CƠ sở lý LUẬN TRIẾT lý âm DƯƠNG và ẢNH HƯỞNG của nó tới đời SỐNG CƠ sở lý LUẬN TRIẾT lý âm DƯƠNG và ẢNH HƯỞNG của nó tới đời SỐNG CƠ sở lý LUẬN TRIẾT lý âm DƯƠNG và ẢNH HƯỞNG của nó tới đời SỐNG CƠ sở lý LUẬN TRIẾT lý âm DƯƠNG và ẢNH HƯỞNG của nó tới đời SỐNG CƠ sở lý LUẬN TRIẾT lý âm DƯƠNG và ẢNH HƯỞNG của nó tới đời SỐNG
Trang 1CƠ SỞ LÝ LUẬN TRIẾT LÝ ÂM DƯƠNG VÀ ẢNH
HƯỞNG CỦA NÓ TỚI ĐỜI SỐNG
Quá trình hình thành và phát triển của triết lý Âm Dương
Triết lý âm dương ra đời từ rất sớm và gắn liền vớimọi mặt của đời sống xã hội Có nhiều giả thiết khác nhau
về nguồn gốc của triết lý âm dương như: Triết lý âm dươngđược sáng tạo bởi Phục Hy; triết lý âm dương được sáng tạobởi vua Văn Vương; hay triết lý âm dương do phái ÂmDương gia khởi phát;
Phục Hy là một vị thần trong thần thoại Trung Quốc.Ông được cho là người sáng tạo ra triết lý âm dương.Tương truyền, một đêm Phục Hy nằm mơ thấy con long mãcõng trên lưng Hà Đồ, cưỡi trên sông Hoàng Hà Từ đó, ônghiểu được lẽ biến hóa của vũ trụ và chế định ra “Tiên thiênbát quái”, lấy trục Càn – Khôn làm chủ; ngược lại với “Hậuthiên bát quái” của vua Văn Vương Hà Đồ gồm các chấmđen và trắng sắp xếp cân đối thành hai hình lưỡng nghi:
Trang 2Chấm màu đen biểu thị cho âm, kí hiệu bằng hai vạch đứt(– –); chấm màu trắng biểu thị cho dương, kí hiệu bằng mộtvạch liền (––) Lưỡng nghi sinh ra tứ tượng, tứ tượng sinh
ra bát quái, bát quái sinh ra trùng quái, trùng quái lại sinh ranhững hình kép khác, mỗi hình gồm 12 điểm và như thế cáchình và các điểm nhân lên vô tận Từ các hình và các điểm
đó chúng ta có thể định được cát hung, sự nghiệp côngdanh
Truyền thuyết khác lại cho rằng, vua Văn Vương(khoảng thể kỷ XII TCN) sáng tạo ra triết lý âm dương, lấytrục Khảm – Ly làm chủ Ông đã sắp xếp lại thứ tự các quẻ
và viết lời giải thích cho từng quẻ để lý giải lành, dữ, cát,hung,
Một số giả thuyết khác lại cho rằng, phái Âm Dương gia
có công lao trong việc khởi phát triết lý âm dương Tuy nhiên,tất cả những giả thuyết trên đều không có cơ sở khoa học rõràng Phục Hy là nhân vật thần thoại, không có thực Phái
Âm Dương gia được hình thành vào thế kỉ thứ III, tức là sauKhổng Tử đến hai thế kỉ, mà vào thời Khổng Tử đã có KinhDịch, có âm dương bát quái Điều này cho thấy, Âm Dươnggia chỉ vận dụng âm dương để giải thích địa lý, lịch sử và
Trang 3vận dụng ngũ hành để tạo ra “Ngũ đế đức” chứ không sángtạo ra triết lý âm dương.
Với những lý luận sắc bén và sự dày công nghiên cứu,hiện tại rất nhiều học giả Việt Nam và nước ngoài, đặc biệt
là học giả Trung Quốc đều cho rằng triết lý âm dương cónguồn gốc phương Nam Việt Nam là một trong những cáinôi của nền văn minh lúa nước, của nền văn hóa Đông Sơnnên việc sinh sôi nảy nở của hoa màu và sự sinh sản của conngười được người cư dân nông nghiệp vô cùng chú trọng.Hàng loạt các tư liệu sống được đưa ra như các hình chạmtrổ trên mặt trống đồng Đông Sơn, các di chỉ khảo cổ cáchđây hàng ngàn năm là những minh chứng sắc bén cho thấy
sự thẩm thấu của triết lý âm dương trong đời sống củangười Việt Nếu như ở Trung Quốc chỉ có một vị nữ thầnduy nhất là Nữ Oa, thì ở Việt Nam có cặp đôi vật tổ Rồng –Tiên
Về mặt ngôn ngữ học, âm dương là phát âm của từ
“yin yang” trong tiếng Hán, nhưng chính tiếng Hán để chỉkhái niệm âm dương lại vay mượn từ các ngôn ngữphương Nam trước đây Từ yang (dương) trong tiếng Hánđược phiên âm từ yang (trời, giàng) của các tiếng Đông
Trang 4Nam Á, còn yin (âm) thì có thể thấy được phiên âm từyana, ina (mẹ) của các ngôn ngữ phương Nam
Ban đầu, người Hán bị ảnh hưởng bởi triết lý âmdương của phương Nam Sau đó, với tư duy phân tích tàitình của mình, người Hán đã tiếp thu và phát triển triết lý
âm dương thành một hệ thống, học thuyết và đem nó tácđộng ngược trở lại đối với người dân phương Nam Dù bắtnguồn từ đâu thì chúng ta cũng không thể phủ nhận sức ảnhhưởng và lan tỏa của triết lý âm dương đối với cuộc sốngcủa con người
Nội dung của triết lý Âm Dương
Bản chất của Âm Dương
Quan niệm về Âm Dương của người Việt Nam
Nguồn gốc Đông Nam Á của triết lý âm dương đãđược chứng minh Vậy quan niệm của người Việt Nam về
âm dương như thế nào?
Nền văn minh lúa nước được hình thành cách đâyhàng ngàn năm Không phải Trung Quốc, Ấn Độ hay bất kìquốc gia nào khác, mà chính Việt Nam là quê hương đầutiên của cây lúa nước Nền văn hóa Đông Sơn có từ thời
Trang 5Hùng Vương, trên mặt trống đồng Đông Sơn và rất nhiều dichỉ khảo cổ khác người ta tìm thấy những hình hình ảnhnhư trâu, bò, lưỡi cày,… cho thấy một nền nông nghiệp rấtphát triển ở nước ta
“Trời cao đất rộng thênh thang Tiếng hò giọng hát ngân vang trên đồng
Cá tươi gạo trắng nước trong Hai mùa lúa chín thơm nồng tình quê” [27; tr 5].
Trước đây, bất kỳ cư dân nông nghiệp nào cũng đềumong muốn có mùa màng bội thu và con đàn cháu đống.Bởi theo họ, như vậy là gia đình có phước và hạnh phúc, ấm
no Càng đông con bao nhiêu thì phúc càng lớn bấy nhiêu.Mong muốn đông con của người Việt xưa không phải chỉ
để có người phụng dưỡng khi về già mà còn để có ngườitham gia lao động sản xuất Chỉ có như vậy mới đảm bảođược cuộc sống cho cư dân nông nghiệp, vì lúa gạo và nôngsản là nguồn lương thực chính của họ Tư tưởng ấy dườngnhư đã hằn sâu trong suy nghĩ của người Việt Nam bao đờinay và được người Việt khái quát lại thành triết lý âmdương với hai cặp đối lập ban đầu “mẹ - cha” và “đất –trời”
Trang 6Từ hai cặp đối lập ban đầu đó, người Việt mở rộng rahàng loạt các cặp đối lập khác như: “Rồng - Tiên”; “Chim
Ây – Cái Ứa” (Dân tộc Mường); “Bác Luông – Slao Cải”(Dân tộc Tày); “Nàng Kè – Tạo Cặp” (Dân tộc Thái);… đóchính là những chứng cứ, dấu vết của tư duy âm dương thời
xa xưa của người Việt cổ
Trải qua nhiều thời kì phát triển, triết lý âm dươngkhông chỉ là sự trừu tượng hóa ước mơ về sự sinh sôi nảy
nở và mong muốn mùa màng bội thu, mà còn góp phần tạonên bề dày lịch sử mang đặc trưng của người Việt Nộidung cơ bản của triết lý âm dương là mọi sự vật, hiện tượngđều là sự kết hợp và chuyển hóa lẫn nhau của hai mặt đốilập Trong âm có dương, trong dương có âm và âm thịnhdương suy, dương thịnh âm suy Triết lý âm dương là cơ sởcủa nhận thức và hoạt động thực tiễn
Không chỉ có cặp đôi vật tổ mà hầu hết mọi sự vật,hiện tượng đều có đôi có cặp theo nguyên tắc âm dương hàihòa: “Ông Đồng – Bà Cốt”; “Miếu Cô – Miếu Cậu”; “Namthanh – Nữ tú”;… Khi nói đến cha, người ta thường nghĩngay đến mẹ, nói đến núi thường nghĩ ngay đến nước
“Công cha như núi Thái Sơn
Trang 7Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra” [27; tr 20].
Hay:
“Đi khắp thể gian, không ai tốt bằng mẹ
Gánh nặng cuộc đời, không ai khổ bằng cha.
Nước biển mênh mông không đong đầy tình mẹ
Mây trời lồng lộng không phủ kín công cha” [27; tr
20]
Hay:
“Ơn cha nặng lắm ai ơi!
Nghĩa mẹ bằng trời chín tháng cưu mang” [27; tr 21].
Và rồi:
“Công cha như núi ngất trời Nghĩa mẹ như nước ở ngoài biển Đông Núi cao biển rộng mênh mông
Cù lao chín chữ ghi lòng con ơi” [27; tr 20].
Trang 8Khi nói tới đất người ta thường nghĩ ngay tới nước,nói tới núi thường nghĩ ngay tới sông, nói tới nước thườngnghĩ ngay tới lửa,… và các cặp đối lập theo âm dương đãđược tạo ra như: đất (dương) - nước (âm); núi (dương) –sông (âm); nước (âm) – lửa (dương);… Ở một số địa danhtrên đất nước ta, các chữ cái đầu tiên đều bắt đầu bằng chữ
“núi” (chư): Chưsê, K rông; hay “sông, nước” (dak) như:Kroong Pa, Dak B’la,… Ngay cả trong hai tiếng thiêngliêng “Đất nước” cũng chứa đựng trong nó triết lý âmdương
Nếu ở Trung Quốc và Ấn Độ hay một số quốc giakhác chỉ thờ một vị thần đơn độc thì ở Việt Nam dường nhưtrong tín ngưỡng thờ cúng đều có các cặp đôi như “Ông Tơ– Bà Nguyệt”; “Miếu Cô – Miếu Cậu”; “Phật Ông – PhậtBà”; “Bụt Đực – Bụt Cái” Điều đó một phần minh chứngcho nguồn gốc Đông Nam Á của triết lý âm dương, mộtphần cho thấy nét đặc sắc và độc đáo trong văn hóa củangười Việt
Là người con đất Việt, chắc hẳn sẽ không còn lạ gì vớiphong tục làm “bánh Chưng – bánh Dày” trong dịp TếtNguyên Đán Bánh Chưng hình vuông tượng trưng cho đất(âm), bánh Dày hình tròn tượng trưng cho trời (âm) Trời
Trang 9đất thuận hòa, âm dương hòa hợp thể hiện mong muốn cómột năm mới mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, dân cư
an lạc; Khi một em bé chuẩn bị chào đời, chúng ta thườngchúc “mẹ tròn – con vuông”, một lần nữa khái niệm tròn(trời), vuông (đất) lại được sử dụng Dù là trong sinh hoạthàng ngày, trong sinh con hay trong nhiều vấn đề khác củađời sống thì triết lý âm dương vẫn len lỏi và thấm nhuần
Quan niệm “vuông – tròn” ở Việt Nam cũng rất phổbiến trong các thành ngữ và ca dao: “Mẹ tròn, con vuông”,
“Ba vuông bảy tròn”,…
“Nuôi con cho đến vuông tròn
Mẹ thầy vất vả, xương mòn gối long Con ơi gắng trọn hiếu trung Thảo ngay một dạ, luống công mẹ thầy” [27; tr 36].
Trang 10“Trăm năm tính chuyện vuông tròn Phải dò cho đến ngọn nguồn lạch sông Nghĩ mình phận mỏng cánh chuồn Khuôn xanh biết có vuông tròn mà hay” [17; tr 139]
Trong kiến trúc xây dựng nhà ở trước đây và trong cáccông trình kiến trúc văn hóa như đình, chùa,… hình tượngmái cong xuất hiện khá phổ biến từ thời Hùng Vương.Đường cong là sự kết hợp hài hòa giữa đường thẳng vàđường tròn tạo nên sự kết hợp uyển chuyển, hài hòa phảnánh tâm hồn của người Việt Ở Trung Quốc cũng có cáccông trình kiến trúc mái cong nhưng mãi đến thời Đường(thể kỷ XII sau công nguyên) mới xuất hiện
Trong những quan niệm dân gian của người Việt Namcũng nói lên quy luật của âm dương, trong âm có dương,trong dương có âm: “Trong họa có phúc”; “Yêu nhau lắm,cắn nhau đau”; “Yêu cho roi cho vọt, ghét cho ngọt chobùi”;…
“Chim sa, cá nhảy chớ mừng Nhện sa, xà đón xin đừng có lo” [27; tr 63].
Trang 11“Gần ba mươi tuổi chớ mừng Khó ba mươi tuổi con đừng vội lo” [27; tr 63].
Trong đời sống người Việt, triết lý, quan niệm sống
có vai trò rất quan trọng, đặc biệt là triết lý sống quânbình Nó đã ăn sâu, thấm nhuần vào tư tưởng, nhận thứccủa hầu hết người dân Việt Nam Triết lý sống quân bìnhhướng đến sự hài hòa Không chỉ với người sống, vớingười đã mất triết lý quân bình âm dương cũng được vậndụng Trong các ngôi chùa, ngay khi bước vào chúng tathường thấy hai tượng hộ pháp rất to là “Ông Thiện –Ông Ác”; sự sắp xếp trong các ngôi mộ cổ cũng hướngđến cân bằng âm dương, khi ghép gỗ thì một tấm có gờlồi ra ghép với một tấm có rãnh lõm vào Khi lợp mái,người xưa cũng thường dùng ngói âm dương, viên ngửa,viên úp đan xen nhau Triết lý sống quân bình giúp ngườiViệt Nam có sự thích nghi cao trong mọi hoàn cảnhnhưng dễ khiến con người bằng lòng với cuộc sống
Như vậy, có thể thấy quan niệm âm dương được hìnhthành từ rất sớm, len lỏi vào mọi mặt của đời sống cũng như
tư tưởng của người Việt Nam Quan niệm về âm dương của
Trang 12người Việt mang những đặc trưng riêng và có ý nghĩa vôcùng sâu sắc, đến nay vẫn còn rất giá trị.
Quan niệm về Âm Dương của người Trung Quốc
Trung Quốc cố đại là một quốc gia rộng lớn, đông dân,giàu tài nguyên thiên nhiên và là một trong ba cái nôi củavăn minh nhân loại Năm 221 TCN, Tần Thủy Hoàng thốngnhất Trung Hoa, mở đầu cho thời kì phong kiến ở TrungQuốc
Triết học ở Trung Quốc phát triển khá sớm và đạtđược nhiều thành tựu rực rỡ với các trường phái lớn như:Nho gia, Pháp gia, Đạo gia, Danh gia,… Với lối sống dumục lâu đời, tư duy thiên về phân tích, người Hán đã nhanhchóng tiếp thu triết lý âm dương của các nước phương Nam
và phát triển, hệ thống hóa, khái quát nó thành một họcthuyết với tên gọi “Học thuyết âm dương – ngũ hành”
Học thuyết âm dương – ngũ hành đánh dấu một bướcchuyển quan trọng trong tư duy triết học phương Đông,giúp con người bước đầu thoát khỏi sự lệ thuộc vào tưtưởng duy tâm thần bí trước đây Âm và dương ở đây đượchiểu là hai dạng vật chất đối lập phổ biến trong vũ trụ
“Âm” đại diện cho sự tiêu cực, lạnh nhạt, nhu nhược;
Trang 13Ngược lại, “dương” đại diện cho tích cực, nóng, cứng Âm
và dương luôn có sự tác động qua lại lẫn nhau, chính sựchuyển hóa giữa âm và dương đã tạo nên toàn bộ vũ trụ.Trong bản thân mỗi sự vật hiện tượng đều chứa đựng thuộctính mâu thuẫn đó là âm dương và trong vạn vật, không cóvật nào mà không cõng âm bồng dương Học thuyết âmdương được thể hiện sâu sắc nhất trong "Kinh Dịch"
Vũ trụ, vạn vật đều có bản thể động Trong thái cực,thiếu dương vận động đến thái dương thì trong lòng tháidương lại nảy sinh thiếu âm, thiếu âm vận động đến thái
âm thì trong lòng thái âm lại nảy sinh thiếu dương Cứnhư thế, âm dương biến hoá liên tục, tạo thành vòng biếnhóa không bao giờ ngừng nghỉ Âm dương được quanniệm là những mặt, những hiện tượng đối lập Như trong
tự nhiên: sáng - tối, trời - đất, đông – tây; trong xã hội:quân tử - tiểu nhân, chồng - vợ, vua – tôi, tất cả nhữngmặt đó đều chứa đựng âm dương
Trong y học, âm dương được dùng để xem xét nguồngốc của bệnh tật Âm dương là cái đạo của trời đất, kỷcương của vạn vật, cha mẹ của sự biến hóa, gốc ngọn của sựsinh sát, phủ tạng của thần minh, trị bệnh phải cần ở gốc,cho nên tích luỹ dương làm trời, tích lũy âm làm đất, âm
Trang 14tĩnh dương động, dương sinh âm trưởng, dương sát âm tàng,dương hóa khí, âm tàng hình Trời thuộc dương, đất thuộc
âm, mặt trời thuộc dương, mặt trăng thuộc âm Âm dương
là khái niệm phổ biến của trời đất Mọi sự vật, hiện tượngtrong vũ trụ đều có thể lấy âm dương làm đại biểu Thôngqua quy luật biến đổi âm dương trong tự nhiên mà có thểsuy diễn, phân tích quy luật âm dương trong cơ thể conngười
Âm là một phạm trù rất rộng, phản ánh khái quátnhững thuộc tính phổ biến của vạn vật như: lạnh, tối, ẩmướt, bên dưới, số chẵn (2,4,6,…) Dương là phạm trù đốilập với âm, phản ánh khái quát những tính chất phổ biếncủa vạn vật như: nóng, sáng, khô, bên trên, số lẻ (1,3,5,…).Nhưng âm – dương không tồn tại biệt lập mà là thống nhấtvới nhau, chế ước lẫn nhau theo ba nguyên lý căn bản: Thứnhất, âm – dương thống nhất trong Thái cực; Thứ hai,trong âm có dương, trong dương có âm; Thứ ba, dươngtiến đến đâu thì âm lùi đến đó và ngược lại; đồng thời âmthịnh thì dương khởi, dương cực thì âm sinh
Quan niệm về âm dương của người Trung Quốcđược thể hiện rõ ràng và sâu sắc nhất trong “Kinh Dịch”.Với 64 quẻ, mỗi quẻ đều có những lời chú giải khác
Trang 15nhau, mỗi lời chú giải đều chứa đựng những tư tưởngtriết học hết sức phong phú và sâu sắc, có ảnh hưởngkhông nhỏ đến đời sống của con người.
Sự đối lập lẫn nhau của âm dương
Xét về mặt ngôn ngữ, ở bất kì quốc gia nào cũng đều
có những cặp từ trái nghĩa với nhau Nói đến triết lý âmdương là nói đến những mặt đối lập của sự vật hiện tượng.Vậy các mặt đối lập có phải là nội dung chủ yếu của triết lý
âm dương hay không?
Điều làm nên nét đặc sắc của triết lý âm dương so vớicác triết lý khác là ở bản chất và quan hệ của âm dương.Trong mọi sự vật, hiện tượng đều chứa đựng cả âm vàdương, dù phần âm có thể nhiều hơn phần dương hoặcngược lại phần dương có thể nhiều hơn phần âm Songkhông có cái gì là chỉ có âm hoặc chỉ có dương Việc xácđịnh đâu là âm, đâu là dương chỉ mang tính chất tương đối
và phải đặt trong điều kiện cụ thể mới biết được
Âm – dương vừa đối lập, vừa thống nhất, vừa mâuthuẫn, vừa hòa hợp với nhau, vừa hỗ trợ cho nhau Trong tựnhiên, bốn mùa luôn thay đổi luân phiên trong một năm,sáng và tối luân phiên nhau trong một ngày, mỗi loài động