1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng các công trình thủy lợi trên địa bàn huyện chương mỹ, thành phố hà nội

141 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 141
Dung lượng 1,29 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ở Việt Nam, Chính phủ đã đầu tư một lượng lớn ngân sách vào việc xây dựng các công trình thuỷ lợi vừa và nhỏ và giao các công trình này cho các Công ty Khai thác công trình thuỷ lợi quản

Trang 1

ĐỖ VIỆT DŨNG

GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG CÁC

CÔNG TRÌNH THỦY LỢI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN

CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Hà Nội, 2014

Trang 2

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS NGUYỄN VÕ ĐỊNH

Hà Nội, 2014

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan, các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là do bản thân tôi thu thập và điều tra, hoàn toàn trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào khác Tôi xin chịu trách nhiệm về các số liệu được sử dụng trong luận văn của mình./

Hà Nội, ngày 10 tháng 12 năm 2014

Tác giả

Đỗ Việt Dũng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Sau hơn hai năm được học tập, rèn luyện, nghiên cứu tại lớp KTNN K20A1.2, Trường Đại học Lâm nghiệp, đây có thể nói là một cơ hội để tôi được tham gia học tập, nghiên cứu khoa học tại một môi trường rất tốt, bản thân tôi đã lĩnh hội được rất nhiều kiến thức lý luận về quản lý kinh tế đồng thời tôi được sự hướng dẫn của các Giáo sư, PGS, Tiến sĩ, thầy cô giáo để tôi

chọn đề tài viết luận văn tốt nghiệp cuối khóa “Giải pháp nâng cao hiệu quả

sử dụng các công trình thủy lợi trên địa bàn huyện Chương Mỹ, thành phố

Hà Nội” làm luận văn tốt nghiệp thạc sỹ Kinh tế nông nghiệp

Trong thời gian thực hiện luận văn tốt nghiệp, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự động viên, giúp đỡ tận tình của nhiều cá nhân và tập thể Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và chân thành tới thầy giáo TS Nguyễn Võ Định

đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn, chỉ bảo tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp Bên cạnh đó, tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo, trong khoa đào tạo sau đại học, tập thể, cán bộ công nhân viên - Trường Đại học Lâm nghiệp

đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các cán bộ chuyên môn Xí nghiệp ĐTPT thủy lợi huyện Chương Mỹ, các phòng ban của huyện Chương

Mỹ - Thành phố Hà Nội, Đảng ủy - UBND - HTX NN các xã trên địa bàn nghiên cứu, các hộ gia đình, người dân địa phương trên địa bàn nghiên cứu, các bạn đồng nghiệp đã luôn tạo điều kiện, nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình thực tập tại địa phương để tôi hoàn thành đề tài nghiên cứu của mình

Nhân dịp này tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, người thân và bạn bè đã luôn ủng hộ, động viên và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp./

Hà Nội, ngày 10 tháng 12 năm 2014

Tác giả

Đỗ Việt Dũng

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục các chữ viết tắt vi

Danh mục các bảng viii

Danh mục các hình x

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG CÁC CÔNG TRÌNH THỦY LỢI 4

1.1 Cơ sở lý luận về hiệu quả sử dụng các công trình thủy lợi 4

1.1.1 Một số khái niệm 4

1.1.2 Đặc điểm sử dụng các công trình thủy lợi 11

1.1.3 Hiệu quả sử dụng các công trình thủy lợi 18

1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả sử dụng các công trình thủy lợi 25

1.2 Kinh nghiệm sử dụng công trình thuỷ lợi trên thế giới và ở Việt Nam 27

1.2.1 Kinh nghiệm sử dụng công trình thuỷ lợi ở một số nước trên thế giới 27 1.2.2 Kinh nghiệm sử dụng công trình thuỷ lợi ở Việt Nam 32

1.3 Tổng quan về công trình nghiên cứu có liên quan 38

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 41

2.1 Đặc điểm cơ bản của huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội 41

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 41

2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội huyện Chương Mỹ 48

2.2 Phương pháp nghiên cứu 57

Trang 6

2.2.1 Khung phân tích đề tài 57

2.2.2 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 57

2.2.3 Phương pháp thu thập số liệu 60

2.2.4 Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu 61

2.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 61

2.3.1 Nhóm chỉ tiêu số lượng 61

2.3.2 Nhóm chỉ tiêu kết quả và hiệu quả kinh tế 62

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 63

3.1 Thực trạng sử dụng các công trình thủy lợi trên địa bàn huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội giai đoạn 2011 - 2013 63

3.1.1 Hệ thống công trình thủy lợi của huyện Chương Mỹ 63

3.1.2 Thực trạng bố trí các công trình thủy lợi 65

3.1.3 Thực trạng sử dụng các công trình thủy lợi 66

3.2 Tình hình quản lý và sử dụng các công trình thủy lợi ở các điểm điều tra năm 2013 75

3.2.1 Đánh giá tình hình sử dụng các công trình thủy lợi của điểm điều tra 75 3.2.2 Tình hình tưới tiêu nước của các trạm thủy lợi trong vùng nghiên cứu 77

3.2.3 Đánh giá kết quả sử dụng các công trình thủy lợi 78

3.3 Phân tích hiệu quả khai thác sử dụng các công trình thủy lợi ở các trạm điều tra 85

3.3.1 Chi phí sản xuất 85

3.3.2 Giá thành sản phẩm tưới tiêu nước ở cụm nghiên cứu 87

3.3.3 Đánh giá kết quả sử dụng CTTN trên địa bàn huyện 89

3.4 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng các công trình thủy lợi 91

3.4.1 Phân tích yếu tố ảnh hưởng đến kết quả sử dụng CTTL của huyện 91

3.4.2 Ảnh hưởng của chính sách miễn thu thủy lợi phí 94

Trang 7

3.4.3 Ảnh hưỏng mức độ cung cấp và sử dụng nước tưới tiêu 95 3.4.4 Ảnh hưởng của vốn đầu tư thuỷ lợi tới tăng trưởng nông nghiệp 96 3.4.5 Mối liên hệ giữa hiệu quả quản lý thủy lợi với chuyển dịch cơ cấu kinh

tế nông nghiệp và tăng trưởng nông nghiệp 99 3.4.6 Đánh giá chung và những vấn đề đặt ra cần giải quyết 100 3.5 Các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng các công trình thủy lợi tại

huyện Chương Mỹ - Hà Nội 102 3.5.1 Các quan điểm về nâng cao hiệu quả sử dụng các công trình thủy lợi trên địa bàn huyện 102 3.5.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng các công trình thủy lợi trên địa bàn huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội trong thời gian tới 104 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 113 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 8

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

TC/CĐKT Tài chính/ Chế độ kế toán

KTCTTL Khai thác công trình thủy lợi

NN&PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn UBND – HĐND Ủy ban nhân dân – Hội đồng nhân dân TCHTDN Tổ chức hợp tác dùng nước

GS TSKH Giáo sư tiến sỹ khoa học

PGS TS Phó giáo sư tiến sỹ

CT-TNHH Công ty - trách nhiệm hữu hạn

ĐTPTTL Đầu tư phát triển thủy lợi

CSLL-TT Cơ sở lý luận – thực tiễn

Trang 9

GTSXNN Giá trị sản xuất nông nghiệp

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG

2.1 Bảng thống kê các nhóm đất của huyện Chương Mỹ năm 2013 47

2.2 Tình hình dân số và lao động của huyện Chương Mỹ thời kỳ

2.3 Tình hình sử dụng đất đai của Huyện Chương Mỹ năm 2013 50

2.4 Cơ cấu các ngành kinh tế của huyện Chương Mỹ

2.5 Năng suất bình quân một số cây trồng chính

của huyện Chương Mỹ gia đoạn 2011 - 2013 54 2.6 Mẫu điều tra nghiên cứu đề tài năm 2013 60

3.1 Công trình thủy lợi huyện Chương Mỹ

3.2 Tình hình quản lý và sử dụng các công trình thủy nông huyện

3.3 Tình hình quản lý, sử dụng các hệ thống kênh mương

3.4 Tình hình duy tu, bảo dưỡng và sửa chữa các công trình thủy lợi 72 3.5 Kết quả tưới tiêu của các hệ thống thủy nông Chương Mỹ 74

3.6 Tình hình sử dụng các công trình thủy nông ở 3 vùng nghiên

3.7 Tình hình tưới tiêu nước phục vụ cây trồng vùng nghiên cứu 78

3.8 Kết quả đầu tư kiên cố hóa kênh mương của 3 cụm nghiên cứu

3.9 Kết quả tại các khu vực đã cứng hóa kênh mương của 3 cụm

Trang 11

3.10 Một số chỉ tiêu của các hộ điều tra tại cụm nghiên cứu 83

3.11 Tình hình chi phí sản xuất của xí nghiệp Đầu tư phát triển thủy

3.12 Giá thành sản phẩm nước tưới tiêu

3.13 Mức tăng giá trị sản lượng nông nghiệp của

3.14 Ý kiến về mức miễn thu thủy lợi phí ở

3.15 Ý kiến của các hộ sử dụng nước và cán bộ quản lý tưới tiêu

3.16 Giá trị sản xuất nông nghiệp và vốn đầu tư

Trang 12

DANH MỤC CÁC HÌNH

2.1 Bản đồ hành chính huyện Chương Mỹ năm 2013 41 2.2 Cơ cấu sử dụng đất huyện Chương Mỹ năm 2013 51 2.3 Cơ cấu các ngành kinh tế của huyện 2011 -2013 53 3.1 Tỷ lệ diện tích đất được tưới trước và sau cứng hóa kênh mương 84

3.3 Tỷ lệ mức tăng GTSL nông nghiệp giai đoạn 2011- 2013 90 3.4 Đánh giá của hộ sử dụng nước về quản lý, phục vụ tưới tiêu 95 3.5 Đánh giá của cán bộ quản lý đối với hộ dùng nước tưới tiêu 96 3.6 Tốc độ tăng trưởng vốn đầu tư thủy lợi và GTSXNN 98

Trang 13

ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Tính cấp thiết của đề tài

Với mục tiêu đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020; muốn vậy trước hết nông nghiệp và nông thôn phải phát triển lên một trình độ mới bằng việc đổi mới cơ cấu cây trồng, vật nuôi, tăng giá trị thu được trên một đơn vị diện tích, ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ; phát triển công nghiệp, dịch vụ, các làng nghề ở nông thôn, tạo nhiều việc làm mới, tăng thu nhập, đảm bảo đời sống của người dân ngày càng cao, đưa nông thôn tiến gần với thành thị

Trong sản xuất nông nghiệp, thuỷ lợi luôn được coi là biện pháp hàng đầu trong các biện pháp thâm canh tăng năng suất cây trồng Ở Việt Nam, Chính phủ đã đầu tư một lượng lớn ngân sách vào việc xây dựng các công trình thuỷ lợi vừa và nhỏ và giao các công trình này cho các Công ty Khai thác công trình thuỷ lợi quản lý để vận hành công trình và cung cấp nước cho nông dân sản xuất nông nghiệp

Để đáp ứng mục tiêu đó, công tác thuỷ lợi phục vụ sản xuất ngư - nghiệp, sinh hoạt nông thôn, phục vụ nước cho các ngành sản xuất khác đang đứng trước những thời cơ và thách thức mới, yêu cầu mới Trong các nội dung đó, nổi lên hàng đầu là việc bảo tưới tiêu hợp lý cho khoảng 4 triệu ha đất

nông-lâm-có điều kiện sản xuất lúa, giữ vững an ninh lương thực, phục vụ chủ động cho 3 triệu ha cây công nghiệp, cây ăn quả lâu năm và 1,2 triệu ha cây công nghiệp hàng năm; cung cấp nước cho các cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp, các làng nghề nông thôn, cung cấp nước sạch cho cư dân; đảm bảo nước sạch cho các vùng nuôi trồng thuỷ sản tập trung, xử lý nước thải các làng nghề, các cơ sở sản xuất công nghiệp dịch vụ ở nông thôn đảm bảo môi trường

Nước là tài nguyên đặc biệt quan trọng, là thành phần thiết yếu của sự sống và môi trường, là điều kiện để khai thác và sử dụng tài nguyên khác và

Trang 14

là nguyên liệu không thể thay thế của các ngành kinh tế Tài nguyên nước luôn vận động và luân hồi nhưng hạn chế và không đều Trong những năm qua, nước phục vụ cho sản xuất và đời sống của nước ta còn nhiều bất cập, chúng ta thực sự chưa chủ động phục vụ cho đời sống dân sinh và các ngành sản xuất khác được đầy đủ, kịp thời, còn nhiều lãng phí Một trong những nguyên nhân quan trọng của vấn đề đó là do công tác quản lý và sử dụng hệ thống công trình thuỷ lợi chưa có hiệu quả

Huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội trong những năm qua đã đầu tư rất lớn vào các công trình thủy lợi lớn nhỏ Các công trình thủy lợi trên địa bàn huyện ngoài việc tưới tiêu cho sản xuất nông nghiệp đã có nhiều cố gắng

và đạt nhiều thành tựu, mà còn đảm bảo việc cắt lũ, điều hòa dòng chảy để cung cấp nước sinh hoạt, phục vụ các ngành nghề cho người dân địa phương

và các khu công nghiệp có nhiều kết quả Nhưng hệ thống công trình thủy lợi trên địa bàn huyện Chương Mỹ quản lý đang còn nhiều tồn tại Nước phục vụ cho sản xuất nông nghiệp chưa chủ động, nước cung cấp cho sinh hoạt và khu công nghiệp, các ngành nghề chưa thật sự đầy đủ, kịp thời, chưa khai thác hết khả năng của các công trình thủy lợi Vì vậy để phát huy hiệu quả các công trình thủy lợi đáp ứng đầy đủ, kịp thời nguồn nước em lựa chọn nghiên cứu

đề tài “Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng các công trình thủy lợi trên

địa bàn huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội” làm đề tài luận văn thạc sĩ

của mình

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Mục tiêu tổng quát: Trên cơ sở nghiên cứu về lý luận và thực tiễn,

luận văn đi vào đánh giá thực trạng sử dụng các công trình thủy lợi của huyện Chương Mỹ để đề ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng các công trình thủy lợi trên địa bàn huyện

Trang 15

Đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng các công trình thủy lợi trên địa bàn huyện Chương Mỹ

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

* Đối tượng nghiên cứu của đề tài : Các vấn đề lý luận và thực tiễn liên

quan đến hiệu quả sử dụng các công trình thủy lợi trên địa bàn huyện Chương

Mỹ - thành phố Hà Nội

* Phạm vi nghiên cứu của đề tài:

+ Phạm vi về nội dung: Đánh giá về thực trạng và đề ra giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng các công trình thủy lợi trên địa bàn huyện Chương Mỹ - thành phố Hà Nội

+ Phạm vi về không gian: Các công trình thủy lợi trên địa bàn huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội

+ Phạm vi về thời gian: Đề tài tập trung nghiên cứu từ năm 2010 đến năm 2012, số liệu khảo sát năm 2013, dự kiến đến năm 2020

4 Nội dung nghiên cứu:

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về hiệu quả, hiệu quả sử dụng các công trình thủy lợi

- Đánh giá đúng thực trạng hiệu quả sử dụng các công trình thủy lợi trên địa bàn huyện Chương Mỹ

- Đề xuất các giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng các công trình thủy lợi trên địa bàn huyện trong thời gian tới

Trang 16

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG

CÁC CÔNG TRÌNH THỦY LỢI 1.1 Cơ sở lý luận về hiệu quả sử dụng các công trình thủy lợi

1.1.1 Một số khái niệm

1.1.1.1 Khái niệm về thủy lợi

Thủy lợi trong nông nghiệp là các hoạt động kinh tế - kỹ thuật liên quan đến tài nguyên nước được dùng trong nông nghiệp Điểm quan trọng của thủy lợi trong nông nghiệp là sử dụng hợp lý nguồn nước để có năng suất cây trồng và năng suất vật nuôi cao Những biện pháp khai thác nước bao gồm khai thác nước mặt và nước ngầm thông qua hệ thống bơm hoặc cung cấp nước tự chảy Như vậy, Thủy lợi được hiểu là những hoạt động liên quan đến

ý thức con người trong quá trình khai thác, sử dụng tài nguyên nước để phục

vụ lợi ích của mình

Công trình thuỷ lợi là công trình khai thác mặt lợi của nước, phòng chống tác hại do nước gây ra, bảo vệ môi trường và cân bằng sinh thái Công trình thuỷ lợi bao gồm trạm bơm, máy bơm, kênh mương, hồ, đập dâng cống qua đê,

Công tác thuỷ lợi là tổng hợp các biện pháp khai thác, sử dụng, bảo vệ các nguồn nước trên mặt và nước ngầm, đấu tranh phòng chống và hạn chế những thiệt hại do nước gây ra đối với kinh tế quốc dân và dân sinh, đồng thời làm tốt công tác bảo vệ môi trường

Nâng cao hiệu quả sử dụng các công trình thuỷ lợi là quá trình làm tăng khả năng hoạt động tưới tiêu của công trình bằng các biện pháp như tu sửa, lắp đặt thêm máy móc, thiết bị, áp dụng sáng kiến cải tiến kỹ thuật mới trong lĩnh vực thủy lợi nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng của công trình

Trang 17

1.1.1.2 Hệ thống các công trình thủy lợi

Về hệ thống các công trình thủy lợi bao gồm các công trình thủy lợi, công trình tưới tiêu trên đồng ruộng, cho đến nay chưa có một quy định thống nhất về quy mô các công trình thuỷ lợi Theo quy mô phục vụ, mức vốn đầu

tư, người ta thường phân chia thuỷ lợi thành 3 cấp: lớn, vừa và nhỏ

Về hệ thống thủy lợi là tập hợp các công trình làm nhiệm vụ lấy nước

từ nguồn nước, dẫn vào đồng ruộng tưới cho cây trồng và tiêu hết lượng nước thừa trên đồng ruộng, bao gồm công trình lấy nước, hệ thống kênh mương lấy nước tưới tiêu và các công trình phục vụ trên hệ thống đó

Sản phẩm của công trình thủy lợi là nước tưới

Công trình đầu mối của hệ thống tưới là công trình lấy nước cho nguồn nước tưới trong nông nghiệp có thể là nước sông ngòi, nước trong các hồ chứa, nước thải của các thành phố, các nhà máy công nông nghiệp đã qua xử

lý và nước ngầm ở dưới đất

Hệ thống tưới làm nhiệm vụ vận chuyển nước từ công trình đầu mối về phân phối cho hệ thống điều tiết nước mặt ruộng trên từng cánh đồng trong khu vực tưới Hệ thống tiêu làm nhiệm vụ vận chuyển nước thừa trên mặt ruộng và cả khu dân sinh do tưới hoặc do mưa gây nên, ra khu vực chứa nước

Theo tiêu chuẩn thiết kế hệ thống kênh tưới Việt Nam TCVN 4118-85,

hệ thống kênh tưới được phân ra như sau:

Dẫn nước từ nguồn đến kênh cấp 1 gọi là kênh đầu mối; Lấy nước từ kênh đầu mối phân phối nước cho kênh cấp 2 gọi là kênh cấp 1; Lấy nước từ kênh nhánh cấp 1 phân phối cho kênh nhánh cấp 3 gọi là kênh cấp 2; Lấy nước từ kênh nhánh cấp 2 phân phối cho cấp kênh cuối cùng gọi là kênh cấp 3; Nước tưới cho khoảnh ruộng, thửa ruộng gọi là kênh nội đồng hay kênh nhánh cấp 4

Trang 18

1.1.1.3 Phân loại hệ thống thủy lợi

Tùy theo nhu cầu sử dụng và các yếu tố tự nhiên như chế độ thủy văn nguồn nước, điều kiện địa chất, địa hình, vật liệu xây dựng v.v , công trình thủy lợi gồm nhiều loại khác nhau với qui mô và tính chất rất khác nhau

Người ta có thể phân loại công trình thủy lợi theo một số mặt đặc trưng

a Theo nhiệm vụ và chức năng: Công trình thủy lợi được chia thành 4 nhóm chính là: Công trình dâng nước; Công trình lấy nước; Công trình dẫn nước; Công trình tháo nước, xả nước

- Công trình dâng nước có chức năng tạo ra sự dâng mực nước ở phía trước nó phục vụ cho các mục tiêu sử dụng khác nhau, ví dụ để dẫn nước tự chảy vào hệ thống tưới, hoặc để tạo cột nước phát điện Tùy quy mô dâng nước, có thể hình thành hồ chứa điều tiết chế độ dòng chảy tự nhiên của sông suối, hoặc không tạo hồ điều tiết

- Công trình lấy nước có nhiệm vụ lấy một lượng nước nhất định từ nguồn nước phục vụ nhu cầu sử dụng của một ngành nào đó như lấy nước tưới, cấp nước sinh hoạt hoặc cấp nước công nghiệp, lấy nước vào trạm thủy điện, v.v…

- Công trình dẫn nước có nhiệm vụ chuyển tải nước từ vị trí này đến vị trí khác

- Công trình tháo nước được sử dụng để tháo nước thừa từ hồ chứa (trường hợp này gọi là công trình xả lũ), để kết hợp tháo bùn cát hoặc tháo cạn hồ chứa

b Theo phạm vi và mục tiêu sử dụng: Công trình thủy lợi được chia thành hai nhóm: Công trình chung và công trình chuyên dụng

- Công trình chung, cho phép sử dụng cho nhiều ngành, nhiều mục tiêu khác nhau

- Công trình chuyên dụng, phục vụ cho một ngành nào đó, ví dụ như trạm thủy điện (phục vụ cho mục tiêu phát điện), âu thuyền (phục vụ cho giao thông thủy), hệ thống tưới (phục vụ tưới ruộng), v.v…

Trang 19

c Theo thời gian sử dụng: Trong trường hợp này công trình thủy lợi được chia thành công trình lâu dài được sử dụng thường xuyên trong suốt quá trình khai thác và công trình tạm thời chỉ sử dụng trong thời gian thi công hoặc sửa chữa công trình lâu dài, ví dụ đê quây, công trình dẫn dòng thi công, v.v…

d Theo mục đích và tầm quan trọng: Theo mục đích và tầm quan trọng thì công trình thủy lợi gồm công trình chủ yếu (hay công trình chính) và công trình thứ yếu (hay công trình phụ)

Công trình thủy lợi chủ yếu là công trình khi sửa chữa hoặc bị hư hỏng

sẽ ảnh hưởng đến sự làm việc bình thường của hệ thống sử dụng nước

Công trình thủy lợi thứ yếu là công trình khi bị hư hỏng sẽ ảnh hưởng đến sự làm việc bình thường của các công trình thủy chủ yếu nhưng không gây ra các hậu quả nghiêm trọng

Từ những đặc điểm trên cho thấy: công trình thủy lợi không đơn thuần mang tính kinh tế, kỹ thuật, mà còn mang tính chính trị, xã hội Vì vậy việc đầu tư xây dựng và quản lý, bảo vệ, khai thác công trình thủy lợi phải có sự tham gia của người dân (PIM), thông qua việc thực hiện chủ trương “Nhà nước và nhân dân cùng làm”

1.1.1.4 Tác dụng của hệ thống thủy lợi

Đặc điểm quan trọng nhất của hoạt động tưới tiêu là phụ thuộc rất lớn vào tự nhiên nên kết quả và chi phí luôn biến động, biến đổi theo từng vụ, từng năm với mức chênh lệch rất lớn trong khi đó diện tích phục vụ lại không thay đổi mấy Với những năm thời tiết thuận lợi mưa thuận gió hoà thì doanh nghiệp hoạt động ít và chi phí giảm Ngược lại những năm thời tiết khó khăn, khắc nghiệt, doanh nghiệp hoạt động nhiều, chi phí tăng nhưng lại có thể mất mùa, do đó doanh thu bị giảm hoặc thất thu Vì vậy chi phí của công ty thường biến động theo thời tiết nhưng thuỷ lợi phí chỉ tính cho năm thời tiết

Trang 20

ôn hoà do vậy nhiều khi hiệu quả mang lại thấp, thậm chí còn bị thất thoát lớn không hoàn thành kế hoạch đặt ra

Do sản xuất nông nghiệp có chu kỳ tương đối dài, công ty phải cung cấp dịch vụ tưới tiêu ngay từ khi bắt đầu sản xuất và trong suốt chu kỳ sinh trưởng phát triển của cây trồng nhưng thuỷ lợi phí lại chỉ được thu vào cuối mỗi vụ thu hoạch mà nguồn thu lại chưa được tính đúng, tính đủ, còn phải thu theo chính sách có phần trợ cấp cho nông nghiệp Hơn nữa các chi phí của công ty thủy lợi cho sản xuất như: điện, thiết bị phụ tùng thay thế…đều phải mua theo giá cả ngoài thị trường, trong khi đó nguồn thu chính của công ty là thuỷ lợi phí lại phải cố định theo chính sách của nhà nước

Kết quả hoạt động sản xuất còn được đánh giá gián tiếp thông qua kết quả của sản xuất nông nghiệp và các ngành khác do đó nhiều khi chưa phản ánh đúng hiệu quả thực của hoạt động tưới tiêu Hiệu quả mang lại vừa trực tiếp, vừa gián tiếp, có hiệu quả mang lại không thể tính ra được bằng tiền

Ngoài tính khoa học, kỹ thuật thì trong công tác quản lý hệ thống thủy lợi còn mang tính quần chúng Đơn vị quản lý phải dựa vào dân, vào chính quyền địa phương để làm tốt việc điều hành tưới tiêu, thu thuỷ lợi phí, tu dưỡng, bảo dưỡng, bảo vệ công trình Do đó đơn vị quản lý không những phải làm tốt công tác chuyên môn mà còn phải làm tốt công tác vận động quần chúng cùng tham gia quản lý khai thác và bảo vệ công trình

Sản phẩm của thủy lợi là nước, nó được sản xuất ra ở các công trình thủy lợi và được vận chuyển trên kênh mương để tưới tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp, cho các ngành kinh tế khác và dân sinh trong toàn huyện nên nó

có đầy đủ các thuộc tính của một loại hàng hoá Sở dĩ nó là một loại hàng hoá

vì nó tồn tại dưới hình thái vật lý và thỏa mãn đầy đủ cả 2 thuộc tính của hàng hoá là có giá trị và giá trị sử dụng, sản xuất ra cũng để trao đổi, mua bán trên thị trường Sản phẩm nước tưới tiêu có giá trị vì nó cũng được kết tinh từ hao

Trang 21

phí lao động sống và lao động vật hoá, nó có giá tri sử dụng vì khi sử dụng nó cũng làm thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng và được trao đổi trên thị trường giữa người mua và người bán nhưng do quá trình khai thác, sử dụng nước có những đặc thù riêng biệt nên nó là một loại “hàng hoá đặc biệt”

1.1.1.5 Các phương pháp tưới tiêu

Hiện nay tất cả các phương pháp tưới, tiêu đều tổ chức theo nguyên tắc

là phải dựa trên chế độ canh tác nông nghiệp, chế độ thuỷ văn và điều kiện địa hình thổ nhưỡng của từng khu vực

a Các phương pháp tưới

Phương pháp tưới là cách đưa nước vào ruộng để biến nước đó thành nguồn nước trong đất cung cấp cho cây trồng Các phương pháp tưới được xây dựng sao cho cây trồng phát triển tốt, đạt được năng suất, sản lượng cao

và đất đai ngày càng được cải tạo Hiện nay có 3 phương pháp tưới đó là: tưới mặt đất, tưới mưa phun và tưới ngầm

(1) Tưới mặt đất

Tưới mặt đất là phương pháp dùng một mạng lưới kênh mương bố trí trên mặt đất để đưa nước vào mặt ruộng cho nước ngấm xuống đất, biến thành nước trong đất cung cấp cho cây trồng Nó bao gồm các cách tưới như: tưới giải, tưới rãnh và tưới ngập Phương pháp tưới này có ưu điểm là không cần

sử dụng năng lượng, tầng đất mặt ruộng được ngấm nước tương đối đều và sâu Do đó tưới mặt đất là phương pháp được áp dụng rộng rãi nhất hiện nay Tuy nhiên nó cũng có những hạn chế nhất định như: muốn tưới được tốt phải

có nguồn nước dồi dào, phải chuẩn bị mặt ruộng thật chu đáo, có khi phải tiến hành san bằng mặt ruộng, nếu địa hình quá phức tạp, độ dốc quá lớn không san bằng mặt ruộng được thì hiệu quả tưới rất thấp Tưới mặt đất đòi hỏi có một hệ thống điều tiết nước mặt ruộng tương đối dày, nên tốn nhiều diện tích đất làm giảm hệ số sử dụng ruộng đất

Trang 22

(2) Tưới phun mưa

Tưới phun mưa là phương pháp tưới cung cấp nước cho cây trồng dưới dạng mưa nhân tạo bằng các thiết bị riêng gọi là máy phun mưa Tưới phun mưa đươc áp dụng từ đầu thế kỷ XX và sau đó phát triển rất nhanh vì so với tưới mặt đất nó có nhiều ưu điểm hơn Tưới phun mưa là một trong các phương pháp tưới hiện đại, có thể đáp ứng đầy đủ các yếu tố cơ bản về cung cấp nước cho cây trồng, cải tạo đất và cơ giới hoá công tác tưới tiêu ở trình độ cao

Tưới phun mưa đưa lại hiệu quả rất tốt ở những vùng có chế độ tưới không thường xuyên, chỉ cần tưới trong một thời gian nhất định trong năm Ở những vùng đất mặn và ở những vùng trồng màu có mức nước sông ngầm nông, áp dụng phương pháp tưới phun mưa sẽ hạn chế được việc bốc nước lên mặt đất và nâng cao mức nước ngầm Ở những vùng đồi và ở những nơi có độ dốc lớn, địa hình phức tạp, nếu áp dụng phương pháp tưới phun mưa sẽ đưa lại hiệu ích tốt vì không phải san bằng mặt ruộng mà chất lượng tưới vẫn cao Tuy nhiên do kỹ thuật tưới yêu cầu máy móc thiết bị tưới có giá thành cao, nên việc áp dụng kỹ thuật tưới này còn hạn chế

(3) Tuới ngầm

Tưới ngầm là phương pháp tưới dùng thiết bị đặt ngầm trong đất để đưa nước cung cấp cho cây trồng từ dưới đất lên Nước tưới được đưa vào ống có đục lỗ chôn dưới mặt ruộng, ở một độ sâu nhất định và nhờ áp lực nhất định nước đó được phun lên làm ẩm tầng đất nuôi cây tạo thành nước trong đất và cung cấp cho cây trồng

Ở nước ta đã nghiên cứu và thử nghiệm phương pháp tưới này ở một số nơi, như trung tâm nghiên cứu thủy lợi Bắc bộ – Thường Tín – Hà Đông… tuy nhiên do đặc điểm của phương pháp tưới này là vốn đầu tư rất lớn, khó khăn về quản lý, bảo dưỡng… nên việc áp dụng nó ở nước ta còn rất hạn chế không được phổ biến mới chỉ dừng lại ở việc thử nghiệm theo dự án nhỏ

Trang 23

b Các phương pháp tiêu

Châu thổ sông Hồng chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa, mưa lớn thường tập trung vào mùa mưa, địa hình bằng phẳng và hệ thống sông dày đặc có chế độ dòng chảy phụ thuộc vào lượng mưa vùng thượng lưu, dễ bị lũ và khó tiêu thoát nên thường gây ngập úng nội đồng Để giải quyết tốt vấn đề tiêu nước thì phải quán triệt phương châm: “rải nước, chôn nước, tháo nước có kế hoạch” Nó được xây dựng từ đặc điểm tình hình tiêu nước của ta như: Lượng mưa lớn và phân bố không đều; địa hình phức tạp, khu cao và khu thấp xen kẽ nhau, lượng mưa từ khu cao có khả năng tập trung nhanh vào khu thấp; trong khu vực tiêu có nhiều loại cây trồng khác nhau mang những tính chất và yêu cầu tiêu khác nhau

Rải nước là nguyên tắc cao tiêu cao, thấp tiêu thấp, nước ở đâu tiêu ở đấy chứ không tập trung vào khu trũng, để tránh gây thêm mức độ căng thẳng của việc tiêu nước những vùng trũng Tập trung nước vào công trình tiêu đầu mối chứ không cho chảy tràn lan từ chổ này sang chỗ khác Rải nước có ý nghĩa là lợi dụng khả năng chịu ngập của lúa để tạo nên thời gian tiêu lớn hơn thời gian mưa và do đó hệ số tiêu sẽ nhỏ xuống

Chôn nước là lợi dụng các khu có khả năng trữ nước như hồ ao, kênh mương… để trữ bớt một phần lượng mưa rồi tiêu dần vào các thời gian sau mưa hoặc vào các thời gian tiêu nước không căng thẳng để giảm nhỏ hệ số tiêu nước trong thời gian tiêu nước căng thẳng

Tháo nước có kế hoạch nhằm tạo ra các điều kiện cơ bản để đảm bảo việc thực hiện các phương châm tiêu nước “rải, chôn nước” đã nêu ở trên Đây là một nhiệm vụ quan trọng của công tác quản lý tiêu nước Nhiệm vụ này đòi hỏi phải có một mạng lưới kênh mương, công trình thật hoàn chỉnh và một kế hoạch tháo nước thật chi tiết

1.1.2 Đặc điểm sử dụng các công trình thủy lợi

1.1.2.1 Hoạt động thủy lợi mang tính hệ thống cao

Hoạt động thủy lợi là quản lý khai thác công trình thủy lợi diễn ra trong phạm vi rộng do công trình mang tính hệ thống, nó bao gồm nhiều loại công

Trang 24

trình có liên hệ mật thiết với nhau và yêu cầu đồng bộ Một hệ thống công trình phải bao gồm: công trình đầu mối (hồ, đập, trạm bơm điện), kênh dẫn cấp I, cấp II, cấp III và kênh nội đồng, trên các tuyến kênh có các cống lấy nước cửa đóng mở tuỳ khả năng nguồn nước của từng công trình đầu mối

mà quy định phạm vi phục vụ, có thể phục vụ cho 1 xã, 1 huyện hoặc liên xã, liên huyện, liên tỉnh Một yêu cầu có tính chất bắt buộc là không đươc chia cắt hệ thống, một công trình không thể do nhiều nơi quản lý khai thác vì nếu chia cắt như vậy sẽ không thể điều hành được nên một doanh nghiệp độc lập quản lý ít nhất là một hệ thống công trình Tính hệ thống này chi phối đến việc tổ chức sắp xếp các doanh nghiệp trong một địa phương, một vùng lãnh thổ, có thể thành lập công ty thủy lợi huyện, liên huyện hoặc công ty thủy lợi tỉnh, tuỳ thuộc điều kiện cụ thể về trình độ quản lý của cán bộ, đặc điểm công trình, tính hoàn chỉnh của công trình để chọn mô hình tổ chức cho phù hợp song luôn luôn phải bảo đảm tính hệ thống

Trong mỗi hệ thống vừa có đơn vị (bộ phận) đảm nhận sản xuất theo dạng khai thác nguồn nước, đó là công trình đầu mối, vừa có đơn vị chuyển tải sản phẩm đến nơi tiêu thụ theo hệ thống kênh, vừa có đơn vị đảm nhận tiêu thụ sản phẩm Đây chính là các khâu trong tổ chức điều hành quản lý khai thác của một DNTL Muốn đạt hiệu quả cao phải chỉ đạo thực hiện tốt ở các khâu, muốn thu tốt thủy lợi phí phải tưới tiêu tốt hoặc tưới tiêu tốt để thu tốt

Do tính hệ thống cao nên trong khi xây dựng công trình mới phải được hoàn thiện đồng bộ mới phát huy tối đa năng lực thiết kế của công trình, trong quản lý khai thác phải có kế hoạch tu sửa thường xuyên và sửa chữa lớn kịp thời để duy trì năng lực đồng bộ Trong thực tế hiện nay một trong những nguyên nhân dẫn đến hiệu quả của công trình thấp là do khi xây dựng chưa hoàn chỉnh đồng bộ và trong quá trình khai thác chưa được tu bổ khôi phục kịp thời

Trang 25

Các hệ thống thủy lợi đều phục vụ đa mục tiêu (ít nhất là 2 mục tiêu trở lên), trong đó có tưới, tiêu, cấp nước sinh hoạt, thủy sản, sản xuất công nghiệp, phát điện, giao thông, du lịch, chống lũ, ngăn mặn, cải tạo đất đai, môi trường, sinh thái…

Mặt khác, vốn đầu tư xây dựng công trình thủy lợi thường rất lớn Tùy theo điều kiện cụ thể ở từng vùng, để có công trình khép kín trên diện tích 1

ha được tưới thì bình quân phải đầu tư thấp nhất 30-50 triệu đồng, cao nhất 100-200 triệu đồng

Công trình thuỷ lợi muốn phát huy hiệu quả cao phải được xây dựng đồng bộ, khép kín từ đầu mối (phần do Nhà nước đầu tư) đến tận ruộng (phần

do dân nhân tự đóng góp xây dựng)

1.1.2.2 Hoạt động của các doanh nghiệp thủy lợi chịu ảnh hưởng lớn của điều kiện tự nhiên

Hệ thống công trình thuỷ lợi nằm rải rác ngoài trời, trải trên diện rộng,

có khi qua các khu dân cư, nên ngoài tác động của thiên nhiên, còn chịu tác động trực tiếp của con người (người dân)

Điều kiện tự nhiên không hoàn toàn thuận lợi cho sản xuất và đời sống của con người Sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người là quá trình đấu tranh cải tạo tự nhiên, vận dụng các quy luật tự nhiên để phục vụ cho đời sống con người Hoạt động khai thác CTTL là một trong những hoạt động vận dụng các quy luật tự nhiên, cải tạo tự nhiên, khắc phục hậu quả do thiên nhiên gây ra, do đó chịu sự chi phối ảnh hưởng rất lớn của điều kiện tự nhiên

Trước hết ta thấy từ khi bắt đầu xây dựng CTTL đã phải căn cứ vào điều kiện: khí hậu, địa hình, thủy văn ở từng vùng, từng địa phương để có các giải pháp công trình thích hợp, vùng miền núi lợi dụng độ cao để xây dựng hồ chứa nước đập dâng, ở miền xuôi xây dựng các trạm bơm điện Các CTTL đa

số nằm ở ngoài trời, chịu ảnh hưởng trực tiếp của môi trường mưa nắng, luôn

Trang 26

bị phá huỷ, xói mòn, hệ thống kênh mương đa số bằng đất Do đó việc ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào xây dựng cải tạo công trình là rất cần thiết, việc tiến hành kiên cố hoá kênh mương (bằng bê tông hoặc gạch xây) và lần lượt hiện đại hoá các máy móc thiết bị là nhằm nâng cao năng lực và kéo dài tuổi thọ của công trình

Mặt khác điều kiện tự nhiên còn ảnh hưởng đến hoạt động quản lý, chi phối đến chi phí và thu nhập hàng năm của doanh nghiệp Tuy hiện nay các DNTL đang hoạt động dựa trên các định mức kinh tế - kỹ thuật nhưng do diễn biến thời tiết khá phức tạp, nhất là những năm gần đây nắng hạn kéo dài mưa,

lũ lớn vượt mức lịch sử, năm 1999 những trận mưa lớn chưa từng có trên tất

cả các vùng, lượng mưa ở phía Đông Bắc Hà Nội là 2.280mm trong đó 1 ngày lên đến 1.384 mm Đợt mưa đầu tháng 10 năm 2012 ở khu vực thành phố Hà Nội phổ biến từ 1.500-2.000 mm đặc biệt trong 3 ngày đầu lượng mưa lên 2.000mm trong khi lượng mưa thiết kế là 1.100mm Vào những năm thời tiết như vậy thì chi phí bỏ ra của các doanh nghiệp rất lớn, tài sản máy móc thiết

bị công trình bị huỷ liệt Đây là một yếu tố rất quan trọng trong lúc lập kế hoạch sản xuất tài chính hàng năm cần phải được đề cập đến và phải có chủ trương chính sách dự phòng

1.1.2.3 Hoạt động thủy lợi mang tính xã hội hoá cao

Do đặc điểm của điều kiện tự nhiện, địa hình nguồn nước mà từ việc quy hoạch thiết kế đến xây dựng CTTL phải bảo đảm tính hệ thống, tính hệ thống

đó nhiều khi vượt khỏi ranh giới một vùng, một địa phương, một đơn vị hành chính, đòi hỏi sự đóng góp xây dựng của một tập thể khá lớn, trên thực tế hầu hết các CTTL đã đưa vào sử dụng ở nước ta đều có sự đóng góp của nhân dân được thực hiện theo phương châm "Nhà nước và nhân dân cùng làm"

Tính xã hội hoá còn thể hiện trong việc sử dụng các hệ thống công trình, tuỳ theo điều kiện kinh tế từng vùng mà mỗi hệ thống có thể đảm nhận

Trang 27

từng phần hay toàn bộ nhiệm vụ: phục vụ sản xuất nông nghiệp thủy điện, thủy sản, giao thông thủy, cấp nước cho sản xuất công nghiệp, cấp nước cho dân cư, chống lũ lụt và bảo vệ nguồn nước khỏi nhiễm khuẩn Vì vậy mỗi hệ thống đảm nhận một lúc nhiều nhiệm vụ, mỗi nhiệm vụ phục vụ cho một ngành kinh tế nhất định, do đó hoạt động thủy lợi thường phục vụ cho nhiều mục tiêu, nhiều đối tượng khác nhau Ngoài ra không chỉ bảo đảm tưới tiêu cho diện tích canh tác mà các CTTL còn phục vụ cho cả diện tích phi canh tác

và thường mang tính chất xã hội

Tính xã hội còn thể hiện trong công tác bảo vệ công trình, vì CTTL đa

số nằm ngoài trời rải rác trong phạm vi rộng trong khi đó lực lượng công nhân của doanh nghiệp chỉ ở mức độ nhất định nên phải có sự tham gia của toàn dân, ở đâu nhân dân có ý thức trách nhiệm cao, thực hiện tốt pháp lệnh bảo vệ công trình thì ở đó CTTL được an toàn, chi phí trông coi bảo vệ của các doanh nghiệp thấp và ngược lại Từ đó một trong những nội dung hoạt động của các doanh nghiệp là phải tuyên truyền giáo dục nâng cao ý thức trách nhiệm cho người dân, phối kết hợp với chính quyền địa phương, phổ biến sâu rộng và chấp hành tốt pháp lệnh bảo vệ CTTL, trong quản lý tiến hành xã hội hoá một số khâu, một số công việc để nhân dân địa phương đảm nhận, một mặt gắn trách nhiệm của địa phương mặt khác tiết kiệm được chi phí

1.1.2.4 Sản phẩm chủ yếu của doanh nghiệp thủy lợi là dịch vụ đặc biệt gắn liền với kết quả sản xuất nông nghiệp

Đối tượng phục vụ chủ yếu của các DNTL là nông nghiệp mà chủ yếu

là trồng trọt, việc cung ứng đủ nước cho cây trồng phát triển theo thời vụ từng thời kỳ sinh trưởng (bao gồm cả tưới và tiêu) Sản phẩm "dịch vụ nước" cũng

là hàng hoá vì nó có 2 thuộc tính: giá trị và giá trị sử dụng

"Dịch vụ nước" là hàng hoá nhưng nó là hàng hoá đặc biệt: Quá trình sản xuất gắn liền với quá trình tiêu thụ, sản xuất đến đâu tiêu thụ đến đấy

Trang 28

không tiêu thụ là bỏ phí vì loại dịch vụ này không lưu kho tích trữ như các hàng hoá khác được "Dịch vụ nước" của các DNTL là duy nhất không thể nhập ngoại và không có hàng thay thế, là hàng hoá nhưng đơn vị đo đếm đến nay chưa được xác định thống nhất và chuẩn xác, hiện nay đang dùng đơn vị

là ha đất gieo trồng diện tích tưới tiêu, tưới cho 1 ha thì có thể tính được nhưng tiêu thì rất khó xác định vì lượng mưa hàng năm rất khác nhau, đây là một khó khăn lớn trong việc xác định chi phí để xác định giá bán của doanh nghiệp

Từ năm 1984 theo Nghị định 112/NĐ-HĐBT và đến nay khi trích khấu hao cơ bản tài sản cố định các doanh nghiệp chỉ tính phần máy móc thiết bị, không trích phần tài sản thuộc công trình đất xây đúc và các loại máy bơm có công suất 8.000 m3/h trở lên Giá bán sản phẩm dịch vụ nước do Nhà nước quy định, quan hệ giữa người mua và người bán bị ràng buộc bởi nhiều yếu tố như tính độc quyền của sản phẩm, tính xã hội của sản phẩm, quan hệ cung cầu

và giá cả ở đây không phản ánh đúng bản chất vận động của nó, người nông dân không có quyền lựa chọn sản phẩm, người bán cũng không có quyền lựa chọn người mua, quan hệ mua bán thiếu sòng phẳng, người mua không nộp thủy lợi phí người bán vẫn phải phục vụ

Sản phẩm thu được của các DNTL gắn liền và chịu ảnh hưởng lớn của sản xuất nông nghiệp Thủy lợi phí là nguồn thu chủ yếu được tính bằng tỷ lệ

% so với sản lượng thu hoạch của nông dân, những năm thời tiết bình thường nông dân được mùa thì doanh thu tương đối ổn định, nhưng những năm hạn hán năng suất cây trồng giảm hoặc mất mùa Nhà nước miễn giảm cho nông dân làm giảm doanh thu của doanh nghiệp vì vậy tính toán hiệu quả rất khó khăn không phản ánh đúng thực trạng nội tại của nó, các doanh nghiệp phải gánh chịu thiệt hại do thiên tai gây ra do đó hoạt động thường mang tính rủi

ro, trong điều kiện đó chi phí bỏ ra thường không có khả năng thu hồi

Trang 29

1.1.2.5 Mỗi hệ thống công trình thủy lợi chỉ phục vụ cho một vùng nhất định

Hệ thống công trình thủy lợi chỉ phục vụ cho một vùng nhất định theo thiết kế, không thể di chuyển từ vùng đang thừa nước đến vùng thiếu nước theo yêu cầu thời vụ; đều phải có một tổ chức của Nhà nước, tập thể hay cá nhân trực tiếp quản lý, vận hành theo yêu cầu của các hộ sử dụng nước trên địa bàn

1.1.2.6 Đối tượng phục vụ chủ yếu là nông dân, nông nghiệp

Đảng và Nhà nước ta tiếp tục xác định: "Đặt sự phát triển nông nghiệp

và kinh tế nông thôn theo hướng sản xuất hàng hoá trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, coi đó là nhiệm vụ chiến lược có tầm quan trọng hàng đầu"[13]

Nông dân là người có đời sống thu nhập thấp, trình độ thâm canh, tập quán canh tác mang tính chất sản xuất nhỏ, tư tưởng bảo thủ, chưa có điều kiện để áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, tính nhạy bén với cơ chế thị trường còn hạn chế, vẫn còn tư tưởng bao cấp ỷ lại Nhà nước nên ý thức sử dụng nước chưa tiết kiệm, trách nhiệm thanh toán chưa cao

Sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ, vào lúc thời vụ chính mọi khách hàng đều có nhu cầu được phục vụ, do đó doanh nghiệp phải huy động hết công suất máy móc và nhân lực nhưng qua thời điểm đó nhân lực lại rất ít, người lao động phải chờ việc làm vì vậy cần phải tổ chức các hoạt động ngoài nhiệm vụ chính để thu hút lao động nhàn rỗi trong doanh nghiệp, có thể thành lập các đội tu sửa công trình hoặc tổ chức thiết kế để làm nhiệm vụ kinh doanh (ngoài hoạt động công ích), các tổ chức này được hạch toán riêng theo

cơ chế hoạt động sản xuất kinh doanh tự trang trải kinh phí đảm bảo có lãi, thông qua hình thức này để rút bớt lao động trong tổng biên chế từ đó nâng cao thu nhập cho người lao động

Trang 30

1.1.3 Hiệu quả sử dụng các công trình thủy lợi

1.1.3.1 Khái niệm về hiệu quả

Đối với dịch vụ thủy lợi hoá nước là sản phẩm không cạnh tranh, không được tự do lựa chọn thị trường, đối tượng cung và đối tượng cầu đã được xác định từ trước, đồng thời có sự can thiệp của cơ quan Nhà nước

Trong quá trình cung cầu, do nhiệm vụ chính trị phục vụ sản xuất nên đối tượng mua không ký hợp đồng mua thì bên bán vẫn phải bán, nếu không

sẽ gây tác hại cho sản xuất nông nghiệp làm ảnh hưởng đến sự phát triển kinh

tế của đất nước và môi trường sinh thái

Hoặc bên mua có ký hợp đồng mua nhưng việc thanh toán chưa hoặc không sòng phẳng nhưng vì lợi ích của cả xã hội mà bên bán vẫn phải cung cấp hàng hóa nước đầy đủ Do đó vấn đề xác định hiệu quả cho hoạt động dịch vụ thủy lợi rất phức tạp, khó xác định

Hiệu quả là một phạm trù kinh tế chung nhất, liên quan trực tiếp đến nền kinh tế sản xuất hàng hóa Hiệu quả được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau Các nhà kinh tế tân cổ điển đã đưa ra quan điểm về hiệu quả là:

1) xem xét hiệu quả trong trạng thái động của mối quan hệ gữa đầu vào

và đầu ra;

2) Thời gian là nhân tố quan trọng trong tính toán hiệu quả;

3) Hiệu quả được xem xét ở ba góc độ: hiệu quả tài chính, xã hội và môi trường:

4) Coi việc đánh giá dự án phát triển thông qua việc so sánh giữa lợi ích và chi phí chứ không phải là thu chi đơn thuần

Xét theo mối quan hệ động giữa đầu vào và đầu ra, một số tác giả đã phân biệt rõ ba phạm trù: Hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả phân bổ các nguồn lực

và hiệu quả kinh tế

Hiệu quả kỹ thuật là số sản phẩm (O) thu thêm trên một đơn vị đầu vào (I) đầu tư thêm Nó được đo bằng tỷ số O/I

Trang 31

Hiệu quả phân bổ là giá trị sản phẩm thu thêm trên một đơn vị chi phí đầu tư thêm Thực chất nó là hiệu quả kỹ thuật có tính đến các yếu tố giá sản phẩm và giá đầu vào Nó đạt tối đa khi doanh thu biên bằng chi phí biên

Hiệu quả kinh tế là phần thu thêm trên một đơn vị đầu tư thêm Nó chỉ đạt được khi hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả sử dụng nguồn lực là tối đa

Hiệu quả còn bao gồm cả vấn đề hiệu quả tài chính, hiệu quả xã hội và môi trường Theo quan điểm toàn diện, hiệu quả kinh tế được đánh giá trên ba phương diện:

Hiệu quả tài chính, hiệu quả kinh- tế xã hội và hiệu quả môi trường Hiệu quả tài chính thường được thể hiện bằng những như lợi nhuận, giá thành, tỷ lệ nội hoàn vốn, giá trị hiện tại ròng, tỷ số thu chi B/C, thời gian hoàn vốn

Hiệu quả xã hội của một dự án phát triển bao gồm lợi ích xã hội mà công trình thủy lợi đem lại như việc làm, mức tăng về GDP do tác động của tưới tiêu, sự công bằng xã hội trong hưởng lợi công trình, sự tự lập của cộng đồng và sự được bảo vệ hoặc sự hoàn thiện hơn của môi trường sinh thái Việc phân biệt hiệu quả tài chính hay hiệu quả xã hội là tùy theo phạm vi và mức độ của sự phân tích là ở góc độ cá nhân hay cả xã hội khi xem xét

Hiệu quả tài chính được phân tích trên quan điểm lợi ích của cá nhân của từng người đầu tư, chỉ tính toán những lời lãi thông thường trong phạm vi tài chính để cho người đầu tư ra quyết đinh đầu tư

Hiệu quả xã hội thì được phân tích trên lợi ích toàn cục của xã hội để xem xét sự phát triển chung của xã hội Vì vậy, tùy theo phạm vi xem xét là vi

mô hay vĩ mô mà có hiệu quả tài chính hay hiệu quả xã hội Ở những dự án sản xuất ra sản phẩm hàng hóa, các nhà đầu tư thường chú ý nhiều tới hiệu quả tài chính Ở những dự án phát triển như những dự án xóa đói giảm nghèo, phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn, trong đó có phát triển thủy lợi, thì hiệu quả của dự án chủ yếu tập trung vào hiệu quả kinh tế - xã hội

Trang 32

Hiệu quả còn bao gồm hiệu quả về môi trường Các dự án phát triển thủy lợi vừa và nhỏ cần hướng vào việc góp phần tạo ra sự phát triển toàn diện trong nông thôn Nghĩa là hướng đồng thời vào 3 mục tiêu sau:

Một là, bảo đảm lợi ích kinh tế (tăng năng suất, sản lượng cây trồng vật nuôi thông qua cung cấp nguồn nước, đồng thời tăng hiệu quả sử dụng nguồn nước);

Hai là, bảo đảm mục tiêu xã hội (tạo việc làm, tạo bình đẳng trong hưởng thụ giữa các thành viên trong cộng đồng hưởng lợi công trình thủy lợi, thực hiện chuyển giao kỹ thuật thông qua tổ tự quản công trình do cộng đồng lập nên );

Ba là bảo, đảm lợi ích môi trường như cải tạo tiểu vùng khí hậu, chống suy thoái môi trường Đầu tư một công trình thủy lợi được coi là đạt hiệu quả chỉ khi đồng thời cùng một lúc đáp ứng được cả mục tiêu tài chính, mục tiêu xã hội và mục tiêu môi trường

Như vậy, quan niệm mới về hiệu quả đầu tư cho phép đánh giá toàn diện hơn các tác động do công trình thủy lợi mang lại, phù hợp với chủ trương tăng cường dân chủ cấp cơ sở và chiến lược tăng trưởng và phát triển bền vững của nước ta hiện nay

1.1.3.2 Hiệu quả sử dụng các công trình thủy lợi

Hiệu quả của hoạt động DNTL với tư cách là một doanh nghiệp công ích, bao gồm cả hiệu quả sản xuất, hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường

* Hiệu quả sản xuất: hiệu quả sản xuất của doanh nghiệp là một phạm

trự kinh tế, phản ảnh trình độ sử dụng nguồn nhân tài, vật lực của doanh nghiệp Một doanh nghiệp tiến hành sản xuất kinh doanh có hiệu quả là một doanh nghiệp thoả mãn được tối đa nhu cầu của thị trường và xó hội về hàng hóa, dịch vụ trong giới hạn cho phép của nguồn lực hiện có và thu được lợi nhuận nhiều nhất, đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao nhất

Trang 33

Đây là một vấn đề phức tạp có liên quan đến nhiều yếu tố, nhiều mặt của quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như: lao động, vốn, tài sản và trình độ quản lý của doanh nghiệp chỉ tiêu phản ảnh tổng quát nhất hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được xác định bằng công thức:

Chỉ tiêu này phản ảnh cứ một đồng chi phí đầu vào trong kỳ phân tích thì thu được bao nhiêu kết quả đầu ra Với một khối lượng chi phí đầu vào nhất định, chỉ tiêu hiệu quả tỷ lệ thuận với lượng đầu ra, tỷ lệ nghịch với chi phí đầu vào Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp càng lớn Kết quả đầu ra có thể được tính bằng chỉ tiêu giá trị sản lượng, doanh thu, lợi tức chi phí đầu vào có thể được tính bằng chỉ tiêu giá thành sản xuất, giá vốn hàng bán, chỉ tiêu lao động, vốn cố định

* Một số chỉ tiêu cụ thể đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Chỉ tiêu lợi nhuận: Trong điều kiện sản xuất và kinh doanh theo cơ chế thị trường, để tồn tại và phát triển đòi hỏi các doanh nghiệp phải có lợi - lợi nhuận Lợi nhuận là phần chênh lệch giữa tổng doanh thu và tổng chi phí

Ta có: TP = DT - TCP

Trong đó: TP: Tổng lợi của doanh nghiệp

DT: Là tổng doanh thu; TCP: Tổng chi phí

Trước kia cơ chế kế hoạch học tập trung ở nước ta quy định cách xác định lợi nhuận theo các loại hình doanh nghiệp khác nhau Trong giai đoạn chuyển sang cơ chế thị trường, đối với mỗi doanh nghiệp phân biệt lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh chính, phụ và lợi nhuận của doanh nghiệp được hạch toán và báo cáo riêng, theo tính chất chính, phụ của sự phân loại (điều này được Bộ Tài chính quy định tại mẫu biểu báo cáo số 02/BCKT ban hành tại Quyết định số 224-TC/CĐKT ngày 18/9/1990

Trang 34

Theo Quyết định 1141 TC/QĐ/CĐKT ngày 01/11/1995 của Bộ Tài chính áp dụng từ 01/01/1996 của hệ thống chế độ kế toán mới, đối với doanh nghiệp lợi nhuận được báo cáo dưới một cách chung nhất không phân biệt loại hình kinh doanh Lợi nhuận là chênh lệch giữa tổng thu và tổng chi Cách nhìn nhận chỉ tiêu lợi nhuận của doanh nghiệp theo Quyết định số 1141 trên đây của Bộ Tài chính lần này gần với cách nhìn nhận phổ biến về lợi nhuận trong hệ thống kế toán Quốc tế

Hiện nay, hoạt động của doanh nghiệp kía đa dạng Chúng có thể bao gồm hoạt động sản xuất, hoạt động mua bán hàng hóa, vật tư, hoạt động đầu

tư, hoạt động tài chính, hoạt động môi giới, hoạt động dịch vụ Đối với mỗi doanh nghiệp, quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh không cùng các giới hạn nghiêm ngặt Mỗi doanh nghiệp phải tự lo nguồn hàng, nguồn vật tư cũng như tự lo khâu tiêu thụ sản phẩm hàng hóa

Mặc dù doanh nghiệp thủy lợi là doanh nghiệp hoạt động công ích nhưng phải bảo đảm hiệu quả kinh tế, trong chi phí đầu tư, chi phí sản xuất, tiết kiệm tiêu dựng nước và sử dụng nước có hiệu quả đối với cây trồng vật nuôi

* Các chỉ tiêu trong quản lý, duy tu công trình:

Phân tích cơ cấu tổ chức của ba công trình thủy nông theo các mô hình: Công trình do công ty QLKT công trình thủy lợi quản lý, công trình do HTX dịch vụ nông nghiệp quản lý và công trình do HTX dịch vụ nông nghiệp quản

lý nhưng có sự tham gia của người dân

Đồng thời dựa vào một số chỉ tiêu như: Chi phí cho vận hành và duy tu; Thời gian lấy nước vào ruộng; Số ngày công nghĩa vụ dân đóng góp cho duy

tu, bảo dưỡng công trình

* Các chỉ tiêu tính kết quả kinh tế - xã hội chung:

Số lượng lao động quản lý sử dụng công trình thủy nông; Cơ cấu lao

Trang 35

động quản lý sử dụng công trình thủy nông; Số lượng cơ cấu vốn đầu tư của

xã hội xây dựng công trình thủy nông

* Về Kết quả sử dụng các công trình thuỷ nông

- Kết quả trong nâng cấp công trình thủy nông được thể hiện bằng các chỉ tiêu: giảm chi phí (tài chính và thời gian) đầu tư cho kiến thiết; giảm sự lệ thuộc vào đầu tư của chính phủ; khai thác tiềm năng của cộng đồng trong huy động đóng góp các nguồn lực (số vốn và nguồn nhân lực có thể đóng góp); nâng cao nhận thức của các thành viên trong cộng đồng về quản lý sử dụng, khai thác công trình thủy nông

- Kết quả trong khai thác, sử dụng công trình thủy nông được thể hiện bằng các chỉ tiêu: Tổng diện tích tưới; giá thành của công trình tính trên một hecta được tưới; mức tăng về năng suất cây trồng và năng suất vật nuôi do tưới tiêu mang lại; mức tăng vụ do tưới tiêu mang lại đi liền với mức độ đa dạng hóa cây trồng, vật nuôi; mức độ phát triển các ngành khác do sử dụng nguồn nước ở công trình

- Tính bền vững của công trình thủy nông nhỏ được thể hiện: sau khi công trình hoàn thành, cộng đồng đủ khả năng để quản lý, sử dụng và duy tu công trình được dài lâu; mức độ đóng góp của cộng đồng về vốn, lao động trong thiết kế, xây dựng, vận hành, phân phối nước ở công trình đầu mối đến

hệ thống thủy nông nội đồng; mức độ không lệ thuộc vào đầu tư của bên ngoài; nâng cao ý thức làm chủ của người dân đối với công trình

- Kết quả về môi trường sinh thái thể hiện việc sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên đất, tài nguyên nước, tác động của yêu cầu phát huy hiệu quả công trình đến việc bảo vệ môi trường và cân bằng sinh thái

* Những vấn đề cần lưu ý khi tính toán kết quả sử dụng các công trình thủy lợi

Do công trình thủy lợi có những nét đặc thù về kinh tế và kỹ thuật,

Trang 36

ngoài việc tính toán và đánh giá các chỉ số kinh tế tài chính đơn thuần như thời gian thu hồi vốn, suất đầu tư trên một hecta tưới, tiêu của công trình, mức đầu tư trên một hecta diện tích gieo trồng v.v Việc tính toán hiệu quả kinh

tế-xã hội của công trình thủy nông cần phải lưu ý các vấn đề sau đây:

- Công trình thủy lợi được sử dụng lâu dài Thời gian phục vụ của công trình thủy lợi tùy theo tính chất kiên cố của hạng mục công trình và chất lượng quản lý và khai thác công trình, mà có thể dài hay ngắn

- Công trình thủy lợi phát sinh tác dụng trực tiếp và gián tiếp, là biện pháp hàng đầu để phát triển kinh tế nông nghiệp Vì thế, nó thường là hợp phần không thể thiếu được của hầu hết các dự án xóa đói giảm nghèo ở các vùng nông thôn Việc xem xét lợi ích và chi phí của công trình thủy lợi phải dựa trên quan điểm toàn diện, kết hợp lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài, lợi ích trực tiếp với lợi ích gián tiếp của công trình Cần nhấn mạnh tính chất thủy nông là biện pháp hàng đầu để xem xét, phân tích

Công trình thủy nông mang tính chất xã hội sâu rộng cả trong xây dựng, quản lý và sử dụng Nhiều người và nhiều cộng đồng được lợi từ công trình Công trình trải rộng, liên quan đến tài nguyên đất và nước, sinh vật của vùng mà công trình phục vụ Do đó, khi tính toán hiệu quả của công trình thủy lợi cần phải chú ý đến tính xã hội, tính sinh thái của công trình, xem xét lợi ích xã hội, lợi ích môi trường sinh thái theo quan điểm toàn diện; cần coi trọng cả lợi ích và chi phí có tính định lượng và định tính

* Hiệu quả xã hội

- Cung cấp nước cho đời sống dân sinh, bảo đảm nguồn nước và chống

ô nhiễm: nước được dùng để ăn, uống, tắm giặt trong đời sống con người Nước dưới đất lâu nay là nguồn cung cấp chủ yếu, song nếu không có nước

bề mặt thì nguồn nước ngầm sẽ bị hạn chế Thông qua các hoạt động cung cấp nước cho nông nghiệp công trình thủy lợi đó giúp phần tạo tăng nguồn nước

Trang 37

ngầm và ổn định nguồn nước ngầm, ngoài ra còn cung cấp trực tiếp cho nhiều vùng dân cư về nước sinh hoạt cũng như nước cho vật nuôi khác

- Các CTTL phát triển, kết hợp tạo nên một mạng lưới giao thông thuận lợi trong làng xã, góp phần tích cực trong việc xây dựng nông thôn mới

* Hiệu quả môi trường

Ngoài hiệu quả kinh tế xã hội hoạt động thủy lợi còn có hiệu quả về môi trường đó là cải tạo đất, tạo thêm các vùng nước lợ, thay đổi khí hậu ở một số vùng Hạn chế được lũ lụt và tham gia cắt lũ, khi có lũ lớn xảy ra trên các sông ngòi tự nhiên Góp phần bảo vệ tài sản và đời sống nhân dân trong

xã hội Cả ba loại hiệu quả sản xuất, hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường

có liên quan mật thiết với nhau không thể xem nhẹ một loại hiệu quả nào Trong điều kiện thời tiết diễn biến bình thường thì hiệu quả sản xuất, hiệu quả kinh tế có vị trí hàng đầu, trái lại khi gặp thiên tai thì việc cấp nước, tiêu thoát nước cho dân sinh phải được coi trọng, ưu tiên, nhưng không vì thế mà xem nhẹ hiệu quả kinh tế

Như vậy, thông qua hoạt động của các CTTL bảo vệ được môi trường sinh thái đã tăng cường cải tạo đất, làm thay đổi khí hậu ở một số tiểu vùng, tạo thêm các vùng nước lợ, nước ngọt, khắc phục được tình trạng nước mặn

1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả sử dụng các công trình thủy lợi

1.1.4.1 Điều kiện tự nhiên (tại chỗ) có liên quan chặt chẽ tới xây dựng công trình thủy lợi

Điều kiện thiên nhiên như địa hình, địa vật, địa chất, khí tượng thủy văn có ảnh hưởng sâu rộng và nhiều mặt hơn bất kỳ loại công trình xây dựng nào Những yếu tố tự nhiên ấy nhiều khi có ảnh hưởng quyết định đến quy

mô, hình thức kết cấu, điều kiện làm việc lâu dài của công trình thủy nông

Trong thiên nhiên, sự tổng hợp các điều kiện không nơi nào giống nhau, cho nên hầu như công trình thủy nông nào cũng có những đặc điểm riêng

Trang 38

Thực tế xây dựng công trình thủy nông do tài liệu thủy văn không đầy

đủ, không chính xác nên công trình thủy nông được xây dựng nhưng khả năng tháo lũ không đủ, gây nguy hiểm khi lũ lớn, nhiều trạm thủy điện không chạy

đủ công suất

1.1.4.2 Tác dụng của nước đến công trình thủy lợi

Tác dụng cơ học của nước tới công trình thủy nông là áp lực nước ở dạng tĩnh hoặc động Trong đó, áp lực thủy tĩnh thường là lớn nhất và thường đóng vai trò quyết định đến điều kiện làm việc và ổn định của công trình

Tác dụng lý, hóa học của nước thể hiện ở nhiều dạng khác nhau như dòng nước có thể bào mòn công trình, đặc biệt khi dòng nước có lưu tốc lớn

và nhiều bùn cát ở nơi có lưu tốc lớn và do kết cấu công trình thủy nông có thể sinh ra lưu vực chân không, gây hiện tượng xâm thực bề mặt công trình Các bộ phận làm bằng kim loại có thể bị rỉ, phần bê tông có thể bị nước thấm xâm thực Dưới tác dụng của dòng nước làm cho nền công trình có thể bị sói mòn cơ học, hóa học lôi cuốn đất làm rỗng nền, hoặc hòa tan các chất trong nền có thạch cao, muối và các chất hòa tan khác

Tác dụng sinh học của nước: Các sinh vật sống có thể bám vào các công trình thủy nông làm mục nát gỗ, bê tông, đá, mối làm rỗng thân đê, thân đập, làm sập nền công trình

1.1.4.3 Yếu tố kỹ thuật và điều kiện thi công

- Yếu tố kỹ thuật bao gồm công nghệ được áp dụng vào công trình thủy lợi như tưới tiêu tự chảy hay bơm đẩy, tưới ngầm, tưới tràn hay tưới phun

- Điều kiện thi công các công trình thủy lợi vô cùng phức tạp, địa điểm xây dựng thường là ở ngay lòng sông, lòng suối, luôn luôn bị nước lũ, nước ngầm uy hiếp, vấn đề dẫn dòng, tháo lũ, giải quyết nước ngầm, hố móng ở sâu

xử lý nền móng phức tạp kéo dài, nên có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả khai thác và sử dụng công trình

Trang 39

1.1.4.4 Yếu tố tổ chức quản lý và sử dụng

Hình thức tổ chức quản lý và sử dụng công trình thủy nông dưới hình thức hợp tác xã dùng nước hay nhóm hộ dùng nước, sự kết hợp giữa quản lý của chính quyền địa phương với cộng đồng, sự đồng nhất giữa người quản lý

và người sử dụng công trình

Trình độ quản lý và năng lực chuyên môn của đội ngũ cán bộ quản lý

và trình độ nhận thức nông dân đây là nhân tố có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả của công trình

1.1.4.5 Yếu tố xã hội

Yếu tố xã hội bao gồm các đặc điểm và các yếu tố xã hội liên quan đến người sử dụng như tính cộng đồng, trình độ kỹ thuật, tập quán canh tác của nông dân Đặc biệt những người dễ bị tổn thương có ảnh hưởng lớn đến kết quả quản lý và sử dụng công trình thủy lợi

1.2 Kinh nghiệm sử dụng công trình thuỷ lợi trên thế giới và ở Việt Nam

1.2.1 Kinh nghiệm sử dụng công trình thuỷ lợi ở một số nước trên thế giới

Trên thế giới đã có rất nhiều nước tiến hành chuyển giao, vận động cộng đồng tham gia vào công tác thuỷ lợi Những kinh nghiệm ở nhiều nước

đã chứng minh rằng các tổ chức nông dân hoàn toàn có thể tham gia vào các khâu trong công tác thuỷ lợi

Trang 40

Ngay từ đầu Chính phủ Nepal mà đại diện là cục thủy lợi được viết tắt

là DOI dự kiến sẽ làm việc với tư cách là một đối tác của WUAs cho đến khi các WUAs có đủ khả năng gánh vác toàn bộ trách nhiệm Chính vì vậy mà từ cuối thập kỷ 80 tới nay, một loạt các cải cách trong chính sách đã được thực hiện, tất cả những văn kiện đó đều nhấn mạnh nhiều đến sự tham gia có tổ chức của người sử dụng nước trong tất cả các giai đoạn của quá trình phát triển và quản lý dự án tưới cũng như giảm trách nhiệm của Nhà nước đối với O&M thông qua việc chuyển giao dần những nhiệm vụ này cho WUAs

Kết quả là Chương trình chuyển giao quản lý tưới của Chính phủ Nepal

đã và đang được triển khai và thực hiện ngày càng rộng khắp theo phương thức từ trên xuống dưới Hàng loạt các dự án đã chính thức được chuyển giao cho WUAs Nông dân địa phương đã nâng cao ý thức tự chịu trách nhiệm và đóng vai trò tích cực không những tại địa phương, tại khu vực mà còn cả những vấn đề dân sự quốc gia khác Các viên chứcWUAs hiện đang vận hành

và duy tu các hệ thống tưới bằng cách huy động và quản lý hiệu quả các nguồn tài chính, nhân lực và tài nguyên thiên nhiên

* Philippines

Từ những năm 1980, Chính phủ Philippines đã nhận thấy hiệu quả tưới của các công trình rất thấp trong khi đó nguồn tài chính mà Chính phủ phải cung cấp cho cơ quan quản lý trong khi đó nguồn tài chính mà Chính phủ phải cung cấp cho cơ quan quản lý tưới quốc gia được viết tắt là NIA- National Irrigation Administration lại quá lớn đã buộc Chính phủ phải cải tổ

mô hình quản lý

Trong chương trình cải tổ này một Nghị định đã được ban hành trong

đó khẳng định: i) NIA phải tự chủ về tài chính bằng cách thu phí từ các hộ hưởng lợi; ii) Tất cả các tổ chức dùng nước đều được đăng kí quyền về nước trong đó ghi rõ lượng nước mà các hệ thống tưới cấp xã và cấp quốc gia được

Ngày đăng: 18/05/2021, 21:43

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w