1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xu hướng cá thể hóa niềm tin tôn giáo hiện nay phần 2: Hình loại của xu hướng cá thể hóa niềm tin

21 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 388 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết Xu hướng cá thể hóa niềm tin tôn giáo hiện nay phần 2: Hình loại của xu hướng cá thể hóa niềm tin trình bày: Tôn giáo tùy chọn;“Tin mà không theo” và “theo mà không tin”; Tôn giáo của “những niềm tin song song”; Xu hướng “Không gắn kết”,...Mời các bạn cùng tham khảo.

Trang 1

Nghiên cứu Tôn giáo Số 8 - 2015 3

ĐỖ QUANG HƯNG *

XU HƯỚNG CÁ THỂ HÓA NIỀM TIN TÔN GIÁO HIỆN NAY PHẦN 2: HÌNH LOẠI CỦA XU HƯỚNG CÁ THỂ HÓA NIỀM TIN Dẫn nhập

Như đã nói ở phần trước (xem Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 7/2015), những nghiên cứu về sự chuyển đổi tôn giáo, nói hẹp lại là sự biến chuyển của xu hướng cá thể hóa niềm tin đã được các nhà xã hội học tôn giáo nhiều nước lưu ý trong thời gian từ một, hai thập niên gần đây Tuy vậy, việc nhìn nhận hình loại (typologie) của nó thì dường như chưa được đề cập đầy đủ trong những nghiên cứu của họ Phần dưới đây, chúng tôi thử đưa ra sự phân loại của mình với xu hướng cá thể hóa niềm tin tôn giáo

Sự khu biệt các loại hình của xu hướng cá thể hóa niềm tin dưới đây của chúng tôi trước hết dựa vào lý thuyết của sự chuyển đổi tính tôn giáo như P Bréchon đã vận dụng Bên cạnh việc khẳng định những logic lớn của đời sống tôn giáo ảnh hưởng đến sự chuyển đổi tôn giáo (tác động của tính hiện đại thời hậu - hiện đại, môi trường của các thể chế thế tục,

sự suy giảm quyền lực, sự “phân rã” của các Giáo hội truyền thống), thì còn phải chú ý đến sự biến động của bản thân các thực thể tôn giáo trước những ảnh hưởng trực tiếp của các yếu tố chính trị và văn hóa

Khi nghiên cứu sự chuyển biến của hệ giá trị Pháp và Châu Âu, P Bréchon đã rút ra một số nhận xét có tính phương pháp luận, chẳng hạn, quan hệ tôn giáo và chính trị vẫn có vị trí quan trọng, nhưng phải thấy rằng “Nhà nước Pháp lại không phải là yếu tố quyết định trong sự suy yếu của Giáo hội Công giáo” hay “ở các nước Bắc Âu, vốn là các quốc gia Tin Lành, quan hệ Nhà nước - Giáo hội hòa hợp, nên Nhà nước chỉ có ảnh hưởng nhất định đến thái độ tôn giáo của các cá nhân mà thôi Tình cảm tôn giáo là những giá trị có tính chủ thể cá nhân…”1 Như vậy, khi tiến hành phân loại các dạng thức cá thể hóa niềm tin tôn giáo chúng tôi cũng rất lưu ý những nhận định như thế

* Giáo sư, Tiến sĩ Đại học Quốc gia Hà Nội

Trang 2

Cứ liệu điều tra xã hội học tôn giáo, đặc biệt là những chỉ số quan trọng mà các nhà chuyên môn rút ra là những cơ sở thực tiễn tôn giáo không thể thiếu được Phần phân tích của chúng tôi dưới đây chủ yếu dựa vào những kết quả nghiên cứu của giới xã hội học Pháp và Châu Âu từ

1999 đến 2005 cũng như của Pew ở Mỹ hiện nay

Có rất nhiều công trình ở Pháp và Châu Âu phản ánh kết quả điều tra

xã hội học tôn giáo trong khoảng thời gian trên Nhưng có lẽ, cuốn sách

đáng chú ý nhất là cuốn Những giá trị Pháp (Les valeurs francais), do P

Bréchon chủ biên mà chúng tôi đã dẫn Cuốn sách đã cho thấy tầm bao

quát của hệ giá trị Pháp2, trong đó, các giá trị tôn giáo (Chương IX)

không chỉ cho ta thấy các số liệu phong phú mà còn chỉ ra sự chuyển biến

về tính tôn giáo ở nước Pháp trong sự so sánh với tình hình của 9 nước Châu Âu khác

Có ba câu hỏi điều tra (l’ enquête) quan trọng liên quan đến tìm hiểu

“cá thể hóa niềm tin”: Bạn có cho rằng bạn thuộc về một tôn giáo?; Bạn

đã từng thuộc về một tôn giáo phải không? và Bạn thiên về ý kiến nào dưới đây: Có một Chúa thuộc về cá nhân?; Có một dạng thần linh hay sức mạnh tinh thần?; Tôn giáo có đem lại sức mạnh và nguồn an ủi?; Tôi không nghĩ sự tồn tại của một cái gì đó như thần linh, một Thiên Chúa hay sức mạnh tâm linh…3

Khi phân loại các dạng thức cá thể hóa niềm tin, chúng ta cũng cần lưu tâm đến điều kiện lịch sử, xã hội, văn hóa như môi trường của đời sống tôn giáo, trực tiếp hoặc dán tiếp dẫn đến sự hình thành các dạng thức đó Chẳng hạn, P Bréchon khi phân tích sự chuyển đổi của giá trị tôn giáo ở Pháp, ông còn chú ý đến vị trí địa - chính trị, địa - văn hóa của Pháp vốn ở “nơi gặp gỡ Nam - Bắc Châu Âu” (la croisées des chemins); người Pháp lại có cảm thức Hậu - duy vật mạnh (sens “post-materialsme plus grand”) và người Pháp “thế tục” nhất Châu Âu (populasions des plus sécularisées en Europe”), là những yếu tố quyết định của sự chuyển biến niềm tin mạnh mẽ ấy của người Pháp4

Khác với J P Willaime, khi nói về logic của chuyển đổi tâm thức tôn giáo của người Pháp, trong bối cảnh điều tra hệ giá trị của nước này, P Bréchon đưa ra nhận định quan trọng:

“Có hai khuynh hướng của hệ giá trị Pháp và Châu Âu là: trước hết,

hệ giá trị ấy hiện nay là hệ quả của xu hướng “hậu - duy vật chủ nghĩa” như là hệ quả của nó khi trình độ sống được nâng cao, lương bổng, kỹ

Trang 3

Đỗ Quang Hưng Xu hướng cá thể hóa 5 thuật tăng… Thứ hai, đó là khuynh hướng cá nhân hóa trong lĩnh vực tư tưởng cũng như tôn giáo, khi mà các cá nhân có thể kiểm soát phần lớn đời sống cá nhân họ Họ có thể lựa chọn các giá trị, từ chính trị đến tôn giáo với tâm thế một của ông thầy, một giáo chủ (guru)…”5

Về những giá trị tôn giáo, trong cuộc điều tra cuối thập niên 1990 và

những năm đầu của thế kỷ XXI, các nhà xã hội Pháp đưa ra năm câu hỏi

cơ bản với các nội dung sau:

- Tuyên bố không thuộc về một tôn giáo;

- Những người đến nhà thờ ít hơn một lần trong mỗi tháng;

- Có cảm thức không tôn giáo;

- Người vô thần hoàn toàn;

- Quan niệm và niềm tin ở Thiên Chúa;

Những kết quả điều tra xã hội học được P.Bréchon và đồng nghiệp công bố trong cuốn sách này thật giá trị và được trích dẫn trong nhiều năm khi nghiên cứu về sự chuyển đổi tôn giáo ở Pháp và Châu Âu Việc nghiên cứu tâm thức tôn giáo và tính hiện đại như đã nói ở trên

là một trong những chủ đề chính của các nhà xã hội học tôn giáo trong thời đại tục hóa, nhất là trong các xã hội Âu - Mỹ Ở Việt Nam, mặc dù

trên thực tế chưa bao giờ diễn ra một cuộc điều tra dân số học tôn giáo

(demography), càng chưa có những cuộc điều tra về sự chuyển biến của tính tôn giáo, nhưng chúng ta vẫn có thể đọc thấy ở đâu đó những thông tin về vấn đề này6

Căn cứ vào những nội dung lý thuyết mà chúng tôi đã đề cập ở phần trên

cũng như những kết quả nghiên cứu điều tra hệ giá trị tôn giáo ở các xã hội

Âu -Mỹ, có đối chiếu với thực tiễn trong đời sống tôn giáo ở Việt Nam,

chúng tôi thử đưa ra bốn loại hình tiêu biểu nhất của xu hướng cá thể hóa

niềm tin tôn giáo

1 “Tôn giáo tùy chọn” (Religion à la carte)

Các nhà nghiên cứu Pháp thường cho rằng, loại hình này khá phổ biến với ý nghĩa khi các cá nhân tham dự và phát triển loại tôn giáo này luôn lấy

“động lực tạm thời” ở chính họ và họ tự coi mình là tối cao trong các phán xét7 Cuốn sách của J L Schlegel lần đầu tiên đưa ra khái niệm “tôn giáo tùy chọn” và lập tức được sự chú ý bởi chính tên cuốn sách đã lột tả đặc trưng của một loại hình cá thể hóa niềm tin tôn giáo phổ biến này

Trang 4

Nói cụ thể hơn, ý tưởng ấy lấy cảm hứng khá nhiều từ một nghiên cứu của nhà xã hội học tôn giáo Canada trước đó R Lemieux, với những kết quả nghiên cứu về sự biến chuyển hỗn độn của các tín ngưỡng của người Québec từ đầu thế kỷ XX Chính ông đưa ra mệnh đề nổi tiếng trong giới

xã hội học tôn giáo Bắc Mỹ “do it youself” (hãy tự mình làm), mà theo

chúng tôi đó là logic cốt lõi của loại Tôn giáo tự chọn mà các nhà xã hội

học tôn giáo Châu Âu phát triển Tiếp cận của R Lemieux còn đáng chú

ý ở chỗ ông cũng thuộc số các nhà xã hội học tôn giáo đầu tiên mường

tượng đến một thị trường tôn giáo với cả hai phía: phía cầu (la demande)

và phía cung (l’offre) mà ông xem đó như một logic mới của sự cứu rỗi8 Một đặc điểm khác của “tôn giáo tùy chọn” là ở chỗ, tính tự chủ của

cá nhân còn được thể hiện cả ở việc xác định những chuẩn mực chân lý đức tin thậm chí nó trở thành động lực của sự trải nghiệm và quá trình cá nhân hóa sự trải nghiệm ấy trong đời sống tôn giáo Tất cả đã dẫn đến sự thích ứng của cá nhân với “những dữ liệu văn hóa của tính hiện đại” dưới

“hình thức giải thoát khỏi sự không tưởng”9 Về mặt tâm lý, tình cảm tôn giáo, đây cũng là điểm hết sức hấp dẫn đối với những tín đồ của loại “tôn giáo tùy chọn”

Đi sâu vào bản chất “tôn giáo tùy chọn”, có lẽ chúng ta phải chú ý luận điểm của C Smith năm 1998 khi ông giải thích sự thành công của trào lưu Tin Lành Phúc Âm ở Mỹ đầu những năm 1970 Theo đó, nhiều người Tin Lành trong các hệ phái thuộc trào lưu này đã tạo nên những

hình thức tổ chức mới như Giáo hội lớn (les mégachurches) và ngược lại

những nhóm tôn giáo rất đa dạng theo những cảm thức, tình cảm tôn giáo mới mà ông gọi là các “nhóm quy chiếu” (un groupe de référence) Đặc điểm thần học, niềm tin của các nhóm này là chỉ chú trọng đến những cuốn Tân Ước, thậm chí những đoạn Kinh cụ thể, dùng nó làm “cái ô linh thiêng” cho các cá nhân trong một thế giới hết sức đa dạng

C Smith viết: “Trong xã hội hiện đại và đa dạng này, con người không cần đến tất cả vũ trụ linh thiêng bao quanh ở tầm vĩ mô để duy trì các tín ngưỡng tôn giáo của mình Họ chỉ cần những “cái ô linh thiêng”, nghĩa là các thế giới bé nhỏ có thể mang theo, có thể tiếp cận và có tính liên hệ - đó là các nhóm quy chiếu - “dưới” những cái ô này, các tín ngưỡng của họ có thể hoàn toàn có ý nghĩa”10

Mức độ đa nguyên tôn giáo rất cao ở Mỹ cũng là một lý do đặc biệt để hiện tượng “tôn giáo tùy chọn” phát triển rất sớm và rất mạnh

Trang 5

Đỗ Quang Hưng Xu hướng cá thể hóa 7 Nhà xã hội học nổi tiếng Robert Bellah có lẽ là người đầu tiên phát hiện hiện tượng này từ đầu những năm 1980 Trong một cuốn sách mà

ông là đồng tác giả, Những thói quen của trái tim (Habits of the Heart),

đã xuất hiện thuật ngữ “tôn giáo cắt may” (Tailoring Religion) Trên cơ

sở những tư liệu giá trị về nhân học tôn giáo đương thời, cân nhắc tính hai mặt của xu hướng “Một - người - một - tôn giáo” (one - person - one - religion), chuyên gia số liệu thống kê tôn giáo G Barna cho rằng, “dù hơi

cường điệu một chút, sẽ đến một lúc “nước Mỹ đang hướng tới 310 triệu người với 310 triệu tôn giáo”11

Bản thân R Bellah cũng đã dự báo: “Chúng ta đương sống trong một

kỷ nguyên mà ở đó bạn có thể lượm lặt và chọn phần tôn giáo có ý nghĩa cho bạn Bạn có thể kết nối qua văn hóa và lịch sử theo cách có ý nghĩa

dù bạn không cần thiết thực hành tôn giáo”12

Hiện nay, các nhà nghiên cứu Mỹ càng chú ý điều này Chiều hướng

“cắt gọt niềm tin” (faiths cut) ở người Mỹ cho vừa sở thích cá nhân Chuyên gia số liệu thống kê tôn giáo G Barna trong cuốn sách mới về

người Kitô giáo ở Mỹ có tên là Dự báo tương lai (Futurecast), lần theo

những thay đổi từ 1991 - 2011 của cuộc điều tra quốc gia với 1.000 - 1.600 người Mỹ trưởng thành cũng đã đưa ra nhận định: “Chúng ta đều là người thiết kế xã hội Chúng ta muốn mọi thứ được làm theo những điều cần thiết cho cá nhân chúng ta - quần áo của chúng ta, thức ăn của chúng ta, giáo dục của chúng ta và bây giờ là tôn giáo của chúng ta”13

Bình luận:

“Tôn giáo tùy chọn” khá phổ biến vì nó phù hợp đa nguyên tôn giáo và

xu thế “thị trường tôn giáo” Mặt khác, nó cũng chứng tỏ rằng, khuynh hướng dân chủ chi phối ngay cả trong lĩnh vực tôn giáo Chúng ta biết rằng, hàng nghìn năm nay, khi con người tham gia các tôn giáo lớn, dù họ là người Catholic, người Tin Lành hay người Muslim, Phật tử… đều là “thuộc về” (appartenir à…) tôn giáo đó như những “hạt cát” trong biển cả Nói cách

khác, trong thế giới các tôn giáo ấy dường như không có chỗ đứng cho cá nhân, hiểu theo nghĩa cá nhân luận

Theo chúng tôi, việc đề cao cá nhân của “tôn giáo tùy chọn” là một trong những động lực tư tưởng, triết lý cũng như tâm lý cho việc hình

thành và phát triển Phong trào tôn giáo mới từ giữa thế kỷ XX đến nay

Chúng ta cũng cần dừng lại để nói thêm về trường hợp Tin Lành với khuynh hướng này Thần học Tin Lành dường như đi trước một bước khá

Trang 6

xa so với các tôn giáo lớn khác, kể cả Công giáo trong vấn đề “dự liệu”

xu hướng cá thể hóa niềm tin tôn giáo, một xu hướng thực ra rất gần gũi với người Tin Lành

Hãy bắt đầu từ nghiên cứu của D W Bebbington (1984) về “bốn cảm thức tôn giáo” mà ông gọi nó là những quy chuẩn Tin Lành Phúc Âm Theo nhà sử học người Anh D W Bebbington (1989), tính cảm thức

Phúc Âm được đặc trưng bằng bốn nét sau: (1) Chủ nghĩa quy đạo (Le

conver sionnisme): việc cho rằng trở thành Kitô hữu chính là chuyển

hướng triệt để đời sống và thực sự từ bỏ tội lỗi, sự quy đạo là một điều

kiện tiên quyết để lãnh nhận bí tích rửa tội (rửa tội cho người lớn); (2)

Chủ nghĩa tích cực truyền giáo (L’ artivitisme) nghĩa là một sự đầu tư

mạnh mẽ vào tất cả các hoạt động nhằm làm cho người khác quy đạo

(nhiệt tâm truyền giáo); (3) Chủ nghĩa duy Kinh Thánh (Le biblicisme)

nghĩa là tập trung vào Kinh Thánh như là bản văn được Thiên Chúa linh ứng và là quy chiếu trung tâm cho đời sống Kitô giáo (cả trong thực hành

cũng như đối với học thuyết); (4) Chủ nghĩa Thánh giá trung tâm (Le

crucientrisme) nghĩa là nhấn mạnh đến khổ hình Thánh giá như là hy lễ đền tội của Chúa Kitô đối với các tội lỗi của con người Do vậy, phương hướng Phúc Âm thể hiện một Kitô giáo quy đạo có tính chiến đấu, bận tâm đến sự đúng đắn về học thuyết và về đạo đức của cá nhân Kitô hữu Những cảm thức của Tin Lành Phúc Âm “cổ điển” ấy, cho chúng ta thấy một nguyên tắc thần học là sự quả quyết về các tín điều cơ bản và sự quy định chặt chẽ của chúng với Giáo hội Tin Lành Phúc Âm, những

người “thuộc về Chúa Giêsu Kitô”, nghĩa là những người đã quy đạo14

Khi nghiên cứu hiện tượng “các Giáo hội lớn” (Les megachurches), xuất hiện trong cộng đồng Tin Lành ở Mỹ từ cuối những năm 1960 trong phong trào được gọi là các Giáo hội “hậu giáo phái” (pos-dénominationnelles) như

cách gọi của D E Miller, Jean-Paul Willaime nhận xét rằng, các Giáo hội lớn này, mặc dù vẫn thuộc dòng ảnh hưởng của Tin Lành Phúc Âm nhưng

tính cách liên giáo phái ở mức độ tuyển lựa cao có tính gắn kết các giáo

đoàn Điều quan trọng nhất của các Giáo hội lớn này là: “từ bỏ tính chặt chẽ

về học thuyết để dành ưu tiên cho đòi hỏi cấp bách trước hết là thỏa mãn

“các khách hàng” (“clientèle”) tôn giáo”15

Những nghiên cứu tiếp theo về phong trào Tin Lành Ngũ Tuần, càng cho thấy nó là một thứ “Tin Lành xúc cảm” (un protestanrtisme emotionnel), với ba đặc điểm: (1) Tầm quan trọng của cảm xúc

Trang 7

Đỗ Quang Hưng Xu hướng cá thể hóa 9 (L’expérience émotionnelle); (2) Tham chiếu đặc quyền vào Thánh Kinh (reférence privilégiée à la Bible); (3) Tập trung vào chuyển đổi cá nhân (La conversion personnelle), phân biệt khá rõ với cảm thức Tin Lành Phúc Âm nói trên

Chính J P Willaime cũng nhận định thêm rằng, phong trào Ngũ Tuần

là “khúc quanh và nghịch lý của thứ Tin Lành xúc cảm”, nó dựa vào “tái hiện đại hóa phép mầu của Giáo hội nguyên thủy vốn đặt cầu nguyện vào trung tâm hoạt động cộng đồng, nhấn mạnh Chúa Thánh Thần sẽ hóa đổi tất cả…16

Olivier Bobineau cũng nhận xét “xúc cảm hóa tôn giáo đi liền với cá nhân hóa tính tôn giáo Nội dung đức tin trước đây được khái quát hóa, đưa sẵn cho mọi người (thực đơn tôn giáo) và được lưu truyền qua truyền thống tôn giáo thì giờ đây nội dung đức tin được chia nhỏ ra, được lựa chọn đánh giá rồi sau đó thông qua ý thức cá nhân tùy thuộc thước đo cá nhân, tính đích thực của nội dung đã cảm nhận và trải nghiệm bị biến đổi đi… Đó là tính xúc cảm trong đức tin hiện nay hay nói như Weber, đó là

sự dự phần của phép màu”17

Khuynh hướng tôn giáo tùy chọn có liên quan đến câu hỏi vì sao Phật

giáo được ưa thích và được “Phương Tây hóa như sự minh triết của cá nhân” Chúng ta biết rằng, ở Châu Âu, Phật giáo được chú ý đặc biệt sau

vụ Đạt Lai Đạt Ma “Thánh sống” (Icône Vivamte) của Phật giáo Tây Tạng nhận giải Nobel hòa bình năm 1989 Lý lẽ mà không ít người Phương Tây tìm đến Phật giáo bởi lẽ: (1) Nó hiện ra như “một tôn giáo khác” so với truyền thống tôn giáo nhất thần; (2) Phật giáo trở thành con đường tâm linh mới mẻ, một thứ minh triết đã được “Phương Tây hóa”, như một thứ minh triết cá nhân; (3) Phật giáo còn là một thứ “trục chiếu”

của tính hiện đại, tôn giáo của mọi người; (4) Tính “hiệu quả xã hội” của

Phật giáo cũng cụ thể hơn so với các tôn giáo khác như khả năng điều chỉnh đời sống tâm linh, bệnh tật, sức khỏe,…

Nói tóm lại, tôn giáo tùy chọn thực sự là một dạng thức tiêu biểu và

quan trọng bậc nhất trong các loại hình của xu hướng cá thể hóa niềm tin

Nó không chỉ chi phối ngày càng mạnh mẽ đời sống tôn giáo trong các xã hội Âu, Mỹ mà còn lan rộng ảnh hưởng đến các khu vực khác

2 “Tin mà không theo” và “theo mà không tin”

(Believing without belonging) and (Belonging without believing)

Trang 8

Nếu như “tôn giáo tùy chọn” có nét trội là tính thực dụng trong lựa chọn và định dạng đức tin thì loại hình này lại thu hút những tín đồ nhị nguyên trong lối sống tôn giáo của những cá thể đầy ngờ vực Nhưng chính loại hình này lại có vị trí chi phối lớn đến sự chuyển đổi tôn giáo như J P Willaime nhận xét “Thực trạng tôn giáo ở Châu Âu hiện nay có thể được mô tả qua thuật ngữ “tin mà không theo” và “theo mà không tin”: một mặt, người ta thấy sự tái xuất hiện những niềm tin tôn giáo dù chúng thể hiện mờ nhạt và dễ rạn vỡ; mặt khác, vẫn thấy rõ số đông những người liên tục tuyên bố “theo” một tôn giáo nhưng lại ít gắn bó và

ít thực hành tôn giáo đó”18

Từ thực tế ấy của đời sống tôn giáo ở Châu Âu chúng ta có thể ghi nhận hệ luận: “niềm tin” tôn giáo trở nên đa dạng và tăng nhanh, được phát tán rộng, nhưng “mối liên hệ giữa các cá nhân với tổ chức tôn giáo thì trở nên lỏng lẻo”

Theo điều tra thống kê của Châu Âu về các giá trị xã hội năm 1999 (EVS, 1999) thì vẫn có 75% người Tây Âu tuyên bố mình theo 1 tôn giáo, chỉ có 25% là tuyên bố “không tôn giáo” Nhưng vấn đề là, theo Yves Lambert từ 1981 -1999, tỷ lệ số người “theo một tôn giáo ở 9 nước Tây Âu giảm từ 85% xuống còn 75%, trong đó Công giáo giảm nhanh hơn cả”

Mặt khác, có đến 85% số người trên 60 tuổi tuyên bố “theo một tôn giáo”, 68% số người từ 18 - 24 tuổi tuyên bố chỉ theo “tôn giáo tượng trưng” mà thôi Số đông giới trẻ lựa chọn “không tôn giáo”, dĩ nhiên điều

đó không có nghĩa họ trở thành “vô thần” Có nhiều sắc thái về loại hình này Thụy Điển là trường hợp tiêu biểu “Tin mà không theo” vì có tới 81% người trưởng thành tuyên bố “có tôn giáo” nhưng lại “không tin Chúa” Trong khi ấy, nước Pháp lập kỳ tích, số người tuyên bố “không tôn giáo” (sans religion) rất cao nhưng “niềm tin ở Thiên Chúa vẫn sâu rộng trong bộ phận quan trọng của dân chúng”19

Lý giải điều này, đặc biệt ở giới trẻ, Y Lambert và P Bréchon đều cho rằng, đã có một sự “tái cấu trúc tôn giáo”; có những tôn giáo mới phát triển ở những người trẻ mà niềm tin của họ vẫn từ Thiên Chúa Trong khi sự gắn kết của họ với Giáo hội bị giảm sút rõ ràng

Đây là phát hiện của nhà xã hội học Anh nổi tiếng G Davie và ông còn dự đoán rằng, xu hướng cá thể hóa niềm tin này “có thể là tương lai của tôn giáo Anh20

Trang 9

Đỗ Quang Hưng Xu hướng cá thể hóa 11 Loại hình này ở Mỹ cũng có những sắc thái, hình thức độc đáo Người

Mỹ thì nói rằng, mỗi người Mỹ có một câu chuyện tôn giáo Có người được dậy dỗ đức tin ở nhà thờ vào những Chủ nhật rỗi rãi hoặc thỉnh thoảng đến đó lúc cuối đời Có người tìm thấy Chúa ở tuổi thanh niên, có

lẽ sau khi cưới hoặc qua một sự chuyển đổi chuyện tình Nhiều người Mỹ xác định bản thân qua đức tin của mình: cùng niềm tin ấy là nguồn thức

ăn tinh thần và là tình bạn lúc vui cũng như lúc buồn

Mới đây, cuộc khảo sát quy mô lớn với trên 35.000 người Mỹ trưởng

thành của Trung tâm nghiên cứu Pew mang tên Nghiên cứu bối cảnh tôn giáo (Religons Landscape Study), theo truyền thống Nghiên cứu lối sống

(Life Way Research) cho thấy rằng, hơn 7 năm qua, số lượng người Mỹ không thuộc bất kỳ một tôn giáo nào tăng mạnh, chiếm tới 23% dân số Một phần nhỏ của nhóm này là vô thần (atheists), bất khả tri (agnostics), chiếm khoảng 3 - 4%… Có khoảng 1/10 người Mỹ nói tôn giáo “không quan trọng gì với họ…”21

Cuộc điều tra lớn này, nếu nhìn từ góc độ “nhân khẩu học niềm tin Mỹ” (the Demographics of American Faiths) còn cho thấy nhiều điều thú

vị của xu hướng chuyển đổi niềm tin mà chúng ta đang đề cập “Tin mà không theo” không chỉ từ những con số tín đồ của phong trào “ngoài Giáo hội” (chủ yếu của giới Công giáo) vẫn tăng thêm, cũng như con số 37% người Mỹ “không đến nhà thờ” (so với 24% năm 1991) mà còn từ những thay đổi trong thực thể các tôn giáo

Người Công giáo Mỹ hôm nay chỉ còn chiếm 20,8% so với 23,9% 7 năm trước Các hệ phái chủ lưu của Tin Lành Phúc Âm Mỹ như Trưởng Lão (Presbyteriam), Giám lý (Methodist), Lutheran, Episcopal cũng giảm từ 18,1% xuống còn 14,7% so với 7 năm trước Quan trọng hơn, các giá trị xã hội cũng thay đổi, tác động đến họ: nếu như những năm

1980, những người Tin Lành Phúc Âm da trắng là khối cử tri trung thành cho Đảng Cộng hòa, nhất là trong các vấn đề xã hội như hôn nhân đồng tính luyến ái… thì nay, nói chung, họ đã dần chuyển thái độ khoan hòa hơn…

Nói tóm lại, con số chỉ báo cho thấy Kitô giáo ở Mỹ cũng đang đứng trước những thách thức lớn, nhưng người quan sát vẫn cho rằng “Kitô giáo vẫn chưa mất ảnh hưởng trong văn hóa Mỹ nói chung” E Green nhận xét “nước Mỹ dù sao vẫn là một quốc gia Kitô giáo, chỉ một chút

“nhỏ lại” mà thôi Nước Mỹ vẫn tiếp tục là một quốc gia ở dưới Chúa -

Trang 10

Chỉ với những sự linh hoạt nhiều hơn trong việc làm thế nào để công dân của mình lựa chọn tốt sự thờ phụng”22

Trở lại, với G Barna trong cuốn Dự đoán tương lai, 2011 Chọn lọc ý

kiến trong hàng loạt nhân vật được ông phỏng vấn, tác giả viết: “Tôi đã nghe rất nhiều người bộc bạch “tôi tựa vào Chúa, tôi tin Kinh Thánh là quyển sách tốt”, nhưng rồi không ít người trong số họ còn nói “nhưng tôi tin bất kỳ điều gì tôi muốn”23 Và đó chính là thông điệp quan trọng nhất mà cuộc

khảo sát lớn nói trên của Pew Research Center vừa thực hiện: ngày càng

nhiều người Mỹ thuộc mọi lứa tuổi đang chọn đức tin riêng cho mình Nước Mỹ đang đứng trước “triển vọng”: mỗi - người - một - tôn giáo

3 Tôn giáo của “những niềm tin song song” (les croyances parallèles)

Có lẽ những nghiên cứu của Francoise Champion về “hiện tượng tôn giáo mới” từ nửa cuối những năm 1980 đã đề cập đến dạng thức này Trong bài viết “Tâm thức tôn giáo bồng bềnh, Chủ nghĩa triết trung và thuyết hỗn dung” (Religieux flottant, éclectisme et syncrétismes), F Champion đã lưu ý hiện tượng nổi bật của những năm 1970 là sự suy thoái của các tôn giáo thể chế và sự xuất hiện những khuynh hướng tôn giáo “pha trộn” (bricolage) Nguồn gốc triết lý của hiện tượng này, theo

F Champion, là vị trí hàng đầu nổi lên trong quan hệ tôn giáo là mối liên

hệ giữa cá nhân và cá nhân, cũng như vị trí hàng đầu của tôn giáo xúc cảm: “Đi ngược lại với khuynh hướng duy lý hóa các niềm tin, vốn

thường hướng tới chỗ hạn chế sự can thiệp của cái siêu nhiên vào cái hữu hình và cụ thể của đời sống thường ngày Các Phong trào Tôn giáo Mới

đã thực hiện việc “phi lý hóa” (dérationalisalion) các niềm tin”24 Theo logic đó, F Champion không chỉ phát hiện một khuynh hướng mới gọi là

Tôn giáo lờ mờ (religion diffuse) theo lối Tôn giáo chia bài (religion à la

carte) mà chúng ta đã nói ở trên Cái quan trọng là ở chỗ, khi phát hiện khuynh hướng mới nói trên, F Champion chỉ ra được cái lõi triết lý của

thứ tôn giáo ấy là tính tôn giáo song song (religiosités parallèles), hay sau

đó nhiều người như G Michelat đã gọi nó là những Niềm tin song song25

Bằng cách đưa ra những số liệu tiêu biểu của cuộc điều tra những giá trị Châu Âu và Pháp tiến hành từ năm 1990 mà chúng ta cũng đã nói ở

trên, F Champion đã đưa ra được 7 đặc trưng cơ bản của tính tôn giáo song hành hay những niềm tin song song dưới đây:

(1) Đặt trung tâm vào “cái thể nghiệm”, nhưng “không phải là tin mà chỉ là thể nghiệm”

Ngày đăng: 18/05/2021, 19:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w