truyền nhiễm bằng vacxin đúng liều, đúng lịch,

sử dụng các loại thuốc kháng sinh để phòng bệnh đường tiêu hóa, hô hấp, bổ sung

Trang 29

vitamin, men tiêu hóa vào thức ăn, nước uống, định kỳ sát trùng chuồng trại và khu vực chăn thả

Ông Nguyễn Công Sơn, Trưởng Trạm Khuyến nông huyện Cao Lãnh, cho biết: qua giám sát theo dõi vịt nuôi theo mô hình sinh học khi xuất chuồng đạt từ 3 -3,5 kg/con, hộ nuôi lãi từ 4.000 - 6.000 đồng/kg Huyện Tháp Mười đã chuyển giao 5.000 con vịt giống siêu thịt cho 8 hộ dân thực hiện mô hình chăn nuôi gia cầm theo hướng an toàn sinh học ở các xã: Mỹ An, Trường Xuân và Hưng Thạnh đang hứa hẹn một vụ nuôi thắng lớn Ngoài ba huyện Cao Lãnh, Tam Nông và Tháp Mười

mô hình nuôi vịt thịt theo hướng an toàn sinh học còn phát triển mạnh ở huyện Châu Thành do Tổ chức Care tại Đồng Tháp tài trợ, với 30 hộ tham gia, bằng hình thức chuyển vốn quay vòng không tính lãi cho các hộ nuôi, mỗi đợt có ít nhất là 4

hộ, mỗi hộ được đầu tư khoảng 200 con vịt giống siêu thịt Super M2 Điển hình như ông Phạm Tấn Vị, xã Hòa Tân, huyện Châu Thành, được hỗ trợ 20 triệu đồng thả nuôi 500 con vịt giống siêu thịt Super M2 sau 2 tháng thả nuôi, đàn vịt của gia đình ông đạt trọng lượng từ 3 đến 3,5 kg/con, tổng sản lượng đàn đạt trên 1,5 tấn, bán với giá 41.000 kg, trừ chi phí ông Vị còn lợi nhuận gần 10 triệu đồng [Minh Ngọc, 2014]

1.2.2.2 Mô hình chăn nuôi vịt an toàn sinh học tại tỉnh Thanh Hóa

Trong các giống thủy cầm, vịt là con vật nuôi quay vòng vốn nhanh và được nuôi phổ biến ở các hộ nông dân tại tỉnh Thanh Hóa

Để giúp bà con nông dân chăn nuôi thủy cầm thay đổi hình thức nuôi, bảo đảm

an toàn dịch bệnh, ngăn ngừa mầm bệnh lưu tồn, lây lan trong môi trường, Trung tâm Khuyến nông tỉnh Thanh Hóa đã triển khai mô hình khuyến nông “Chăn nuôi vịt an toàn sinh học” tại xã Thọ Phú, huyện Triệu Sơn, quy mô hơn 1.000 con giống, với sự tham gia trình diễn của 10 hộ nông dân Các hộ nông dân tham gia mô hình được tập huấn, áp dụng tổng hợp và đồng bộ các biện pháp kỹ thuật, quản lý, ngăn ngừa sự tiếp xúc giữa vật nuôi với mầm bệnh, bảo đảm cho đàn thủy cầm khỏe mạnh và không

bị dịch bệnh tấn công, thực hiện chế độ nuôi khép kín đối với từng hộ, bắt đầu từ khâu mua con giống khỏe mạnh, nguồn gốc rõ ràng [Tuấn Công, 2014]

Trang 30

Do bảo đảm tốt quy trình chăn nuôi an toàn sinh học, đàn vịt sẽ giữ được đầu con, kết hợp giữa thức ăn cám công nghiệp đủ tiêu chuẩn với thức ăn từ phụ phẩm nông nghiệp, tạo sản phẩm thịt vịt ngon, an toàn mà thu lãi cao

1.2.2.3 Hiệu quả từ dự án nuôi vịt an toàn sinh học tại tỉnh Bến Tre

Trước tình hình diễn biến phức tạp của bệnh cúm A/H5N1 trên gia cầm, vào đầu năm 2010, Viện Khoa học kỹ thuật nông nghiệp Miền Nam (Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam) đã phối hợp với Phòng Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Ba Tri-Bến Tre xây dựng Dự án nuôi vịt an toàn sinh học cho 12 hộ dân

ở xã An Ngãi Trung và An Hiệp Trong đó, xã An Ngãi Trung có 4 hộ, xã An Hiệp

có 8 hộ tham gia Dự án

Sau 2 năm thực hiện, Dự án đã mang lại hiệu quả cao không chỉ về kinh tế

mà còn tích cực góp phần vào công tác bảo vệ môi trường, phòng, chống dịch bệnh trên gia cầm… Hộ anh Trần Tấn Tài, ngụ tại ấp An Thạnh 1 - xã An Ngãi Trung nuôi 500 con vịt đẻ giống Bắc Kinh Vịt giống được anh chọn từ cơ sở ấp trứng có

uy tín và được kiểm dịch Đàn vịt được anh Tài nuôi trong ao khép kín được bao bọc bởi hàng rào bằng lưới xung quanh, với diện tích 1.600m2 Cổng ra vào chuồng trại có hố sát trùng nhằm phòng, chống dịch bệnh lây lan Chuồng trại, dụng cụ chăn nuôi được sát trùng thường xuyên theo định kỳ mỗi tuần 1 lần Nước trong ao nuôi được thay đổi thường xuyên Trước khi cho vào ao nuôi, nước được xử lý qua

ao lắng và được sát trùng Nguồn nước thải cũng được xử lý và lắng, lọc trước khi đưa ra môi trường bên ngoài Chuồng trại và khu vực thả nuôi được dọn dẹp thông thoáng Trong quá trình nuôi, anh Trần Tấn Tài rất quan tâm đến khâu phòng bệnh Khi bắt vịt về 3 ngày, anh cho vịt uống kháng sinh và ủ ấm bằng bóng đèn điện Trong những ngày đầu, đàn vịt được chia thành 4 nhóm để tránh bị chèn ép Đến 8 ngày tuổi, thì vịt được anh tiêm ngừa bệnh viêm gan; đến 21 ngày tuổi, vịt được tiêm phòng bệnh cúm A/H5N1 lần 1, tiêm phòng dịch tả; 45 ngày vịt được tiêm phòng bệnh cúm A/H5N1 lần 2 và đến 60 ngày tuổi, vịt được tiêm phòng bệnh

tụ huyết trùng Công tác tiêm phòng dịch bệnh được tiến hành thường xuyên theo đúng định kỳ Nhờ vậy, đàn vịt của anh Tài sinh trưởng mạnh, tỷ lệ hao hụt thấp

Trang 31

Qua thời gian 14 tháng nuôi, anh Tài bán vịt và thu được 225 triệu đồng Trừ chi phí đầu tư, anh Tài thu lãi gần 39 triệu đồng Ngoài ra, anh còn tận dụng ao nuôi vịt

để nuôi cá Với hình thức này, anh đã giảm được chi phí thức ăn cho cá và còn thu lãi từ ao cá khoảng 17 triệu đồng [Minh Đức, 2014]

1.2.3 Bài học kinh nghiệm cho huyện Mỹ Đức

Biện pháp chăn nuôi an toàn sinh học không chỉ giúp nông dân kiểm soát dịch bệnh trong chăn nuôi mà tạo động lực, cơ hội phát triển chăn nuôi gà bền vững, không gây ô nhiễm ở nhiều hộ gia đình, nhiều địa phương Đặc biệt, chăn nuôi an toàn sinh học đã giúp nhiều hộ nông dân vươn lên làm giàu, tạo việc làm ổn định, bền vững trên chính mảnh đất mình sinh sống An toàn sinh học là vấn đề thông thường, không cần phải chi phí nhiều tiền, chủ yếu là tạo nên những thói quen tốt diễn ra hàng ngày ở trại nuôi của nông hộ

Khi chúng ta không nghe thấy thông báo có dịch xảy ra trong Huyện hoặc trong nước thì không có nghĩa là đàn gia cầm được an toàn, đó chẳng qua là vì tình hình dịch bệnh ở mức độ nguy cơ thấp hoặc trung bình Còn khi chúng ta có thông báo về dịch cúm xảy ra ở các tỉnh lân cận, không có nghĩa là những chuồng nuôi xung quanh khu vực chăn nuôi của chúng ta vẫn chưa nhiễm bệnh Gia cầm và con người có thể đã đi từ nơi nhiễm bệnh sang khu vực nhà chúng ta trước khi bệnh được phát hiện và công bố dịch Vì vậy, quy trình chăn nuôi vịt được kiểm soát nghiêm ngặt sẽ tránh được bùng phát dịch bệnh tại các hộ chăn nuôi

Về mặt khoa học cần hoàn thiện qui trình chăn nuôi vịt - cá, vịt - cá - lúa kết hợp, nghiên cứu xử lý nước ao nuôi vịt sau khi thoát ra ngoài môi trường Về mặt quản lý cần cung cấp cho bà con nông dân những địa chỉ cung cấp giống thuỷ cầm, thức ăn chăn nuôi và tiêu thụ sản phẩm tin cậy Tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp xây dựng các nhà máy chế biến giết mổ vịt tại vùng, địa phương Nhà nước cần có cơ chế chính sách kinh tế đồng bộ để khuyến khích người chăn nuôi chuyển đổi từ chăn nuôi vịt chạy đồng sang chăn nuôi tập trung ATSH, đặc biệt là đối với người chăn nuôi vịt sinh sản Cần quản lý tốt việc chích ngừa vắc xin cho đàn vịt giống bố mẹ, bên cạnh đó cần phải nhanh chóng nghiên cứu và đưa vào

Trang 32

ứng dụng loại vắc xin chích ngừa cúm gia cầm cho vịt con 1 ngày tuổi (để sử dụng ngay tại lò ấp trứng)

Phát triển chăn nuôi vịt theo hướng ATSH là một hướng chăn nuôi mới cần được mở rộng bởi những hiệu quả mà hình thức này mang lại trong tình hình dịch bệnh bùng phát như hiện nay

Trang 33

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA HUYỆN MỸ ĐỨC

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đặc điểm cơ bản của huyện Mỹ Đức, Hà Nội

- Phía Bắc giáp huyện Chương Mỹ;

- Phía Đông có sông Đáy là ranh giới tự nhiên với huyện ứng Hoà;

- Phía Tây giáp huyện Lương Sơn, huyện Kim Bôi (Hoà Bình);

- Phía Nam giáp huyện Kim Bảng (Hà Nam)

Thị trấn Đại Nghĩa là trung tâm kinh tế - hành chính huyện - cách quận Hà Đông 38 km và cách thị xã Hà Nam 37 km, điều kiện giao lưu với các địa phương tương đối thuận lợi

Do giáp ranh giữa đồng bằng và miền núi lại có dãy núi đá vôi chạy dọc ở phía tây nên có vị trí rất quan trọng về an ninh – quốc phòng và coi đây như tuyến phòng thủ phía tây nam đối với thủ đô Hà Nội

- Địa hình đồng bằng gồm 12 xã, thị trấn ven sông Đáy Địa hình khá bằng

Trang 34

phẳng và hơi dốc theo hướng từ Đông sang Tây, rất thuận lợi cho việc xây dựng công trình thuỷ lợi tự chảy dùng nguồn nước sông Đáy tưới cho các cánh đồng lúa thâm canh Độ cao địa hình trung bình dao động trong khoảng từ 3,8 đến 7 m so với mặt biển Trong khu vực cũng có nhiều điểm trũng tạo thành các hồ đầm nhỏ, tiêu biểu là Đầm Lai, Thài Lài…

Phần tiếp giáp giữa các dãy núi phía Tây và đồng bằng phía Đông là vùng úng trũng: vùng này có nhiều khu vực độ cao địa hình thấp tạo thành các hồ chứa nước như hồ Quan Sơn, hồ Tuy Lai , hồ Cầu Giậm, Bán Nguyệt, Ngái Lạng, Đồng Suối với diện tích hàng ngàn ha Khu vực này có nhiều lợi thế phát triển du lịch, nuôi thả thuỷ sản kết hợp trồng một số loại cây ăn quả…

2.1.1.3 Khí hậu, thời tiết

Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, một năm chia thành 4 mùa khá rõ nét với các đặc trưng khí hậu chính như sau:

- Nhiệt độ không khí: Bình quân năm là 23,10C, trong năm nhiệt độ thấp nhất trung bình 13,60C (vào tháng 1) Nhiệt độ trung bình tháng nóng nhất là tháng

7 trên 33,20C, mùa lạnh kéo dài từ tháng 11 năm trước đến tháng 3 năm sau, mùa nóng từ tháng 4 đến tháng 10

- Số giờ nắng trong năm trung bình là 1.630,6 giờ, năm cao nhất 1.700 giờ, năm thấp nhất 1.460 giờ

- Lượng mưa và bốc hơi:

+ Lượng mưa bình quân năm là 1.520,7 mm, phân bố trong năm không đều, mưa tập trung từ tháng 4 đến tháng 10, chiếm 85,2 % tổng lượng mưa cả năm, lượng mưa ngày lớn nhất có thể tới 336,1mm Mùa khô từ cuối tháng 10 đầu tháng

11 đến tháng 3 năm sau, tháng mưa ít nhất trong năm là tháng 12, tháng 1 và tháng

2 chỉ có 17,5 – 23,2mm

+ Lượng bốc hơi: Bình quân năm là 859 mm, bằng 56,5% so với lượng mưa trung bình năm Lượng bốc hơi trong các tháng mưa ít cao, do đó mùa khô đã thiếu nước lại càng thiếu hơn, tuy nhiên do hệ thống thuỷ lợi tương đối tốt nên ảnh hưởng không lớn đến cây trồng vụ đông xuân

Trang 35

- Độ ẩm không khí: Độ ẩm không khí trung bình năm là 85%, giữa các tháng trong năm biến thiên từ 80 – 89% Độ ẩm không khí thấp nhất trong năm là các tháng 11, tháng 12, tuy nhiên chênh lệch về độ ẩm không khí giữa các tháng trong năm không lớn

- Gió: Hướng gió thịnh hành về mùa khô là gió mùa Đông Bắc từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau Còn lại các tháng trong năm chủ yếu là gió Nam, gió Tây Nam và gió Đông Nam

- Sương muối hầu như không có; mưa đá rất ít khi xảy ra Thông thường cứ

10 năm mới quan sát thấy mưa đá 1 lần

- Sông Thanh Hà: là một nhánh của sông Đáy, bắt nguồn từ vùng núi đá huyện Kim Bôi (Hoà Bình) và chảy vào sông Đáy tại cửa Đục Khê Sông có chiều dài 28 km và diện tích lưu vực 390 km2 Do không có đê nên sông thường gây ngập úng cho các khu vực 2 bên bờ trong mùa mưa

Ngoài ra trên địa bàn của huyện còn có sông Mỹ Hà và các kênh lớn như Kênh tiêu 7 xã, kênh dọc trục huyện Mỹ Đức nằm trong vùng phân lũ của Hà Nội, quy hoạch sử dụng đất cần đảm bảo không cản trở đến dòng chảy, an toàn cho sản xuất và sinh hoạt của người dân trong mùa lũ

2.1.1.5 Tài nguyên đất

Trên địa bàn huyện có các loại đất chính sau:

Trang 36

[Nguồn: Phòng thống kê Huyện, 2015]

Phân bố các loại đất trên được trình bày cụ thể ở dưới đây :

- Đất phù sa được bồi hàng năm

Diện tích 211,79 ha chiếm 0,92 % diện tích tự nhiên toàn huyện, phân bố ở địa hình ngoài đê thuộc các xã Đốc Tín, Vạn Kim, Phù Lưu Tế, Phùng Xá, Xuy Xá, Lê Thanh, An Mỹ và Bột Xuyên, một phần diện tích đất bị ngập nước vào mùa mưa

- Đất phù sa không được bồi

Diện tích 5526,49 ha chiếm 24,02 % diện tích tự nhiên toàn huyện Phân bố

ở địa hình trung bình phía trong đê , tập trung ở các xã Thượng Lâm, Mỹ Thành,

Trang 37

Tuy Lai, Bột Xuyên, An Mỹ, Lê Thanh, Hồng Sơn, Xuy Xá, Phùng Xá, Phù Lưu

Tế, Hùng Tiến, Đốc Tín và Vạn Kim

- Đất phù sa glây

Diện tích 5115,24 ha chiếm 22,24 % diện tích tự nhiên toàn huyện, phân bố

ở những nơi địa hình thấp, khó thoát nước, tập trung ở các xã Đồng Tâm, Thượng Lâm, Hồng Sơn, Hợp Tiến, Hợp Thanh, TT Đại Nghĩa, Đại Hưng, An Tiến, Hùng Tiến, An Phú, Vạn Kim và Hương Sơn, phần lớn diện tích loại đất này đều đã được khai thác trồng hai vụ lúa nước có tưới

Diện tích 201,50 ha chiếm 0,88% diện tích tự nhiên toàn huyện có mặt ở các

xã Hồng Sơn và Hợp Tiến Là sản phẩm phong hoá của đá phiến sét, đất có màu đỏ vàng là chủ đạo

- Đất nâu vàng trên phù sa cố

Diện tích 737,57 ha chiếm 3,21% diện tích tự nhiên toàn huyện, phân bố ở các xã Thượng Lâm, Đồng Tâm, Tuy Lai, An Phú và Hồng Sơn

- Đất đỏ nâu trên đá vôi

Diện tích 419,19 ha chiếm1,82 % diện tích tự nhiên toàn huyện, phân bố ở các xã Hợp Thanh, Hồng Sơn và Hương Sơn

- Đất than bùn

Diện tích 625,60 ha chiếm 2,72% diện tích tự nhiên toàn huyện, phân bố ở các xã Hồng Sơn, Hợp Tiến và Hương Sơn

- Đất đen trên sản phẩm bồi tụ của cacbonat

Diện tích 30,0 ha chiếm 0,13% diện tích tự nhiên toàn huyện chỉ có mặt ở xã Hương Sơn Đất có kết cấu viên tơi xốp, phản ứng đất trung tính ít chua, hàm lượng chất hữu cơ, đạm tổng số khá cao

Trang 38

Bảng 2.2: Hiện trạng sử dụng đất đai phân theo mục đích năm 2015

Hình 2.1: Cơ cấu sử dụng các loại đất huyện Mỹ Đức năm 2015

ĐVT: ha

Trang 39

Hình 2.1 cho thấy rằng, tình hình sử dụng đất huyện Mỹ Đức năm 2015 chủ yếu

sử dụng đất nông nghiệp là 13211,3 ha chiếm 58,3%, đất phi nông nghiệp là 7151,99

ha chiếm 31,1% còn diện tích đất chưa sử dụng là 2440,98 ha chiếm hơn 10%

2.1.1.6 Tài nguyên nước

Do cấu tạo địa chất, phía tây có dãy núi đá vôi nên nguồn nước ngầm chủ yếu thuộc dạng tồn đọng tại các khe nứt của các kẽ nứt Kast Về nước mặt, có sông Đáy chảy qua ở phía đông với chiều dài trên 40 km và sông đào Mỹ Hà ở phía Tây dài trên

30 km, ngoài ra còn có một hồ chứa nước Quan Sơn với diện tích 850 ha hiện là nguồn

dự trữ nước cho trồng trọt, nuôi trồng thuỷ sản và phục vụ dịch vụ du lịch

Để sử dụng tốt tài nguyên nước cho mục tiêu phát triển sản xuất và phục vụ

du lịch cần quy hoạch theo hướng giữ lại nguồn nước hồ Quan Sơn và các hồ lạch trong khu vực Hương Sơn, Tuyết Sơn phục vụ du lịch, vui chơi, giải trí; dùng nước

từ sông Đáy phục vụ cho mục đích tưới tiêu (kể cả trong mùa khô)

2.1.1.7 Tài nguyên động thực vật

Do có dãy núi đá vôi ở phía Tây nên diện tích rừng tự nhiên hiện có tới 2.317,12 (ha) tập trung chủ yếu ở vùng Hương Sơn Do đó tập trung các loại động vật, thực vật rất đa dạng, phong phú

Theo kết quả điều tra thống kê được: 350 loài thực vật thuộc 92 họ Trong đó ngành hạt kín có tới 292 loài, ngành quyết (dương sỉ) có tới 50 loài, còn lại là ngành hạt trần như: thông đất, tháp bút (mỗi ngành có từ 2 – 3 loài) Đáng chú ý là có nhiều loại cây quí hiếm, cây làm thuốc, cây đặc sản và cây phong cảnh như: Lành Vanh, cây Xưa, cây Nho Vàng, cây Lát Hoa, cây Cỏ Roi Ngựa, Cam Thảo Nam, Kim Ngân, cây Mơ, cây Rau Sắng, củ Mài,…

Động vật có tới 88 loài chim thuộc 37 hộ và 15 bộ, có 35 loại bò sát thuộc 16

họ và 3 bộ, 32 loài thú thuộc 17 họ và 3 bộ

2.1.1.8 Tài nguyên du lịch

Mỹ Đức là huyện có nhiều di tích lịch sử – tôn giáo, đặc biệt là vùng Hương Sơn vừa là khu danh thắng, vừa là khu bảo tồn tự nhiên Cụm thắng cảnh Hương Sơn với nhiều công trình kiến trúc được xây dựng từ thế kỷ 17 – 18 như chùa Thiên

Trang 40

Trù, Long Vân, Tuyết Sơn, Hương Tích, Thiên Bồng…nằm xen giữa cảnh sắc núi rừng, hang động độc đáo là nơi hàng năm diễn ra lễ hội tiêu biểu của Việt Nam, kéo dài 3 tháng, thu hút hơn một triệu lượt du khách tham quan Ngoài ra, Mỹ Đức còn có: Thung Cấm, Quan Sơn, Thung Ngái, hồ Tuy Lai là những địa điểm đang và sẽ phát triển dịch vụ du lịch nghỉ ngơi cuối tuần rất thuận lợi

2.1.1.9 Tài nguyên khoáng sản

- Than bùn: phân bố rải rác trên 10 xã vùng núi, tập trung lớn ở xã Đồng Tâm, Thượng Lâm và vùng Hương Sơn với trữ lượng hàng trăm triệu tấn Hiện nay hầu như chưa khai thác

- Đá vôi: kéo dài từ xã Đồng Tâm đến xã Hương Sơn với chiều dài trên 40 km, chiều rộng từ 1 – 2 km, chiều cao trung bình từ 50 – 100 m, trữ lượng ước tính trên

600 triệu m3 Đáng chú ý là có nhiều dãy núi có đá đỏ, đá xanh đen, đá đen Granit, đây là nguồn tài nguyên cho công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng (nhất là xi măng)

2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội

2.1.2.1 Đặc điểm dân số - lao động

Theo số liệu của phòng thống kê Huyện, dân số của huyện có sự biến động

rõ rệt qua 3 năm Năm 2013, tổng dân số của huyện là 179.150 người, đến năm

2015 con số này là 183.020 người, tốc độ tăng bình quân qua 3 năm là 1,02% Dân số của huyện vẫn chủ yếu tập trung ở nông thôn (chiếm gần 90% dân số toàn huyện), tốc độ tăng dân số ở thành thị cao hơn ở nông thôn, điều đó cho thấy quá trình đô thị hoá đang diễn ra khá mạnh mẽ trên địa bàn huyện

Ngày đăng: 18/05/2021, 21:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w