CƠ sở lý LUẬN và lí THUYẾT về KỊCH TƯƠNG tác và KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG TRONG dạy học nói CHUNG và dạy học làm văn tự sự nói RIÊNG CƠ sở lý LUẬN và lí THUYẾT về KỊCH TƯƠNG tác và KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG TRONG dạy học nói CHUNG và dạy học làm văn tự sự nói RIÊNG CƠ sở lý LUẬN và lí THUYẾT về KỊCH TƯƠNG tác và KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG TRONG dạy học nói CHUNG và dạy học làm văn tự sự nói RIÊNG
Trang 1CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ LÍ THUYẾT VỀ KỊCH TƯƠNG TÁC
VÀ KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG TRONG DẠY HỌC NÓI CHUNG VÀ DẠY HỌC LÀM VĂN TỰ SỰ NÓI RIÊNG
Sự ra đời của kịch tương tác trong lịch sử kịch nghệ thế giới
Kịch tương tác chắc hẳn còn là một khái niệm khá mới
mẻ với bạn đọc ở Việt Nam hiện nay, đặc biệt là chúng tacần tránh nhầm lẫn với khái niệm “kịch ứng tác” đang thịnhhành Kịch tương tác là một hình thức kịch của một tác giả -biên kịch, đạo diễn, chính trị gia – Augusto Boal ngườiBrazil đề xuất dựa trên sự dung hòa chủ trương lạ hóa củaBretch với chủ trương diễn viên phải sống là nhân vật củaStanilavski Để hiểu rõ hơn về sự ra đời của kịch tương tác,chúng ta cần có một cái nhìn tổng quát về toàn bộ tiến trìnhhình thành và phát triển của kịch nghệ
Theo Aristotle, cũng như theo Hegel và Marx, dù tồn tạidưới bất cứ cách thức, thể loại hay phong cách nào, nghệthuật đều là một con đường cảm quan để chuyển tải nhữngloại hình tri thức nhất định – chủ quan hay khách quan, cánhân hay xã hội, cụ thể hay toàn thể, trừu tượng hay thực tế,
Trang 2kiến trúc thượng hay hạ tầng Và cụ thể, sân khấu kịch chịutác động nghiêm ngặt từ xã hội hơn hẳn so với những nghệthuật khác, vì nó tương tác trực tiếp và có sức thuyết phụcvới công chúng hơn Sự phối hợp này còn ở trong việc dàndựng ngoại cảnh cũng như trong nội hàm các ý tưởng trongkịch bản
Vì vậy, để tiện theo dõi cũng như quy chiếu đến hướngcủa đề tài luận văn, chúng tôi xin được phép làm một phépthống kê về sự ra đời của kịch nghệ với hai trục: một là lịchđại, hai là mối quan hệ giữa sân khấu – diễn viên với khángiả Lí do của sự xuất hiện trục thứ hai bắt nguồn từ chínhquan niệm về vị trí giữa khán giả và các nhân vật được thayđổi qua các phong cách, thời kì Điều này sẽ được chúng tôitrình bày rõ hơn sau đây
Bi kịch cổ Hi Lạp
Bi kịch cổ Hi Lạp có nguồn gốc từ sự thay đổi về xãhội, từ chỗ hình thức kiếm ăn chủ yếu là săn bắt, hái lượm,chưa có xã hội, văn hóa, tôn giáo và nỗi sợ xoay quanh họ
là các hiện tượng tự nhiên và thú ăn thịt cho đến những năm
8500 TCN (trước công nguyên) đã xuất hiện sản xuất lương
Trang 3thực Ở trong chính giai đoạn giao thoa này, những nghi lễ
để thể hiện sự sợ hãi và cầu mong thời tiết, thú dữ khônglàm hại xuất hiện song song với những nghi lễ thờ cúngthần linh cho mùa màng bội thu Và trong số những bộ lạc
đó, các nghi lễ đầu tiên với các điệu múa thể hiện một câuchuyện thay vì chỉ nằm dưới dạng một chuyển động cơ thểmang một ý nghĩa đơn lẻ Và đó được cho là mầm mốngđầu tiên của các hình thức sân khấu
Cho tới tận thế kỉ 6 TCN, mới là thời điểm được nhiềungười công nhận là sự ra đời chính thức của Sân khấu kịch
Đó là thời gian mà các bộ lạc (vài trăm người) đã được hìnhthành, hầu như mọi người đều có quan hệ huyết thống hoặchôn nhân hoặc cả hai với nhau Xen giữa các bộ lạc và tùtrưởng quốc là những bộ lạc có thủ lĩnh – là những người cóquyền quyết định xử lí những mâu thuẫn nội bộ, họ bắt đầu
có những đặc quyền và xu thế chiếm dụng những vùng đấtmàu mỡ Đây chính là một trong những lí do của sự xuấthiện bi kịch Dưới hình thức chúc mừng sau khi mùa màngbội thu, thờ thần rượu và nho Dinonysus, các vở bi kịchđược ra đời trước tiên Khởi thủy của nó có liên hệ tớinhững nghi lễ tôn giáo cho nên bi kịch Hi Lạp có tính trangtrọng, thi vị và nặng triết lí Bi kịch thời này nổi bật với ý
Trang 4thức về công lí, chuyển từ quan niệm trả thù/ báo thùnguyên thủy sang ý thức giác ngộ, công lí khách quan doquốc gia đảm nhiệm
Thời kì này nổi bật với ba cái tên: Aeschylus, Sophocles
và Euripides Sau thời kì của bộ ba này, người có ảnhhưởng lớn nhất, không chỉ trong thời đại của ông mà có lẽ
là mọi thời đại, Aristotle Ông có vai trò quan trọng trongviệc đề ra những nguyên tắc cơ bản của bi kịch mà vẫnđược sử dụng đến ngày nay, cấu trúc 3 phân đoạn
Hài kịch cổ và Tân Hài kịch
Sau đó ít lâu, khoảng năm 400 TCN thì Hài kịch cổ rađời với cái tên tiêu biểu là Aristophanes Nếu bi kịch suytàn sau năm 400 trước Tây lịch thì hài kịch vẫn còn tồn tạimột cách mạnh mẽ, chỉ có điều hài kịch lúc này đã thay đổimột cách sâu xa đến nỗi những hài kịch viết sau năm 338trước Tây Lịch đều được gọi là Tân Hài kịch Lúc này,những tình tiết của đời sống riêng tư đã thay thế nhữngchâm biếm chính trị, xã hội và sự tưởng tượng của hài kịch
cổ Tân Hài kịch, hầu hết bố cục đều dựa vào những tungtích được giấu kín, vào sự trùng hợp ngẫu nhiên và vào
Trang 5những gì được thừa nhận Những bản hợp tấu chỉ còn đóngvai trò tiếp nối giữa các màn kịch mà thôi
The Roman Games
Đây là quãng thời gian Hi Lạp bị thay thế bởi La Mã.Việc hình thành các quốc gia là không đủ với bộ phận lãnhđạo, với chủ quan ham chiến hay khách quan là duy trì sựthịnh vượng, cơ bản là duy trì khả năng cung cấp lươngthực, không bị xâm chiếm bởi các quốc gia láng giềng Vớitất cả các mục tiêu trên, dẫn đến tình trạng gia tăng sản xuấtlương thực, thặng dư đã bắt đầu nhen nhóm từ đây Trongthời kì này bắt đầu xuất hiện tầng lớp nô lệ bởi lí do họbuộc phải sản xuất nhiều hơn cho những bộ phận chuyênbiệt của xã hội hoặc bị bắt làm tù binh sau những cuộc xâmlăng Có thể nói vì thế mà thời kì này được coi là thời kì màchủ nghĩa anh hùng được lên ngôi Sau khi qua khỏi thời kìmông muội, cần được giáo huấn để không chém giết lẫnnhau trong cùng một cuộc gia thì giờ là lúc họ cần khơi dậytinh thần chinh phục lẫn nhau, khơi dậy chiến tranh giữa cácquốc gia khác nhau
Hai nhà văn La Mã, Plautus và Terence đã đạt được sựnổi tiếng lâu dài trng những thập kỉ trước và sau năm 200
Trang 6TCN Plautus tạo ra một hình thức giải trí vui nhộn gần vớitrò hề, Terence cho một bộ phim hài tinh tế hơn nhưngkhông nhà văn nào phát minh ra một cốt truyện đơn lẻ, tất
cả đều được vay mượn từ bộ phim Hi Lạp Các vở kịch La
Mã lại được trình bày như một phần của sự kiện rộng lớnhơn (Athens), vì thế nó tồn tại dưới dạng là các trò chơi La
Mã (The Roman Games) Tại đây, các dũng sĩ của đế chếđược tôn vinh, tính khát máu được khơi dậy, các tượng đạianh hùng ra đời và tồn tại trong suốt thời kì chủ nô
Kịch thời phong kiến
Sau khi Đế chế thất bại và chế độ chủ nô – nô lệ suy yếu,
sự nhen nhóm của tôn giáo giúp những nhà chinh phục cóđược lực lượng quân đội mà mình mong muốn Đế chếcũng đánh mất dần thế lực của mình tại các vùng đất xa xôikhỏi Rome, buộc phải chia cắt đất đai cho các cận thần,tướng lĩnh tạo thành các kiến ấp, hình thành chế độ phongkiến Rất nhanh các kiến ấp tạo sự thịnh vượng cho bảnthân mình và kêu gọi sự đoàn kết dân tộc, dưới một ngọn cờ
- ngọn cờ tôn giáo Với sự ổn định nội tại độc lập đó, kéotheo sự trở lại của sân khấu kịch với mục đích rất rõ ràng làtruyền bá tôn giáo
Trang 7Những nhân vật kịch điển hình thời phong kiến thườngkhông phải là con người, mà là sự trừu tượng hóa củanhững giá trị đạo đức, tôn giáo – nhưng điều không tồn tạitrong thế giới vật chất thực Tiêu biểu là Cám dỗ (Lust), Tộilỗi (Sin), Đức hạnh (Virtue), thiên thần (Angel), Ác quỷ(Devil),… Chúng không phải là những nhân vật – chủ thểcủa hành động kịch mà là khách thể đại diện cho những giátrị mà chúng tượng trưng Ví dụ, Ác quỷ thì không hề cóquyền hành động tự chủ, hắn chỉ đơn thuần hoàn thànhnhiệm vụ cám dỗ con người
Trong bối cảnh đó thì 4 kiểu Kịch ra đời bao gồm: Kịch
tế lễ (là những vở kịch ngắn do những tu sĩ trình diễn nhưmột bộ phận của buổi lễ trong các nhà thờ); Kịch tôn giáo(kịch dịch chuyển ra ngoài đường phố, viết dưới dạng thơ
để dạy giáo lí Thiên Chúa); Kịch phép lạ và Kịch đạo đức
Kịch thời tư sản
Nền tảng tôn giáo cũng như quyền lực cha truyền con nối
ăn sâu tới nỗi chỉ khi xã hội kiệt quệ vào 600 – 700 nămsau, thế kỉ XVII, bắt đầu mới có sự thay đổi Sự thay đổiđến từ những người nhận thức được sự bất công nhất – tầnglớp tiểu thương Cách mạng tư sản Pháp năm 1789 đã đánh
Trang 8đổ một trong những nhà nước phong kiến lâu đời nhất củalục địa già Nó cũng kéo theo những sự sụp đổ trên toàn bộlục địa, mở đường cho thời kì phục hưng và chinh phục tânthế giới (Châu Mỹ) Và Shakespeare đã sử dụng bi kịch đểtruyền bá một cách trọn vẹn và hợp pháp tư tưởng của xãhội mới, đả kích xã hội phong kiến Thời kì này, hình ảnhcon Ác quỷ chung biến mất và thay vào đó là những conquỷ đội lốt người – Qúy bà Macbeth, Iago, Cassius, VuaRichard III,… Họ không đơn thuần là những “ác quỷ điểnhình” hay “thiên thần ác quỷ” mà là những con người trầntục, những người đã tự nguyện chọn con đường trở thành ácquỷ
Kịch hiện đại
Chủ trương lạ hóa sân khấu của Berolt Bretch
Nhiều chủ trương lạ lùng đã được đề xuất và phát triểnthành một trường phái, đó là kịch phi lí của Samuel Beckett
và chủ trương lạ hóa sân khấu của Berolt Bretch Khái niệmphi lí nhìn trên logic học thì bất cứ những gì tồn tại trái vớicác quy tắc logic đều được coi là phi lí nhưng trong kháiniệm kịch phi lí thì nó còn có nghĩa thứ hai thuộc về bìnhdiện lí luận nhận thức Tất cả những gì chống lại năng lựcnhận thức, chống lại lí trí, không thể giải thích được bằng tư
Trang 9duy thì đều được coi là phi lí Như vậy cái phi lí ở đây là cáiphản lí tính
Khác với tâm thế khai thác sự phi lí trong những gìkhông thể lí giải nổi, Berolt Bretch lí giải rằng trong suốtchiều dài lịch sử, cũng như vị trí giữa những người nô lệ,dân đen, vô sản với giai cấp thống trị, vị trí giữa người khángiả và các nhân vật/ diễn viên/ đạo diễn của màn kịch không
hề thay đổi Chúng ta ngưỡng vọng họ theo nhiều cáchkhác nhau để rồi quên mất mục đích sống của chúng ta,đánh mất khả năng tư duy của chúng ta, để sống theo cách
mà họ mong muốn Ông chủ trương “lạ hóa” sân khấu, phảicách biệt sân khấu với khán giả khiến cho họ không thể ảotưởng sân khấu giống cuộc đời thực, do đó mà không thểhòa nhập vào với nhân vật mà quên đi vai trò khán giả củamình
Để thể hiện được quan điểm của mình, Bretch đã sửdụng cấu trúc Sử thi để khán giả tập trung vào những vấn đềđang được hiển thị hơn là việc quan tâm đến các nhân vật
và cảm xúc của họ Điều này bị vấp phải sự thất bại từ đầu
bởi vở diễn Bà mẹ dũng cảm và các con Mục tiêu của
Bretch trong vở kịch là để cho khán giả thấy rằng bà mẹ đãsai vì không hiểu biết về hoàn cảnh cô và các con đang ở,
Trang 10bà không được mô tả là một nhân vật cao quý nhưng ngượclại, sau vở kịch, phần đông khán giả có cảm tình với bà mẹ.Liên hệ một chút với hệ thống ba phân đoạn mà Aristole
đã đưa ra từ 2000 năm trước thì rõ ràng nghệ thuật đã bị
“thao túng” và khán giả đã bị “thanh tẩy” như thế nào
Trên đây là sơ đồ hệ thống bi kịch Aristotle mà Boal đãphân tích
Kịch ứng tác
Trái ngược với Bretch, Konstantin Stanilavski, nhà soạnkịch người Nga đã đưa ra một quan điểm khác về sân khấu.Với ông, diễn viên phải sống là nhân vật chứ không phảidiễn lại vai diễn của nhân vật đó Khía cạnh trong diễn xuất
mà Stanilavski và nhà soạn kịch người Pháp JacquesCopeau cùng nhau đưa ra là việc đào tạo và tập luyện kĩnăng diễn xuất ứng tác cho diễn viên nhằm giúp các diễnviên hòa vào vai diễn, nền tảng hiện đại của Kịch ứng tác
Tâm kịch
Tâm kịch là một phương pháp hành động, thường được
sử dụng như một liệu pháp tâm lí trong đó khách hàng sử
Trang 11dụng kịch tính hóa tự phát, chơi trò chơi và trình bày kịchtính để tra cứu và hiểu sâu hơn về cuộc sống của họ Đượcphát triển bởi Jacob L Moreno, tâm kịch bao gồm các yếu
tố của sân khấu, thường được thực hiện trên sân khấu hoặctrong một không gian phục vụ như một khu vực sân khấu,nơi có đạo cụ có thể được sử dụng Một nhóm trị liệu tâm lí,dưới sự chỉ dẫn của một nhà tâm lí học có kinh nghiệm, táihiện lại cuộc sống thực, các tình huống trong quá khứ, diễn
ra ở hiện tại Ở thể loại này chúng ta có thể thấy vai tròđược đảo ngược: nhân vật chính bước ra khỏi vai trò củamình và ban hành vai trò của một người có ý nghĩa trongcuộc sống của họ Hành động này có thể giúp nhân vậtchính hiểu được vai trò của người khác và giúp nhà trị liệuhiểu rõ hơn về sự năng động của mối quan hệ và tăng sựđồng cảm của nhân vật chính
Kịch tái hiện
Kịch tái hiện là một hình thức ban đầu của sân khấu ứngtác trong đó khán giả hoặc thành viên trong nhóm kể nhữngcâu chuyện từ cuộc sống của họ và xem chúng đã được táihiện ngay tại chỗ Hình thức kịch tái hiện được phát triểnbởi Fox và Salas sử dụng các hình thức sân khấu thànhphần, được phát triển từ nguồn trong các rạp hát ngẫu hứng,
Trang 12kể chuyện và tâm kịch Các thành phần này bao gồm cácphân đoạn (tình tiết) và các hình thức kể chuyện hoặc không
kể chuyện bao gồm “các tác phẩm điêu khắc lỏng”, “cặp”
và “điệp khúc”
Kịch tương tác
Kịch tương tác ra đời dựa trên nền tảng lí thuyết củaAugusto Boal – Kịch của những người bị áp chế Trongcuốn “Kịch của những người bị áp chế”, Boal đã tập trungphân tích vị trí của khán giả và diễn viên trong từng thipháp kịch được đề xuất từ thời Aristotle cho tới Hegel rồiBretch Để rồi từ đó, ông đã đề xuất ra một hệ thống thipháp mới, được gọi là thi pháp của người bị áp chế Trong
đó, ông đã đề xuất rất nhiều các kĩ thuật và một trong số đó
đó Trong quá trình diễn, vở kịch luôn được kiến tạo lạinhiều lần bằng cách: các diễn viên khác ngồi xem có thể
Trang 13dừng vở kịch đang diễn và đề xuất một cách giải quyết kháccho nhân vật trong vở kịch và rồi vở kịch sẽ được diễn lạivới cách giải quyết đó Cứ như vậy cho đến khi vở kịch điđến cùng thì đồng nghĩa là có rất nhiều cách giải quyết đãđược đề xuất và những người tham gia có thể nhìn thấy rấtnhiều khả năng có thể xảy ra từ mỗi cách giải quyết đó đểđưa ra lựa chọn cuối cùng cho mình
Tiểu kết: Có thể thấy, trong Kịch truyền thống khán
giả đóng một vai khá thụ động với màn kịch Hoàn toànkhông có sự giao lưu giữa khán giả - diễn viên hoặc cáckhán giả với nhau một cách trực tiếp trong các vở kịch.Khán giả sẽ là người xem, tiếp thu những điều màn kịchđược phô diễn và “đi theo” cách mà các diễn viên đang dẫndắt với một thông điệp, ý đồ nào đó có sẵn Điều nay sẽđược thay đổi trong toàn bộ hệ thống Kịch hiện đại khi khángiả được chủ động hơn trong việc tiếp nhận màn kịch Từviệc khán giả không bị “dắt mũi” đi theo diễn viên mà đượcđứng hẳn ở phía ngoài để đánh giá cho đến việc được trựctiếp tham gia vào vở kịch như một diễn viên để cùng kiếntạo vở kịch đó
Trang 14Cách thức vận hành kịch tương tác
Kịch tương tác chính là sản phẩm của quá trình đi tìmcái mới trong việc cải thiện vị thế của khán giả khi xem/tham gia đóng kịch Kịch tương tác chú trọng làm việc vớinhững câu chuyện và kinh nghiệm/ trải nghiệm thực tế củangười tham gia, từ đó tự viết kịch bản hoặc thay đổi kịchbản hoặc làm quen với kịch bản một cách dễ dàng hơn
Để có thể chuyển hóa khán giả từ người chứng kiến thànhnhân vật chính, Boal đã đề xuất một kế hoạch gồm bốn giaiđoạn:
Giai đoạn 1: Hiểu về cơ thể Trong giai đoạn này, nhữngngười tham gia sẽ được thực hiện một loạt các bài tập đểbước đầu làm quen giải phóng hình thể, tìm hiểu nhiều hơn
về cơ thể của mình, trong đó bao gồm những “biến dạng xãhội và khả năng phục hồi của nó”
Giai đoạn 2: Biểu cảm cơ thể: một loạt các trò chơi giúpngười tham gia có thể thoải mái hơn trong việc sử dụnghình thể để giao tiếp Các trò chơi trong giai đoạn này sẽ tậptrung hướng vào việc người tham gia sử dụng hình thể mộtcách có ý thức và nhịp nhàng, biến nó thành một thứ giaotiếp thông dụng hơn cả ngôn ngữ hàng ngày
Trang 15Giai đoạn 3: Kịch như là ngôn ngữ: xem tất cả nhữngngười tham gia như chưa biết gì về kịch, giai đoạn này tiếptục chia thành các cấp độ giúp cho người tham gia có thểđược trải nghiệm tự nhiên nhất các thao tác để tạo ra một vởkịch:
+ Cấp độ 1: Kịch song song: Khán giả viết kịch bản đồngthời với diễn xuất của các diễn viên
+ Cấp độ 2: Kịch hình ảnh: Khán giả can thiệp trực tiếp,lên tiếng thông qua những hình ảnh tạo ra từ cơ thể của diễnviên
+ Cấp độ 4: Kịch tương tác: Khán giả trực tiếp can thiệpvào hành động kịch và diễn
Giai đoạn 4: Kịch đàm luận: các diễn viên – khán giả tạo
ra những cảnh tượng kịch dựa trên nhu cầu của người đó,nhằm thảo luận những chủ đề nhất định hoặc diễn tập mộtvài hành động cụ thể
Căn cứ vào lí thuyết này, một forum được diễn ra theođúng 4 giai đoạn trên và như vậy, Kịch tương tác xuất hiệnnhư là một kĩ thuật ở cấp độ cao nhất, nơi mà khán giả đượctham gia trực tiếp vào vở kịch Vì vậy, cách mà kịch tương