nối tiếp nội dung phần 1 cuốn sách về vấn đề xác định thành phần các dân tộc thiểu số ở miền bắc việt nam, phần 2 giới thiệu một số công trình nghiên cứ sâu về các dân tộc và văn hóa dân tộc thiểu số ở miền bắc việt nam. mời các bạn tham khảo.
Trang 1Người Thu Lao thuộc nhỏm ngôn ngữ Tày — Thái Nhưng liọ tòn tại trong nhỏm ấy n h ư một dân tộc riêng biệt, hay chỉ là nhóm địa phưo’ng của một dân tộc nào đấy mà thôi ? Đó là vấn đề cần nghiên cứu rổ.
Đê góp p h àn giải quyết vấn đề đặt ra ỏ' trên, chúng tôi trình bày một sổ đặc trưng dân tộc học, mà theo chúng tôi, đỏ là những điềm nồi bật nhất đề xác định
vị trí của người Thu Lao trong bảng phân loại các dân tộc hiện nay
*
Thu Lao là tộc danh do ngirời Hán gọi Hiện nay, người Thu Lao cũng nhận tôn gọi ấy là tên gọi chính thức Tên gọi này xưa nav không mang ý nghĩa miệt thị Thu Lao, Pu Lao, Thồ Lão là cách gọi khác nhau
từ chữ Ngoài ra, một sổ ngưòi Hán còn
dùng tên gọi c ò Lão ('Ểt ê ) đẽ chỉ ngưòi Thu Lao nữa.
' r Thực ra, Lẵo hay Thổ Lão là tên mà ngirời Hán dùng
đê gọi kliổi Cháng (Choang) '"triuớc kia, Trong khối Chảng ấy, bao gồm cả [người Chảng, Tày, Nùng hiện nayí1) N hư vậy, Lão hay Thỗ |Lẩo không phải là tên riêng chỉ người Thu Lao, mà là tên xưa kia gọi chung các nhỏm ngưòi thuộc khổi Cháng
ỏ ’ Trung Quoc hiện nay, một bộ p h ận người Cháng
ở huyện Phong Sơn và những miền xung quanh vẫn tự
(l) Tộc danh Choang' mó-i xuất hiện từ đời Tống Trước (ló, những người nky đưọ’c người Hán gọi là Di Lão, Lý Lão Hiện
nay ỏ' Trang Quốc gọi là Gháng.
17VVĐ
I
257
Trang 2xưng là Bỏ Lão (Bồ = Pu, cỏ nghĩa là ngivòl) Người
H á n c u n g CÒI1 gọi m ộ t hộ p h ậ n n g ư ờ i C h á n g k h á c là
Thô Lão í1)
T ừ tộc đ á n h p h à n lích ỏ- Irên, cliímg tôi n g h ĩ r ằ n g
người Thu Lao hiện iiav, nguyên xiva là một bộ pliàn
n ào đó của khối cộng' đòng Chảng' Khổi cộng đồng nàv
■ thống nhấl và mang một tên gọi là Lão hay Thề Lão
Nhưng sau, họ phùn liỏa thành những bộ phận nhỏ
n h ư Clúing, Tày, Nùng v.Y ề mà ngày nav eư trú ỏ’ nãm Trung Quốc và bắc Việt Nam Các nhóm người nàv đều không giữ lại tốri gọi thong nhất cỗ xưa Tliế nhưng,
cỏ một vài nhỏm nhỏ lại vẫn giữ tên gọi' cò nàỵ làm tộc danh chính thức của mình n h ư : Thu Lao, Cơ Lao, Tsirn Lao
N g ư ò i T h a L a o c ò n có lèii ((Đàyy> là Lỏn tự họ đ ặ t
ra « Đàv )) chỉ là bien âm của ((T à y )) hay « T á y )) mà thôi
Theo quan niệm của người Thu Lao (hì Đày có nhiều
ngàỉìh, p h à n biết n h au bởi một [số đặc điếm về V p h ụ c của p h ụ n ữ Liỉiư:
— Đày T h ừ Xề (((T h ừ » là khăn, ((X ề )) là nhọn)
là người Đàv [mà phụ n ữ ,Yấn gkliăn Ihành nểp nhọn
tr ê n (lỉnh đầu Nhỏm Iigưòl này còn có tên gọi n ữ a là
Đáy B ăm (Đày đen) vì V phục của phụ nữ màu chàm đ e n ề Đày chính là nhóm Thu Lao mà chúng tôi đang giới lhiệuề
— tìàiỊ Ma Puằ— ià người Đày ỏ' vùng Ma Pir thuộc Vân Nam — Trung Quốc Phụ n ữ Đà}r Ma Pir đội khăn hoa quấn từ trán về sau gáy Nhóm [người Đày nay
chỉ cư trú ỏ’ Trung Qu5cệ
(2) Hoàng Tàng Xổ, Quảng Tây Choang lộc lịch sư hỏa hiện irạng, Dân tộc xuất bản xã, Bắc Kinh (bẳn Trung vãn).
258
Trang 3— Đày Khảo ( B à y Irãng) .Đó ]à nhỏm người Tảv
mặc quần và áo dài llọ ở nhà sàn và làm ruộng nirởc* Miện nay, nhóm Đày Khào, cỏ một sổ người cư trú ỏ’ huvện Bằc líà, Bảo Thống, Lào Cai^>
— Đày T h ử Vững là người Đàv mà phụ n ữ thường
đội khăn quấn Iròii tròn đầu Nhỏm ĐaV nàv cir trú ỏ’ phía bắc vùng Ma Pu’ — Vàn Nam (?)
Theo quan niộm của người Tiiu Lao thì giữa các nhỏm
Đày, nhẵt là tì ày T h ừ X? \ ấ ã ])ùụ Kháo có mộl quan hệ rất khăng khít Hai nhỏm 'Dàv 11 àV có những họ giống nhau, và nếu cùng họ iliì coi nhau như anh em ruột thil, đôi bên llurờng di lại thăm hỏi nhau trong các dịp tòi, lỗ, hiếu, hỉ
Qua tốn gọi và cách phản biệt giữa các ngành khác nhau của người Tlui Lao, giáp ía khẳng "định quan hệ
nguồn íịốc của người Tim Lao vói các dàn [tộc trong
nhóm Tày — Thái ()’ (làv, họ vẫn giữ đircyc tôn Lự gọi ihổng nhất vởi tôn tự gọi của người Tày và Thái (Tày, Táy) Chúng ta còn n h ậ n thấy trong quan niệm và tình cảm của nsiTỜi Thu Lao, vẫn coi những nhóm Đàv kêo ' < m 7Irền, irong đỏ có ngirời -Tày ỏ' Lào Cai là nhóm đồng lộc Yỏi mình
Trong điều kiện tài liệu \ ề người Thu Lao ỏ’ Việt Nam còn ít ỏi và những' hiễu biết ve các nhỏm đòng tộc của
họ ỏ' Trung Quốc cũng rất hạn chế, chủng' ta khỏ cỏ thê đoản đinh đưo'C đia bàn cư trú xưa cítnổ n h ư hièn• • o ♦nay của nhóm ngirời nàyte) Tiên Hy cho rẳng người
(1) Thực rai ngivtVi 'l'ày (V Lào Cai, khòng phầi gốc Tày, mà
là ịị c Thái, Giáv, Việt sau bị Tày hóa mù thôi.
(2) Trong số những tài liệu chủng tôi ctirọ’c thíim khẵo về các dồn lộc vùng 1111111 Trung Quốc của các nhà nghiên cứu
Trang 4Thổ Lão xưa kia ở YÙng giáp giới giữa các í inh Tứ Xuyên, Quỹ Châu và Quảng Tây, sau đỏ, họ mới di cư vào Vân Nam và 'ỏ’ tản m ạn khắp noú trong tỉnh này* đặc biệt ở Thạch Bình, Hi Ngô và Lộ N am (1> Nhưng trong các truyện kề cỏ quan hệ đến nguồn gốc lịch sử dân tộc mình, các cụ già Thu Lao thư òng nhắc đến những nơi xưa của họ n h ư Quỷ Châu, Quảng Tây Thời
đỏ, họ còn ỏ’ đông đúc và làm ruộng nưỏc
Những nhà nghiên cứu về ngưòi Cháng, cũng cho rằng khu vực cư trú của người Chảng là ỏ’ Quảng Đồng, Quảng Tây, Quỷ Châu, Vân ịNam ẵ Vậy có thễ là xưa kia cung n h ư hiện nay, người TÍ1U Lao cư trú cùng một khu vực vỏ’i các nhỏm Tày — Chảng
Những tài liệu về người Thu Lao không nói rổ nhỏm ngưòi nàv đã từ địa bàn cư trú cỗ xưa là vùng giáp giới Quảng Tâv — Quỉ Châu Tào Vân Nam từ th ò i kỳ n à o ?
Nhưng nếu nói đến nhóm người Cháng, thì Từ Tùng Thạch cho rằng ẵế « 0 ’ miền nam Vân Nam (nay là vùng có nhiều người Thu Lao quần tụ), người Chảng đến rất sởm,
từ trước khi vua Nghiêu, Thuấn khai thác đất Nam Giao.Chẳng qua đương thòi không gọi là Cháng mà thôi)), (trích lại của Đào Duy Anh) Riêng ngưòi Thu Lao, họ
đã định cư ỏ’ Vân Nam khá lâu, rồi một số đi tiếp xuống phía Nam vào Việt Nam
Các gia đình người Thu Lao đầu tiên tới Việt Nam, thư ờng nhớ đến những địa điễm họ đi qua là Ma Mư, Lừng Lồ, chợ Trăng Háng, chọ’ Pả Sờ thuộc Vân Nam — Trung Quốc Họ xuôi theo thượng nguồn các sồng Hồng
Trung Quốc gần đây, chưa thấy tài liệu nào miêu th u ậ t tr ự c tiếp về người Thu Lao Phải chăng, họ đã xểp nhóm ngưò’i này vào các cộng đồng ngưòi khác ?
(l) T iê n Hy, tài liệu đã dẫn.
260
Trang 5và sông Chảy vào Việt Nam rồi định cư ở vùng biên giỏi V iệ t— Trung, thuộc hai huyện Mirờng Khương và Xin Ma Cai ngày nay.
Thời điêm di cư Yào Việt Nam của từng nliỏm gia đình người Thu Lao có khác nhau Nhỏm vào sớm nhất
là tỗ tiên gia đình các cụ Hò Diu Phu và Ly Chần Sài ỏ' vùng Na Hử (Mường Khương) N hững người đến đầu tiên này, tởi nay đ ẩ đu*Ọ’C khoảng 100 n ă m (4 — 5 đời)
Sau lớp đầu liên ấy, n h ữ n g gia đình khác tiếp tục vào Việt Nam yà cư trú rộng ra các vùng xung q u a n h Na
H âử và phía bắc Xin Ma Cai Cách đây khoảng hai, ba
m ưoi năm, lẻ tẻ vẫn cỏ nhữ ng gia đình người Thu Lao tiếp tục xuống cư trú ỏ’ Lao Gai
*
Ngôn ngữ Thu Lao mang đầv đủ nhĩrng đặc trưng của ngôn ngũ’ Tày—Thái Sự tương đồng giữa Thu Lao với các ngôn ngũ’ Tàv—Tliải về từ vựng, không chỉ xảv
ra ở các 1Ó'P từ chỉ n h ữ n g hiệntưcm g tự nhiôn, bộ p h ận
cơ thễ, động vật, cây cối, hệ thống sổ đếm mà còn trong nhiều lớp t.ừ văn lióa kliảc nữa Song' ngôn, ngũ* Thu Lao cung mang nhiều nét riêng so với các ngôn ngữ khác trong nhỏm Tỷ dụ về ngữ âm, trong một số
từ khi tiếng Tày, Thái, Pa Dí.,ể là phụ âm YÔ thanh, thì ở tiếng Thu Lao là phụ âm hữu -thanhc1)
Trang 6Có khi siềf tựongiVng xảy ra giữa một phụ âm có cấu
âm piiửc tạp với một pliụ ảm có cẩu âm đ ơ n ịíiíin
ho’11 mà Lluvừng phụ ầm có cấn àm phức tạp tliuộc ve tiếng Thu Lao Tirong ứng với àm [13] xát môi của tiếng Thu Lao, thì ỏ’ các ngốn ngữ kia ỉà Xí\l mòi răng (V) hoặc là mội: âm tắc (các từ 27, 73.,.)
Có một số từ ỏ’ tiếng Tàv, Thái-, Pa I)íể có âm cuối thì ngirc/c lại, tiếng Thu ĩ,ao không có àm cuối:
Khi so sánh VỐQ í ừ cơ bản của ngòn ngũ’ Thu Lao
với các n g ô n ngũ’ k h á c trong nhóm , chúng tòi thấy,
ngoài sự đồng nhất ra, ngôn ngữ Thu Lao còn có cải
gì tách xa với các ngôn ngữ Tày, Thái Pa Dí.ề hơn lả vởi các ngôn ngữ Nùng ĩ)ỉn, Giáv, Bổ Y, và cả Chảng nữa Trong nhóm san nàV, tiếng Thu L a o 'g ầ n tiếng Nùng Dín ho'11 cả Phải chăng hiện Lưọng ngồn ngũ’
này đ ư ọ ’C giải thích b ằ n g nguyên n h â n địa lỹ là ngày
nav n g ư ò i Thu Lao ỏ' Việt Nam và Trung Quốc sống' gần cầc nhóm Nùng Dín, Giáv, Bố Y, Cháng hơn là
nh ỏ m Tày, Tliái, Pít Di? — hay là bằng nguyên nhân
về nguòn gốc — tức tiếng Thu Lao thuộc nhóm Cháng chung (gồm Chảng, một sổ nhóm Nùng, Cao Lan, Hố Y ), chứ không phải thuộc nhóm Thái chung.(gồm Thái,262
Trang 7Tày, Pa Dí) nhir Ođrỉcua vừa 11ỒU ra?(l) Đối với vấn đề này, chúng ta chờ những kết luận vững chắc hơn của các nhà ngôn ngữ liọc.
Ngirò'i Thu Lao dùng tiếng nói ri ông của mình trong giao Liếp nội bộ dàn tộc, đòng thòi Ỉ1Ọ còn nói rất thành thạo tiếng Quan Ilôa, là ngôn ngữ giao tế gần n h ư duy
n h ất giữa các dân lộc trong vùng Từ em bé năm, sáu tuổi đến người già, ai ài cũng biết thành thạo tiếng nói nảv đê tnio đỗi với người Iiáu, Nùng, Tu Dí, Pa Dí xung quanh
Khi xác định thành phàn dan tộc của một cộng đồng
n g ư ò ’i, đ ặc t r ư n g v ă n h ó a đư(ệ)'C coi là m ộ t t r o n g n h ữ n g
tiêu Ghuằn rất quan trọng Tuy nhiôn, khồng hẳn là ỏ’ dàn tộc nào cũng \ậy Có những dân tộc mà íruycn
Nhà của người Thu Lao cung không cỏ gì khác mấ}r
so YỚi nhà cùa người Pa Dí, Nùng, Tu Dí và cả Mèo nữa Đỏ là loại nhà phỗ biến ở v ù n g n ain Trung QuocẾNhà của người Thu Lao là nhà đất, ba gian, không có
Trang 9chái ỏ’ hai hồi Đỏ là loại hình nhà hai mải, không phải
là bốn mải như nhà sàn của người Tày, Thải Tường nhà của ngưòi Thu Lao và các dân tộc khác ỏ’ khu vực này đều trình bằng đất rất dày và chắc (từ Om 40 đến 0m80) Các quả giang của nhà đều gác lên tường chứ không có hệ thống cột đổ’ Nếu nhà làm lại mà tưcmg
đã yếu, ngirò'i ta dùng một số cột chổng, ở đầu quả giang phía ngoài tường Kèo bao giò’ cũng làm bằng gỗ
và là kèo đ ơ n ẵ Sườn nhà, cỏ loại cẩu tạo rất đơn giản (xem hình I) Nhưng cũng cỏ loại cấu tạo phức tạp
hơn, gọi là nhà phang (nhà của người Hán — xem
(1) Theo Níịuyễn Văn Huy, ỏ* các ngành cũa người Phù Lá,
Xá Phó, hiện tưọTig này cũng r ấ t phỗ biến.
265
Trang 10Nhưng khi mặc thì họ túm lại thành một túm ỏ' phía sau Dàv là lo<ại \'áv khác hẳn với váy của người Thái, Tây và cả váv xòe của người Mèo nữa.
Phụ n ữ Thu Lao còn phân biệt với phụ n ữ các dằn tộc khác ỏ’ cách đội khăn Khăn của họ là một mảnh• • * *
vải chàm dài 4m, rộng Om 26, gấp làm bốn theo chiều dài rồi quấn thành chóp cao trên đỉnh đầu Hai mối kliăn (ĩê xổa dài, rả từ gáv xuống tói thắt lư n g ế Chính
vì kiêu đội khăn nàv mà ugirời ta gọi ngành Đày đó là Đày Thừ Xề (Đày khăn nhọn)
Trong một số lĩnh vực văn hóa tinh thần yà văn hóa
xã hội của người Thu Lao n h ư : cirới xin, ma chay
lô n giảo, tín n g ư ỡ n g , hội h è ế Ihê h i ệ n r ấ t r ổ n é t n h ữ n i í
ảnh hưởng' văn hỏa của nhiều dân tộc ở vùng nam
Trung Quốc và YÙng biên giới YiệL — Trang, trong' đó văn hóa của người Hán có sức chi p h ố i'm ạ n h mẽ
Trong một đảm cirói của người Thu Lao, ta dềa Ihấy một liến trình chung, một quan niệm chung về dạm hỏi,
về ngtrời mối (pliù dâu) Việc xem sổ, «giá cả cô g á i »,
lễ vật, các n ‘hi thức cồ dâu phải thực hiện khi mới về nhà chòng mà ỏ' lìgưòi Nùng, Iỉản, Pa Dí, Phù Lá
ta đều bắt gặp Nhưng mặt khác, nếu đi sâu Yào nhữnơ nghi thức ấy, ta cũng tìm thấv được n h ữ n g nét cô xưa,
mà ngày nav ít người còn biết đến ỷ nghĩa của nó Tỷ
dụ một số tập tục trong đám cưới n h ư : vào cuối ngày
thử hai của hôn lễ, có tục các cô bạn dầu (phủ dâu) gánh nưởc tặng những người làm b ế p ; tực nhà Irai trao bánh dàv cho nhà gái khi nhà gái ra vo (tục nà}r, nhiều khi gây ra ầu đả giữa những đám thanh niên hai họ); tục nhữ ng người đi đ ó n dâu phải traò những chiếc bảnh đày <( vào cửa» Y.v
Trong các bưỏ’C tiến hành của tang lễ nliư tắm rửa, cạo đầu, mặc quàn áo mới, cho bạc vào miệng người26(5
Trang 11chết, cách đặt quan tài trong nhà (kê cả hình cỉạng áo
q u a n 'trò n mô phỏng theo thân cây), và cách đ ư a quan tài ra cửu, việc phúng viếng ỏ’ ngoài sân, cách cliòa, cách xây mộề chúng ta đều íiiấy ỗ’ các tộc ngirời tại khu virc này những nét chung uhấtẽ Cố chăng sự khác biệí chỉ ở n h ừ n g chi tiết ịiliiu; con đàu, cháu đàu phải
là Dgười phủ miếng vải trắng lèn người chết tpi’ớc khi tỉậỵ nắp quan tài lại: hay ònư cậu phải là người vào rừng chặt cày làm đòn đê klìièng quan tài người clián Nếu vắng 0111* cậu, thì việc, ấy phải nhò' những ngirừi trong b ả n , nhưng p h ả i l à người ngoài Ỉ1Ọ.
Đối với ngirời Thu Lao, từ việc thừ cúng tỗ tièn (chố thấu) thờ thô Ihằn (thủ tỷ) Irong mỗi gia đình, Iroìig' mỗi bản, viêc thờ bôn nấm mỏ, Ihờ bà 11111 bảo vê trẻ cm/ • • / • V
(1111 pẳng), thừ Quan Âm (Quản L)ía Ngài), thờ thày cúng (mạt) cho đến việc treo bùa chủ đễ ngăn trỏ’ ma là Yà nhũ-ng đieu rủi ỏ' trirức cira mỗi nhà (goa na)ề chúng tôi đen thấv sư thống nhất tử quan niệm đến cách xếp đặt, Liến hành 0 ’ Iigưò'i Thu Lao, người con dàu CỎ11
đưcrc p Lì ép lập hàn tlìò' bố mọ mình (tố tá) ở treu tiròng,
cạnh cửa ra vào trong Irưừng hợp người đàu đó không
cỏ a n h em trai là những ngirời cỏ ngliĩa YỊ1 chính trong
việc thò’ cúng bổ mẹ sau khi bố mẹ qua đ ờ iễ Cách củng
tỗ tièn của người Thu Lao cũng khác vỏ'i ngirời Nùng
Tu Dí, Pa Dí Người Thu Lao chỉ củng' CO’111 hàng ngày cho nguừi chết trong lhòếi gian mộl tlìáng sau khi chôn Khi củng, họ kliồíig lập bàm thờ cố định bên cạnh bàn thờ chỉnh, mà chỉ cúng ỏ’ một mâm gỗ (thực tế là một cái bàn thấp) kè phía trirớc bàn thờ Theo quan niệm của ngirời Thu Lao thì những ai từ thế hệ th ứ tu’ (cụ)
í rở lôn mới đu’Ọ’c thờ cúng ỏ’ bàn thờ chế thấu, vì hồn những ngứời đó đã dưọ’C 1Ô11 ti\ờiẾ Còn những người từ thế Í1Ộ thử ba (ông) trở lại íliì không thờ ỏ’ bàn thờ chế
207
Trang 12thấu Chỉ khi nào củng thì mỏi đặt lễ vậl lên mâm gỗ phía trước bàn thờ chính mà thoi 0 ’ ngiròi Thu Lao, mỗi dòng họ hav chi họ riêng, cũng có cách thờ củng khác nhau Tỷ dự họ Tải cỏ hai chị, một chi củng chế thấu ỏ’ bàn thò' n h ư chúng tòi đã nói và người nào trong nhà thắp hương khi củng'cũng được, nhưng chi kia Ihì cúng chế thấu ỏ- một cái sàng' treo, mà nhữ ng người làm dâu, làm rề lại không đưọ’C phép thắp hương
Vì dân số quá ít, lại sống xen cài vói các đâ.n tộc khác,
n ê n xã hội người Thu Lao nằm trong hệ thống tò chức cai trị của bọn đổ quốc và phong kiến n h ư tổng, xã làng với các chức dịch n h ư ((pin thầu )), (( xéo phải))
do bọn thống trị lự a chọn, xếp đạt Tuy nhiên, trong
mỗi làng (người Thu Lao gọi là « loong bủn», người Thái, Lào nhiều noi gọi là «bởn» hav ((loong bạm'>) vẫn còn cỏ chức <cpieiĩgy» bên cạnh « xeo phải)), « Píềng »
cỏ ihễ là lôn gọi ngư ời đ ứ n g đằLi < (ỉoong b á n )) xưa của
ngưòi Thu Lao, mà ở người Giảv Ihường gọi là « /;/ềnẢ»,
hay người Nùng gọi là (( píiìh)).
Ngoài phạm vi tỗ chức hành chính, người Thu Lao còn có hình thức tỗ chức cỗ truvền gọi ]à ((hội)) — một
tỗ chức cồng xã nòng thồn trước kia Phạm vi của « hội »
cỏ thể chỉ là một làng (nếu làng ío) hay một vài làng họp lại (nếu làng nhỏ và ỏ’ gần nhau) Mỗi năm, họ bầu
ra hai người chiu trách nliiệm đôn đốc thực hiện các cống \iệ c của « h ộ i » Chức vị nàv do những thành viên trong làng (gồm nhữ ng ngưòi đàn òng là chủ gia đìnli) thay nhau làm Khi hành lễ trong một khu rừng cấm ở cạnh làng, người đửng ra chủ trì cúng lễ, cỏ khi kliòng phải là hai ngưòi đưcrc bầu luản phiên mà thường
là một cụ ông, già nhất, có uy tín và biết cúng bải, thấu biêu phong tục đứng ra Sau khi cúng lễ và ăn uống> mọi ngưòi bàn bạc dân chủ, thỏa thuận những qui ưóc
268
Trang 13về việc bảo vệ trị an, bảo vệ khu rừng cấm, bảo đảm sản xuất và giúp đơ nhau khi cần thiết T rong tỗ chức này, nhiều khi « pin thầu )>, « xéo p h ả i » cũng chỉ là nhữ ng ngưòi phải tuân tim lệ làng n h ư mọi thành viên khác trong thôn m à thôi Hình Ihức tỗ chức này, chúng tôi còn thấy tồn tại ở người Nùng, Mèo, Pa Dí
Dòng họ và quan hệ dòng họ ỏ’ người Thu Lao không được chặt chẽ, rổ nét n h ư ỏ’ các dân tộc khác n h ư Mệo, Nùng Người Thu Lao có một sổ họ n h ư : Ly, Cáo, Tải>
T hen, Cliú, Dì, Khô, Xéo, Ma, Goàng (cỏ thê là họ Hoàng) Trong so những họ này, chúng.tôi thấy họ Lý (Lý), Goàng (Hoàng) là họ phò biến ỏ' người Mèo, Dao Tuyên, Pu Péo Các họ Cáo, Tải thì rất pliỗ biến ỏ' người Cờ Lao Họ Ma cung là họ phô biến ở người Tày*Cách đặt tên chữ của ngiròi Thu Lao, cũng theo như
€ảeh đặt tên ỏ’ một số dân tộc khác n h ư Nùng, Pa Dí, Tu
Dí, Mèo, Dao, Hán ỏ' khu vực này Chúng tôi đã giới thiệu cách đặt tôn này trong bài viết về ngưòi Pa Di,
Bố YỂ Riêng ỏ’ người Thu Lao, khi đặt tên cho đứa trẻ, người ta phải mời người già trong họ, biết rổ íên gọi của những người thuộc họ nội và ngoại của đửa
trẻ đễ đặí tôn cho khỏi trùng hay vần vói những
người thuộc bên nội và bên ngoại, nhất là đổi với
những người thuộc bề trên TỶ dạ anh Tháng s ử Xần ngưò’i iàng Na Hầư, khi đi học thì mang tên lả Tháng SảÂ
Lìn, nhưng khi thôi học, yề làng, anh phải đổi lại là
Tháng Sử Xần, vì ch ữ Lìn vần với chữ Linh là tên bổ
đẻ anh
Đối YỚi người con gái, khi đi lấy chồng thì họ không phải đôi theo họ nhà chồng (tuy vậy, cũng có trường hợp trong sô hộ khẫu, người vợ phải đỗi họ mình theo liọ nhà chồng, chúng tôi chư a rổ nguyên nhân vì sao)
Trang 14Ngưọ’C lại, khi nốirời con trai ỏ’ rễ h ẳn thì pliẳi đỗi theo
họ nhà vợ Nếu chỉ ỏ’ 1'ề trong một Ihòi gian ngắn thì người đó phải lấv họ vọm làm tên đệm Irong tôn gọi của
m ì n h T ỷ d ụ a n h L y Tài Dìn lấ y VỌ’ h ọ Cáo t h ì tôn p h ả i
đôi lại là Ly Cáo Dìn Hết thời gian ỏ' rễ, tôn ngirời đỏ
mới đưọ’c Irỏ’ lại n h ư cĩĩ.ĩ •
*
\
Oua những tài liệu đưực trình [bày sơ lược ỏ' các
p h ầ n trên, chúng tôi Ihấv quá trinh tộc người của nhỏm Thu Lao hiện nay đang trong tiến Irình hợp nhất vả
đồng hóa vởi các dân tộc khác sống ỏ' xung quanh Tuy
vậv, cho đến nay ít nhiều nhỏm ngiròi nàv vẫn giữ
được một sắc thái riêng của mình \ ề lịch, sử, tiếng nói,
một số nét về văn hỏa và đặc biệt là một ý thức rõ rệt về• ệ * * * * / • .
nqưòi Thu Lao (tứcĐày) của m ìa h ế Những' điều đỏ giúp
ta cỏ íhẽ p h ân biệt họ \'ỏ’i Jngười Thải, Tày, Pa Dí, Nùng hay bất cử nhóm nào khác ỏ’ trong vìmg
Vốn xưa Thu Lao là một bộ pliận nào đỏ của khối cộng đồng Chảng chung Sau nàv, khối Chảng phân chia thành nhiều nhóm nhỏ khác nhau Gác nhỏm ngirời Thu Lao ỏ' Việt Nam và Trung Quốc bây giò’ là một bộ p h ận của khối Cháng đó Hiện nav, trong số
n h ữ n g dân tộc lảng giềng, người Thu Lao cỏ quan hệ gần gũi với ngiròi Tày và Nùng Dín về sổ ph ận lịch sử,
lình cảm dân lộc, quan hệ kinh tể, xã hội và văn hóa,
nốn nhóm người này đang Ịcỏ chiều hướng hòa vào nhỏm người Tày và Nùng Dín, nhất là những bộ phận ngirời Thu Lao cư tr ú xen kẽ với các dản tộc nói trên
*270
Trang 15HẢNG SO SÁNH NGÔN NGỮ THƯ LAO VÀ PA DÍ
Tày (Tràníị Bịnh)
Nùng Dín
Thu 'Lao
20 trăng đo-n leng bcni ăn liíti V 1 Ợ
Trang 161 2 3 4 5 6 7
ha* r a k ,la k ♦ 9 • lẫk lak•
Trang 171 2 3 4 5 6 7
59 chuối mak kải •
f \ ẳ
má kui 1 9\ •lui oi mák kui mi qúi
•
*
Trang 18LẠI BẢN VỀ MỐI QUAN HỆ
GIỮA HAI NHỎM CAO LAN - SÁN CHỈ
NGUYỄN NAM TIẾN
Viện Dàn lộc học.• • »
\ /ẨN đề Cao Lan — Sán Chỉ đirọc nêu len trong
* Tỉĩỏnq báo nán í ộc học số 1 — 1972, và sau đỏ đưo’C thảo luân tro n " hỏi nghi sơ kết công tác xác đinh• • o o r o •thành phàn dần I.ỘC ở miền Bắc vào cuối th ản ^ sáu năm nay Thực chất của vấn đề này là ở chỗ Cao Lan — Sán Chỉ [không kễ bộ phận Sán Chỉ thuộc nạ;ười Dao -ở (Chọ’ Rã (thuộc tỉnh Hắc Cạn cũ) và ỏ’ huyện Băo Lạc
Gao Hằng)] là hai hav một dân tộc, \ ếã Iiếu là một
dân tốc thì tên ổoi của Iìỏ sẽ như thế n ào ?* o •
Xuất phát lìr thái độ cầu thị, tinh Ihần thận trọng, chắc chắn, Viện Dàn tộc học đã cử các đoàn đi thẫm tra cảc tài liộu đíì thu thập dược từ tnrởc tói nay, sưu tầm thêm những tài liệu mỏi Những cuộc điền dã gần đâv nhất đượ’c tiếu hành chủ yếu ỏ' các tỉnh Tuyên Quang, Bắc Thải và Hà Bắc Tại một tỉnh vứa nêu, ít nhất chúng tôi đi lại hai làn Mỗi cliuyến đi n h ư vậy là một bước tiến xích gần lại với thực tế của đời sống chính trị, kinh tế, sinh hoạt v-à văn hóa của đồng bào
Trang 19Cao Lan — Sán Chỉ Về mặt phirơng pháp, trước k h ếL
đi vảo các Ihòn xóm của ngirời Cao Lan — Sán Chỉ, chúng tôi đã liên hệ và thao luận với các cấp ủy và chính quyền tử tỉnh đến xă Sau kíii thu lliập những tài liệu cần thiết, chúng Lòi đà tỗ chức các cuộc tọa đàm, hội ngliị đại biễu đê kiêm tra và bỗ sung thêm các Lài liệu Có llìễ nói cách thức liến hành cồng việc
n h ư vậv là thận trọníị, tài liệu llui nhạp đư ọ c đều mang linh chấl khácli quan Do vậy, các cuộc điều u*a điền (lã gần đây nhất đã mang lại nhữno- kết quả khả quan
và là CO’ sỏ’ vững chắc khi xem xét mối quan hệ tộc Iiíurời ỉáữa hai nhỏm Cao Lan và Sán Chĩ.o o
Báo cáo của chúng tòi là bản lường irìnli về những kết quả đã đạt đtrợc và chứng minh 1'ằng, có thế coi Cao Lan — Sán Chỉ là một danh mạc trong thành phần các dân tộc ỏ’ miền Bắc nước ta.*
1 Về s i n h h o ạ t và v ăn hóa.
Có lẽ về mặt nàv đẩ được trình bày khá đầv đủ trong
bài ((Ve mối (ỊiKin hệ Lộc nqười qiữa hai nhóm Cao Lan
vả Sán Chỉ)) vừa đư(/c nhắc, tới ỏ’ trên Ớ đàv, chủng tôi 11111611 n h ấn m ạnh là trong các cuộc licp xúc với
ỉ ừng cả n h ân , từng nhỏm các cụ và các dại biều ngưò’i Cao Lan — Sán Chỉ, cfmg n h ư trong các cuộc hội nghị» lọa đ à m , đồng bào đều k h ẳn g đ ịn h về CO’ bản trong mọi mặt sinh hoạt và văn lióa của Ỉ1Ọ hằu n h ư h o àn toàn giống nhau, tức khổng tliễ phân biệt cái nào là riêng của Cao Lan, cái nào là i\ếLÒng của Sản Chỉ về các phương diện sinh hoạt và văn hỏa Nói n h ư vậy không
có nghĩa là phủ định những sai biệt của họỂ Ngay trong nội bộ một nhóm, chẳng hạn trong nhỏm Cao Lan, sự khác biệl trong các chi tiết sinh hoạt văn hỏa ỏ’ vùng
Trang 20Tuyên Quang Yà Hà Bắc là một thực thế Song, sự khác biệt đó là do hoàn cảnh noi họ cư Irú, do mối quan
hệ giao lưu văn hóa giữa họ và các dân tộc láng giềng
mà thôi Trong khi đỏ, mírc độ giống nhau về các phương diện sinh hoạt và vãn hóa cỉia hai nh ỏ m Cao Lan — Sán Chì cư trú trong cùng một địa phương lại
ở mức độ cao Về nhữ ng nét khác biệt đậm màu sắc địa phương, ta thường tìm thấy ở bất cử dân tộc nào Nên cỏ thê nói rằng, nếu không kề những sai biệt đó,
về cơ bản Cao Lan — Sản Chỉ có chung những đặc điễm có tính chất tộc người trong sinh hoạt và văn hỏa.Trong nghị quvếl của một cuộc hội nghi đại biêu người Cao Lan—Sán Chỉ có một đoạn nói nhuể sau : (( Ế về phoní* tục, tập quán, lỗ nghi, nề nếp gia phong, Yăn nghệ dân Lộc và cách làm ăn giống nhau )>w
2 Vè q u a n hệ dòng họ và hỏn nhân.
Nhóm Cao Lan và Sáa Chỉ đều cỏ các dòng họ lớn
là Hoàng, Trần, La, Lý, Nịnh Gác thành viên trong một đòng họ lại có quan hệ thân thuộc ở cả hai nhóm
Đồng ơhí Nịnh Văn Tài, cán bộ người Sán Chỉ, quê
ở xẵ Phấn Mễ (Phú Lương, Bắc Thái) có' ngưòi chú lại
là ngưòi Cao Lan, nay CU’ trú tại Vổ Nhai (Hắc Thái) Dòng họ La của cự Lã Văn Phương, ỏ' xóm Đồng Gianh
xã Yên Ninh (Phú Lưong, Hắc Thái) thuộc nh ỏ m Sán
Chỉ, lại cỏ một chi họ ỗ' Tuyên Quang khai là Cao Lan
Ngưòũ cùng dòng họ, cùng một ông tổ chung, mới chỉ cách nhau vài đòi của cụ Trương Văn Bằng ở Làng
(1) Xem : Nghị quyết của cuộc hội nghị đại biêu người Cao Lan — Sán Chỉ đo Ban chấp hành huyện Đảng bộ So ’11 Động (Hà Bẳc) tồ chxic ngà)- 19-10-1973 Lưu tr ữ tại Việu Dâa tộc học.
276
Trang 21Hin (Phấn Mễ, Phú Lương, Bắc Thải) lại CU’ Irủ ỏ’ Sơn Dirơng (Tuyên Quang) ; chi ỏ’ Tuyên Quang là Cao L a n ;
còn chi ở Bắc Thái lại là Sán Chỉc1) Điều vữa kễ càng
thấv 1*5 ỏ’ Bại Từ (Bắc Thái) Gùng một dòng họ,^ ở xẵ nàv khai là Cao L a n ; sang xã kia đã là Sán Chỉ 0 ’ Sơn Động, cũng là noi cư trú đông đảo người Cao Lan — Sán Cliỉ, có dòng họ Mễ Chi họ Mề (mới tách ra hai đời) ở xã Yèn Binh là Cao Lan, chi ỏ’ Lệ Viễn khai là Sán Chỉ Tình Irạng tirơng Lự của dỏng họ này cũng đã xảy ra ỏ' Ba Chẽ (Quảng Ninh) Trong cuộc hội nghị đại
biêu ỏ’ huvộn Sơn Dộng (Hà Bắc) bàn \ ề q u an hệ giữa
Cao Lan và Sán Chỉ, cũng có những trường hợp lý thú nliir thế Một sổ dại biều Cao Lan và wSán Chỉ lại có
Quan hệ hồn nhân giữa hai nhóm Cao Lan — Sán Chỉ, rất là chặt chẽ Có thễ nói, phần lớn các gia đình người Cao Lan — Sán Ch! ỏ' Hà Bắc và Bắc Thái, ít nhiều đen có quan hệ thích tộc với nhau Kliông hiếm những gia đình người Sán Chỉ cỏ vài ha cò dầu là người Cao Lan, hoặc ngưọ-c lại Quan hệ hôn nhân chủ vếu thườníị đưcrc thiết lập giữa những người thuộc phạm,
vi của mội Ihành phần dân íộc Trong các xã hội trước
*(1) Nguyên N;im T iến: bài đã dẫn Thòng bảo Dà:i lộc học
số 1 — 1972.
277
Trang 22Cách mạní> th á n <4 Tám, điều đó đặc biệt đirọ'c tbễ hiện
rõ Nằm trong quan hộ hồn nhà;] cỏ ca quan hệ tộc người Cho nôn, cỏ Uiẽ phần nào căn cứ vào quan hộ hồn nhân mà la có Ihế lìhận ra quan hệ, tìIIỊI cảm dàiì tộc, chẳag nliữniị của nliừug íìgiiời Irực ticp có quan
hệ đó vói nhau, inà còn của những bà con họ hàng í ỉIâ: 1
l hí ch, bà con ỉiàiig' xóm, nói chung là của cả dàn tộc
T n r í r c Cácỉi m ạ n g t h á n g r á m , Lilìữag c u ộ c iiòn n h à n
giữa ngirò’i ỉhuộc các dàiì lộc khác nhau, ví :nluiệ ơiĩra Tày \Tà Nùng, giTra Dao và Kiaii quả là hiếm Thế nỉumn- giỉhi Iiổircyi Cao L an—Sán Chỉ lai là thirờnư lình.o * o
3 Vè m ội số q u a n h ệ k h á c
Về CO’ bím, sinh hoạt và văn hóa của ngiròi Cao Lan
và Sán Chí là ổi()->iư nhau, ỏ ’ dàv, xin đi sâu vàoo o Vmội sơ mặí của sinli hoạt văn hóa íinli thằn Trước hết phải xél ((Sình ca », một lối hát ví của (hanh niỏn nam
n ữ người Cao Lan— Sán C.Ỉ1Ỉ Cung nliuẵ Irong qiiiìn Iiệ liồn nhân, Iroiií^ các cuộc (ỗ chírcháL ví giữa tlianh Iiiỏn ỏ’ miều iiàv với thanỉi Ììièn ỏ’ địa phương kia, hau niui’ khòiiị>' có sự phân hiộỉ <jịiữa :ìgirời Cao Lan và Sán CỈ1Ỉ Họ kliông lự phân biệl \ ỏ ’i nhau, nhưng' lại ít giao du với
n h ữ n « d à n t ộc là;i c ậ n iilnr T à v , N ù n g , S á n Ĩ)ÌI! Y.Y
cỏ nhìrng l)ộ sách ((sình ca » -íiát hàn.g cUạc đèm mới hếí, là SÍIn phằm sáng lạo chun^ của cả Cao Lan và Sáii Chỉ líiếm những tru'ò’ng họ-p giữa ngirừi (làn lộc này với người dàn tòc kia lai có cỉmn<í inôl điêu hál và cìn.ưo * <7 « * r>
tố cluVc sinh iioal văn Iiííhè như thố Nếu ho Ihâl S'.T* n • * * •
bị phân ra iàm hai dàn lộc, thì ỏ’ Ỉ1Ọ không lliẽ có chung mộí làn điệu dan ca và lại.thường lỗ cliửc Jiát clunig với nhau đu'Ọ’C
Trang 23Mối quan hệ chặt chẽ của họ còn thê hiện trong việc cúng bái Trình tự, nghi thức trong đám ma, đám chav và trong các lễ cúng khác của hai ahóm Cao Lan và Sán Chỉ giống nhau một cách lạ lùng, một phần là do họ cùng sỉr dạng những quyên sách cúng chung, cùng sử dụng một tliứ ngồn ngữ chung trong các nghi lễ là thứ tiếng của nhỏm Sản Chỉ Người thày cúng Cao Lan có thê đi củng cho người Sán Chỉ, và Iiịịirợe lại Ho’11 thế nữa, các thàv cúng Cao Lan và Sán Chỉ có thể kết hợp với nhau đế tiếu hành các đám ma, đám chay và các nghi lễ khác theo yêu càu của bẩl cử người nào trong liai nhóm đó.
Tính thổng nhất của người Cao Lan — Sán Chỉ còn được củng cố bởi ý thửc về cu* trú, về quê hương cũ
và quả trình di cư của h ọ Ế T ừ khi dòng hào Cao Lan — Sán Chỉ di cư sang Việt Nam, Ỉ1Ọ đẵ trở thành những
còn^ dân của tỗ quốc Việt Xam Tuy vậv, ý thửc về
quê hương cu của họ còn có khả m ạnh mẽ Họ còn nlió’, cĩỉng n h ư trong các loại sách cúng còn ghi, trước dày họ đã lừng cư trú dông đảo ỏ' châu Khâm, châu Liêm, Ninh Minh, Thượng Tư v.Y,ẽỂ thuộc hai tỉnh Quảng Đông và Quảnơ Tàv Trung Quốc, (lặc biệt sống đôn£f đúc ở vùng núi Thập Vạn Đại S ơ n — Bạch Vân vScm Họ cỏn nói rằng hai nhóm Sán Chỉ và Cao Lan
đi đâư t h ư ờ n g cùng đi với nhau, ơ đâu cù ni* ở với nhau
Điều Iiàv được các tài liệu thư tịch cìínơ nhu- trốn thực
tế chửng minh một cácli rõ ràng Nếu nhìn len bản đò của miền Bẳc, họ cư trú trên dải đất liền nhau bắt đàu
từ Quầng Ninh (cụ thề từ Bình Liêu — Tiòn Yên) qua miền Irung du Bắc Bộ, đến tận Yen Bái Những diêm
cư trú lập trung' nhất là miền tày nam của tỉnh Tuyên Quang, vùng giữa tỉnh Bắc Thái Ngưòi Cao Lan — Sán
279
Trang 24Chỉ có thê cư trú trong những xóm riêng, ỏ' cạnh nhau, hoăc xen vào giữa các thôn xóm của các dàn tôc khác,♦ o •Cũn<í không ít những làng xen ghép Gao Lan — Sán Chỉ.Ilọ lại CÒ11 n h ở rằnịí ngirời cầm đằu của cả hai nhóm
di cir (làu tièn vào Việt Nam là Nịnh Văn Bính và sau♦ •
đó là Hoàng Văn Thầm Những vị tù tnvỏTig nàv (tirợc tôn sùní* n h ư là những lănh lụ chung của họ Hiện nay, tuv kliôní* có miếu đền đê thờ, song trong lòng người dân Cao Lan — Sán Chỉ vẫn có một niềm lưởng nhỏ- và kính trọng đổi với những ngirời đó Từ khi di cư vào Việt Nam, họ càng gắn bỏ với nhau, cùng chung sức dựnq thôn lập bản, đoàn kết, lương trợ giúp đõ’ nhau, cùng chia Ììíịọt sẻ bùi trong lúc vui sướng cung n h ư khi Ííặp hoạn nạn Sự giao hảo íịiữa nhiTng người sổng ỏ’ các địa phương khác nluiu, mối liên hệ giữa các dòiií?
họ, qiừa các Ihôn bán của họ ngàv càng 111Ở rộng và tăng cường
Ỷ thức ve cộng đồng thống nhất của họ trong nhiều trưÒTig hợp đưực củng cổ bởi nhữ ng hình thức tổ chức
xã hội Trước Cách mạng tháng Tám, ỏ’ vùng Bắc Tliái
và Tuyên Quang, có những chức quản, quan lãnh và
« lài chạ)) chung cho người Cao Lan — Sản GhL Đó là nhữno- chức YỊI mà bọn thực dân Pháp đặl ra (ìễ quản
lỷ h ọ ẳ Ngàv nay, ỏ' những nơi họ cư trụ cạnli nhau, xen
kẽ nhau mà ta vẫn thường gặp ở Bắc Thái, Hà Bắc và Quảng Ninh, họ xàv dựng những hợp tác xã sản xuất nông nghiệp, cùng nhau p h ấ n đấu đê xảv dựng què hirơng xử sở ngày một tươi đẹp hơn Do đó quan hệ của họ lại càng gắn bó, thèm mật [thiết và ý thức về khối ngiròi thống nhất của họ càng đưực phát Iriên, củng cổ và thê hiện rõ ràng
280
Trang 254 Vè p h ư ơ n g d i ệ n n g ô n n g ữ
Đâv là lĩnh 'Vực diễn ra những cuộc thảo luận gay go hơn cả khi xèm xét Cao Lan — Sán Chỉ có phải là một dân tộc hav không Sự hiêu biết đầy đủ về mặt này, tất nhiên, se làm cho vấn dề đu-Ọ’c gễLỉii quyết một cách dễ dàng hơn Chúng tòi cũng phải công n h ận một sự thật là: ngòn ngũ’ của họ khác nhau rất xa N^ười Cao Lan nói tiếng nói £íần với tiếng nói Tày — Thái, còn người Sán Chỉ nói tiếng nói gci.il với thô ngữ Quảng Đông của người Hání1) Thế n h u n g cả ỉiai nhóm người này, đều biết tiếng nói của a h a u ẽ Người Cao Lan biết nói tiếng Sán Chỉ và ntííười Sán Chỉ cung biết tiếng Cao L anẾtìiều nàv đưọ’c tliấv rổ ràng ở llà Bẳc và Bắc Thái, tức những noi ngirời Cao Lan và Sản Cliỉ ở tirơng đối đông
A'à xấp xỉ bằng nhau, sốnịf xen gliép nhau Người Cao Lan trong giao đich hàng n^ày chủ vếu vẫn nói tiếng Cao Lan, nhưng văn ngòn, thẽ hiện trong « sình c a )) và cúng bái, đưọyc ghi chép thảnh văn bản, thành sách, lại hoàn toàn tlieo tiếng Sán Chỉ
ỏ ’ Bình Liêu và Tiỏn Yên (Quảníị Ninh) là nơi tập trang thuần n h ất ngiròi Sản Chỉ Tuv vậy, nhiều ngirời
Cao Lan tỏ’i đàv Ihấy ở lớp người già, cách đàv trên
chục năm còn biết nói tiếng Cao Lan (2) Trong đọ’t điền
dã vào năm 1972, chúng tòi chỉ còn thấv lác đác một số cụ già bièì nói tiếnsị Cao Lan mà thồiẾ Đã cỏ lần
chúng tòi nèu hiện íirọ-niị họ Ninh ở Khe Quang', Phài
Giác, Khe Lục thuộc xã Đại Dục Dộng (Tiòii Yèn, Quảng Ninh) là (lòng họ chiếm [ỷ lộ tỏi -13% [rong lỗng sổ
(1) Nguyên Nam Tiến : bài đã đẫn, ThỏììỢ bảo Dàn lộc học
số 1-1972 tr 7-1Ễ
(2) Theo lòi kề ả i a cụ Trưtmg Ngọc Liro-níị (ngưò’i Cao Lan), níịuyên l)i thư huyện ỈIV Ba Chẽ (Quăng Ninh), nav dã về hưu.
Trang 26hộ Irong xă tliuộc người Sáu Chỉ í1' Theo lời kề của hai
cụ cao Uiôi, cỏ uy líu nhất [rong liọ Nịnh, cách đàv vãi
ha dời, (lònư họ này hoàn loàn nói liếng Cao Lan và Cệ.]iỉ cách dày íl làu còn có nhiồu n<j;iiời biết cá hai Ihứ tiếng (Cao Lan và Sán Chỉ) Như vậy, có the nói rằng
<)• đày, liống Cao Lun vừa mỏi hiến đi cách dây chỉ haiV o V
ba đò’i
Hiện Uctrníí nàv cung đirợ’C A.G Ođricua nhắc tói như sau: « Trỏ.11 đường [ừ Thái Xguvỏn đi CiiỌ’ Mới, ciiúng lòi đà dừng lại ( Y mộl J i h à Cao Lan » , như ng gia đìah ỉigii'0'i Cao Lan ÌÙIV « lại nói phirơng ngữ Quầng Đông » (2>ẼSau dỏ, ông còn trích dẫn lò’i của Bòniphaxy n h ư sau:
« ("ao Lan — đó là đanh hiệu mà l)ộ lạc này dùnịi dế lự• ệ • i/ o
^ọi mình so 11« song với danh hiệu San Ti hav San Tsavệ Nhưng hình như Irong 111ỘI số làm>' nào đấv, n<4irò’i San Tsay phàn hỏa nhiều hơn và nói một plnrơng Iigữ Trung Quốc chứ kluVìịị nói phưoMg ngũ' Thái lỉnrừng lệ )) Ong còn nói: ((‘(làn iộc nàv ítă chấp nhậiì mội phương ngừ Choaiuị sỏ’ íại, ròi đa sử dụng một plurưng !]<4LÌ’ QuảiiL; Bòng làm nưòn n<Ị[ữ viết, sau dỏ đàn tòc sono 0 0 7 • ' o <4 n<m' làvo - */
đã tử bỏ một Iroiiíí hai ngôn n.oCr, khi CU’ diêm mới (iã làm cho họ ticp xúc với liếng Tày — Nùiiíị và liống Việt)) f:i).«
Hiện tir(mg hôn n h à n hỗn hợp phô biến giừa người Cao Lan và Sán Chỉ đă nhắc ló’i ỏ’ Irỏn sỏ' dĩ có đưọ’C phải (lo it nhất hai đieuikiệm sau đày định đoạt: một là, không cỏ phân biệt ve sinh hoạt, phong' lục tập quán,
(1) Nạiuven Nam Tiến: về Iựfii'ôu ffổc ưả quá Irình di Cỉiễ LỈU
người Cao Lan — Sán Chỉ, ThôiiỊ/ báo Dân lộc học, sổ
1-1973 tr 51
(2) và (íj) A.G Ila u d r i c o u r l: Mấy điêu lìhận xét lù' lị) luận và
Hì ực tiễn nhản một chuyến di Ihám các dán lộc tỉũcii ru ở Tủy Bắc và Việl Hẳc Tạp chí Ngôn ngữ, số 3—1973 tr 5.
Trang 27trong tám lý, lình cảm của họ, liíù là, phải biết hai ihử tiếng, vì ncu kliòng những cò dâu chú 1'ễ Ihiiộc nhỏm iiày làm thế nào lại có thê sống tronpị các gia đình (huộc nhóm kia, và níĩươe lai.* o ệ p
Ngày nay, người Cao L an — Sản Cíil ỏ jỌ)uảng Ninh, Lạng Sưn và các xã miền bắc micn (àv của (ỉnh Bắc Tliái, đều i)ièì mộL cách thòng lỉiạo tiếiiị* Tàv — Nùng; còn ỏ' Yèn Sơn — Sơn Dinmg (Ihuộc tỉnh Tuvèn Quang), Bại Từ — Phii Lương (Bắc Thái), đều biết thỏniị thạo tiếm* Kinh Bặc biệt ở Đoan Hùng và một sốđia plurong thuộc các tỉnh vừa nỏu, những tlianii Llìiếu niêu khònư biếl nói liếiiíị m ẹ đỏ C òn 1Ó’P n g irò i cỏ luỗi duv Irì (ìirợc ti ống nói mẹ đỏ trong phạm vi sinh hoạt gia dinh
mà t!iôiệ Ve loàn cục mà nối, noiròi ("ao Lan — Sán Chỉ kliồiìơ phải chỉ biếl nói hai mà nhieu thử ngôn n^iì’: (iếng Gao Líin, liếng Sán Chỉ, liếỉig Kinh và ticMií* 'rày — Nùiig XhuMg một da 11 lộc quvet không phải hoàn toàn
vi các bộ phạn nói các l.hử liếng khác nhau mà bi tách riỏiiị)' ra Ihành nhữiiổ dàn ỉỏc riénư biẻí điuơc Nhưo D • o • •ngirời Thụy Sĩ, người Bỉ, ngirời Lúc-xăm-bua, có những ])ộ piiận nói liếng Pháp, liến<4 Anh, Íiếnị4' Đức, íiống
Ý và mội số ihố ngữ khác nfraỂ Các ngôn ngir này trong phạm vi các quốc gia (làn lộc ấy (tều (lưọc bình dẳng Những lài liệu văn bản niiả ịiưó’c (lều cônịí bố bỉìng lal
cả các thử lienư lhôiig dụng và các Ihỗ ngữ trong nước Niiirne; ho vẫ;] là iilnrnơ (làn lóc íỉiổniị nliất, là Bỉ, TlmvO * o * “ 7 7 • 4,'
Sĩ, Lúc-xăm-bua với lính eáclì là những d àn lộc đa ttịẠT Bó là sự phong phú ve n^ôn ngừ của mộ[ dân lộc
mà Ihôi Gluiiìịí Ííi cằ 1 iioaa nghônh liiện krcmg đa ngữ
ÌTOIÌO' các dân lộc, vì đây là một liền đề quan Irọng cho mối quan hệ giao hru văn Iióa, đoàn kếí hữu ái giữa các dân lộc Cuối CÌN1Í* cần XÓI đến mặí ý thức íự giác dàn
ỉ ộc của ng'irò’1 Cao Lan — Sản Chĩ Khi gặp riêng lừng
Trang 28người cũng n h ư lúc íọa đàm Íroní* các hội nghị đại biễu người Cao Lan — Sán Chỉ, ai cũng, đeu nói họ không phân biệt vói nhau, coi nhau là mộl khối người lliống nhấí « Cao Lan, Síui Chỉ cùng là mộl nịíiiồn gốc, có quan hộ dòng họ khăn^ khít, IL0II<4 iiói không phàn biệt nhau lắm, phong lục íậị) quán, (ục lộ, lễ nghi, phong cách sốiiíị và í hức làm ăn í^iốiìíí nhíiu, nôn đây
là một dàn í ộc » Sự khẳng định nluiằ vạv cũng đưọ’C các cuộc, tọa đàm ỏ’ xã lỉà TỉnrỌMig và Phục Linh (Dại
Từ, Bắc Thải) nèu lèn một cách rõ ràng, cỏi mỏ*
Ồ’ Tuyèn Quang và Bắc Thái, đ ồ n<4 bào Cao Lan thường khòng phân biệí giíhi Cao Lan và Sán Chỉ Ở
(lây, lần n ữ a lôi m uốn trích lời của A.Gẽ Ôđricua: « \ậ v
ở đàv họ cỏ trả lời một cách có phan hú họa rẳm> họ
là Cao Lau liav là ngiròi Sán CI'1Ỉ Ể liiì đỏ cũng là điều
íhưònỉỊ lình ữ <-).
Trong CÔJ1ÍJ h ìn h vừa mới xuấí bản Các (ỉân ỉộc
thiều số ử Tuyên QuaỉựỊ, do Ban đàn íộc lĩnh Tuvôii Quaiiiị xuấl bản, thì người Cao Lan íir ọ [ là vSán Chấy, ngirời Sản Clìĩ CŨ11Í* lự gọi nhir Ihế Cuộc tọa đàm mới đàv của các đại biền Cao Lan — Sán Chỉ ỏ’ huyện Sơn Bộn <4 (Hà Hắc) cung cho Uiấy ngu*ừi Cao Lan — vSán Chỉ phiu đirọ-c í^ọi bằng (ộc (lanh « Sán Cháv » là đủiiíị hon cả 0 ’ So'11 Dưo ug, nịịười Cao Lan — Sán Chí đều-tự gọi là Sản Chẩv, nếu có pliàn biộí íhì cỏ ba nhóm với nhừiig íỏn gọi:
— Sán Chấv bán (má nạv gọi là Cao Lan)
— Sán Chtíy mộc (mà nay gọi là Sán Chỉ)
(1) Xem niịhị quvếl ciiii hội nghị đại biễa ngirừi Cao Lan
— Sán Chỉ lại So ’11 Động,
(2) A.G Ilím đ rieo u rl: bài đầ dẫn, tr 5.
284
Trang 29— Sán Cháy hà (đày là một nhỏm Sán Chỉ ỏ’ Kiên Lao, Lạc Ngạn, Hà Bắc và ở xã Nhưcmg Bạn, Lộc Bình, Lạng Sơn).
Lại thêm ở một số địa phương thuộc tỉnh Bắc Thải, đồng bào coi việc gọi liọ là ((Gao Lan », là miệt thị họ-
Cỏ một vài nhóm nói tiếng Cao Lan, nhưng lại khai là Sán Chỉ Cho nên, nếu chỉ nói riông về ngư(Vi Cao Lan
và Sán Chỉ ở Bắc Thái, thành phàn ngôn ngữ và thành phần tộc người khòng ăn khớp nhau
Từ những vấn đồ đã trình bày trồn, ta có thề suy nghĩ rằng Cao Lan và Sản Ghỉ là một cộng đồng không
thễ phân chia, nói cách khác, họ chỉ là một dân tộc
Chúng tôi m uốn lưu ỷ ở đâv không phải là đem hai nhỏm Cao Lan và Sán Chỉ ị^ộp vào nhau, mà thực tể trong quan niệm của đòng bào, hai nhóm khônị* phản chia ra như nhiều người vẫn tưởng Glio nên, chúng la
trả họ về đúng vị trí của họ, tức là hai l)ộ phận của một dân tộc
Iíhi đẩ coi họ là một dân tộc thì tên dàn tộc sẽ như thế Ììào? Ngii'0'i Cao Laíi, nhất là bộ phận ở Tuyên Quang và Bắc Thái, no’i Ỉ1Ọ tập trung đông đảo, rất phô
biến tên tự gọi ((Sán Chấy » Trong hai cuộc tọa đàm ỏ’ Đại T ừ (Bắc Thái) và cuộc hội nghị đại biêu người Cao
Lan — Sán Chỉ ỏ' Sơn Bọng (Hà Bắc), các đcại biêu đều
nhất tri nhóm người thống n h ất này gọi là Sản Chấy vì
đ ó là ((một tên tự gọi rất phô biến ỏ' người Cao Lan
nằm trong khu vực từ Bắc Thái đến Yên ttái Nguòi Sán
Chĩ cũng tự gọi là Sán Chấy hay Sán Chay Sán Chỉ,
Sản Chấy, Sán Chay là những phát âm khác nhau của
c h ữ sơn tử mà thôi
Ta cỏ thễ tin rằng khi các đại biểu Cao Lan — Sán
Cíiỉ phát biễư và kiến nghị n h ư vậy là thê hiện sự nhất
trí, đòng tình, thỏa m ãn về tên chung đỏ — tên Sán
Trang 30Chấv Tuy vậv, ban đầu bên cạnh chữ Sán Ghấv, nên
đễ trong ngoặc đơn hai chữ Gao Lan và Sản Chỉ
Ta có thề đưa ra một sơ đồ thễ hiện quan hệ về người Sản Chấy (Cao Lan — Sán Chỉ) n h ư s a u ;
CAO LAN
tiềiiíí Cao Lan
SẢN CIIỈ
Một cộng đỏng thống nhất về nguồn gõ'1 lịch sử, sinh ho** • /
văn hóa cỏ quan hệ Ihân thích và có ý thức tư ưiác tồn lai • i 7 ♦
như một dân tộc
Tòn tự gọi lk
•Sản Chấy (Sán Chấy bán)
Tên lự gọi Cliấv Ha
Sán
28G
Trang 31MẤY Ý K I Ế N G Ó P P H Ă N XÁC MINH NGƯỜI PA Di Ở MƯỜNG K H U Ô N G (LAO CAI)
NGỨ BỨC THỊNH
tìan Đô n ọ Nam Á
PA Dí là một trong nhữ ng tộc người có dân số ít nhất ()• Việt Nam Theo thống kồ (làn số 12/1971 của
địa phương, họ có khoảng 877 người, cư trú phán lán và
xen k ề \ ở i ngưòi Mèo, Tu I)i, Nùng, Hản, Giảy Irong
10 xã thuộc huyện Mường Khirơng (tỉnh Lao Cai) Tuy vậy có 3 xã người Pa J)í ỏ’ tập trung hơn cả là Tùng Lâu, Tả Chu Phùng và Mường Khương Đó là những
xã nằm sát với mìnq đắl của Trung Quốc Ihuộc địa
phận huvện Mã Quan (Vân Nam) là ncri xira kia người
Pa Dí đừng chân lại trước khi di cư vào Việt Nam và ngày nay nhóm đòng tộc của họ ở cìấv còn 'khá đỏn^i1) ~~
(l) Ngàv nay, người Pa Dí ỏ’ Việl Nam có quan hệ họ hàng, quan hệ hôn nhân với người Pa Dí ỏ' Mã Quan (Vân Nam, Trung Quốc) Theo (< tiiổng líê sơ bộ SỤ’ phân bố nhân khầu
I
287
Trang 32T ừ trước đến nay những tài liệu dìm tộc học đề cập
đ ến tộc người nàv khòng nhiều, đáng kề là trường hợp của M Abađií1) còn những tài iiệu khác chỉ nhắc đến tên gợi của nhóm người này hav gián tiếp đề cập đến người Thải là dàn tộc cỏ quan hệ gàn gũi với họ(2)
Nếu n h ư trong những vấn dề nghiên cửu chung, những nhỏm người nhỏ thường ít đưọ’c chủ ỷ tỏi, thì trái lại, trong công việc xác minh thành phằn dân tộc ỏ'
m iền Bắc chúng ta hiện nav, những nhóm người nhỏ lại thường gây ra nhữ ng bàn luận sôi n ồ iẽ Nguồn gốc
Pa Dí là từ (lảu Hiện nay họ là tộc người riêũg biệt (communaute ethnique) hay chỉ là nhóm dân tộc học (groupe ethnographique) của tộc người nào đ ó ? ễ Đỏ
là những vấn đề đặt ra đòi hỏi chúng ta phải trả lời
*
của các dân tộc anh em ở tỉnh Vân Nam )} (19õl) thì ở huyện
Kím Bình có 637 ngivò-i Bạch Yẻ Rấl có thề người Bạch Y đây
là ngưò-i Pa Dí (như cách gọi hiện nay) hay người Pa Y như Abađi dã nói.
1) Maurice Abadie « Les ra CCS du Haul-Tonkin de Phong ỉhồ
à Lạng sơn » Paris 1924.
2 ) Lunet de La.ịonquière :
— ((Ethnographie des lerriloỉres militaires )) ỉlà nội, 1904
— « Ethnograplìie dn Tonkin Septentrioỉinaỉ)) Paris 1906*
Tiên Hy * Les barbare.i Soumis (lu Yiin-nan )) (M G Soulié’
dịch lại và công bố 1908) * * o
Giang ứ n g ĩ ư ơ n g : « Co dại vâìi hiển trung kí lục đích
Thái tộ c ))
Ván Nam Nhậl báo 9 / 956 (bản Trung -văn)
Lã Văn Lô — Đặng Nghiêm Vạn (( Sơ lược giới thiện các dân
tộc Tày — Nùng — Thải Cí miên Bẳc Vỉệl Nơm)) Hà Nộiễ 1968.
288
Trang 33Tên ((Pa D í » là tên hiện nay thường dùng trong nhân dân cảc dân tộc cũng n h ư trong văn bản và thống kô của nhả mvớc đề chỉ tộc người mà chủng tôi đang nghiên cửu Pa Di không phải là tên do chính họ đặt ra, mà là tên nguời Hán gọi họ Một số ngưòi cho
rằng Pa Dí từ tên Bạch Di |Ị[) hay ten Bạch Y (£j ị ì )
mà ra
Giang ứ n g Lương trong khi nghiên cứu các tên gọi
cỗ của người Thái trong tliuễ tịch của các triều đại của Trang Quốc, đã cho rằng Bạch Y là tôn mà người Hán dùng pliỗ biến đề chỉ người Thái thời Tống, Nguyên:
« Nhù ng tài liệu văn hiến cho biết là Liệu và Bạch Y là hai lèn chỉ người Thái và Choang cư trú ỏ' khu vực Hòng Hà Đòi Tống và Nguyên, hai tôn nàv đirọ’C dùng rất thông dụng Đến thời Minh tên Liệu và Bạch Y đều ít dùng đến Chỉ cá biệl một sổ nguậò’i Thái, Choang ở một
sổ noi mới dùng tên Bạch Y và tôn dó vẫn íịiữ đến ngày nayaO)
Trong những năm nửa đầu thố kỷ, Vỉ Abađi khikhảo sái người Pa Dí, đã cho 1'ẳng: ((Tôn Pa Y (tứcBạch Y — TG) là tên ngirừi Trung Quốc gọi ngưòi Thái
và Nùng ở thirợng du sông chảv, nhưng chủ ụến là đe
chỉ người Thải (chúng tôi gạch dưới — T G.) Đỏ lànhững- làng tách biệt mà người ta thường gặp ỏ’ Pa Kha(Bắc Hù — T G) và Mirờng Khương ((Họ cỏ nguồn gốcSiam và bởi ngôn ngừ và cả nhân chủng nữa, ngườiPei (Pa Y) gần vỏ’i người Lào ỏ' Đòng Dương »ề VàAhađỉ cững nói thêm ((hiện nay ngiròi Trung Quốc gọitên Pa Y đối với những' bộ phận khác nhau của nhổmngười Thái, nhưng việc sử dụng lên gọi ấy đặc biệt đẽchỉ những bộ lạc mà mộl số hiện nay đã bị chia nhỏ ra
1) Giang ứ n g L ư ơ n g : Tài liệu đã dẫn.
Trang 34và Ĩ 1 Ó h ì n h í h à n h ỏ’ Bắc Kỳ h a i n h ỏ m p h â n b i ệ t : Pe,u
Pa Y (Pa Y trắng) và Hoang Pa Y (Pa y vàng) í1)
N hư vậv, đứng về mặt tên gọi, Pa Dí hav Pa-Y ngày nay là một bộ phận của người Bạch Y (tức Thải Irirớc kia)Ể
Ngoài tên Pa Dí, trong nội hộ tộc người này còn dùng rất phô biến tên gọi là (( T à y )) hay (( Tầy » Và cỏ lể vì
cỏ tên tự gọi n h ư Yậỵ nên người Nùng và ngưò’i Thu Lao là những tộc người láng giềng của người Pa-
Dí thường gọi người Pa Dí là ((Phù Táng», « Pỉì Tay »,
« T ẳ n g ».
Theo quan niệm của n h â n dân, tên gọi «T ày» không phải chỉ riêng người Pa Dí mà còn đế chỉ cẵ nhỏm người Thái, Thỗ nữa c ỏ mấy loại Tày n h ư sau:
— Tày Đăm (tức người Pa Dí)
— Tày Nấm (Tay Nước) tửc ngưòi Tày ở vùng Bậc
Hà, Bảo Thắng, Sa Pa Theo hiều biết hiện nay, 13hóm người gọi là Tày này là do người Thải và một phàn người Việt bị Tày hỏa mà thôi Người Hán còn gọi họ
là P a Dí Sủi (tức Pa Dí nước, vì họ ỏ’ thấp làm ruộng nước)
— Tày Khao hay Tay Đón (Tày Trắng) Đó là người Thái ở nhà sàn, p h ụ n ữ mặc áo trắng
— Tày Đeng (Tày Đỏ), phụ n ữ mặc váy ghép các màu
đỏ, xanh, đen Nhỏm ngưồi này hiện nay cư trú ỏ* huyện Mẩ Quan (Vân Nam, Trung Quổc)
Theo M Abađi, « nhóm người Pa Y (tức Pa Dí) hình tliành ỏ' Bắc Kỳ hai nhóm phân biệt là Hoang Pa Y (Pa Y vàng) và Peu Pa Y »(2) (Pa Y trắng) Trong chuyến
đi nghiên cửu thực tế của chúng tôi Yừa qua ở huyện
(1) Mauricc Abadie: Tài liệu đã dẫn.
(2) M Abađie : Tài liệu đẩ dẫn.
290
Trang 35Mường Khương, chủng lồi chỉ thấy Iihóm Pa Dí mà Abađi gọi là Pa Y trắng, còn nhỏm Pa Y vàng hiện nay không íhấv nữa.
Trong cồng trình của L đờ Ladồn^kic ((Eíhnographie
des Terriíoires militaires» xuất bản năm 1907, khi phân chia các bộ phận của nhỏm Thái ỏ’ vùng Bắc Bộ Việt Nam và một p h ần vùiiịí nam Trung Quốc, không thấy tác giả nhắc đến người Pa Dí là nhỏm-người chúng tôi đang nghiên cửu, nhưng troní* bảng p h ân chia có hai nhóm đáng lưu ý là Thải Khao, ỏ’ Vùn Nam là (Bạch Bộc) Diỵà Thái Đăm, ỏ'Vân Nam gọi là (Hắc Bộc Di) mà l ! Bộc Di theo Giang ử n g Lương chĩ là biến từ chữ Bạch
Y và Bạch Di mà ra~yà đỏ là nhưng tên chỉ người Thải
cỗ Cho nên, ro ràng tác ’giả đã xếp người Pa Dí Yào chung với nhóm người Thải
Điều phỏng đoản của chủng tôi cững phù họ’p vớ.i thực tế hiộn nay ỏ’ vùng Vân Nam (Trung Quốc)
N hững người Pa Dí có quan hệ qua lại YỚi anh em, họ hàng ỏ’ Việt N am đã cho chúng tôi biết ỉà người Pa
Dí ỏ- Vân Nam 'hiện hay không gọi là Pa Dí nữ a, mà đều gọi là « Thảv x ù » tức Thải tộc Và phải chăng
đó là nguyên nhân giải thích vì sao người Pa Dí ỏ’ Vân Nam (Trung Quốc) mà tlieo Abađi là « nhỏm ngưòi quan trọng)), lại không đu’Ọ’C các nhà dân tộc học ỏ* Trung Quốc giỏi t'hiộu đến nhir một tộc người riêng biệt khi
họ công, bố nhữn<f còng trình nghiôn cứu của mình ()• khu vực nàvế
Tên gọi dân tộc có liên quan cliặt cliể YỚi nguồn gốc lịch sử lộc người O’ người Pa Dí điều này càng thễ hiện rổ rệt hơn
Một điều quá rổ ràng mà ngày nay ai cũng th ừ a nhận
là người Pa Dí ở Mường Khương (Lào Cai) ngày nay chỉ là mội nhóm nhỏ của người Pa Dí ỏ' Trung Quốc di
291
Trang 36cư sang trong thời gian gần đây Điều nàv cĩíng đirợc Abađi nói 1*0 sau khi tiếp xúc với người Pa Dí :
« Những người lập cư ỏ’ Bắc Kv (chỉ người Pa Dí — TG)
m à chúng tôi có dip thầm vấn, họ nói 1'ằng họ từ Vân Nam đến vào thời kv gần đàv, nlurng họ không cho biết con số chính xác về nguồn gốc xa xira của họ aí1).Tài iiệu điền dã mà cJiúng tôi thu lưọ’m được cho biết
bộ phận người Pa Dí sang Việt Nam sớm n h ất khoảng
4 đòi (gàn 100 n ăm nav) íí(ễ) đi lừ Ma Cứ Xin Chải (Vân Nam) đến Ma Quán (tức Mã Quan) Mù Sang Tả Bá (biền giới Việt — Trung) rồi vào Tả Chu Phùn 14 (Mường Khương) Sau đó, rải rác đều có những nhóm gia đình người Pa Dí từ Vân Nam di CU’ vào Mường Khương Nhir nhóm gòm 13 gia đình do ông Gháng Văn Hòa và Chảng Văn Sín (lẫn đầu vào Mường Klurơng đưọ’C 3 đòi nay Đợt 8 gia đình do ông Cháng Phu Dần và Cháruị Phu Mìn dẫn đầu từ Lô-Sa (Mẵ Quan) di cu§ đến vùng
Na Lốc (Bản Lầu — Mường Khương) đưọ'c khoảng
20 năm nayễ
Những đọt di CU' vào Việt Nam mà ngày nay nhàn dân kề lại đều nhằm trốn trán h ách ihống trị và bóc lột của bọn địa chủ, quan lại p h o n g kiến Ilán tộc Họ
bị cướp hết ruộng đất phải đi lĩnh canh ruộng của địa chủ vói mức tô nộp rất cao, bất kẽ năm được mùa hav mất mùa Có khi những m ảnh v ư ờ n tròng rau quanh
th ô n cũng là của địa chủ Hồi nạn cướp trâu bò làm họ phải kéo cày íìiav trâu Nạn bắt lính của bọn phong kiến nhà Thanh và bọn Quổc Dàn Đảng sau này cũng
là lai vạ lởn đổi với họ Tất cả những cảnli CO’ cực ấy buộc họ phải rời bỏ que hươníị sang Việt Nam tìm đát sinh sống
(1) Maurice Abadic : tài liệu đã dẫn *
292
Trang 37Cũng n h ư Abađi ínrớc kia, những cuộc tiếp xúc trực tiếp với các cụ già hiên biết người dan tộc cũng khống làm cho chủng íôi biết rõ ràng về nguồn gổc xưa của nhỏm ngưòi nàv Abađi thì cho 1'ẳng « Người Pei, Pai hoặc Pa Y sổng ở phía nam và tày nam Vân Nam, nhất là lưu vực sông Saluen Họ chia Ihành người I^ie vùng núi và Pei vùng sông Theo truvền thuyết xưa,
họ cư Iríi trên VÙ11G; liru vực sông Dương Tủ', 'mà sự thâm nhập của nliímg ngưòi Hán xuống' phía Nam đã đầv lùi ho IIo có nguồn sốc Xiêm Nếu căn cử vàoJ • • o on<íôn ngữ và cả n h àn chủng nữa, ngưừi Pei gần với ngirời Lào ỏ’ tìông' Dương »(1)
Việc người Hán chia ngưòi Pei (tức Pa Y) Ihành Pei vùng núi và Pei vùng sòng mà Abađi nêu ỏ’ trên cũng phù hợp với cách phân chia các nhóm Thái ỏ’ vùng nàv thành người Thủy Bãi Di (người Bãi Di ỏ’ nước) va Ilạn Bãi Di (Bãi Di ỏ’ núi), ỏ ’ đây rổ ràng Pa Y, Pei hay Bãi Y chì là một và người Pa-Y (Pa Dí) là có nguòn gốc í ừ người Thái
Nhừng tư liêu về lèn íf()i và lich sir dân tồc đã hướngo • \> ễ 4 * o
chủng tôi níịliĩ r ằ n g : Ní^irời Pa Dí ở Việt Nam n^ày nay
là một bộ phận của người Thái xưa Trong quá trình lịch
sử, nhất là việc di cư, nhóm ngưòi này ngày càng tách xa nhóm đònư tôc của mình, nên ngàv na\: ho mang mổtO * 7 D J J • o *
số sắc thái văn hóa riêng Nhưng dù sao về tên gọi và nguồn gốe lịch sử còn đẽ lại những bằng cứ giíip tanhận biết.0
Ngòn ngử Pa Dí hiện nay Ihuộc nhóm ngòn níịữ Tàv — Thái Ngưò-i ta dỗ (làng tìm tJìấ}r những nct tương
(l) Maurice Abadic: Tài liệu đã dẫn.m
293
Trang 38đồng trên cả các m ặt ngữ âm, n g ữ pháp và Lừ vựng giữa tiếng Pa Dí với các ngôn ngữ cùng nhóm Bảng so sán h sau đâv tuy chira đầy đủ nhưng cũn<4 cho thấy
p h ầ n nào mối quan hệ giữa các ngôn ngữ trong nhóm này (xem bảng ngón, ngữ so sánh ỏ' Irang 271)
Có thề qua bảng ngôn ngữ so sánh đó rút ra một vài
n h ậ n xét sau Từ chỗ khẳng định sự đồng nhất kha cao về các mặt giữa các ngồn ngữ trong nhóm Tàv — Thái, khÔDg phải đi đến chõ xỏa bỏ sự tồn tại có phàn nào khác biệt của các ngôn ngữ, trong đó có ngồn ngữ
Pa Dí Hiện nay, về] phương diện đồng đại mà nói,
ngôn ngữ Pa Dí ò' Việt Nam không hẳn phải ]à ngôn
ngữ Thái, Tày hav bất cử ngôn ngữ nào đó trong nhóm này Nó tồn tại Urơng đối độc [lập vói Ịcảc ngôn ngữ khác mà chúng ta nhận [biết đưọ’C thông qua việc xem xét những sự khác biệt cỏ tính qui luật giữa nỏ với các ngôn n g ữ khác, trong đó "chủ yếu là ngôn ngữ Thái
\ m '
v à l a y
Tuy nhiên, không -phải íừ yiộc khẳng định tính độc IẬD trê n mức độ nào đó của ngôn "ngữ Pa Dí với các ngôn n g ữ khác trong nhỏm mà chúng ta phủ nhận sự gàn gũi giữa tiếng Pa Dí và tiếng Thải Trong bảng so sánh mà chúm* tôi nêu fra có rất nhiều từ cơ bản củao fitiếng Pa Dí đồng nhất hoàn toàn hav ^ần n h ư hoàn toàn vó’i tiếng Thải Về ngữ àm, ta cỏ thê áp dụng quỵ luật đối ứng giữa một bên là íiếng Thái và một bôn là tiếng Tày cho quy luật đổi f;ửng giữa một bên là tiếng Pa Dí
và một bên là tiếng Tà3' Thí d ụ :
(l) Viết phần ngỏu ngữ nàv chủng tôi được sự giúp 110" của đồng chí Trưo-ng Sinh, Viện ngôn ngữ, nhân liện (lây, chúnq tôi xin cảm ơn đồng chí Sinh.
294
Trang 39— Tương ứng với âm xát Lên (í) (văn tự ghi là S i)
và âm xái giữa (s) của tiếng Tày thì ỏ’ tiếng Thái (và
cả Pa Dí nữa) chỉ có âm xát giữa (các từ 2, 3, 4, 10,
52, v.Y.Ềẽ)
— Hay trơỉig nhiều từ, tương ứng với nguyên âm đuôi (ie) (uoì, (\Y’Y ) ( ư a ) Tiếng Tày thì ỏ’tiếng Thái (cả Pa Dí nữa) là nguyôn âm đơn (các từ 11, 00, 62, 72, 74, yễv
Ngoài sự gần gũi giữa tiếng Pa Dí với tiếng Thái mà chúng tôi vừa nêu ỏ' trên, chủng tôi CÒ11 thấy trong bảng so sảnh từ CO’ b ả n cũng có khá nhiều t ừ đồng nhất giữa tiếng Pa Dí với tiếng Tàv (ngoài sổ từ đòng nhất
cả ba ngôn n g ữ : Tày, Pa Dí và Thái) Hiện tưcrng nảy
p h ải cliãng có thê tìm thấy sự giải thích từ việc tiếng
Pa Dí xưa có nguồn gốc hay rất gần gai vởi tiếng Thái, như ng dần sau này do liọ di cư dần về phía đông tách
xa nhóm Thái như ng lại gần vỏ'i các nhóm Tày, Nùng hon, nôn đã có ảnh hưỏ'ng và tiếp thu các mặt về văn hóa và tiếng nói của các dân tộc người Tày — Nùng ở phía đổng nàv Nhưng dù sao xét hiện trạng của tiếng
Pa Dí hiện nav ta thấy 11Ó gần gũi tiếng Thá.i hơn là
với tiếng Tày, rồi đến tiếng Nùng í1)
Người Pa Dí ngoài sử dụng tiếng nói dân tộc mình trong quan hệ giao tiếp nội :bộ, 'họ còn sử dụng rất
(1) Giữa tiếng Pa Dí vó’i các tiếng Cao Lan, Nhắng Bố Y, Cháng có sự tách biệt khác nhau Trong nhiều trường hợp các ngôn ngũ’ này tạo uên những nét riêng khu biệt và đối ứng vứi tiếng Tày, Thái và Pa 1)1, thi dụ sự tưo-ng ứng giữa
âm không bật ho-i, (tiếng Cao Lan, Giáy Bố Y, Chảng) vói phụ âm bật hơi (trong tiếng Tày, Thái Pa Dí), (các từ 12, 17
43, 76; v.v ) Ha}1' sự đối ứng giữa một bên là sự có mặt của phụ âm xát môi răng (f) (tiếng Tày, Thái, Pa Dí) vó,ệi một bên là sự có mặt của phụ âm tắc raôi (Cao Lan, Giav, Bổ Y Cháng) (các từ 18, 51, 57).
295
Trang 40phô biến tiếng' Quan Hỏa (một phương ngồn Hán) là tiếng nói chủ yểu vói những ngưòi thuộc dân tộc khác
n h ư Nùng, Tày, Hán, Mèo, Dao, Tu Dí, Thu Lao Đối vỏ'i n h ữ n g gia đình tạo nên do hôn n h â n hỗn hợp giữa các dan tộc, thì trong nội bộ gia đình ấy họ sử clụng tiếng Quan Hỏa ]à tiếng nói duy nhấl trong khi giao Liếp với nhau Ngav trong tiếĩiíị Pa Di, khi nói đến những vấn
đề chính trị, xã hội, văn hóa hiện đại, thì hộ pliải mircm vốn từ của tiếng Quan Hỏa n h ư : họ’p tác xã, chủ tich, Chinh phủ, Đảng Do yậv, tiong sự phát triển tiếng
Pa l)í hiện nay, khuynh hướn£>' tiếp thu từ của tiếng Hán dang là khuvnh hướng nôi bật nhất
*
Nếu n h ư về các mặt tôn gọi, n g u ồ n goc lịch sử và tiếng nói, người Pa Dí còn giữ lại được nlrìhiịí nét riêng
mả qua đó la có thê thẩy đưcrc phần nào mối đàv liên
hẹ giữa họ vỏ’i nhóm người Thái yà xa hơn nữa với người Tày, thì về mặt văn hóa, ngưừi Pa Di lại ít giũ’lại dii'Ọ’C n h ữ n g nói riêng ấy 0 ’ đâv, sự ản h hư ởng và giao lim văn hóa sâu sắc đến mức mà gần n h ư ta chỉ thấy đưọ’c một mồ-típ văn hỏa chung (có tính chất khu vực) của các lộc 11 í* ười (kễ cẵ n h ữ n g tộc người có nguồn gốc lịch sử, 'V.ăn hóa, liếng nói nguvên xưa rất xa nhau)
Cỏ chặng tộc người này hay khác còn thế hiện đii’Ọ’c
n h ữ n g nét văn hóa ricng của mình ỏ’ những chi liết
rất n h ỏ m à la khỏ có the n h ậ n thãv đii'Ọ’C.
— Về nhá cửa: hầu n h ư người Pa Dí, Thu Lao,
Tu l)ỉ, Mèo, Dao, Hán, Nùng ỏ’ khu vực nàv đều ỏ’
296