Để đáp ứng được yêu cầu hiện nay về đổi mới phương pháp dạy học nói chung và đổi mới phương pháp dạy học môn Vật lí nói riêng đòi hỏi giáo viên phải đưa ra các phương pháp giải nhanh giú
Trang 1MỤC LỤC
Trang
2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm 5
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến… 5
2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm… 14
1.MỞ ĐẦU
1.1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Trong năm học 2017 - 2018, Bộ Giáo dục và đào tạo đã Quyết định thi tốt nghiệp THPT Quốc gia môn Vật lí cũng như các môn học khác sẽ có phần kiến thức lớp 11, môn Vật lí với hình thức thi trắc nghiệm khách quan (TNKQ)
Để đáp ứng được yêu cầu hiện nay về đổi mới phương pháp dạy học nói chung
và đổi mới phương pháp dạy học môn Vật lí nói riêng đòi hỏi giáo viên phải đưa
ra các phương pháp giải nhanh giúp học sinh giải được các bài tập trắc nghiệm Vật lí trong thời gian ngắn nhất
Vật lí lớp 11 có nội dung rất rộng, bao gồm nhiều kiến thức vật lí phức tạp như: Điện trường, từ trườn, điện một chiều, quang hình Dẫn đến số lượng bài tập (Đặc biệt là các bài tập trắc nghiệm khách quan) là vô cùng đa dạng và phong
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
TRƯỜNG THPT THẠCH THÀNH 2
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIÚP HỌC SINH GIẢI NHANH BÀI TẬP
TRẮC NGHIỆM PHẦN THẤU KÍNH MỎNG
Người thực hiện: Quách Thị Toan Chức vụ: TTCM
SKKN thuộc lĩnh vực (môn): Vật Lí
THANH HOÁ NĂM 2021
Trang 2phú Đòi hỏi học sinh không những biết, hiểu mà còn phải biết vận dụng thành thạo các kiến thức đạt đến mức kĩ năng, kĩ xảo
Tuy nhiên với lượng kiến thức vật lí theo cấu trúc thi của bộ rất nhiều, đòi hỏi học sinh phải nhớ được hết kiến thức cơ bản trong sách giáo khoa, đồng thời phải áp dụng linh hoạt các công thức để giải nhanh các bài toán trắc nghiệm Nhưng với đề thi THPT Quốc gia thời gian trung bình là 1,25 phút/câu hỏi là thời gian qua ngắn nếu các em làm bài theo thứ tự như làm tự luận mới tìm ra kết quả Có một số đơn vị kiến thức tuy chỉ chiếm từ 2 đến 3 câu trong cấu trúc đề thi THPT Quốc gia nhưng đa số học sinh không làm được, không phải vì đề bài quá khó mà do làm ra kết quả cảu câu hỏi đó quá dài nên học sinh thường bỏ qua hoặc chọn đáp án bất kỳ, trong đó có phần về thấu kính
Các dạng bài tập về thấu kính có rất nhiều dạng khác nhau và rất phong phú Tuy nhiên, chương trình Sách giáo khoa và các tài liệu tham khảo lại đề cập rất ít đến các dạng bài tập ở phần này Cần phải có các phương pháp để giúp học sinh có thể làm được các bài tập đó một cách nhanh nhất mà không ảnh hưởng tới chương trình giảng dạy
Để đáp ứng được yêu cầu hiện nay về đổi mới phương pháp dạy học nói chung và đổi mới phương pháp dạy học môn Vật lí nói riêng đòi hỏi giáo viên phải đưa ra các phương pháp giải nhanh giúp học sinh giải được các bài tập trắc nghiệm Vật lí trong thời gian ngắn nhất
Xuất phát từ thực trạng đó, tôi đã mạnh dạn đưa ra sáng kiến: “Một số giải
pháp giúp học sinh giải nhanh bài tập trắc nghiệm phần thấu kính mỏng”.
1.2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:
Mục đích khi nghiên cứu sáng kiến kinh nghiệm này là nhằm cung cấp cho học sinh phương pháp giải nhanh các bài tập về thấu kính mỏng Đồng thời cung cấp cho học sinh tài liệu học tập về thấu kính mỏng vì trong sáng kiến kinh nghiệm này có các dạng bài tập từ dễ đến khó
1.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:
Phương pháp dạy học môn vật lí, phần các định luật bảo toàn
1.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
Trang 3Dạy học Vật lí thuộc số các môn khoa học giáo dục, chúng có những quy luật khác nhau và có các phương pháp nghiên cứu riêng Mặt khác khi dạy học sinh với nội dung của sáng kiến kinh nghiệm lại không có thời lượng trong giờ chính khoá mà tôi phải lồng ghép vào trong các tiết ôn tâp, bài tập Khi nghiên cứu và làm sáng kiến kinh nghiệm này tôi chọn phương pháp:
- Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lý thuyết;
- Phương pháp điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin;
- Phương pháp thống kê, xử lý số liệu
Trang 42 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN:
Nghị quyết Đại hội của Đảng cộng sản Việt Nam qua các kỳ Đại hội luôn khẳng định: “Giáo dục là quốc sách hàng đầu”, “Đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho sự phát triển” Để chất lượng giáo dục đạt kết quả cao đòi hỏi người giáo viên phải có chuyên môn vững vàng, đồng thời phải có khinh nghiệm giảng dạy
để đưa ra các phương pháp giúp học sinh học tập đạt kết quả cao nhất
Trong hệ thống các môn học của nhà trường THPT, mỗi môn học có một vai trò riêng đối với việc hoàn thiện tri thức và phát triển nhân cách học sinh Trong các môn học đó, Vật lí học giữ một vai trò quan trọng giúp học sinh có một cái nhìn khoa học về thực tiễn cuộc sống Có thể nói Vật lí là môn học gắn liền với thực tiễn Những thành tựu của vật lí được ứng dụng vào thực tiễn lao động sản xuất, giúp chúng ta có sự hiểu biết về tự nhiên, về thế giới xung quanh Ngược lại thực tiễn là yếu tố kiểm chứng sự đúng đắn của tri thức vật lí, là động lực thúc đẩy vật lí phát triển
Đất nước đang trong thời kì phát triển và hội nhập, để bắt kịp với xu thế phát triển chung của thời đại, trong những năm qua chúng ta đã thực hiện cải cách giáo dục, đổi mới phương pháp dạy và học Việc dạy học Vật lí cũng không nằm ngoài xu hướng chung đó Để có thể giữ tốt vai trò là người hướng dẫn, định hướng để học sinh nghiên cứu, tìm tòi và tiếp nhận kiến thức thì đòi hỏi bản thân người giáo viên ngoài có hệ thống kiến thức sâu rộng, vững vàng còn phải
có phương pháp sư phạm tốt, biết đưa ra hệ thống các công thức trong từng bài dạy,từng phần và từng chương phù hợp với từng đối tượng học sinh Xuất phát
từ quan điểm trên, tôi mạnh dạn chọn đề tài: “Một số giải pháp giúp học sinh
giải nhanh bài tập trắc nghiệm phần thấu kính mỏng”.
2.2 THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ TRƯỚC KHI ÁP DỤNG:
Trong quá trình dạy học chính khóa, phần kiến thức về thấu kính vô cùng quan trọng Tuy nhiên trong SGK thời kượng tiết lí thuyết và bài tập rất ít không thể đáp ứng được việc nắm kiến thức cũng như vận dụng kiến thức vào giải các bài tập cho học sinh Bên cạnh đó sách tham khảo cũng đề cập chung chung rất khó cho việc lĩnh hội kiến thức của học sinh Dẫn đến kết quả kiểm tra khảo sát rất thấp
Một thực trạng nữa là các hiện tượng vật lí đòi hỏi sự tư duy, tưởng tượng trong quá trình học và làm bài kiểm tra làm cho học sinh rất khó hiểu Các em cần được giáo viên đưa ra những phương pháp giải nhanh để các em áp dụng một cách có hiệu quả và thành thạo nhất
Trang 5Thực tế giảng dạy những năm vừa qua cho thấy nhiều học sinh thực sự lúng túng trước những yêu cầu đặt ra của giáo viên Riêng môn vật lí, khi luyện tập, làm bài tập phần sóng cơ học nói chung và thấu kính nói riêng học sinh chưa phân biệt được rạch ròi các khái niệm, chưa biết áp dụng lí thuyết vào bài tập cụ thể Học sinh rất mơ hồ trước những bài tập liên quan đến thấu kính Mặt khác học sinh rất thiếu thốn tài liệu học tập, rất ít học sinh có thêm sách tham khảo
Do vậy các em không có nhiều cơ hội để tiếp xúc, cọ xát với các dạng bài tập khác nhau Điều đó đã hạn chế không ít khả năng tự học của các em
Xuất phát từ thực trạng trên, với mong muốn giúp học sinh học tốt hơn, có kiến thức Vật lí phần sóng âm vững vàng hơn tôi đã xây dưng hệ thống các công thức mà trong sách giáo khoa không có giúp học sinh chủ động khai thác lĩnh hội kiến thức về thấu kính
Kết quả thi khảo sát chất lượng lớp khối lần 2 năm học 2020 – 2021
(Thời gian trường THPT Thạch Thành II tổ chức là vào tháng 2 năm 2018), ngay trước khi tôi bắt đầu dạy phần Quang hình trong đó có bài thấu kính mỏng
Lớp Điểm 1,2, 3 Điểm 4 Điểm 5, 6 Điểm 7, 8 Điểm 9,10
Lớp 11B1 và lớp 11B2 là hai lớp khối 11 học bồi dưỡng môn Vật lí Tuy nhiên theo kết quả thi chọn lớp cuối năm học lớ 10 thì lớp 11B1 có kết quả cao hơn còn lớp 11B2 kết quả thấp hơn Theo bảng số liệu ở trên cũng thể hiện rõ là chất lượng lớp 11B1 cao hơn hẳn lớp 11B2 Chính vì thế tôi muốn đưa vào giải pháp nghiên cứu của tôi thực hiện dạy ở 11B2 nhằm mục đích nâng cao kết quả học tập của 11B2
2.3 CÁC GIẢI PHÁP ĐỂ TỔ CHỨC THỰC HIỆN:
Giải pháp 1:Cung cấp lí thuyết về thấu kính mỏng:
Thấu kính mỏng:
Là khối chất trong suốt giới hại bởi hai mặt cong, hoặc một mặt phẳng và một mặt cong
Phân loại loại thấu khính mỏng:
- Thấu kính rìa mỏng hay gọi là thấu kính hội tụ
- Thấu kính rìa dày hay gọi là thấu kính phân kì
Quy ước về dấu:
- Gọi d là khoảng cách từ vật đến thấu kính:
Trang 6+ d > 0: vật thật.
+ d < 0: vật ảo
- Gọi d’ kà khoảng cách từ ảnh tới thấu kính:
+ d’ > 0: ảnh thật
+ d’ < 0: Ảnh ảo
- Gọi f là tiêu cự của thấu kính:
+ f > 0: thấu kính hội tụ
+ f < 0: thấu kính phân kì
Công thức thấu kính:
1
f=
1
d+
1
d '
Độ tụ của thấu kính:
D=1
f
Độ phóng đại của ảnh: k=−
d' d
Giải pháp 2: Phân loại các dạng bài tập, đưa ra phương pháp giải các dạng bài tập về thấu kính mỏng.
Dạng 1: Xác định vị trí, tính chất của ảnh, độ phóng đại của ảnh.
Bài toán tổng quát: Vật sáng AB đặt trước thấu kính có tiêu cự f cách thấu kính
một khoảng d Xác định vị trí, tính chất của ảnh và tính độ phóng đại của ảnh
Hướng dẫn: Áp dụng công thức thấu kính:
1
f=
1
d+
1
d '⇒d '=
Nếu d’>0 thì kết luận ảnh thật, còn d’<0 thì kết luận ảnh ảo
Áp dụng công thức:
k=− d'
d
Bài 1:Một vật sáng AB đặt vuông góc với trục chính của thấu kính hội tụ có tiêu
cự f=20cm, vật đặt cách thấu kính một khoảng d Xác định vị trí, tính chất, độ phóng đại của ảnh khi:
a d = 60cm >2f
b d = 40cm = 2f
c f < d = 30cm < 2f
d d = 20 cm = f
Trang 7e d = 10cm <f
Giải:
Áp dụng công thức thấu kính:
1
f=
1
d+
1
d '⇒d '=
Nếu d’>0 thì kết luận ảnh thật, còn d’<0 thì kết luận ảnh ảo
Áp dụng công thức: k=−
d' d
Sau khi gọi học sinh lên bảng GV tổng kết bằng bảng sau:
a 60cm 30cm -0.5 Ảnh thật, ngược chiều, nhỏ hơn vật, cách TK
30cm, cao bằng nửa vật
b 40cm 40cm -1 Ảnh thật, ngược chiều, cao bằng vật, cách TK
40cm
c 30cm 60cm -2 Ảnh thật, ngược chiều, lớn hơn vật, cách TK
60cm, cao bằng hai lần vật
d 20cm Vô cực Ảnh ở vô cực
e 10cm -20cm 2 Ảnh ảo, cùng chiều, lớn hơn vật, cách TK 20cm,
cao bằng hai lần vật
Bài 2: Một vật sáng AB đặt vuông góc với trục chính của thấu kính phân kì có
tiêu cự f=20cm, vật đặt cách thấu kính một khoảng d Xác định vị trí, tính chất,
độ phóng đại của ảnh khi:
a d = 60cm >2f
b d = 40cm = 2f
c f < d = 30cm < 2f
d d = 20 cm = f
e d = 10cm <f
Giải:
Áp dụng công thức thấu kính:
1
f=
1
d+
1
d '⇒d '=
Trang 8Nếu d’>0 thì kết luận ảnh thật, còn d’<0 thì kết luận ảnh ảo.
Áp dụng công thức: k=−
d' d
Sau khi gọi học sinh lên bảng GV tổng kết bằng bảng sau:
a 60cm -15cm 0.25 Ảnh ảo, cùng chiều, nhỏ hơn vật, cách TK
10cm, cao bằng 0.25 lần vật
b 40cm -13,3
cm
1/3 Ảnh ảo, cùng chiều, nhỏ hơn vật, cách TK
13.3cm, cao bằng 1/3 lần vật
c 30cm -12cm 2/5 Ảnh ảo, cùng chiều, nhỏ hơn vật, cách TK
12cm, cao bằng 2/5 lần vật
d 20cm -10cm ½ Ảnh ảo, cùng chiều, nhỏ hơn vật, cách TK
10cm, cao bằng 1/2 lần vật
e 10cm -6,6cm 2/3 Ảnh ảo, cùng chiều, nhỏ hơn vật, cách TK
6,6cm, cao bằng 2/3 lần vật
Kết luận: ảnh qua thấu kính phân kì luôn là ảnh ảo nhỏ hơn vật
Dạng 2: Xác định d và d’ khi biết khoảng cách giữa vật và ảnh.
Bài toán tổng quát: Cho vật sáng đặt trước thấu kính có tiêu cự f và biết khoảng
cách giữa vật và ảnh là L Xác định d và d’
Hướng dẫn:
Đối với thấu kính hội tụ có hai trường hợp:
Ảnh thật: { 1 f =
1
d +
1
d' ¿ ¿¿¿
Ảnh ảo: { 1 f =
1
d +
1
d' ¿ ¿¿¿
Đối với thấu kính phân kì có một trường hợp:
Ảnh ảo: { 1 f =
1
d +
1
d' ¿ ¿¿¿
Trang 9Bài 1: Vật sáng đặt trước thấu kính hội tụ có tiêu cự 15cm Biết khoảng cách giữa
vật và ảnh là 80cm Xác định vị trí của vật và vị trí của ảnh:
Giải:
Ảnh thật: { 1 f =
1
1
d ' ¿ ¿ ¿ ¿
Ảnh ảo: { 1 f =
1
1
Bài 2: Vật sáng đặt trước thấu kính phân kì có tiêu cự 10cm Biết khoảng cách giữa
vật và ảnh là 5cm Xác định vị trí của vật và vị trí của ảnh:
Giải:
Ảnh ảo: { 1 f =
1
1
Dạng 3: Xác định f khi biết khoảng cách giữa vật và ảnh, độ phóng đại.
Bài toán tổng quát: Cho vật sáng đặt trước thấu kính có tiêu cự f và biết khoảng
cách giữa vật và ảnh là Lvà biết k Xác định f:
Hướng dẫn:
Đối với thấu kính hội tụ có hai trường hợp:
Ảnh thật: { 1 f =
1
1
Ảnh ảo: { 1 f =
1
1
Đối với thấu kính phân kì có một trường hợp:
Trang 10Ảnh ảo: { 1 f =
1
1
Bài 1: Vật sáng đặt trước thấu kính hội tụ Biết khoảng cách giữa vật và ảnh là
80cm, ảnh thật cao gấp 3 lần vật Xác định tiêu cự của thấu kính
Giải:
Ảnh thật: { 1 f =
1
1
Bài 2: Vật sáng đặt trước thấu kính hội tụ Biết khoảng cách giữa vật và ảnh là
80cm, ảnh thật cao gấp 1/3 lần vật Xác định tiêu cự của thấu kính
Giải:
Ảnh thật: { 1 f =
1
1
Giải pháp 3: Bồi dưỡng kĩ năng giải bài tập về thấu kính mỏng.
Câu 1 Đối với thấu kính phân kì, nhận xét đúng là
A Vật thật luôn cho ảnh thật, cùng chiều và lớn hơn vật.
B Vật thật luôn cho ảnh thật, ngược chiều và nhỏ hơn vật
C Vật thật luôn cho ảnh ảo, cùng chiều và nhỏ hơn vật
D Vật thật có thể cho ảnh thật hoặc ảnh ảo tùy thuộc vào vị trí của vật Câu 2 Ảnh của một vật thật qua thấu kính hội tụ
A luôn nhỏ hơn vật B luôn lớn hơn vật
C luôn cùng chiều với vật D có thể lớn, nhỏ hoặc bằng vật Câu 3 Vật AB đặt thẳng góc trục chính thấu kính hội tụ, cách thấu kính nhỏ hơn khoảng tiêu cự, qua thấu kính cho ảnh
A ảo, nhỏ hơn vật B ảo, lớn hơn vật
C thật, nhỏ hơn vật D thật, lớn hơn vật
Trang 11Câu 4 Vật AB đặt thẳng góc trục chính thấu kính phân kì tại tiêu điểm ảnh chính, qua thấu kính cho ảnh A’B’ có kích thước:
A bằng hai lần vật B bằng vật B bằng một nửa vật
C bằng ba lần vật D bằng vật
Câu 5 Vật AB đặt thẳng góc trục chính thấu kính hội tụ, cách thấu kính bằng nửa khoảng tiêu cự, qua thấu kính cho ảnh
A ảo, bằng hai lần vật B ảo, bằng vật
C ảo, bằng một nửa vật D ảo, bằng bốn lần vật
Câu 6 Trong các nhận định sau, nhận định đúng về đường truyền ánh sáng qua thấu kính hội tụ là
A Tia sáng tới đi qua tiêu điểm ảnh chính thì ló ra song song với trục chính
B Tia sáng song song với trục chính thì ló ra đi qua tiêu điểm vật chính
C Tia tới qua tiêu điểm vật chính thì tia ló truyền thẳng
D Tia sáng qua thấu kính sẽ bị lệch về phía trục chính
Câu 7 Qua thấu kính, nếu vật thật cho ảnh cùng chiều thì thấu kính
A không tồn tại B chỉ là thấu kính hội tụ
C chỉ là thấu kính phân kì D có thể là thấu kính hội tụ hoặc phân kì Câu 8 Vật thật qua thấu kính hội tụ cho ảnh thật nhỏ hơn vật khi vật đặt trong khoảng nào trước thấu kính?
A 2f < d B f < d < 2f C f < d D 0 < d < f Câu 9 Ảnh của một vật thật được tạo bởi một thấu kính hội tụ không bao giờ
A là ảnh thật lớn hơn vật B là ảnh ảo, cùng chiều với vật
C là ảnh ảo nhỏ hơn vật D là ảnh thật nhỏ hơn vật
Câu 10 Vật AB đặt thẳng góc trục chính thấu kính hội tụ, cách thấu kính 20cm Thấu kính có tiêu cự 10cm Khoảng cách từ ảnh đến thấu kính là
Câu 11 Đặt vật AB = 2 cm thẳng góc trục chính thấu kính phân kỳ có tiêu cự f = –12 cm, cách thấu kính một khoảng d = 12 cm thì ta thu được
A ảnh thật A’B’, cao 2cm B ảnh ảo A’B’, cao 2cm
C ảnh ảo A’B’, cao 1 cm D ảnh thật A’B’, cao 1 cm
Câu 12 Vật sáng AB đặt vuông góc với trục chính của một thấu kính có độ tụ D
= +5 đp và cách thấu kính một khoảng 30 cm Ảnh A’B’ của AB qua thấu kính là
A ảnh thật, nằm sau thấu kính, cách thấu kính một đoạn 60 cm
B ảnh ảo, nằm trước thấu kính, cách thấu kính một đoạn 60 cm
C ảnh thật, nằm sau thấu kính, cách thấu kính một đoạn 20 cm
D ảnh ảo, nằm trước thấu kính, cách thấu kính một đoạn 20 cm
Câu 13 Vật AB ở trước thấu kính hội tụ cho ảnh thật cách thấu kính 60cm, tiêu
cự của thấu kính là f = 30cm Vị trí đặt vật trước thấu kính là