1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Mối liên quan của các vấn đề học tập và hành vi hút thuốc, uống rượu bia ở học sinh trung học phổ thông tại Tây Ninh

8 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 369,1 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hút thuốc, uống rượu bia ở vị thành niên ngày càng thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu. Nghiên cứu này được thực hiện tại tỉnh Tây Ninh nhằm xác định mối liên quan giữa các vấn đề học tập đến các hành vi nguy hại sức khỏe này.

Trang 1

MỐI LIÊN QUAN CỦA CÁC VẤN ĐỀ HỌC TẬP VÀ HÀNH VI

HÚT THUỐC, UỐNG RƯỢU BIA Ở HỌC SINH TRUNG HỌC

PHỔ THÔNG TẠI TÂY NINH

Thái Thanh Trúc*, Trần Phước Đoàn**

TÓM TẮT

Đặt vấn đề và mục tiêu nghiên cứu: Hút thuốc, uống rượu bia ở vị thành niên ngày càng thu hút sự quan

tâm của nhiều nhà nghiên cứu Nghiên cứu này được thực hiện tại tỉnh Tây Ninh nhằm xác định mối liên quan giữa các vấn đề học tập đến các hành vi nguy hại sức khỏe này

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang được thực hiện tại tỉnh Tây Ninh với

phương pháp chọn mẫu nhiều bậc Tất cả các trường trung học phổ thông đều được chọn vào nghiên cứu.Các lớp được chọn ngẫu nhiên từ danh sách lớp của từng khối tại mỗi trường Trong 1882 bộ câu hỏi thu về có 1844 hợp

lệ và được đưa vào phân tích.Các vấn đề học tập và hành vi nguy hại được đánh giá bằng các thang đo tự điền mà hầu hết đã được dùng và chuẩn hóa tại Việt Nam

Kết quả: Mô hình đa biến cho thấy học sinh nam, có tranh cãi gay gắt với thầy cô hoặc bị phạt về thể chất có

tỉ lệ hút thuốc lá và uống rượu bia cao hơn (p < 0,05) Học sinh học thêm nhiều thời gian hơn thì có tỉ lệ hành vi nguy hại thấp hơn Trong khi hút thuốc lá bị ảnh hưởng bởi sự chán nản học tập thì tỉ lệ uống rượu bia khác nhau theo nơi cư ngụ, bị thầy cô la mắng, học thêm tại nhà với gia sư, cảm giác đối xử công bằng và áp lực học tập

Kết luận: Có sự giống nhau về tác động của các vấn đề liên quan học tập ảnh hưởng đến hút thuốc và uống

rượu bia (nam, tranh cải với thầy cô, bị phạt về thể chất) Tuy nhiên, hút thuốc và uống rượu bia cũng bị ảnh hưởng bởi các yếu tố riêng biệt Chương trình can thiệp cần đánh giá các yếu tố liên quan để chọn nhóm đối tượng đích

Từ khóa: stress do học tập, hút thuốc, uống rượu bia, học sinh, trung học phổ thông, Tây Ninh

ABSTRACT

THE ASSOCIATION BETWEEN EDUCATIONAL ISSUES AND SMOKING, ALCOHOL USE AMONG

HIGH SCHOOL STUDENTS IN TAY NINH

Thai Thanh Truc, Tran Phuoc Doan

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 20 - Supplement of No 1 - 2016: 155 - 162

Background and objectives: Smoking and alcohol use among adolescent received an increasing attention

from researchers This study was conducted in Tay Ninh province to investigate the association between educational issues and these health risk behaviours

Materials and methods: A cross-sectional study was conducted in Tay Ninh province using multi-stage

cluster sampling technique All high schools were selected Classes were randomly selected from lists for each grade at each school Among 1882 questionnaires returned, 1844 were eligible and were used in analysis Educational issues and risky behaviours were evaluated by self-reported scales which have been used and standardized in Vietnam

Results: Results from multivariable model showed that males who had serious quarrel with teachers or was

punished by teachers had higher prevalence of smoking and alcohol use (p < 0.05) Students spending more time

* Khoa Y tế công cộng – ĐH Y Dược TP.HCM **Trung tâm kiểm dịch y tế quốc tế tại Tây Ninh

Trang 2

for extra studying after school had lower prevalence of risky behaviours While smoking was affected by studying despondency, prevalence of alcohol use was different by residence location, been scolded by teachers, study with personal tutor at home, feeling this school treat students fairly and study pressure

Conclusion: There was similarity about educational issues affecting smoking and alcohol use (males, had

quarrel with teachers, been punished by teacher) However, smoking and alcohol use were influenced by different factors Intervention program should take into account associated factors to choose target population

Key words: educational stress, smoking, alcohol use, student, high school, Tay Ninh

ĐẶT VẤN ĐỀ

Nhờ vào sự phát triển kinh tế xã hội, mặc dù

các vấn đề về bệnh truyền nhiễm vẫn là một

trong những khó khăn của Việt Nam nhưng

trong những năm gần đây, các nhà nghiên cứu

đã bắt đầu có sự quan tâm đặc biệt đến sức khỏe

tâm thần, các vấn đề áp lực do học tập và hành

vi nguy hại ở vị thành niên Ví dụ vào năm 2007,

Trần Bích Phương và cộng sự thực hiện một

nghiên cứu tại Hà Nội trên 972 học sinh có độ

tuổi từ 13 đến 16 nhằm tìm hiểu về các yếu tố

ảnh hưởng đến sức khỏe tâm thần và hành vi

nguy hại sức khỏe ở vị thành niên(8) Kết quả cho

thấy tỉ lệ các hành vi nguy hại sức khỏe cũng

tương đối cao bao gồm lái xe khi không đủ tuổi

(8%), uống rượu bia (15%) Nghiên cứu cũng cho

thấy sự gắn kết với nhà trường là một trong

những yếu tố bảo vệ ngoài hai yếu tố là sự quan

tâm của cha và sự quan tâm của mẹ Trong khi

đó bị bắt nạt bởi các bạn bè cùng trang lứa là một

trong những yếu tố nguy cơ của các rối loạn tâm

thần và hành vi nguy hại sức khỏe

Tại miền Nam, năm 2009, Huỳnh Hồ Ngọc

Quỳnh và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu

tương tự trên 401 sinh viên đại học năm đầu tại

thành phố Hồ Chí Minh(3) Trong cùng thời điểm,

Nguyễn Tấn Đạt và cộng sự tiến hành một

nghiên cứu tương tự tại Cần Thơ trên 570 đối

tượng(4) Những kiểm định thống kê một lần nữa

khẳng định sự tác động của một số đặc điểm dân

số xã hội, những trải nghiệm bất lợi thời thơ ấu,

xung đột với gia đình, thầy cô giáo, bạn bè cùng

trang lứa đến sức khỏe tâm thần và hành vi

nguy hại sức khỏe ở nhóm đối tượng này Để

tìm hiểu sâu hơn về chủ đề này, năm 2010 tác giả

Thái Thanh Trúc, Kim Xuân Loan và cộng sự đã

kết hợp tiến hành một nghiên cứu qui mô hơn

và tập trung chuyên biệt vào nhóm vị thành niên trong đó bao gồm 1226 học sinh từ lớp 8 đến lớp

12 tại 30 lớp học của 6 trường trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh(6) Kết quả cho thấy, học sinh tham gia trong nghiên cứu có nhiều gánh nặng trong học tập, không chỉ về điểm số, khối lượng bài vở mà còn là việc học thêm sau giờ học ở trường Về sức khỏe tâm thần, tỉ lệ stress do học tập, trầm cảm, lo âu, buồn phiền về tâm lý lần lượt là 34,4%, 26,3%, 16,2% và 36,0% Tỉ lệ hành

vi nguy hại sức khỏe như hút thuốc, uống rượu bia là 4% và 31% Kết quả này một lần nữa xác nhận những báo cáo từ các nghiên cứu trước nhưng đồng thời cũng vạch ra một hướng nghiên cứu khác liên quan đến học sinh khi cho thấy stress do học tập là một trong những vấn đề quan trọng nhất trong lứa tuổi vị thành niên Ngoài ra, cho đến thời điểm năm 2011, tác giả Thái Thanh Trúc và cộng sự đã sử dụng cùng một công cụ, với cùng một thiết kế nghiên cứu

để tiến hành nghiên cứu tại một tỉnh khác của miền Nam là Long An(6,7) Nghiên cứu được thực hiện trên 1108 học sinh từ lớp 8 đến lớp 12 tại 30 lớp của 6 trường trên địa bàn các huyện Bến Lức, Cần Đước và Đức Huệ Kết quả cho thấy ngoài tỉ

lệ stress do học tập cao 31,8%, 30,8% buồn phiền

về tâm lý, thì tỉ lệ một số hành vi nguy hại cho sức khỏe cũng phổ biến như uống rượu bia (20,0%) hay lái xe không an toàn (6,2%) Nghiên cứu này được thực hiện tại tỉnh Tây Ninh năm

2014 nhằm góp bằng chứng về mối liên hệ giữa các vấn đề liên quan học tập và hành vi nguy hại sức khỏe ở vị thành niên trong bối cảnh mới; đó

là một tỉnh biên giới giáp với quốc gia Campuchia với những đặc thù riêng

Trang 3

ĐỐI TƯỢNG-PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Một nghiên cứu cắt ngang được tiến hành ở

học sinh trung học phổ thông tại Tây Ninh vào

tháng 1/2014 Phương pháp chọn mẫu cụm

nhiều bậc được dùng cho việc chọn mẫu Đầu

tiên, tại 9 huyện, thành phố của Tây Ninh, chọn

ngẫu nhiên hai trường cấp 3 ở mỗi huyện từ

danh sách các trường có được từ Sở giáo dục Tây

Ninh Các trường được chọn được thông báo về

nghiên cứu bao gồm các thông tin về mục tiêu

nghiên cứu, thời gian thu thập dữ liệu và số lớp

cần cho nghiên cứu Những trường này sau đó

được mời tham gia nghiên cứu Tại mỗi trường,

một lớp của mỗi khối bao gồm khối 10, 11, 12

được chọn ngẫu nhiên, tổng cộng được 54 lớp

trên toàn tỉnh Tây Ninh

Có 1882 học sinh tham gia bằng cách trả lời

bộ câu hỏi tự điền Ngoài các thông tin về đặc

điểm dân số xã hội, bộ câu hỏi cũng bao gồm các

vấn đề liên quan đến học tập, ví dụ trải nghiệm

với thầy cô giáo và sự gắn kết với nhà trường

cũng như mối quan hệ với bạn bè cùng trang lứa

và hoạt động học tập.Điểm số đánh giá trải

nghiệm với thầy cô giáo gồm 4 yếu tố trong đó

có tranh cãi gay gắt với thầy cô hoặc nhân viên

nhà trường, bị thầy cô la mắng, hăm dọa, bị thầy

cô phạt về thể chất Sự gắn kết với nhà trường

được đo lường bằng thang đo School

Connectedness gồm 5 câu Mối quan hệ của học

sinh với bạn bè cùng trang lứa bao gồm việc bị

ức hiếp về thể chất hoặc tinh thần Ngoài ra,

thông tin về stress do học tập cũng được thu

thập bằng thang đo Stress do học tập cho vị

thành niên (ESSA) được phát triển bởi Sun (2011)

gồm 16 câu hỏi sử dụng thang 5 điểm từ 1 (rất không đồng ý) đến 5 (rất đồng ý), điểm số cao hơn cho thấy nhiều stress hơn(5) Thang đo ESSA đánh giá 5 khía cạnh: áp lực học tập, lo lắng về điểm số, chán nản học tập, tự kỳ vọng cao và khối lượng học Điểm càng cao càng thể hiện học sinh có nhiều đặc điểm stress do học tập hoặc mức độ stress do học tập cao hơn Về hành vi hút thuốc lá và uống rượu bia, các câu hỏi đánh giá được chuyển thể từ bộ câu hỏi của Khảo sát hành vi nguy cơ thanh niên (YRBS) được phát triển bởi Trung tâm kiểm soát dịch bệnh ở Hoa

Kỳ năm 1990(1)

Dữ liệu sau khi được nhập và kiểm tra thì được phân tích bằng phần mềm Stata 13 Với phân tích đơn biến, các kiểm định Chi bình phương, Fisher hoặc t được dùng khi phù hợp Các yếu tố có liên quan ở mức p = 0,20 trong phân tích đơn biến được sử dụng trong mô hình hồi qui logistic đa biến để xác định các yếu tố liên quan đến hút thuốc và uống rượu bia Qui trình xây dựng mô hình đa biến được thực hiện theo các bước gợi ý bởi Hosmer, Lemeshow và Sturdivant(2) Sau khi kiểm tra mức dộ phù hợp mô hình thì kết quả được báo cáo dưới dạng tỉ số số chênh (OR # Odds Ratio) kèm theo khoảng tin cậy 95%

KẾT QUẢ

Có 1882 học sinh trả lời và gửi lại bộ câu hỏi Sau khi lọc lại các phiếu đủ điều kiện đưa vào phân tích (thiếu hơn 80% thông tin), còn 1844 bộ câu hỏi hợp lệ trong kết quả phân tích này

Bảng 1: Mối liên quan đơn biến giữa đặc điểm của đối tượng nghiên cứu và hút thuốc uống rượu bia ở học sinh

trung học phổ thông

n (%)

Hút thuốc (N=113, 6,1%) Uống rượu bia (N=686, 37,2%)

Nơi cư ngụ (n = 1818)

Tình trạng hôn nhân của cha mẹ (n = 1835)

Trang 4

Đặc điểm Chung N=1844

n (%)

Hút thuốc (N=113, 6,1%) Uống rượu bia (N=686, 37,2%)

Thứ tự trong gia đình (n = 1706)

¢ Kiểm định chính xác Fisher

Kết quả cho thấy nữ sinh chiếm nhiều hơn

nam sinh (54% so với 46%).Về tình trạng hôn

nhân của cha mẹ, 84,8% học sinh có cha mẹ đang

sống chung với nhau.Đa số học sinh tham gia

nghiên cứu đều sống chung với cha mẹ (77,5%)

Về người cha, nghề nghiệp chiếm phần lớn là

nông dân (48,9%) và gần ½ cha của học sinh có

trình độ học vấn cấp 2 và cấp 3 (48,4%) Về người

mẹ, nội trợ và nông dân là hai công việc chính

chiếm đa số trong nghiên cứu này (38,9% và

28,4%), và trình độ học vấn cấp 2 và cấp 3 cũng

chiếm gần ½ dân số nghiên cứu (49,3%) Tỉ lệ

học sinh hút thuốc, uống rượu bia lần lượt là

6,1% (KTC 95% 5,0% – 7,2%) và 37,2% (KTC 95%

35,0% – 39,4%)

Một số đặc điểm dân số học có liên quan đến

hành vi hút thuốc lá trong 30 ngày qua, như:

giới, nghề nghiệp cha, mẹ với p<0,05 Cụ thể, tỉ lệ

nam sinh hút thuốc cao hơn nữ sinh, ngoài ra,

học sinh có cha làm nội trợ hoặc mẹ bị thất

nghiệp có tỉ lệ hút thuốc cao hơn các học sinh còn lại

Giới tính, nơi cư ngụ, nghề nghiệp cha, nghề nghiệp mẹ, số anh chị em trong gia đình có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với hành vi uống rượu bia (p<0,05) Giống như mối liên quan với hút thuốc, nam sinh cũng uống rượu bia cao hơn

nữ sinh Nhóm học sinh mà cha là nội trợ hoặc

mẹ bị thất nghiệp có tỉ lệ uống rượu cao hơn các học sinh có cha mẹ làm nghề khác

Bảng 2: Mối liên quan đơn biến giữa các vấn đề học

tập và hút thuốc uống rượu bia ở học sinh trung học phổ thông

Đặc điểm

Chung N=1844

n %

Hút thuốc (N=113, 6,1%)

Uống rượu bia (N=686, 37,2%)

Có n (%) p Có n (%) p Mối quan hệ bạn bè đồng trang lứa

Bị bạn bè bắt nạt về tinh thần

Có 594 (32,2) 42 (7,1) 0,245 238(40,1) 0,079 Không 1250 (67,8) 71 (5,7) 448(35,8)

Bị bạn bè bắt nạt về thể chất

Có 190 (10,3) 10 (5,3) 0,600 76 (40,0) 0,399 Không 1654 (89,7) 103 (6,2) 610(36,9)

Trang 5

Đặc điểm

Chung N=1844

n %

Hút thuốc (N=113, 6,1%)

Uống rượu bia (N=686, 37,2%)

Có n (%) p Có n (%) p Mối quan hệ với thầy, cô và nhân viên nhà trường

Tranh cãi gay gắt với thầy cô hoặc nhân viên nhà trường

Có 226 (12,3) 32 (14,2) <0,001 133 (58,8) <0,001

Không 1618 (87,7) 81 (5,0) 553 (34,2)

Bị thầy cô hoặc nhân viên nhà trường la mắng, hăm dọa hay sỉ nhục

Có 407 (22,1) 44 (10,8) <0,001 204 (50,1) <0,001

Không 1437 (77,9) 69 (4,8) 482 (33,5)

Bị thầy cô hoặc nhân viên nhà trường phạt về thể chất

Có 489 (26,5) 58 (11,9) <0,001 234 (47,9) <0,001

Không 1355 (73,5) 55 (4,1) 452 (33,4)

Hoạt động và kết quả học tập

Kết quả học tập

<Trung bình 496 (26,9) 49 (9,9) 0,001¢ 207 (41,7) 0,004

Trung bình 924 (50,1) 49 (5,3) 351 (38,0)

Khá 376 (20,4) 14 (3,7) 113 (30,1)

Giỏi/Xuất sắc 48 (2,6) 1 (2,1) 15 (31,3)

Thời gian học thêm sau giờ ở trường

<1 giờ 295 (16,0) 41 (13,9) <0,001 147 (49,8) <0,001

1-2 giờ 662 (35,9) 39 (5,9) 258 (39,0)

2-3 giờ 506 (27,4) 23 (4,5) 168 (33,2)

>3 giờ 381 (20,7) 10 (2,6) 113 (29,7)

Học thêm tại nhà với gia sư

Có 673 (36,5) 46 (6,8) 0,337 293 (43,5) <0,001

Không 1171 (63,5) 67 (5,7) 393 (33,6)

Có 1238 (67,1) 67 (5,4) 0,067 481 (38,9) 0,036

Không 606 (32,9) 46 (7,6) 205 (33,8)

Cảm nhận về sự gắn kết với trường lớp

Cảm thấy an toàn ở trường

Có 1142 (61,9) 61 (5,3) 0,072 386 (33,8) <0,001

Không 702 (38,1) 52 (7,4) 300 (42,7)

Có 939 (50,9) 49 (5,2) 0,097 294 (31,3) <0,001

Không 905 (49,1) 64 (7,1) 392 (43,3)

Cảm thấy vui khi học tại trường

Có 1456 (79,0) 82 (5,6) 0,085 531 (36,5) 0,208

Không 388 (21,0) 31 (8,0) 155 (39,9)

Cảm thấy thích là học sinh của trường

Có 1330 (72,1) 73 (5,5) 0,066 470 (35,3) 0,008

Không 514 (27,9) 40 (7,8) 216 (42,0)

Có 1118 (60,6) 67 (6,0) 0,764 408 (36,5) 0,435

Không 726 (39,4) 46 (6,3) 278 (38,3)

Điểm số thể hiện stress do học tập

Áp lực học tập¥ 12,2 (3,4) 12,6(3,1) 0,202 12,7 (3,2) <0,001

Lo lắng về điểm

số¥ 11,6 (2,5) 11,5(2,5) 0,377 11,7 (2,4) 0,614

Chán nản học

tập¥ 9,9 (2,6) 10,5(2,7) 0,016 10,2 (2,5) <0,001

Tự kỳ vọng cao¥ 10,2 (2,6) 10 (2,7) 0,563 10,4 (2,5) 0,001

Khối lượng học

quá nhiều¥ 10 (2,7) 9,8 (2,7) 0,558 10,2 (2,7) 0,001

¥ Trung bình và độ lệch chuẩn; ¢ Kiểm định chính xác

Fisher

Về mối quan hệ với bạn bè đồng trang lứa,

có đến 32,2% học sinh bị bạn bè bắt nạt về tinh

thần trong khi chỉ có10,3% học sinh bị bạn bè bắt

nạt về thể chất Không có mối liên quan có ý

nghĩa thống kê giữa mối quan hệ bạn bè đồng

trang lứa với hành vi hút thuốc và uống rượu

Về mối liên hệ với thầy cô, nhân viên nhà trường, 22,1% học sinh bị hăm dọa hay sỉ nhục

về tinh thần, ngoài ra họ còn bị phạt về thể chất (26,5%) Cả hai hành vi hút thuốc và uống rượu bia đều có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với mối quan hệ với thầy, cô và nhân viên nhà trường (p<0,05) Khi học sinh có tranh cãi hoặc bị thầy cô la mắng hoặc bị phạt về thể chất đều có tỉ

lệ hút thuốc và uống rượu cao hơn các học sinh khác

Về hoạt động và kết quả học tập, 50,1% học sinh có học lực trung bình Học sinh có học lực càng cao, học càng giỏi thì ít có tỉ lệ uống rượu bia và hút thuốc các học sinh có học lực kém Học sinh học thêm sau giờ ở trường 1-2 giờ chiếm tỉ lệ cao (35,9%) Một tỉ lệ khá lớn học sinh

có gia sư dạy kèm riêng (36,5%) Tỉ lệ học sinh phải đi học thêm vào dịp cuối tuần hoặc trong các kì nghỉ chiếm tỉ lệ khá cao (67,1%) Hầu hết các yếu tố này đều có liên quan đến hút thuốc và uống rượu bia (p<0,05)

Về mức độ gắn kết với trường lớp, phần lớn học sinh đều cảm thấy an toàn ở trường (51,9%)

và thấy vui khi học tại trường (79%) Họ cảm thấy giáo viên đối xử công bằng với học sinh (50,9%) và cảm thấy gần gũi với mọi người trong trường (60,6%) Các cảm nhận về gắn kết với trường lớp không có liên quan đến hành vi hút thuốc nhưng có liên quan đến uống rượu bia trong đó học sinh không cảm thấy an toàn khi ở trường học sinh không cảm thấy giáo viên đối

xử công bằng và học sinh không thấy thích là học sinh của trường thì có tỉ lệ uống rượu bia cao hơn (p<0,05)

Kết quả từ phân tích đa biến cho thấy học sinh nam có tỉ lệ hút thuốc lá cao gấp 10,08 lần so với nữ học sinh (KTC 95% 5,31–19,10), và có hành vi uống rượu bia cao gấp 1,78 lần so với nữ học sinh (KTC 95% 1,44 – 2,19) Mối quan hệ với thầy cô/nhân viên nhà trường ảnh hưởng tiêu cực đến hành vi hút thuốc lá của học sinh (p<0,05) Nhóm học sinh hay tranh cãi gay gắt với thầy cô có tỉ lệ hút thuốc cao gấp 1,91 lần, và

Trang 6

gấp 1,87 lần so với đối tượng khác Nhóm học

sinh bị thầy cô la mắng, ham dọa hoặc sỉ nhục có

tỉ lệ uống rượu bia nhiều gấp 1,40 lần so với đối

tượng không bị Ngoài ra, nếu học sinh bị thầy

cô/nhân viên nhà trường phạt về thể chất cótỉ lệ

hút thuốc lá cao gấp 2,13 lần, và uống rượu bia

cao gấp 1,36 lần so với đối tượng không bị

Bảng 3: Mối liên quan đa biến giữa vấn đề học tập và

hút thuốc, uống rượu bia ở học sinh trung học phổ

thông

Đặc điểm

Hút thuốc Uống rượu bia

OR (KTC

OR (KTC

Đặc điểm dân số xã hội

Giới (Nam) 10,08

(5,31–19,10) <0,001

1,78 (1,44–2,19) <0,001 Nơi cư ngụ

(0,73–1,68) 0,626

(1,10–1,97) 0,009

Mối quan hệ bạn bè

Tranh cãi gay gắt với

thầy cô hoặc nhân viên

nhà trường

1,91 (1,19 – 3,06) 0,007

1,87 (1,37–2,55) <0,001

Bị thầy cô hoặc nhân

viên nhà trường la

mắng, hăm dọa hay sỉ

nhục

1,40 (1,09–1,80) 0,009

Bị thầy cô hoặc nhân

viên nhà trường phạt

về thể chất

2,13 (1,42 – 3,21) <0,001

1,36 (1,07–1,72) 0,011

Hoạt động và kết quả học tập

Thời gian học thêm sau giờ ở trường

(0,30 – 0,80) 0,004

0,69 (0,51–0,92) 0,012

(0,27 – 0,85) 0,012

0,59 (0,43-0,81) 0,001 >3 giờ 0,30

(0,15 – 0,64) 0,002

0,50 (0,35–0,70) <0,001 Học thêm tại nhà với

gia sư

1,62 (1,31–1,99) <0,001 Cảm thấy giáo viên đối

xử công bằng với học

sinh

1,43 (1,15–1,77) 0,001

(1,02–1,09) 0,001 Chán nản học tập 1,09

(1,01 – 1,19) 0,034 Kết quả bảng 3 cũng cho thấy, áp lực học tập

có ảnh hưởng không tốt đến hành vi uống rượu

bia, cụ thể nếu học sinh có điểm số ESSA thể

hiện áp lực học tập cao hơn một điểm thì có

hành vi uống rượu bia cao gấp 1,05 lần so với học sinh không bị áp lực do học tập mang lại Và nếu học sinh chán nản trong học tập sẽ hút thuốc cao hơn gấp 1,09 lần so với học sinh khác

BÀN LUẬN

Đây là nghiên cứu đầu tiên được thực hiện trên số lượng lớn học sinh tại tất cả các huyện, thành phố tại Tây Ninh Kết quả cho thấy khác biệt giới tính ảnh hưởng đến hành vi hút thuốc

và uống rượu bia, cụ thể học sinh nam có tỉ lệ hút thuốc và uống rượu bia nhiều hơn nữ Trong

đó, tỉ lệ nam sinh hút thuốc cao gấp 10,08 lần, và uống rượu bia cao gấp 1,78 lần so với nữ Kết quả này trùng hợp với kết quả nghiên cứu khác trước đây(4,6,7) và cũng một lần nữa khẳng định vai trò quan trọng của yếu tố giới tính đến việc giảm tỉ lệ các hành vi không tốt này

Về trải nghiệm bạn bè cùng trang lứa, kết quả cho thấy tỉ lệ cao khi học sinh cho biết thỉnh thoảng hoặc thường xuyên bị bạn bè bắt nạt về tinh thần (32,2%) và về thể chất (10,3%) Các con

số này cao hơn so với nghiên cứu tại TP.HCM (25,3% và 9,6%)(6) và nghiên cứu tại Long An (25,6% và 9,5%)(7) Ngoài ra, tỉ lệ có xung đột với thầy cô giáo hoặc nhân viên nhà trường cũng cao

và dao động từ 12,3% (tranh cãi gay gắt với thầy

cô hoặc nhân viên nhà trường) đến 26,5% (bị thầy cô hoặc nhân viên nhà trường phạt về thể chất) Kết quả cũng cho thấy có 22,1% bị thầy cô hoặc nhân viên nhà trường la mắng, hăm dọa Các tỉ lệ này trong nghiên cứu TP.HCM lần lượt

là 15,2%, 22,3% và 29,6%(6) trong khi tại Long An các tỉ lệ lần lượt là 9,8%, 14,2% và 19,3%(7) Như vậy, những xung đột với thầy cô giáo trong nghiên cứu này cao hơn Long An nhưng thấp hơn TP.HCM Một trong những khả năng để giải thích cho sự khác biệt này là môi trường học tập

và cách tương tác giữa học viên và giáo viên tại TP.HCM, một trong những trung tâm kinh tế tài chính của Việt Nam, có tính cởi mở hơn qua tỉ lệ tranh cãi gay gắt cao hơn Mặc dù vậy, việc phạt

về thể chất với mục đích giáo dục, rèn luyện học sinh tốt hơn, nhưng với tỉ lệ cao học sinh bị phạt

Trang 7

về thể chất hoặc hăm dọa, la mắng ở cả 3 nghiên

cứu cũng khó được chấp nhận trong giáo dục

hiện đại

Mối quan hệ giữa thầy, cô và nhân viên nhà

trường ảnh hưởng đến hành vi hút thuốc lá và

uống rượu bia Mối quan hệ giữa thầy, cô và

nhân viên nhà trường được đánh giá qua các yếu

tố như tranh cãi gay gắt với thầy, cô, hoặc bị

thầy, cô la mắng, phạt về thể chất đều là các yếu

tố nguy cơ dẫn đến các hành vi không tốt Từ

xưa đến nay, tại Việt Nam, nét đẹp văn hóa “tôn

sư trọng đạo” luôn được giữ gìn, cho thấy mối

quan hệ tình cảm giữa thầy và trò Trong đó, học

trò luôn làm theo hướng dẫn của thầy cô, chỉ có

thầy đặt câu hỏi, trò không bao giờ được cãi lại

Tuy nhiên, ở thời đại ngày nay, có một số thay

đổi lớn trong mối quan hệ này, đó là khuyến

khích học sinh phát biểu, tăng khả năng sáng

tạo, khám phá ở trường Nhưng điều này lại có

thể dẫn đến tình trạng tiêu cực như nói năng

ngang ngược, cãi lại thầy cô Điều này trong

nghiên cứu cũng đã khẳng định mối quan hệ

thầy trò hiện tại có sự thay đổi rất lớn và có ảnh

hưởng không tốt đến lối sống của học sinh, đặc

biệt ở độ tuổi vị thành niên đang trong giai đoạn

muốn chứng tỏ bản thân Nếu học sinh cảm thấy

mình được đối xử công bằng, gần gũi với thầy cô

khi ở trường, không bị phạt về thể chất, không bị

la mắng thì các em sẽ có các hành vi tích cực hơn

Điều này cho thấy, ngành y tế và ngành giáo dục

cần phải có cách tiếp cận đúng đắn hơn, giao

thoa giữa giáo dục truyền thống “tôn sư trọng

đạo” và giáo dục hiện đại kích thích sự sáng tạo

và tôn trọng học sinh hơn

Các nghiên cứu đã thực hiện trước đây

thường đánh giá stress do học tập một cách tổng

quát và ảnh hưởng của nó đến sức khỏe tâm

thần và hành vi nguy hại sức khỏe(5,6) Nghiên

cứu này đánh giá năm khía cạnh cụ thể hơn gồm

áp lực học tập, lo lắng về điểm số, chán nản học

tập, tự kỳ vọng cao và khối lượng học tập Kết

quả cho thấy học sinh có cảm nhận về áp lực học

tập càng nhiều thì càng có khả năng có hành vi

uống rượu bia nhiều hơn Trong khi đó, học sinh

có cảm nhận chán nản học tập càng nhiều thì càng có hành vi hút thuốc nhiều hơn Mặc dù điểm thang đo ESSA đánh giá khối lượng học tập không ảnh hưởng đến hành vi nguy hại sức khỏe, nhưng kết quả qua đánh giá khác cho thấy học sinh học thêm tại nhà với gia sư sau giờ học

ở trường có tỉ lệ uống rượu bia cao hơn (OR = 1,62, KTC 95% 1,31 – 1,99) Tuy nhiên, điểm phát hiện khá đặc biệt trong nghiên cứu này là học sinh mất càng nhiều thời gian học thêm trong ngày thì càng ít có hành vi nguy hại sức khỏe

KẾT LUẬN & KIẾN NGHỊ

Có mối liên quan giữa các yếu tố dân số, yếu

tố gia đình, yếu tố gắn kết với nhà trường, thầy

cô và nhân viên trong trường, đặc biệt là stress

do học tập với các hành vi hút thuốc và uống rượu bia tại tỉnh Tây Ninh Có sự giống nhau về tác động của các vấn đề liên quan học tập ảnh hưởng đến cả hai hành vihút thuốc và uống rượu bia (nam, tranh cải với thầy cô, bị phạt về thể chất) Tuy nhiên, hút thuốc và uống rượu bia cũng bị ảnh hưởng bởi các yếu tố riêng biệt.Chương trình can thiệp cần đánh giá các yếu

tố liên quan để chọn nhóm đối tượng đích

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Brener ND, et al (1995) Reliability of the Youth Risk Behavior Survey Questionnaire.Am J Epidemiol 141(6): p 575-80

2 Hosmer DW, Lemeshow S, and Sturdivant RX (2013) Applied logistic regression Third edition / ed Wiley series in probability and statistics Hoboken, New Jersey: Wiley xvi,

500 pages

3 Huynh Ho Ngoc Quynh (2009) Exploring the mental health

of public health and nursing students in Ho Chi Minh City, Vietnam Master Thesis, Queensland University of Technology, Australia

4 Nguyen Tan Dat (2009) Child maltreatment and mental health among first year students in Cantho university of medicine and pharmacy, Vietnam 2009, Master Thesis, Queensland University of Technology, Australia

5 Sun Jiandong, et al (2011) Educational Stress Scale for Adolescents: Development, Validity, and Reliability With Chinese Students.Journal of Psychoeducational Assessment 29(6): p 534-546

6 Thai Thanh Truc (2010) Educational stress and mental health among secondary and high school students in Ho Chi Minh city, Vietnam.Master Thesis, Queensland University of Technology, Australia

Trang 8

7 Thái Thanh Trúc và Bùi Thị Hy Hân (2012) Những trải

nghiệm bất lợi thời thơ ấu và sức khỏe tâm thần ở học sinh

trung học cơ sở và phổ thông trung học tại Long An.Tạp chí y

học Tp.Hồ Chí Minh 16: p 35-41

8 Tran Bich Phuong (2007) Improving knowledge of factors that

influence the mental health of school children in Viet Nam

Master Thesis, Queensland University of Technology, Australia

Ngày nhận bài báo: 20/11/2015 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 25/11/2015 Ngày bài báo được đăng: 15/02/2016

Ngày đăng: 18/05/2021, 19:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm