1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá sự hài lòng của các doanh nghiệp với chất lượng các dịch vụ hỗ trợ thuế tại chi cục thuế quận thủ đức,thành phố hồ chí minh copy

88 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 804,11 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với xuất phát điểm như vậy, cùng với sự động viên, hướng dẫn nhiệt tình của các thầy, cô Khoa Kinh tế, tác giả mạnh dạn nghiên cứu: “Đánh giá sự hài lòng của các doanh nghiệp với chất l

Trang 1

PHAN HÒA ANH TUẤN

ĐÁNH GIÁ SỰ HÀI LÒNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VỚI CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ HỔ TRỢ THUẾ TẠI CHI CỤC THUẾ

QUẬN THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Đồng Nai, 2012

Trang 2

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do hình thành đề tài

Để chuẩn bị cho quá trình hội nhập với nền kinh tế quốc tế, chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010 của Thủ tướng chính phủ được ban hành theo Quyết định 136/2001/QĐ ngày 17 tháng 9 năm 2001, tiếp đó là Quyết định số 201/2004/QĐ-TTg ngày 6 tháng 12 năm 2004 về việc phê duyệt chương trình cải cách hệ thống thuế đến năm 2010; Quyết định số 144/2006/QĐ-TTg ngày 20/6/2006 về việc áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn TCVN 9001:2000 và hoạt động của các cơ quan hành chánh nhà nước; Quyết định

số 732/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 17/5/2011 về việc phê duyệt chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011-2020; Quyết định số 1788TCT/QĐ/TTHT ngày 01/12/2004 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế về việc ban hành qui trình thực hiện công tác tuyên truyền và hỗ trợ ĐTNT; Công văn số 13582/CT-TTHT ngày 28/12/2006 của Cục thuế Tp.Hồ Chí Minh về triển khai mở rộng hế thống chất lượng theotiêu chuẩn TCVN ISO 9001: 2000

Chủ trương hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới của Đảng và Nhà nước ta đã mang lại kết quả rất khả quan trên nhiều lĩnh vực, góp phần vào sự nghiệp phát triển kinh tế, đáp ứng mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh”, các doanh nghiệp trong xu thế phát triển chung của nền kinh tế đất nước và thực sự phát huy được vai trò đóng góp to lớn cho nền kinh tế trên nhiều góc độ

Thủ Đức là một quận nằm ở cửa ngõ phía Đông Bắc Thành phố, có diện tích 4.776 ha, dân số 463.368 nhân khẩu (số liệu điều tra dân số năm 2011), trong đó49, 5% là dân tạm trú Là một Quận có nhiều cơ sở kinh tế, khoa học kỹ thuật quan trọng của Trung ương, Thành phố đã tạo tiền đề thuận lợi trong thực hiện các nhiệm

vụ về phát triển kinh tế xã hội Đối với nền kinh tế của quận, các doanh nghiệp là một bộ phận kinh tế quan trọng với những đóng góp đáng kể, theo thống kê năm

2010, cho thấy khu vực kinh tế này đóng góp hơn 47% tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn quận Thủ Đức

Trang 3

Bên cạnh những đóng góp có giá trị của thành phần kinh tế này trên địa bàn Quận, nhất là trong lĩnh vực thu nộp thuế, vẫn còn nhiều quan tâm cho các cơ quan chức năng, các nhà nghiên cứu kinh tế, đặc biệt là cơ quan thuế của Quận về vấn đề làm sao để “Thu đúng, thu đủ” và việc thực hiện đúng chính sách pháp luật thuế của các doanh nghiệp tại Quận Thủ Đức, Tp Hồ Chí Minh Tính chất đặc thù của nguồn vốn đầu tư này còn làm cho việc quản lý nguồn thu gặp không ít khó khăn, vượt qua trở ngại này là một đòi hỏi tất yếu và cũng đặt ra thách thức lớn cho Lãnh đạo của Quận Thủ Đức Qua đó, tăng cường ý thức tự giác chấp hành chính sách pháp luật, tạo sự đồng thuận giữa các doanh nghiệp và cơ quan thuế thông qua việc tuyên truyền, cung cấp dịch vụ hỗ trợ thuế có chất lượng cao là một trong những vấn đề mang tính chất cấp bách, góp phần giải quyết những đòi hỏi tất yếu và thách thức lớn của lãnh đạo Quận, lãnh đạo quản lý ngành thuế

Với xuất phát điểm như vậy, cùng với sự động viên, hướng dẫn nhiệt tình của

các thầy, cô Khoa Kinh tế, tác giả mạnh dạn nghiên cứu: “Đánh giá sự hài lòng

của các doanh nghiệp với chất lượng dịch vụ hỗ trợ thuế tại Chi cục thuế Quận Thủ Đức, Tp Hồ Chí Minh” làm đề tài luận văn để bảo vệ học vị Thạc sỹ của

- Xây dựng bộ thang đo về mức độ hài lòng của doanh nghiệp với chất lượng dịch

vụ hỗ trợ thuế tại Chi cục thuế Quận Thủ Đức, Tp Hồ Chí Minh

- Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của doanh nghiệp đối với chất lượng dịch vụ hỗ trợ thuế trên địa bàn Quận Thủ Đức

- Đề xuất một số giải pháp cơ bản để hoàn thiện, cải tiến và nâng cao chất lượng dịch vụ hỗ trợ thuế tại Chi cục thuế Quận Thủ Đức, Tp Hồ Chí Minh nhằm nâng cao sự hài lòng của doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế và người nộp thuế

Trang 4

3 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành qua hai giai đoạn là nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu chính thức:

- Giai đoạn 1: Nghiên cứu sơ bộ được thực hiện thông qua phương pháp định tính với kỹ thuật phỏng vấn trực tiếp để tham khảo ý kiến chuyên gia và một số doanh nghiệp đóng trên địa bàn Quận Thủ Đức, Tp Hồ Chí Minh Trên cơ sở đó, kết hợp với cơ sở lý thuyết, xác định thang đo, khám phá, bổ sung mô hình và hoàn thiện bảng câu hỏi khảo sát

- Giai đoạn 2: Nghiên cứu chính thức cũng được thực hiện thông qua phỏng vấn trực tiếp (bằng bảng câu hỏi); Thu thập dữ liệu, phân tích, khảo sát, ước lượng, kiểm định thang đo, mô hình và giả thuyết nghiên cứu Thang đo sự hài lòng của doanh nghiệp và thang đo chất lượng dịch vụ hỗ trợ thuế đều được kiểm định bằng

hệ số tin cậy Cronbach alpha và phân tích nhân tố khám phá EFA thông qua phần mềm SPSS for Window phiên bản 18.0

- Ngoài ra, còn sử dụng các phương pháp khác như: thống kê mô tả, lấy mẫu phi xác suất, phân tích hồi quy tuyến tính bội … để phục vụ cho việc chứng minh, so sánh và phân tích của đề tài

Cơ sở dữ liệu

Dữ liệu thứ cấp:

Các báo cáo tổng kết công tác thuế của Chi cục thuế Quận Thủ Đức, Tp Hồ Chí Minh từ năm 2006 - 2010; Niên giám thống kê Quận Thủ đức Năm 2000 - 2010; Các tài liệu liên quan

Dữ liệu sơ cấp:

- Thiết kế, thu thập dữ liệu: Thảo luận với nhóm chuyên gia để đặt câu hỏi phỏng vấn, phỏng vấn thử, điều chỉnh bảng câu hỏi và tiến hành phỏng vấn (khảo sát chính thức) Trong bảng câu hỏi chính thức: thang đo hài lòng có 3 mục hỏi; thang đo chất lượng dịch vụ có 41 mục hỏi; cho điểm theothang điểm Likert từ 1 đến 5

- Lấy mẫu: Chọn mẫu phi xác suất, lấy mẫu thuận tiện cho việc khảo sát

Trang 5

- Cỡ mẫu: Thông thường thì số quan sát (cỡ mẫu) ít nhất phải bằng 4 hay 5 lần số biến trong phân tích nhân tố Trong nghiên cứu này, thang đo chất lượng dịch

vụ hỗ trợ thuế có 41 mục hỏi, thang đo sự hài lòng chung của đối tượng nộp thuế là

3 mục hỏi, được đưa vào phân tích nhân tố nên yêu cầu cỡ mẫu nhỏ nhất phải là 44

x 5 + 50 = 270 Tác giả tiến hành phát phiếu khảo sát 320 doanh nghiệp và thuđược

303 mẫu hợp lệ, vậy cỡ mẫu 303 là đạt yêu cầu nghiên cứu

Phân tích dữ liệu

Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS 18.0 for Window, sau khi được

mã hóa và làm sạch, số liệu sẽ qua các phân tích: thống kê mô tả, đánh giá độ tin cậy của các thang đo, phân tích nhân tố, phân tích hồi quy và phân tích trung bình tổng thể

Từ dữ liệu thu thập và xử lý, tác giả thực hiện các phân tích liên quan để xác định các yếu tố cấu thành chất lượng của dịch vụ hỗ trợ thuế tại chi cục thuế Quận Thủ Đức, Tp.Hồ Chí Minh; đo lường, đánh giá mức độ hài lòng của các doanh nghiệp đối với chất lượng dịch vụ hỗ trợ thuế tại chi cục thuế Quận Thủ Đức, Tp

Hồ Chí Minh để thực hiện mục tiêu thứ nhất của đề tài

Từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện dịch vụ để nâng cao mức độ hài lòng của doanh nghiệp đối với chất lượng dịch vụ hỗ trợ thuế, thực hiện mục tiêu còn lại của đề tài

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

+Phạm vi về nội dung: Đánh giá chất lượng dịch vụ hỗ trợ thuế tại Chi cục

thuế Quận Thủ Đức, Tp Hồ Chí Minh, từ đó đề xuất một số giải pháp cơ bản để hoàn thiện, cải tiến và nâng cao chất lượng dịch vụ hỗ trợ thuế tại Chi cục thuế

Trang 6

Quận Thủ Đức, Tp Hồ Chí Minh nhằm nâng cao sự hài lòng của các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế và người nộp thuế

+Phạm vi về không gian: Quận Thủ Đức, Tp Hồ Chí Minh

+Phạm vi về thời gian: Từ Đầu năm 2011 đến nay

5 Ý nghĩa của đề tài

Về mặt lý thuyết:

- Đóng góp thang đo về mức độ hài lòng của các doanh nghiệp đối với chất lượng dịch vụ hỗ trợ thuế cho chi cục thuế các Quận huyện trên địa bàn Tp.Hồ Chí Minh có thể sử dụng để khảo sát mức độ hài lòng của đối tượng nộp thuế (ĐTNT)

- Có tính tham khảo cho các nghiên cứu tiếp theo về lĩnh vực chất lượng dịch

vụ hỗ trợ thuế và sự hài lòng của ĐTNT

tư và đưa ra các chiến lược nâng cao chất lượng dịch vụ hỗ trợ thuế, cũng như hoạch định phương hướng chính sách quản lý thuế hiệu quả

6 Cấu trúc của luận văn Gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý thuyết - Mô hình nghiên cứu về chất lượng dịch vụ Chương 2: Thực trạng về mức độ hài lòng của các doanh nghiệp đối với chất lượng dịch vụ hỗ trợ thuế tại chi cục thuế Quận thủ Đức, Tp Hồ Chí Minh

Chương 3: Nâng cao chất lượng dịch vụ hỗ trợ đối tượng nộp thuế tại chi cục thuế Quận thủ Đức, Tp Hồ Chí Minh

Trang 7

Định nghĩa về dịch vụ của Phillip Kotler (2003) là định nghĩa khá tổng quát

và hoàn chỉnh: “Dịch vụ là mọi hành động và kết quả mà một bên có thể cung cấp cho bênkia, chủ yếu là vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu một cái gì đó Sản phẩm của nó có thể hay không gắn liền với một sản phẩm vật chất”

1.1.1.2 Đặc điểm của dịch vụ

Lý thuyết về marketing cho rằng dịch vụ có một số đặc tính cơ bản bao gồm:

vô hình (intangibility), không tách rời (inseparability), không đồng nhất (heterogeneity), và tính không lưu trữ (perishability)

- Tính vô hình (intangibility): Các dịch vụ được xem là sản phẩm vô hình

Không giống những sản phẩm vật chất khác, người sử dụng dịch vụ không thể nhìn thấy, cân, đo, đong, đếm, thử nghiệm, kiểm tra chất lượng trước khi mua, do vậy họ

Trang 8

thường tìm kiếm những dấu hiệu hay bằng chứng về chất lượng dịch vụ thông qua địa điểm, con người, trang thiết bị, tài liệu thông tin, biểu tượng… mà họ cảm nhận,

về phía công ty lại rất khó khăn trong việc tìm hiểu khách hàng nhận thức như thế nào về dịch vụ và chất lượng dịch vụ đó

Khi đối tượng nộp thuế sử dụng dịch vụ hỗ trợ thuế của cơ quan thuế thì họ cũng không biết chắc trước họ sẽ nhận được dịch vụ với chất lượng như thế nào, vì vậy nhiệm vụ của nhà cung ứng dịch vụ là phải “Vận dụng tất cả những bằng chứng” để “Làm cho cái vô hình trở thành cái hữu hình”, hay nói cách khác là làm cho khách hàng cảm nhận được chất lượng dịch vụ của mình

- Tính không thể tách rời (inseparability): Dịch vụ được sản xuất và tiêu

dùng đồng thời hay quá trình tạo dịch vụ cũng là quá trình cung cấp và sử dụng dịch

vụ, Khách hàng cùng tham gia vào quá trình tạo và cung cấp dịch vụ, nên sự tương tác giữa bên cung cấp dịch vụ và khách hàng là một đặc tính của kinh doanh dịch

vụ, điều này có ảnh hưởng tới kết quả dịch vụ

Đối với dịch vụ hỗ trợ thuế thì đối tượng nộp thuế tham gia vào quá trình tạo

và cung cấp dịch vụ thông qua những yêu cầu của doanh nghiệp; doanh nghiệp mô

tả những đặc thù của doanh nghiệp cùng những vướng mắc, yêu cầu cơ quan thuế thực hiện các dịch vụ hỗ trợ và kiểm tra, cảm nhận, đánh giá việc thực hiện các yêu cầu của mình

- Tính không đồng nhất (heterogeneity): Các dịch vụ được cung cấp không

đồng nhất vì phụ thuộc nhiều vào người thực hiện, thời gian, địa điểm và cách thức cung cấp dịch vụ đó Dịch vụ thường được sửa đổi để phù hợp cho mỗi khách hàng hay cho mỗi tình huống mới, việc sản xuất hàng loạt rất khó đối với dịch vụ, điều này có thể được xem là chất lượng không đồng nhất

Dịch vụ hỗ trợ thuế thể hiện tính chất này rất rõ, vì mức độ tương tác giữa người sử dụng và thực hiện cao, mỗi đối tượng nộp thuế khi tham gia vào quy trình

hỗ trợ thuế có thể tiếp xúc với nhiều công chức thuế khác nhau như: chuyên viên chính, chuyên viên, cán sự, kiểm soát viên hoặc thanh tra viên; các phòng, ban khác nhau ; cùng một vấn đề hoặc tình huống nhưng lượng thông tin đầu vào của đối

Trang 9

tượng nộp thuế cung cấp và năng lực hỗ trợ của công chức thuế khác nhau, cùng với những mối quan hệ trong quá trình này làm cho khó duy trì được chất lượng đồng nhất Tóm lại, yêu cầu của đối tượng nộp thuế và cách hỗ trợ của mỗi công chức thuế khác nhau, vì thế, việc đòi hỏi chất lượng phục vụ đồng nhất từ đội ngũ công chức thuế của cơ quan thuế sẽ là một thách thức

- Tính không lưu trữ (perishability): Dịch vụ không thể được cất giữ rồi

sau đó mang ra sử dụng vì quá trình tạo thành và sử dụng dịch vụ xảy ra đồng thời.Một dịch vụ sẽ biến mất nếu ta không sử dụng vào thời điểm nó được thực hiện, sau khi một dịch vụ được thực hiện xong không một phần nào của dịch vụ có thể phục hồi lại được Nói cách khác, dịch vụ nhạy cảm hơn những hàng hóa thông thườn,g trước những thay đổi và sự đa dạng của nhu cầu

Vấn đề của dịch vụ hỗ trợ thuế là phải nắm bắt, đáp ứng tốt nhu cầu đa dạng, thay đổi theo đặc thù của từng đối tượng nộp thuế và quan trọng là phải chính xác, kịp thời, đúng các quy định của pháp luật về thuế, nếu chậm trễ hoặc không chính xác thì kết quả dịch vụ hỗ trợ thuế sẽ không còn ý nghĩa nữa bởi "Sai một ly, đi một dặm", kéo theo là hàng loạt các vấn đề sẽ vi phạm hoặc ảnh hưởng như: hiểu sai hoặc không thống nhất cách hiểu trong việc thực hiện Luật thuế; việc hạch toán, hoạch định chiến lược kinh doanh, chiến lược tài chính của doanh nghiệp cũng sẽ

bị ảnh hưởng

Ngoài ra, theoGhobadian, Speller & Jones, 1993; Groth & Dye, 1990; Zeithaml et al., 1999; dẫn theoThongmasak 2001, dịch vụ còn có các đặc tính sau:

- Tính không thể hoàn trả (non-returnable): Dịch vụ không thể hoàn trả

lại.Tuy nhiên, trong nhiều ngành dịch vụ khách hàng, có thể được trả lại tiền nếu không hài lòng với dịch vụ cung ứng

Trong dịch vụ hỗ trợ thuế nếu đối tượng nộp thuế không hài lòng với dịch vụ thì uy tín của cơ quan thuế hoặc công chức thực hiện cung cấp dịch vụ hỗ trợ thuế

sẽ bị mất đi hoặc giảm

Trang 10

- Tính không chắc chắn trong đáp ứng nhu cầu (Needs-match

uncertainty): Các thuộc tính của dịch vụ kém chắc chắn hơn là sản phẩm hữu hình,

điều này dẫn tới dịch vụ khó đáp ứng nhu cầu hơn là sản phẩm hữu hình

- Tính quan hệ cá nhân (interpersonal): Dịch vụ có khuynh hướng bị ảnh

hưởng bởi quan hệ qua lại giữa con người hơn sản phẩm hữu hình vì dịch vụ do con người thực hiện Ví dụ: đối tượng nộp thuế đánh giá chất lượng dịch vụ hỗ trợ thuế của cơ quan thuế không chỉ ở mức độ thỏa mãn về yêu cầu được đáp ứng mà còn đánh giá cả sự cảm thông, sự chia sẻ đối với đối tượng nộp thuế; cách ứng xử, phong cách thực hiện, trang phục của công chức thuế thực hiện dịch vụ hỗ trợ thuế

- Tính cá nhân (personal): Khách hàng thường đánh giá dịch vụ dựa vào

cảm nhận cá nhân của mình

- Tính tâm lý (Psychic): Khi một dịch vụ không kịp thời, chính xác làm

khách hàng không thỏa mãn, bực bội Tuy nhiên, nếu nhân viên vẫn tỏ ra thân thiện

và nhiệt tình giúp đỡ khách hàng khắc phục sự cố thì họ sẽ có khuynh hướng vẫn vui lòng với dịch vụ này

Trường hợp cơ quan thuế có sự cố trong cung cấp dịch vụ hỗ trợ thuế, ví dụ: các đường truyền báo cáo điện tử chậm, hoặc phần mềm xử lý tờ khai bị lỗi, làm ảnh hưởng đến thời gian nộp báo cáo của đối tượng nộp thuế, nhưng các công chức thuế vẫn tỏ ra hết sức cảm thông với họ, hết lòng khắc phục sự cố, nhiệt tình hướng dẫn họ nộp bằng phương thức khác, giải quyết tình huống nhanh chóng thì họ vẫn vui lòng và đánh giá tốt việc hỗ trợ họ

Trang 11

Theo triết lý kinh doanh của Nhật Bản thì chất lượng là không có lỗi, là phải được làm đúng ngay từ đầu

Hay W Edward Deming một trong những chuyên gia hàng đầu của Mỹ về chất lượng, định nghĩa rằng: “Chất lượng là tập hợp những đặc tính có thể đo lường được của sản phẩm và dịch vụ phù hợp với nhu cầu của khách hàng tại mức chi phí được thị trường chấp nhận”

Lehtinen & Lehtinen (1982) cho rằng: chất lượng dịch vụ phải được đánh giá trên hai khía cạnh: 1/ Quá trình cung cấp dịch vụ 2/.Kết quả của dịch vụ

Gronroos (1984) cho rằng chất lượng dịch vụ gồm hai yếu tố là: 1/.Chất lượng kỹ thuật và 2/.Chất lượng chức năng Trong đó chất lượng kỹ thuật liên quan đến những gì được phục vụ, còn chất lượng chức năng cho biết chúng được phục vụ như thế nào

Hoặc Joseph M.Juran (1995) cho rằng: “Chất lượng là sự phù hợp khi sử dụng, điều này do người sử dụng đánh giá”

Theo định nghĩa của Yuksel Ekinsi (2002): “Chất lượng là làm đúng việc phải làm ngay từ đầu và càng ngày càng tốt hơn”

Tuy nhiên, mỗi khách hàng đều có nhận thức và nhu cầu khác nhau nên cảm nhận về chất lượng dịch vụ cũng khác nhau, do đó việc tham gia của khách hàng vào quá trình phát triển và đánh giá chất lượng dịch vụ là rất quan trọng, vì thế, tác

giả chọn định nghĩa chất lượng dịch vụ theo Parasuraman và các đồng sự (1985) là

“chất lượng dịch vụ được định nghĩa dựa trên mức độ nhận thức của khách hàng về

Trang 12

quan hệ với tổ chức và mua các sản phẩm hay dịch vụ của tổ chức Khách hàng bên trong là các bộ phận chức năng của chính tổ chức còn gọi là khách hàng nội bộ

Đối tượng của nghiên cứu này là các doanh nghiệp vì thế khái niệm khách hàng trong nghiên cứu này được hiểu khách hàng bên ngoài là đối tượng phục vụ của cơ quan thuế

1.1.2.2 Sự hài lòng (thỏa mãn) của khách hàng

Theo Oliver (1997) định nghĩa sự thỏa mãn của khách hàng là một phản ứng mang tính cảm xúc của họ đối với việc được đáp ứng những mong muốn

Theo Phillip Kotler (2003) sự thỏa mãn là mức độ trạng thái cảm giác của con người bắt nguồn từ việc so sánh kết quả nhận được từ sản phẩm hay dịch vụ so với những kỳ vọng của người đó Mức độ thỏa mãn của khách hàng là hàm của sự khác biệt giữa kết quả nhận được và kỳ vọng Khách hàng có thể cảm nhận một trong ba mức độ thỏa mãn sau:

- Không hài lòng, nếu kết quả thực tế kém hơn so với kỳ vọng

- Hài lòng, nếu kết quả thực tế tương xứng với kỳ vọng

- Thích thú, nếu kết quả thực tế vượt quá sự kỳ vọng

Kỳ vọng của khách hàng được hình thành trên cơ sở kinh nghiệm, thông tin

có được từ nhiều nguồn khác nhau như bạn bè quảng cáo, giới thiệu của chính doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Các thông tin này tạo cho khách hàng một nhận thức chủ quan về chất lượng của dịch vụ và do vậy hình thành kỳ vọng của khách hàng Ngược lại, nhận thức thật sự về chất lượng chỉ được hình thành khi khách hàng mua và sử dụng dịch vụ.Chất lượng được nhận thức (perceived quality) không mang tính khách quan vì nó phụ thuộc vào sự thẩm định, đánh giá của từng khách hàng theo tiêu chuẩn riêng của từng người mà mỗi khách hàng lại có cá tính, nhu cầu, sở thích riêng… Do vậy, sự thỏa mãn chỉ xuất hiện khi chất lượng được khách hàng nhận thức bằng hoặc vượt chất lượng của khách hàng kỳ vọng (expected quality)

Trang 13

1.1.3 Mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ và sự hài lòng

Sự hài lòng của khách hàng và chất lượng dịch vụ là hai khái niệm phân biệt nhưng có quan hệ gần gũi với nhau Chất lượng dịch vụ là khái niệm mang tính khách quan, nhận thức đánh giá Hài lòng là sự kết hợp của các thành phần mang tính chủ quan, dựa vào cảm giác, xúc cảm (Shemwell et al., 1998, dẫn theo Thongmasak)

Quan hệ giữa chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng vẫn còn có nhiều ý kiến khác nhau sự hài lòng là tiền tố (antecedent) của chất lượng dịch vụ hay ngược lại? Những nhà nghiên cứu Parasuraman, Zeithaml, Bitner, Bolton và Drew ủng hộ quan điểm sự hài lòng dẫn tới chất lượng dịch vụ, coi chất lượng dịch

vụ như là sự lượng giá tổng quát dài hạn, trong khi sự hài lòng là sự đánh giá chuyên biệt qua giao dịch

Các nhà nghiên cứu khác như Cronin, Taylor, Spreng, Mackoy và Oliver khuyến cáo rằng chất lượng dịch vụ là tiền tố của sự hài lòng của khách hàng và ảnh hưởng có ý nghĩa đến khuynh hướng mua hàng

Nhiều nhà nghiên cứu khác cho rằng chất lượng dịch vụ là thành phần duy nhất tạo nên sự thỏa mãn của khách hàng Những nhà nghiên cứu của trường phái này cho rằng sự thỏa mãn của khách hàng phụ thuộc hoàn toàn vào chất lượng dịch

Trang 14

dịch vụ công, chủ yếu là phục vụ để nâng cao uy tín của cơ quan thuế của một địa phương, một quốc gia (so với địa phương khác, quốc gia khác thông qua sự đánh giá của đối tượng nộp thuế)

Tuy nhiên, mục tiêu, đối tượng và phạm vi của nghiên cứu này chỉ tập trung

đo lường mức độ hài lòng của các doanh nghiệp đối với chất lượng dịch vụ hỗ trợ thuế của cơ quan thuế - chi cục thuế Quận thủ Đức, Tp Hồ Chí Minh (là một trong những dịch vụ công, chủ yếu là để phục vụ công dân, các tổ chức và cá nhân có liên quan) vì vậy tác giả không xem xét đến mối quan hệ giữa yếu tố giá cả và sự thỏa mãn, cũng như giữa giá cả và chất lượng dịch vụ

1.2 Các mô hình nghiên cứu đánh giá về chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng

1.2.1 Mô hình đo lường chất lượng dịch vụ của Gronroos

Theo Gronross (1988), chất lượng dịch vụ của nhận thức của khách hàng (mà ông gọi là sự thỏa mãn của khách hàng) gồm 2 thành phần (Hình 1.2):

Hình 1.1: Các yếu tố ảnh hưởng đến thỏa mãn khách hàng

Nguồn: Zeithaml, Valarie A & Bitner M.J., 2000

Giá cả

Thỏa mãn khách hàng

Yếu tố tình huống

Yếu tố

cá nhân

Trang 15

- Chất lượng kỹ thuật (technical quality): là những gì khách hàng nhận được

như là kết quả của quá trình tương tác với dịch vụ của nhà cung cấp, trong đó

gồm các thành phần: 1/ Trình độ nghiệp vụ và 2/ kỹ năng

- Chất lượng chức năng (functional quality): là cảm nhận của khách hàng về

cách thức nhận được dịch vụ như thế nào, trong đó gồm các thành phần: 1/

Thái độ và hành vy; 2/ Sự gầngũi, cảm thông; 3/ Sự tin cậy; 4/ Sự phục hồi;

5/ Danh tiếng và sự tín nhiệm

Mô hình chất lượng dịch vụ của Gronross (1988) góp phần rất lớn trong việc giải thích cho chúng ta những khía cạnh khác nhau của chất lượng dịch vụ Mô hình này không những mô tả quan hệ giữa các thành phần trong khái niệm, mà còn định hướng cho việc áp dụng thực tế để đo lường và cải tiến chất lượng dịch vụ Mặc dù

có những hạn chế nhất định về mẫu nghiên cứu; độ giá trị và tin cậy của thang đo (More1994), mô hình này đã được sử dụng trong một số nghiên cứu, và phù hợp với các nghiên cứu về đo lường chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe nhiều hơn Tuy nhiên, hạn chế lớn nhất của mô hình này là tập trung hướng vào lý thuyết chất lượng dịch vụ hơn là cung cấp những cơ sở thực nghiệm đủ mạnh về giá trị của mô hình và các thành phần

Trang 16

1.2.2 Mô hình chất lượng dịch vụ và thỏa mãn khách hàng SERVQUAL

Theo Yuksel Erinci (2002), tính phức tạp của việc định nghĩa các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ dẫn đến việc phát triển nhiều mô hình đa thành phần, tiêu biểu là của hai trường phái: Bắc Mỹ (Parasuraman, Zeithaml & Berry,1985) và

Bắc Âu (Gronross,1984; Lehtinen & Lehtinen, 1991)

Trường phái Bắc Mỹ ảnh hưởng lớn bởi Parasuraman và các đồng sự (1985)

là những người tiên phong trong nghiên cứu chất lượng dịch vụ một cách chi tiết và

THỎA MÃN KHÁCH HÀNG

Hình 1.2 - Mô hình chất lượng dịch vụ của Gronross

Nguồn: Gronroos (1988), Service quality: The six criteria of good perceived service quality, Review of Business, 10-13

Trang 17

cụ thể qua mô hình và thang đo 5 khoảng cách trong chất lượng dịch vụ SERVQUAL (Hình 1.3)

- Khoảng cách 1: Khoảng cách này xuất hiện khi có sự khác biệt giữa kỳ

vọng thật của khách hàng và nhận thức của nhà cung cấp về kỳ vọng của khách hàng: đây là khoảng cách gây thiệt hại nhiều nhất trong nỗ lực thỏa mãn khách hàng

khi các nhà quản lý không nắm bắt được nhu cầu và mong muốn của khách hàng

- Khoảng cách 2: Khoảng cách này xuất hiện khi nhà cung cấp gặp khó

khăn trong việc chuyển đổi nhận thức của mình về kỳ vọng của khách hàng thành những đặc tính của chất lượng dịch vụ Khoảng cách này vẫn có thể tồn tại ngay cả

khi nhà cung cấp hiểu rõ kỳ vọng của khách hàng nhưng vẫn không thể đáp ứng được khi chuyển thành những tiêu chí cụ thể của chất lượng dịch vụ và chuyển giao dịch vụ đến khách hàng Khoảng cách này thường bị ảnh hưởng bởi mức độ cam kết

về chất lượng của nhà quản lý, năng lực của đội ngũ nhân viên và tính không ổn

định, tình huống diễn ra của dịch vụ

- Khoảng cách 3: Khoảng cách này xuất hiện khi các nhân viên phục vụ

không chuyển giao được dịch vụ đến cho khách hàng theonhững tiêu chí chất lượng

đã đặt ra

- Khoảng cách 4: Khoảng cách này xảy ra khi có sự khác biệt giữa cảm

nhận của khách hàng về chất lượng dịch vụ được cung cấp với kỳ vọng của khách hàng từ việc hứa hẹn của nhà cung cấp hoặc qua các phương tiện thông tin, quảng cáo, và các nguồn khác tác động

- Khoảng cách 5: Khoảng cách này xuất hiện khi có sự khác biệt giữa chất

lượng được kỳ vọng bởi khách hàng và chất lượng dịch vụ mà họ nhận thức được

Các tiếp cận của Parasuraman về vấn đề đo lường chất lượng dịch vụ và sự thỏa mãn của khách hàng dựa trên khoảng cách này Parasuraman và các đồng sự (1985) cho rằng chất lượng dịch vụ là hàm số của khoảng cách thứ 5 mà khoảng cách thứ 5 này lại phụ thuộc vào các khoảng cách 1; 2; 3; 4 trước đó Do vậy, để sự thỏa mãn

về chất lượng dịch vụ do khách hàng cảm nhận càng tăng hay khoảng cách thứ 5 càng rút ngắn thì nhà cung cấp phải nỗ lực rút ngắn các khoảng cách kia

Trang 18

Mô hình chất lượng dịch vụ (Parasuraman & ctg, 1985) biểu diễn như sau:

CLDV = f{(KC_ 5) = f (KC_1; KC_2; KC_3; KC_ 4)}

(trong đó: CLDV là chất lượng dịch vụ; KC_1,2,3,4,5 là khoảng cách chất lượng 1,2,3,4,5)

Trang 19

Ban đầu, Parasuraman và các đồng sự (1988) cho rằng trong bất kỳ lĩnh vực dịch vụ nào, chất lượng được khách hàng cảm nhận đều có thể được mô hình hóa

Nhận thức của các nhà quản lý dịch vụ về kỳ vọng của khách hàng

Thông tin đến khách hàng Chuyển giao dịch vụ

Nguồn: Parasuraman, A.Berry, Leonard L.; Zeithaml & Valarie A (1985) - tr.44

Các nhu cầu

cá nhân

Hình1.3 Mô hình chất lượng dịch vụ SERVQUAL

Trang 20

bằng 10 thành phần (dimension) như sau: 1/ Tin cậy (reliability); 2/ Đáp ứng (responsiveness); 3/ Năng lực phục vụ (competence); 4/ Tiếp cận (accessibility); 5/ Lịch thiệp (courtesy); 6/ Truyền đạt (communication); 7/ Tín nhiệm

(credibility); 8/ An toàn (security); 9/ Thấu hiểu khách hàng

(understanding/knowing the customer); 10/ Phương tiện hữu hình (tangibility)

Ưu điểm của mô hình khái niệm này là nó bao quát được hầu hết các khía cạnh của dịch vụ nhưng lại có nhược điểm là rất phức tạp trong việc đo lường và đánh giá (Cronin & Tay lor 1992) Hơn nữa, mô hình này mang tính lý thuyết và có thể có một số thành phần trong mô hình không đạt giá trị phân biệt vì vậy, sau nhiều lần kiểm định, Parasuraman và các đồng sự đã rút gọn mô hình nghiên cứu còn 5 thành phần:

- Tin cậy (reliability): Thể hiện khả năng thực hiện dịch vụ một cách đáng tin

cậy, chính xác và đúng thời hạn ngay từ lần đầu tiên;

- Đáp ứng (responsiveness): Thể hiện qua sự sẵn lòng giúp đỡ và cung cấp

dịch vụ kịp thời cho khách hàng;

- Năng lực phục vụ (assurance): Thể hiện qua trình độ chuyên môn, nghiệp

vụ và cung cách phục vụ lịch sự nhã nhặn đối với khách hàng;

- Đồng cảm (empathy): Thể hiện qua sự ân cần, quan tâm chăm sóc từng

khách hàng;

- Phương tiện hữu hình (tangibility): Thể hiện qua ngoại hình, trang phục của

nhân viên và cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho khách hàng

Mô hình chất lượng dịch vụ SERVQUAL là một trong những đóng góp được tiếp nhận nhiều nhất và có giá trị tốt nhất vào các tài liệu nghiên cứu về dịch vụ (Brown và Bond, 1995; dẫn theo Arsah Shahin) Mô hình này nhận dạng 5 khoảng cách liên quan đến nhận thức về phía quản lý chất lượng dịch vụ và các nhiệm vụ kết hợp với khâu phân phối dịch vụ cho khách hàng Khoảng cách 2, 3, 4 được nhìn nhận như là chức năng của phân phối dịch vụ, khoảng cách 1, 5 liên quan tới khách hàng nên nó được xem là thước đo thật sự về chất lượng dịch vụ Từ đó, hình thành phương pháp luận của thang đo SERVQUAL

Trang 21

Thang đo SERVQUAL

Từ mô hình trên, Parasuraman, Zeithhaml và Berry (gọi tắt là PZB) vào năm

1988 đã đưa ra thang đo chất lượng dịch vụ SERVQUAL đo lường chất lượng dịch

vụ bằng cách tính toán khác biệt giữa mong đợi và cảm nhận của khách hàng Khách hàng được yêu cầu cho điểm mong đợi và cảm nhận của họ về thang điểm Likert từ 1 đến 5 hoặc từ 1 đến 7 (hoàn toàn không đồng ý đến hoàn toàn đồng ý)

Khoảng cách giữa mong đợi và cảm nhận được tính bằng hiệu số giữa cảm nhận

và mong đợi.Điểm dương chỉ ra dịch vụ được thực hiện tốt hơn những gì khách

hàng mong đợi, điểm âm chỉ ra dịch vụ có chất lượng kém

Trên thực tế, công cụ SERVQUAL đã được rất nhiều nhà nghiên cứu, các tổ chức thuộc các lĩnh vực dịch vụ khác nhau và ở những thị trường khác nhau vận dụng để đánh giá chất lượng dịch vụ và sự thỏa mãn khách hàng Kết quả kiểm định cho thấy các thành phần chất lượng dịch vụ không thống nhất với nhau ở từng ngành dịch vụ khác nhau, có những thành phần không đạt giá trị phân biệt (Yuksel Ekinsi, 2002) Chính vì vậy khi áp dụng vào nghiên cứu thực tế các ngành dịch vụ,

số lượng các nhân tố cấu thành chất lượng có thể ít hoặc nhiều hơn 5 thành phần kể trên Sự khác nhau đó có thể là do sự tương đương giữa các thành phần đối với một công ty cung cấp dịch vụ Những nhân tố của chất lượng dịch vụ có thể thay đổi tùy thuộc vào ngành hay lĩnh vực nghiên cứu (Bakabus và Boller, 1992; Cronin và Taylor, 1992; dẫn theo Bùi Nguyên Hùng, Võ Khánh Toàn, 2005, Đoàn Ngọc Phả, 2007) còn cho rằng, ở mức độ tổng quát, cấu trúc 5 thành phần của SERVQUAL có thể phục vụ như là khung khái niệm có ý nghĩa để tóm tắt những tiêu chuẩn mà khách hàng dùng để đánh giá chất lượng dịch vụ; đồng thời, các ông cũng đưa ra chỉ dẫn là:

- Nên dùng SERVQUAL một cách toàn bộ;

- Hoặc có thể bổ sung vào SERVQUAL những mục hỏi chuyên biệt cho từng ngành dịch vụ nghiên cứu nhưng phải tương tự với các mục hỏi của SERVQUAL

và sắp xếp vào một trong những thành phần của SERVQUAL;

Trang 22

- SERVQUAL có thể bổ sung một cách hiệu quả bằng những nghiên cứu định tính hoặc định lượng để vạch ra nguyên nhân các khoảng cách được nhận ra bởi SERVQUAL

1.2.3 Một số nghiên cứu sử dụng thang đo SERVQUAL ở Việt Nam trước đây

Tại Việt Nam, tác giả Nguyễn Đình Thọ và đồng sự (2003) là những nhà nghiên cứu tiên phong kiểm định mô hình lý thuyết SERVQUAL (Hình 1.4) về mối quan hệ giữa 5 thành phần chất lượng dịch vụ, cũng như khả năng giải thích của từng thành phần này cho sự thỏa mãn khách hàng đối với chất lượng dịch vụ vui chơi giải trí ngoài trời ở TP.HCM Kết quả nghiên cứu cho thấy mô hình này phù hợp với thông tin thị trường, có thể tham khảo cho các nghiên cứu hàn lâm về chất lượng ở các ngành dịch vụ khác nhau tại thị trường Việt Nam

Trang 23

Tác giả Nguyễn Thị Bích Thủy (2010), Khoa Tài chánh nhà nước, Trường Đại

học Kinh tế TP HCM, sử dụng thang đo SERVQUAL đã điều chỉnh để "Đánh giá

sự hài lòng của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đối với chất lượng dịch vụ

hổ trợ thuế tại cục thuế Đồng Nai" với cỡ mẫu n = 222 mẫu Bảng câu hỏi có 41 biến quan sát thuộc 5 thành phần đo lường chất lượng dịch vụ và 3 biến liên quan đến đo lường mức độ hài lòng của người dân

Qua phân tích, đánh giá, tất cả thang đo của các nghiên cứu trên đều có hệ số

độ tin cậy chấp nhận được (Cronbach alpha>0.6) Các thành phần được nhóm lại phù hợp.Kết quả phân tích hồi qui, hồi qui tuyến tính bội có R2 đều từ 0.5 trở lên Các biến độc lập đều có quan hệ dương với sự hài lòng

1.2.4 Mô hình và giả thuyết nghiên cứu của đề tài

1.2.4.1 Mô hình nghiên cứu đề xuất

Từ việc xem xét và phân tích ưu, nhược điểm của các mô hình nghiên cứu trên, cho thấy mô hình quan hệ giữa chất lượng dịch vụ và sự thỏa mãn khách hàng của Parasuraman và các đồng sự là mô hình nghiên cứu chất lượng dịch vụ gồm các thành phần đặc trưng bao quát nhất

So với các công cụ khác, đặc biệt là về cơ sở lý thuyết vững chắc thể hiện qua các thành phần khái niệm và thang đo SERVQUAL phù hợp không chỉ với một loại dịch vụ Ngoài ra, ở nước ta chưa có thang đo chính xác về lĩnh vực dịch vụ công Với những đặc điểm và ưu thế nêu trên, SERVQUAL rất phù hợp với việc đo lường sự thỏa mãn của ĐTNT đối với chất lượng dịch vụ hỗ trợ thuế Do vậy, tác giả vận dụng mô hình SERVQUAL của Parasuraman và các đồng sự (1985) làm mô hình đề xuất cho nghiên cứu này để đo lường mức độ thỏa mãn của các doanh nghiệp đối với chất lượng dịch vụ hỗ trợ thuế tại chi cục thuế Quận thủ Đức, Tp Hồ Chí Minh (Hình 1.5)

Trang 24

Mô hình gồm 5 biến độc lập:

(1) Tin cậy: thể hiện qua việc ĐTNT tin vào khả năng thực hiện dịch vụ hỗ

trợ thuế của cơ quan thuế là phù hợp và đúng đắn;

(2) Đáp ứng: thể hiện qua sự mong muốn và sẵn sàng của công chức thuế

hoặc cơ quan thuế trong việc giúp đỡ, phục vụ, cung cấp dịch vụ kịp thời, chính xác cho ĐTNT;

(3) Năng lực phục vụ: thể hiện qua trình độ chuyên môn và cung cách phục

vụ lịch sự, nhã nhặn của công chức thuế đối với ĐTNT

(4) Đồng cảm: thể hiện thái độ quan tâm, thấu hiểu của công chức thuế đến

từng ĐTNT khi có yêu cầu hỗ trợ;

(5) Phương tiện vật chất: thể hiện qua trang phục công chức, môi trường

làm việc, trang thiết bị phục vụ cho dịch vụ hỗ trợ thuế;

H5 H4 H3

NĂNG LỰC PHỤC VỤ

PHƯƠNG TIỆN VẬT CHẤT

Hình 1.5 - Mô hình nghiên cứu đề xuất

Chất lượng dịch vụ

hỗ trợ thuế

Trang 25

Và 1 biến phụ thuộc: Mức độ hài lòng chungcủa đối tượng nộp thuế: thể

hiện mức độ thỏa mãn của ĐTNT đối với chất lượng dịch vụ hỗ trợ thuế

1.2.4.2 Các giả thuyết nghiên cứu

Các giả thuyết về mối quan hệ giữa các thành phần chất lượng dịch vụ hỗ trợ thuế của chi cục thuế Quận thủ Đức, Tp Hồ Chí Minh và mức độ hài lòng của doanh nghiệp, gồm:

Giả thuyết 1 (H1): Có quan hệ đồng biến giữa mức độ tin cậy của ĐTNT

đối với dịch vụ hỗ trợ thuế của chi cục thuế Quận thủ Đức, Tp Hồ Chí Minh với

mức độ hài lòng của họ;

Giả thuyết 2 (H2): Có quan hệ đồng biến giữa mức độ đáp ứng của dịch vụ

hỗ trợ thuế của chi cục thuế Quận thủ Đức, Tp Hồ Chí Minh do ĐTNT đánh giá với

mức độ hài lòng của họ;

Giả thuyết 3 (H3): Có quan hệ đồng biến giữa năng lực phục vụ của công

chức thuế với mức độ hài lòng của ĐTNT;

Giả thuyết 4 (H4): Có quan hệ đồng biến giữa mức độ đồng cảm của công

chức thuế với mức độ hài lòng của ĐTNT;

Giả thuyết 5 (H5): Có quan hệ đồng biến giữa phương tiện vật chất của

dịch vụ hỗ trợ thuế của cơ quan thuế với mức độ hài lòng của ĐTNT

1.3 Kết luận chương Tóm lại, chương 1 đã trình bày cơ sở lý thuyết về sự hài lòng

của ĐTNT; chất lượng dịch vụ và một số mô hình nghiên cứu trước đây Chương này cũng đã đưa ra mô hình nghiên cứu đề xuất và giả thuyết về mối liên hệ giữa các thành phần chất lượng dịch vụ hỗ trợ thuế với mức độ thỏa mãn của ĐTNT

Trang 26

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VỀ MỨC ĐỘ HÀI LÒNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP ĐỐI VỚI CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ HỖ TRỢ THUẾ TẠI CHI CỤC THUẾ QUẬN THỦ

ĐỨC, Tp HỒ CHÍ MINH

Chương 1 trình bày tổng quan lý thuyết về sự hài lòng của khách hàng trong dịch vụ; Các khái niệm về dịch vụ, chất lượng dịch vụ, sự hài lòng; mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ và sự hài lòng

Để đánh giá "Thực trạng về mức độ hài lòng của các doanh nghiệp đối với chất lượng dịch vụ hỗ trợ thuế tại chi cục thuế Quận thủ Đức, Tp Hồ Chí Minh", đưa ra các giải pháp cải thiện mức độ hài lòng của người nộp thuế, chương 2 trình bày:

- Tổng quan về quá trình cải cách và hiện đại hóa ngành thuế Việt Nam;

- Phương pháp nghiên cứu gồm:

1/ Thiết kế nghiên cứu

2/ Nghiên cứu định tính

3/ Nghiên cứu định lượng

Qua đó giới thiệu quy trình nghiên cứu từ việc xác định thang đo và thiết kế bảng câu hỏi, phương pháp chọn mẫu, cỡ mẫu và cách thức thu thập thông tin, xác định phạm vi nghiên cứu cho đến các kỹ thuật phân tích dữ liệu

- Kết quả nghiên cứu gồm các phân tích: thống kê mô tả, Cronbach Alpha,

nhân tố khám phá, hồi quy tuyến tính bội, trung bình tổng thể và các phân tích khác

2.1 Tổng quan về quá trình cải cách và hiện đại hóa ngành thuế Việt Nam giai đoạn 2005 - 2010

2.1.1 Mục tiêu tổng quát

- Xây dựng hệ thống chính sách thuế đồng bộ, có cơ cấu hợp lý phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, gắn với hiện đại hóa công tác quản lý công tác quản lý thuế nhằm đảm bảo chính sách động viên thu nhập quốc dân, đảm bảo nguồn tài chính phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất

Trang 27

nước; Góp phần thực hiện bình đẳng, công bằng xã hội và chủ động hội nhập kinh

tế quốc tế

- Cải cách hành chính thuế theohướng người nộp thuế tự khai, tự tính, tự nộp thuế; hệ thống thuế được tổ chức quản lý theochức năng kết hợp với quản lý đối tượng nộp thuế

- Xây dựng ngành thuế Việt Nam tiên tiến, hiện đại và chuyên nghiệp nhằm đảm bảo thực thi tốt pháp luật thuế; đảm bảo quản lý thuế công bằng, minh bạch và hiệu lực, hiệu quả theo các chuẩn mực quốc tế; phục vụ tốt đối tượng nộp thuế, tăng tính tự giác tuân thủ pháp luật về thuế của đối tượng nộp thuế; đảm bảo nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước nhằm phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

- Xây hệ thống chính sách thuế đồng bộ, thống nhất, công bằng, hiệu quả, phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mức động viên hợp lý nhằm tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất trong nước và là một trong những công

cụ quản lý kinh tế vĩ mô có hiệu quả, hiệu lực của Đảng và Nhà nước Xây dựng ngành thuế Việt Nam hiện đại, hiệu lực, hiệu quả; Công tác quản lý thuế, phí và lệ phí thống nhất, minh bạch, đơn giản, dễ hiểu, dễ thực hiện dựa trên ba nền tảng cơ bản: Thể chế chính sách thuế minh bạch, quy trình thủ tục hành chính thuế đơn giản, khoa học phù hợp với thông lệ quốc tế; nguồn nhân lực có chất lượng, liêm chính; ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại, có tính liên kết, tích hợp, tự động hóa cao

2.1.2 Mục tiêu cụ thể

- Hiện đại hóa công tác quản lý thuế, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý, kiểm soát cho được tất cả các đối tượng chịu thuế, đối tượng nộp thuế, hạn chế thất thu ở mức thấp nhất, đảm bảo thu đúng, thu đủ, thu kịp thời các khoản thu vào Ngân sách Nhà nước

- Cải cách cơ chế quản lý thuế theohướng đề cao nghĩa vụ của người nộp thuế trong việc tự tính, tự khai, tự nộp thuế và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật

Trang 28

- Cung cấp các dịch vụ và hỗ trợ đối tượng nộp thuế với chất lượng cao nhằm nâng cao tính tuân thủ, tự giác thực thi các luật thuế của các đối tượng nộp thuế với thời gian nhanh nhất, chi phí ít nhất

- Hiện đại hóa công tác thanh tra, kiểm tra về thuế đảm bảo thanh tra, kiểm tra, thunợ và cưỡng chế có hiệu lực nhằm giám sát tốt việc tuân thủ pháp luật về thuế; chống thất thu thuế

- Xây dựng các quy trình, thủ tục quản lý thuế đơn giản và đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của công tác quản lý thuế theocơ chế tự khai - tự nộp thuế; thực hiện nguyên tắc "một cửa" trong việc giải quyết các công việc về thuế

- Xây dựng cơ cấu, tổ chức bộ máy quản lý thuế chủ yếu theochức năng quản

lý, trong đó có chức năng chính như tuyên truyền, hỗ trợ cho đối tượng nộp thuế;

kiểm tra, thanh tra, điều tra, xử lý các vi phạm về thuế, cưỡng chế thu nợ thuế Chức năng, nhiệm vụ của các bộ phận, cơ cấu thuộc cơ quan thuế được quy định rõ ràng, phù hợp với cơ chế "tự khai - tự nộp thuế" và quy trình quản lý nói trên

- Xây dựng đội ngũ cán bộ thuế chuyên sâu, chuyên nghiệp theo yêu cầu quản lý thuế hiện đại, thành thạo ứng dụng công nghệ tin học vào các khâu quản lý thuế; có ý thức tổ chức kỷ luật và trách nhiệm pháp luật cao, có phẩm chất đạo đức tốt, có phong cách ứng xử văn minh thích hợp với thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa

2.1.3 Chức năng tuyên truyền, hỗ trợ đối tượng nộp thuế của quản lý thuế trong

cơ chế tự kê khai, tự nộp thuế

2.1.3.1 Khái niệm cơ chế tự kê khai, tự nộp thuế

Cơ chế tự kê khai, tự nộp thuế là cơ chế quản lý thuế trong đó người nộp thuế tự giác tuân thủ thực hiện các nghĩa vụ thuế; người nộp thuế (NNT) căn cứ các qui định tại các Luật thuế để xác định nghĩa vụ thuế của mình, tự kê khai, nộp tờ khai thuế và nộp thuế chính xác, đúng thời hạn Cơ quan thuế không can thiệp vào việc thực hiện nghĩa vụ thuế của người nộp thuế nếu người nộp thuế tự giác tuân

thủ nghĩa vụ của mình Cơ quan thuế có trách nhiệm tuyên truyền, hỗ trợ, hướng

dẫn để người nộp thuế hiểu rõ và tự giác thực hiện nghĩa vụ thuế, đồng thời giám

Trang 29

sát chặt chẽ việc tuân thủ nghĩa vụ thuế của người nộp thuế và thông qua công tác kiểm tra, thanh tra để phát hiện, xử lý kịp thời, đúng đắn những hành vi gian lận, trốn thuế của người nộp thuế

2.1.3.2 Điều kiện thực hiện cơ chế tự kê khai, tự nộp thuế hiệu quả

Để thực hiện tốt cơ chế tự kê khai, tự nộp thuế đòi hỏi phải có đầy đủ và đồng bộ nhiều yếu tố như: trình độ và sự nhận thức của người dân về nghĩa vụ thuế, chính sách pháp luật thuế, tổ chức quản lý thuế, nghiệp vụ quản lý thuế, trình độ của cán bộ thuế và các thẩm quyền cần thiết của cơ quan thuế trong quản lý thuế:

- Người nộp thuế phải có được hiểu biết cơ bản về nghĩa vụ thuế; ĐTNT có ý thức tuân thủ nghĩa vụ thuế; cộng đồng xã hội biết lên án những hành vi gian lận trốn thuế

- Các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan có trách nhiệm cung cấp cho cơ quan thuế những thông tin về ĐTNT liên quan đến việc xác định nghĩa vụ thuế của ĐTNT

- Chính sách thuế phải rõ ràng, dễ hiểu và dễ thực hiện

- Bộ máy quản lý thuế ở cơ quan thuế các cấp phải tổ chức tập trung theo các chức năng: tuyên truyền, hỗ trợ ĐTNT; theo dõi, xử lý việc kê khai thuế; đôn đốc thu nợ và cưỡng chế thuế; kiểm tra, thanh tra thuế để nhằm chuyên môn hóa, nâng cao năng lực quản lý thuế ở từng chức năng Trên cơ sở đó, phải có:

Hệ thống dịch vụ hỗ trợ ĐTNT toàn diện, có chất lượng;

Hệ thống cưỡng chế thunợ hiệu quả;

Hệ thống thanh tra có mục tiêu rõ ràng

- Hệ thống xử phạt nghiêm khắc, cơ quan thuế có đủ thẩm quyền về điều tra,

đủ điều kiện về cưỡng chế thuế để phát hiện và xử lý nghiêm, kịp thời những trường hợp gian lận, trốn thuế, chây ì nợ thuế, thu hồi đủ số tiền thuế cho ngân sách nhà nước và đảm bảo sự công bằng trong quản lý thuế

- Hệ thống giải quyết khiếu nại hoạt động hiệu quả

- Quản lý thuế phải dựa trên kỹ thuật hiện đại - kỹ thuật quản lý rủi ro, trên

cơ sở đó nâng cao hiệu quả thông qua việc tập trung phân bổ nguồn lực quản lý đối

Trang 30

với các ĐTNT không tuân thủ nghĩa vụ thuế gây rủi ro cao, ảnh hưởng lớn đến nguồn thu ngân sách nhà nước

- Quy trình quản lý của cơ quan thuế tốt và được hỗ trợ bằng tin học hóa

- Cán bộ thuế được đào tạo có đủ kiến thức, năng lực để thực hiện quản lý thuế chuyên sâu, chuyên nghiệp của từng chức năng quản lý

2.1.4 Kết quả cải cách cụ thể đã đạt được

- Hình thành hệ thống chính sách thuế được ban hành dưới hình thức Luật, pháp lệnh, tạo cơ sở pháp lý cao, bao quát hầu hết các nguồn thu, động viên một phần thu nhập của doanh nghiệp, dân cư; xóa bỏ sự chênh lệch về nghĩa vụ thuế giữa các thành phần kinh tế trong nước, thu hẹp chênh lệch về nghĩa vụ thuế giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài… tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng trong cơ chế thị trường

- Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực thuế đã ứng dụng chính sách thuế tiên tiến, hiện đại của Quốc tế vào hệ thống thuế Việt Nam, từng bước hoàn thiện để phù hợp với yêu cầu hội nhập; vừa bảo hộ trong nước, vừa chủ động thực hiện chính sách

mở cửa để thu hút đầu tư, tự do hóa thương mại, thực hiện lộ trình cam kết về thuế với các nước và tổ chức Quốc tế khác; tạo môi trường thuận lợi khuyến khich đầu

tư nước ngoài vào Việt Nam; thu hút các nhà nghiên cứu, các giáo sư, các chuyên gia nước ngoài đầu tư chất xám vào Việt Nam

- Hệ thống thuế từng bước tiến tới đơn giản, rõ ràng, tạo điều kiện giảm chi phí hành chính thuế cho cả người nộp thuế và cơ quan thuế

Trang 31

Về Quản lý thuế

Thực hiện chiến lược cải cách hệ thống thuế đến năm 2010 đã được Bộ Chính trị phê duyệt, cùng với việc hoàn thiện và xây dựng mới các Luật về chính sách thuế, dự án Luật Quản lý thuế đã được xây dựng và ban hành nhằm khắc phục các hạn chế trong công tác quản lý thuế, hình thành một hệ thống tổ chức quản lý thuế thống nhất trong cả nước ngày càng được củng cố và tăng cường về mọi mặt; chịu sự lãnh đạo song trùng của ngành dọc và cấp ủy, chính quyền địa phương; đáp

ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế Đồng thời đẩy

mạnh chức năng tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế; đánh giá mức độ tuân thủ

pháp luật thuế của người nộp thuế cũng như chất lượng phục vụ trong công tác

quản lý thuế của cơ quan thuế và công chức thuế

Cùng với cả nước, Tp Hồ Chí Minh, chi cục thuế Quận thủ Đức từ sau khi có Luật Quản lý thuế cũng đã đạt được những kết quả nhất định trong việc xây dựng hệ thống quản lý thuế theo hướng cải cách, tự kê khai, tự nộp thuế như:

- Đã tổ chức bộ máy quản lý với mô hình chức năng: tuyên truyền và hỗ trợ đối tượng nộp thuế; Xử lý tờ khai; Đôn đốcthu nợ và cưỡng chế thuế; Thanh tra, kiểm tra

- Qua thực hiện, bước đầu cho thấy tổ chức quản lý thuế với chức năng tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyên môn hóa, tránh sự trùng lắp, chồng chéo, nâng cao hiệu quả quản lý

- Xây dựng được các yêu cầu nghiệp vụ theochức năng và hệ thống quy trình quản lý phù hợp với cơ chế tự khai, tự nộp thuế theohướng hiện đại hóa, nâng cao chất lượng phục vụ người nộp thuế

- Đẩy mạnh phát triển và ứng dụng nhanh các chương trình tin học vào Quản

lý thuế.Hạ tầng cơ sở dữ liệu của ngành đã kết nối xuống các cơ quan thuế cấp phường trực thuộc, bảo đảm đường truyền thông suốt đến 12 Phường, chi cục thuế, kết nối liên tục 24/24 giờ với tốc độ luôn được nâng cấp ngày càng cao, giúp trao đổi thông tin, dữ liệu nhanh chóng tạo thuận lợi cho công tác quản lý thuế và phục

vụ đối tượng nộp thuế

Trang 32

- Các ứng dụng hỗ trợ người nộp thuế, kê khai thuế theo công nghệ mã vạch hai chiều, ứng dụng tra cứu thông tin về nghĩa vụ thuế và kiểm soát xử lý thủ tục hành chính thuế tại bộ phận “một cửa” của chi cục thuế Quận thủ Đức, Tp Hồ Chí Minh đã được triển khai và đẩy mạnh Nhờ vậy, chất lượng phục vụ người nộp thuế

có điều kiện nâng cao; hiệu suất và hiệu quả quản lý thuế từng bước tăng lên

- Kiện toàn tổ chức bộ máy, nâng cao năng lực độingũ cán bộ quản lý và công chức thuế toàn diện hơn

B/ Đối với đối tượng nộp thuế

Tại Quận thủ Đức, Tp Hồ Chí Minh, từ khi thực hiện cơ chế tự khai - tự nộp,

trách nhiệm trước pháp luật của người nộp thuế được nâng cao hơn, các doanh nghiệp đã chủ động, tự giác kê khai thuế phát sinh và tiến hành nộp thuế vào ngân sách nhà nước theo quy định, đặc biệt là hầu hết các doanh nghiệp đã thực hiện tốt ĐTNT tự chịu trách nhiệm với kết quả kinh doanh của mình, kể cả các ưu đãi thuế, quyền lợi về thuế cũng hoàn toàn do doanh nghiệp tự “định đoạt” trên cơ sở các quy định của pháp luật

Từ những thuận lợi trên, người nộp thuế đã thoát khỏi những thủ tục trong quá trình kê khai, nộp thuế, có điều kiện để tập trung nguồn lực vào việc phát triển sản xuất kinh doanh

Qua thời gian triển khai và thực hiện cơ chế tự khai - tự nộp, kết quả:

- Tình hình nộp tờ khai: số tờ khai thuế nộp đúng hạn trên 90%, số tờ khai lỗi

số học giảm hẳn

- Tình hình nộp thuế: chi cục thuế đã theodõi sát hơn tình hình nộp, nợ thuế

và có điều kiện làm tốt hơn công tác đôn đốc nộp thuế nên phần lớn các doanh nghiệp đã thực hiện tốt việc nộp thuế

2.1.4.2 Những tồn tại, hạn chế

Sau thời gian thực hiện cải cách vẫn còn những tồn tại, hạn chế về chính sách thuế, Quản lý thuế Tuy nhiên, với phạm vi đề tài này như nêu ở chương 1, nên chỉ xem xét những hạn chế về công tác tuyên truyền, dịch vụ hỗ trợ thuế đối với ĐTNT

Trang 33

tại chi cục thuế Quận thủ Đức, Tp Hồ Chí Minh, trong đó chú ý đến đối tượng nộp thuế là doanh nghiệp Những tồn tại, hạn chế đó có thể tóm tắt như sau:

Công tác tuyên truyền:

- Việc tổ chức thực hiện công tác tuyên truyền về thuế chưa chủ động, chưa thường xuyên, liên tục, chưa thống nhất, đồng bộ trong toàn ngành, hiệu quả chưa cao

- Các hình thức tuyên truyền qua các phương tiện thông tin đại chúng có tăng cường nhưng còn đơn điệu, thiếu sáng tạo, chưa tạo được “điểm nhấn” để thuhút sự chú ý công chúng Đặc biệt công tác tuyên truyền cho đối tượng nộp thuế là người nước ngoài còn “nghèo nàn”

Công tác hỗ trợ:

- Công tác hỗ trợ ĐTNT chưa xây dựng được hệ thống văn bản hướng dẫn, trả lời về các sắc thuế, thủ tục hành chính thuế thống nhất Việc này không chỉ ở chi cục thuế Quận thủ Đức, Tp Hồ Chí Minh mà còn phải phụ thuộc vào hướng dẫn nghiệp vụ của cơ quan thuế cấp trên (Cục thuế Tp Hồ Chí Minh)

- Việc trả lời hướng dẫn ĐTNT bằng văn bản chưa kịp thời, đầy đủ, chính xác, cụ thể và thiếu nhất quán

- Hình thức hỗ trợ chưa đa dạng, phong phú và đồng bộ Cũng do phụ thuộc vào hướng dẫn của cơ quan thuế cấp trên nên chi cục thuế cũng chưa xác định được phương hướng phát triển hệ thống đại lý thuế, tư vấn thuế - một trong những kênh cung cấp một phần dịch vụ hỗ trợ thuế trong nền kinh tế “mở”

- Chưa đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại vào công tác hỗ trợ

Công tác tổ chức cán bộ cho thực hiện công tác tuyên truyền hỗ trợ

- Chất lượng đội ngũ cán bộ công chức chưa đáp ứng yêu cầu quản lý thuế theo chức năng khi triển khai thực hiện Quản lý thuế hiện đại (kể cả cán bộ quản lý)

- Công chức được bố trí làm công tác tuyên truyền và hỗ trợ ĐTNT còn thiếu

về số lượng và chưa được đào tạo chuyên sâu về nghiệp vụ này

- Trình độ tin học, ngoại ngữ chưa ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ

Trang 34

- Khả năng nắm bắt vướng mắc của doanh nghiệp, kỹ năng giao tiếp của công chức chưa qua bồi dưỡng, huấn luyện

2.2 Khái quát hoạt động của các doanh nghiệp tại Quận thủ Đức, Tp Hồ Chí Minh trong thời gian qua

2.2.1 Quy mô và xu hướng phát triển

Ngày 01/04/1997, Quận Thủ Đức được thành lập theo Quyết định số 1199/QĐ-UBND ngày 18/03/1997 của UBND Thành Phố Hồ Chí Minh; Thực hiện Nghị định số 03/NĐ-CP ngày 06/01/1997 của Chính Phủ về việc thành lập Quận Thủ Đức, Quận 2, Quận 9, Quận 7, Quận 12 và thành lập các phường thuộc các Quận mới - Thành Phố Hồ Chí Minh

Quận Thủ Đức nằm ở cửa ngõ Đông – Bắc của Thành Phố có tổng diện tích tự nhiên 4.776 ha, dân số 463.368 nhân khẩu (số liệu điều tra dân số năm 2011), trong

đó 49,5% là dân tạm trú; với 12 phường, 73 khu phố, 865 tổ dân phố, là một trong những địa bàn trọng điểm về Quốc phòng – An ninh của Thành Phố và khu vực Quận có các tuyến đường lớn quan trọng đi qua như: Xa lộ Hà Nội; Quốc lộ 1A (còn gọi là Xa lộ Trường Sơn) Quốc lộ 13 và đường Kha Vạn Cân (tức Quốc lộ 1 cũ) Là địa bàn giáp ranh cả hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt và đường thủy với các Quận 2, Quận 9, Quận Bình Thạnh của Thành Phố Hồ Chí Minh và các Thị xã Dĩ An, Thuận An của Tỉnh Bình Dương

Trên địa bàn Quận có nhiều cơ sở kinh tế - văn hoá – xã hội trọng điểm trú đóng như: khu chế xuất Linh Trung I, Linh Trung II, Khu công nghiệp Bình Chiểu; Đại học Luật, Đại học Ngân Hàng; Đại học Nông lâm, Đại học An ninh, Đại học TDTT, Đại học Cảnh sát…và hệ thống các Trường Đại học, các trung tâm thuộc Đại học Quốc gia Thành Phố Hồ Chí Minh Ngoài ra còn có nhà máy nước Thủ Đức và nhiều cơ sở kinh tế, kỹ thuật, thương mại, dịch vụ quan trọng thuộc Trung ương quản lý…là những điều kiện thuận lợi thúc đẩy sự phát triển từ một Huyện vùng ven thành phố (Thủ Đức cũ) chuyển sang xây dựng Quận đô thị với tốc độ

Trang 35

phát triển nhanh chóng và mạnh mẽ theo cơ cấu kinh tế Công nghiệp – Thương mại Dịch vụ và Nông nghiệp

Từ khi thành lập Quâ ̣n đến nay, kinh tế trên địa bàn ngày càng phát triển ổn định và có mức tăng trưởng khá, giá trị sản xuất đạt mức tăng bình quân 19,90%/năm (năm 2011 đạt giá trị sản xuất là 4.810 tỷ đồng theo giá so sánh năm 1994), thu hút số cơ sở sản xuất và kinh doanh dịch vụ tăng gấp hơn 4 lần so năm

1997, giới thiệu và giải quyết việc làm cho hơn 13.000 lao động/hàng năm, cơ cấu kinh tế của Quận đã có sự chuyển dịch theo định hướng quy hoạch là CN-TTCN, thương mại-dịch vụ và nông nghiệp Tính đến cuối năm 2011, tỷ trọng giá trị sản xuất của các khu vực trong cơ cấu kinh tế chung là: khu vực CN-TTCN chiếm 75,6%, dịch vụ 23,8% và khu vực nông nghiệp 0,6%

Về mặt cơ cấu giá trị sản xuất nội ngành CN-TTCN của Quận: phát triển chủ yếu ở khu vực công nghiệp chế biến trong 14 ngành sản xuất; Trong đó có 6 ngành sản xuất có giá trị cao, nhất là ngành công nghiệp sản xuất thực phẩm và ngành sản xuất các sản phẩm từ kim loại chiếm tỷ trọng cao trong tổng giá trị chung Riêng khu vực Công nghiệp khai thác chiếm tỷ trọng rất nhỏ; một số ngành

có xu thế giảm như chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ do khó khăn về nguồn nguyên liệu, thị trường cạnh tranh gay gắt, sản xuất dễ gây ô nhiễm môi sinh môi trường, phải thu hẹp sản xuất để phù hợp với định hướng phát triển đô thị hóa trên địa bàn

Về vốn đầu tư

Trong những năm qua, bên cạnh các cơ sở sản xuất với nguồn vốn đầu tư trong nước phát triển nhanh, các dự án đầu tư lớn thuộc TW-Thành phố quản lý về sản xuất Công nghiệp đã được xây dựng và đi vào hoạt động, như Khu chế xuất Linh Trung 1 và Linh Trung 2 với qui mô 120ha tại Phường Linh Trung và Phường Bình Chiểu, khu Công nghiệp Bình Chiểu 28ha, các XN có quy mô lớn tại Phường Hiệp Bình Phước, Linh Trung, Tam Bình đã góp phần lớn vào thúc đẩy phát triển sản xuất trên địa bàn

Trang 36

Bảng 2.1 Nguồn vốn đầu tư tại Quận Thủ Đức giai đoạn 2000-2010

Đơn vị tính: triệu đồng

Ngân sách thành phố 31.510 300.879 308.027 Ngân sách Quận 47.087 359.379 451.321 Vốn do doanh nghiệp,

Bảng 2.2: Tổng sản phẩm trên địa bàn giai đoạn 2000- 2010

Bảng 2.3: Thu Ngân sách từ năm 2000 – 2010 (Đơn vị tính: triệu đồng)

Năm 2000 Năm 2001- 2005 Năm 2006- 2010

Tồng thu ngân sách

Trong đó:

Trang 37

2.2.2 Đặc điểm của các doanh nghiệp tại Quận Thủ Đức

- Số lượng các doanh nghiệp vào Quận Thủ Đức, Tp Hồ Chí Minh ngày càng tăng, nhất là sau khi đầu tư các khu chế xuất, khu công nghiệp

- Các doanh nghiệp hoạt động trong các Khu chế xuất, khu công nghiệp và rải đều ở địa bàn 12 phường Ý thức tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp cao Hệ thống quản lý kinh doanh cũng như quản lý hành chính của doanh nghiệp tiên tiến, hiện đại Hệ thống sổ sách, chứng từ, kế toán lưu trữ đầy đủ và được các công ty Luật, kiểm toán chuyên nghiệp tư vấn Được hệ thống tin học tiên tiến, hiện đại hỗ trợ nên trình độ quản lý cao

- Các doanh nghiệp đầu tư chỉ quan tâm một mục đích duy nhất là lợi nhuận, nhưng thu hút nhiều lao động trên địa bàn Quận Thủ Đức và các tỉnh lân cận

Ngoài ra, còn có những đặc điểm khác như: các hình thức trốn thuế, gian lận thuế của đối tượng này cũng rất tinh vy, khó phát hiện thông qua chuyển giá, giao dịch thương mại điện tử; Tập đoàn kinh tế đa ngành nghề nên quản lý thuế rất phức tạp…

Tuy nhiên, ở phạm vy nghiên cứu này, ta quan tâm đến đặc điểm có liên quan đến mục tiêu nghiên cứu của đề tài như đã nêu

Trang 38

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Thiết kế nghiên cứu

Quy trình nghiên cứu xuất phát từ mục tiêu nghiên cứu, trên cơ sở lý thuyết

và những nghiên cứu trước đây, xây dựng mô hình và giả thuyết nghiên cứu ban đầu Từ đó, hình thành mô hình đo lường mức độ hài lòng của các doanh nghiệp đối với chất lượng dịch vụ hỗ trợ thuế tại chi cục thuế Quận Thủ Đức, Tp.Hồ Chí Minh Quy trình nghiên cứu được thực hiện qua 2 giai đoạn:

- Giai đoạn 1: Nghiên cứu sơ bộ;

- Giai đoạn 2: Nghiên cứu chính thức

Quy trình nghiên cứu tiến hành qua 3 phần chính:

1/ Xây dựng thang đo (gồm: thiết kế bảng câu hỏi, điều chỉnh thang đo) 2/ Đánh giá thang đo

3/ Kiểm định giả thuyết

Thang đo được xây dựng và khảo sát thử để kiểm tra mức độ phù hợp trong từng mục hỏi Trên cơ sở đó, điều chỉnh thang đo phù hợp với thực trạng vấn đề nghiên cứu và tiến hành hoàn chỉnh bảng câu hỏi để thuthập thông tin Quá trình thuthập thông tin được thực hiện bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp các đối tượng khảo sát Dữ liệu trước khi đưa vào phân tích được mã hóa, kiểm tra và làm sạch dữ liệu

Thang đo được đánh giá độ tin cậy thông qua hệ số tin cậy Cronbach alpha Các kỹ thuật phân tích được thực hiện bằng các công cụ phân tích thống kê mô tả, phân tích nhân tố khám phá EFA (Exploratory factor analysis), phân tích hồi quy (Regression analysis) Sau khi phân tích nhân tố khám phá EFA, các nhân tố được rút gọn từ nhiều biến quan sát được thu thập, từ đó những giả thuyết nghiên cứu được điều chỉnh theo những nhân tố mới được rút ra Phân tích hồi quy được thực hiện nhằm xác định mối quan hệ giữa mức độ hài lòngchung của các doanh nghiệp với các nhân tố và khẳng định tầm quan trọng của từng nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòngchung của các doanh nghiệp Quy trình nghiên cứu được sơđồ hóa như hình

2.1 sau đây:

Trang 39

Hình 2.1 sơ đồ quy trình nghiên cứu

Câu hỏi nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết

Mô hình, giả thuyết nghiên cứu Thang đo gốc

Xác định thang đo 1/câu hỏi khảo sát

Thảo luận với chuyên gia

Kiểm tra, chuẩn bị bảng câu hỏi

Tiếp xúc, khảo sát thử những người tham gia như là phần tử khảo sát

Điều chỉnh thang đo 1 , Bảng câu hỏi;

Hình thành thang đo 2

Hình thành giả thuyết nghiên cứu ban đầu

Điều chỉnh giả thuyết

Thu thập và chuẩn bị dữ liệu:

Trang 40

Nghiên cứu sơ bộ - thiết kế nghiên cứu định tính:

Nghiên cứu sơ bộ được thực hiện bằng phương pháp định tính thông qua phương pháp thảo luận tay đôi và khảo sát thử Bước này nhằm khám phá, điều chỉnh và bổ sung các biến quan sát dùng để đo lường các khái niệm nghiên cứu

Thông tin thuthập được từ việc thảo luận tay đôi là cơ sở hỗ trợ cho việc thiết

kế bảng câu hỏi dùng cho nghiên cứu định lượng; khám phá, bổ sung mô hình thang

đo chất lượng dịch vụ hỗ trợ thuế Nghiên cứu này được thực hiện trong tháng 3 năm 2012 với sự tham gia thảo luận và khảo sát thử của các chuyên gia gồm: một số cán bộ lãnh đạo có kinh nghiệm trong ngành thuế Quận Thủ Đức, Tp.Hồ Chí Minh, Cục thuế Thành phố Hồ Chí Minh, cán bộ trực tiếp làm công tác quản lý thuế, thanh tra thuế, tin học và xử lý dữ liệu về thuế, tổ chức cán bộ ngành thuế, tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế và các doanh nghiệp trên địa bàn Quận Thủ Đức, Tp.Hồ Chí Minh

Nghiên cứu chính thức: được thực hiện bằng phương pháp nghiên cứu định

lượng thông qua phương pháp phỏng vấn trực tiếp ĐTNT bằng bảng câu hỏi Bước này đánh giá các thang đo, kiểm định lại mô hình, các giả thuyết nghiên cứu và đo lường mức độ thỏa mãn của ĐTNT Nghiên cứu chính thức được thực hiện tại các doanh nghiệp trên địa bàn Quận Thủ Đức do chi cục thuế cung cấp danh sách các doanh nghiệp hoạt động trong và ngoài khu chế xuất, khu công nghiệp Tác giả trực tiếp đứng ra khảo sát với tư cách là chuyên viên phòng kinh tế Quận với sự đồng thuận hỗ trợ của lãnh đạo chi cục thuế Quận Thủ Đức, Tp.Hồ Chí Minh, sự hợp tác của các doanh nghiệp

2.3.2 Xây dựng thang đo

Các thang đo được sử dụng trong đề tài: thang đo chất lượng dịch vụ hỗ trợ thuế; thang đo mức độ hài lòng của các doanh nghiệp tại chi cục thuế Quận Thủ Đức, Tp.Hồ Chí Minh

2.3.2.1 Thangđo chất lượng dịch vụ hỗ trợ thuế:

Thang đo về chất lượng dịch vụ hỗ trợ thuế (hay các yếu tố tác động đến mức độ hài lòng của các doanh nghiệp) được xây dựng dựa trên cơ sở lý thuyết về

Ngày đăng: 18/05/2021, 21:41

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w