1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam tập II (1954-1975) - Báo cáo kết quả nghiên cứu, biên soạn công trình nhiệm vụ Trung ương giao: Phần 2

328 40 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam tập II (1954-1975) - Báo cáo kết quả nghiên cứu, biên soạn công trình nhiệm vụ Trung ương giao: Phần 2
Trường học Trường Đại học Quốc gia Hà Nội
Thể loại báo cáo
Năm xuất bản 1975
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 328
Dung lượng 2,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tài liệu Báo cáo kết quả nghiên cứu, biên soạn công trình nhiệm vụ Trung ương giao: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam tập II (1954-1975): Phần 2 gồm nội dung các chương: Chương IV - Đảng lãnh đạo chống chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh” và chiến tranh phá hoại lần thứ hai của Mỹ, khôi phục và phát triển kinh tế ở miền Bắc (1969-1/1973); Chương V - cả nước dồn sức giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước (1-1973 - 4-1975).

Trang 1

Chương IV

ĐẢNG LÃNH ĐẠO CHỐNG CHIẾN LƯỢC “VIỆT NAM HOÁ CHIẾN TRANH” VÀ CHIẾN TRANH PHÁ HOẠI LẦN THỨ HAI CỦA MỸ, KHÔI PHỤC VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ Ở MIỀN BẮC (1969-1/1973)

I TÌNH HÌNH SAU TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY TẾT MẬU THÂN

1968 VÀ CHỦ TRƯƠNG CHUYỂN HƯỚNG CHIẾN LƯỢC CỦA ĐẢNG

1 Tình hình sau Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 của quân và dân ta

ở miền Nam đã gây chấn động chính giới Mỹ, làm bàng hoàng cả nước Mỹ, buộc đế quốc Mỹ phải xuống thang chiến tranh, ngừng ném bom miền Bắc,

cử đại diện đàm phán bốn bên tại Pari (Cộng hoà Pháp) Nhưng Mỹ chưa từ

bỏ ý định duy trì chủ nghĩa thực dân mới ở miền Nam Tập đoàn Níchxơn cho rằng Mỹ chưa dùng hết sức mạnh quân sự của mình trong cuộc chiến tranh Việt Nam, chưa thi thố hết tài năng, mánh khoé chính trị, ngoại giao để phá

hậu phương quốc tế của Việt Nam, chưa phá được Lào và Campuchia - đồng minh và hậu phương trực tiếp của Việt Nam

Tập đoàn Níchxơn cũng đã thấy hạn chế của ta trong cuộc tổng tiến công mà họ chưa nhận ra lúc đầu là ta chưa đủ sức giải phóng hoàn toàn miền Nam Sau vài đợt tiến công, điều bất ngờ đối với họ không còn nữa

Sau năm 1968, nước Mỹ đứng trước cuộc khủng hoảng xã hội gay gắt

Từ khi Mỹ đưa quân vào trực tiếp chiến đấu ở Việt Nam, việc chi tiêu tài chính trong bốn năm (1965-1968) với bình quân mỗi năm là 30 tỷ đô la, chưa

kể tốn kém của 11 năm Mỹ thay chân Pháp áp đặt chủ nghĩa thực dân mới xâm lược Việt Nam, đã làm cho nền kinh tế Mỹ khủng hoảng nặng nề nhất kể

từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai Lạm phát tăng 6,1% năm 1969 Tỷ trọng ngoại thương giảm từ 48% xuống 10% sau 20 năm (1946-1968) Năng suất lao động xuống thấp so với nhiều nước tư bản phát triển Đội quân thất nghiệp ngày càng đông thêm Chính quyền Giônxơn không thể tập trung vào lực

Trang 2

lượng “chương trình xã hội vĩ đại”, “chống đói nghèo, ngu dốt, bệnh tật” đã hứa với nhân dân Mỹ Con số 100.000 binh sĩ bị thương, bị chết và bị mất tích càng làm cho nhiều người Mỹ nhận ra rằng chiến tranh xâm lược Việt Nam là nguồn gốc gây ra tai họa cho cuộc sống của người Mỹ Tổng thống Giônxơn thừa nhận: “nhân dân Mỹ và một số nhân vật trong chính quyền bắt đầu nghĩ rằng chúng ta (Mỹ) đã thất bại”1 Làn sóng chống chiến tranh Việt Nam rộng lớn chưa từng có của nhân dân Mỹ đã dấy lên: bãi khoá ở các trường học, biểu tình của hàng trăm nghìn, hàng triệu người chống Chính phủ, từ tầng lớp trên đến tầng lớp dưới, từ ngành lập pháp đến ngành hành pháp, đồng loạt đưa

ra các yêu sách như: “Khi nào Mỹ rút được quân ra khỏi miền Nam Việt Nam?”, “Phải giảm bớt con số thương vong của Mỹ”, “Phải chấm dứt hoàn toàn việc ném bom miền Bắc Việt Nam”, “Phải giảm bớt mục tiêu của Mỹ ở Việt Nam cho phù hợp với tiềm lực kinh tế và quân sự”

Xu hướng phản đối chiến tranh Việt Nam của Mỹ được khơi dậy và phát triển rộng khắp ngay cả trong các đồng minh của Mỹ

Trước thất bại quân sự trên chiến trường, tình hình kinh tế-xã hội sa sút

và sức ép rộng lớn ngay tại nước Mỹ và của thế giới phản đối chiến tranh Việt Nam, Tổng thống Giônxơn buộc phải thực hiện chủ trương “phi Mỹ hoá chiến tranh”, giao trách nhiệm cho quân nguỵ, chấm dứt sự dính líu trên bộ của quân đội Mỹ ở miền Nam Việt Nam Thực chất chủ trương “phi Mỹ hoá chiến tranh” là trong tình thế thất bại, khó khăn, Mỹ phải rút quân ra, nhưng vẫn ngoan cố tiếp tục chiến tranh bằng lực lượng quân nguỵ

Thực hiện chủ trương “phi Mỹ hoá chiến tranh”, Giônxơn đã buộc phải chấm dứt không điều kiện cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc, chấp nhận đàm phán với Việt Nam dân chủ cộng hoà và Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam-tổ chức đại diện chân chính của miền Nam Việt Nam

mà trước nay Mỹ không hề thừa nhận

Chiến lược mới này của Mỹ là một chiến lược hoàn chỉnh về quân sự, chính trị, kinh tế, ngoại giao nhằm tiếp tục thực hiện âm mưu cơ bản của Mỹ

1 L.Giônxơn: Hồi ký về cuộc đời làm thổng thống, Nxb Buysê Saxten, Pari, 1972, tr 157

Trang 3

là bám giữ miền Nam Việt Nam, giảm dần vai trò chiến đấu của quân Mỹ nhưng phải giành thế mạnh trên chiến trường để kết thúc chiến tranh theo điều kiện của Mỹ Về thực chất, đây là chủ trương dùng người Việt Nam đánh người Việt Nam với tiền bạc, vũ khí, trang bị của Mỹ và do Mỹ chỉ huy, như Đại sứ Mỹ Bâncơ từng tuyên bố: “Để thay đổi màu da cho cái xác chết”1, hòng làm dịu sự phản đối của nhân dân Mỹ trước tình hình thương vong của binh lính Mỹ, xoa dịu dư luận chống chiến tranh và đòi rút hết quân Mỹ khỏi miền Nam Việt Nam

Khi tranh cử, R.Níchxơn tuyên bố “tôi có kế hoạch chấm dứt chiến tranh”, khi nhậm chức, Níchxơn tiếp tục tuyên bố, danh dự lớn nhất của nước

Mỹ “mà lịch sử có thể ban cho là danh hiệu người đưa lại hoà bình” Mánh khoé của Níchxơn đã đánh lừa được nhiều người Mỹ, không có kinh nghiệm chính trị, tin là ông ta có thể đem lại hoà bình

Chính quyền Níchxơn đã vạch kế hoạch để bảo đảm vừa tránh được đòn phản chiến của nhân dân Mỹ, vừa tiếp tục thực hiện được chủ nghĩa thực dân mới ở miền Nam Việt Nam

Thủ đoạn của Níchxơn được nâng lên thành “Học thuyết Níchxơn” với

ba nguyên tắc “tập thể tham gia”, “sức mạnh của Mỹ”, “sẵn sàng thương lượng” Ba nguyên tắc này được biến thành hành động với những mục tiêu cụ thể

Mục tiêu của học thuyết Níchxơn là giảm bớt các “cam kết quốc tế” của Mỹ, đòi hỏi các đồng minh “chia sẻ trách nhiệm” với Mỹ chống lại phong trào cách mạng thế giới, tiến hành chiến tranh xâm lược bằng máu của người khác, ổn định tình hình nội bộ, duy trì lực lượng quốc phòng để giữ thế cân bằng và răn đe, khai thác, lợi dụng mâu thuẫn giữa các nước xã hội chủ nghĩa, chia rẽ, lôi kéo các nước lớn, mua chuộc, uy hiếp, đánh tỉa các nước nhỏ Với việc đề ra và thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, đế quốc Mỹ càng bộc lộ bản chất ngoan cố, xảo quyệt, không chịu chấm dứt

1Thế giới ngoại giao, “Bản tin 12-1969”, Phụ lục Tài liệu tham khảo đặc biệt, Việt Nam Thông tấn

xã phát hành, ngày 30-4-1970, tr.6.

Trang 4

chiến tranh mà tiếp tục chiến tranh xâm lược, kéo dài chiến tranh ở miền Nam Việt Nam với những thủ đoạn mới tàn bạo và thâm độc, dùng bạo lực với mức độ cao nhất đối với nhân dân ta ở miền Nam Việt Nam Âm mưu của

“Việt Nam hóa chiến tranh” gắn liền với âm mưu chống lại cuộc đấu tranh cách mạng của các dân tộc khác trên thế giới, duy trì vai trò sen đầm quốc tế của đế quốc Mỹ Như R.Níchxơn từng tuyên bố đây là “một chính sách không những sẽ giúp vào việc chấm dứt chiến tranh mà còn là một bộ phận chủ chốt trong chương trình của chúng ta nhằm: ngăn chặn không cho xảy ra những Việt Nam nữa trong tương lai”1 “Nếu chúng ta bỏ cuộc ở Việt Nam thì lợi bất cập hại; vì nó sẽ làm giảm lòng tin của các nước bạn đối với chúng ta… Các nước khác sẽ coi khinh nguy cơ một cuộc chạm trán với Mỹ…”2

Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ xác nhận, mục tiêu cơ bản của Mỹ trong việc thực hiện chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh” là nhằm “một thắng lợi quân sự cho Nam Việt Nam và không loại trừ khả năng có cuộc leo thang khác nếu chương trình Việt Nam hoá và cuộc nói chuyện ở Paris bị tan vỡ”3

Rút quân Mỹ về nước là xu thế tất yếu mà chính Níchxơn, khét tiếng

“diều hâu” trong tập đoàn diều hâu ở Mỹ cũng không thể đảo ngược, như dư luận Mỹ vạch rõ “để làm ra vẻ ông ta giảm chiến tranh trong khi thực sự tăng cường chiến tranh”4 Thủ đoạn rút quân nhỏ giọt sẽ không gây ảnh hưởng đột ngột đến tinh thần quân nguỵ, không làm giảm đột biến lực lượng so sánh trên chiến trường, giành được thời gian cần thiết để xây dựng chính quyền, quân đội mạnh, đồng thời có thể làm “xì hơi van” phong trào phản chiến của nhân dân Mỹ

Biện pháp chủ yếu có ý nghĩa quyết định thành bại của chiến lược

“Việt Nam hoá chiến tranh” là tập trung nỗ lực xây dựng quân đội Sài Gòn thành một đội quân tay sai hiện đại, làm lực lượng chiến lược chủ yếu ở miền

1 Richard M Nixon, Diễn văn ngày 3-11-1969 về vấn đề Việt Nam (trích), tài liệu Viện Lịch sử

Đảng.

2 “Báo cáo của Nixon về chính sách đối ngoại của Mỹ trong những năm 1970, ngày 18-2-1970”,

Phụ lục Tài liệu tham khảo đặc biệt, Việt Nam Thông tấn xã phát hành, ngày 30-4-1970.

3 AFP, “Bản tin ngày 1-12-1969”, Phụ lục Tài liệu tham khảo đặc biệt, Việt Nam Thông tấn xã

phát hành, ngày 30-11-1970.

4 Giôdép A.Amtơ: Sách đã dẫn

Trang 5

Nam, là đội quân xung kích ở Đông Dương, có thể thay thế được quân Mỹ trong chiến đấu trên bộ

Các loại quân địa phương (bảo an, dân vệ, cảnh sát, phòng vệ dân sự được phát triển mạnh để đủ sức làm nhiệm vụ bình định, kìm kẹp dân và phòng thủ vòng trong thay cho quân chủ lực rút ra làm nhiệm vụ cơ động tác chiến Trong gần bốn năm 1969-1972, quân chủ lực và quân địa phương từ 700.000 tăng lên 1.100.000 và lực lượng nửa vũ trang tăng từ 1.500.000 lên 2.000.000, trở thành đạo quân tay sai đông nhất trong các đạo quân tay sai của

Mỹ Cuối năm 1972, quân đội Sài Gòn đã có 1.100 máy bay chiến đấu và gần 2.000 xe tăng, xe thiết giáp

Song song với việc xây dựng quân đội, việc xây dựng và củng cố chính quyền Sài Gòn được Mỹ rất coi trọng từ Trung ương đến địa phương, bộ máy hành chính các cấp được chấn chỉnh nhằm phát huy hiệu lực kìm kẹp nhân dân Mỹ chủ trương tăng cường viện trợ cho chính quyền Sài Gòn để xây dựng “nền kinh tế ổn định”, có khả năng đảm đương gánh nặng của kế hoạch

“Việt Nam hoá chiến tranh” Điều đó có nghĩa Mỹ trút gánh nặng chi phí chiến tranh cho chính quyền Sài Gòn, thúc đẩy tăng cường bòn rút, vơ vét của cải của nhân dân miền Nam Việt Nam, thực hiện âm mưu thâm độc “lấy chiến

tranh nuôi chiến tranh” Tạp chí Quốc phòng Pháp, số tháng 5-1970 đã vạch

trần âm mưu này là tiến hành cuộc chiến tranh với “giá rẻ về cả tính mạng và tiền của Mỹ”

Với bộ máy bạo lực khổng lồ, Mỹ và chính quyền Sài Gòn hướng đòn

chính vào việc bình định nông thôn và kiểm soát đại bộ phận dân chúng, bằng

mọi cách đánh bật lực lượng cách mạng ra khỏi nông thôn, vơ vét người và của phục vụ cho cuộc “Việt Nam hoá chiến tranh” làm chỗ dựa cho thế phòng ngự của quân đội Bình định, hơn lúc nào hết, được coi là biện pháp then chốt của “Việt Nam hoá chiến tranh”, giải quyết sự sống còn của bản thân chính quyền Sài Gòn

Trang 6

Để thực hiện bằng được mục tiêu này, Mỹ thành lập cơ quan chỉ đạo bình định MACCORSS1 trên cơ sở hợp nhất các cơ quan chỉ đạo bình định của Bộ tư lệnh quân sự MACV, của sứ quán và Phân cục CIA Mỹ ở Sài Gòn

Cơ quan chỉ đạo bình định Mỹ MACCORSS là linh hồn và chỉ huy thực tế các cơ quan bình định của nguỵ quyền từ trung ương đến tỉnh, quận do tổng thống, thủ tướng, tỉnh trưởng, quận trưởng cầm đầu

Sức mạnh quân sự và thủ đoạn chính trị của chính quyền Níchxơn đã phát huy đến mức tối đa tính tàn bạo và xảo quyệt của nó trong đòn bình định, vừa giành dân, vừa triệt phá cơ sở hạ tầng của cách mạng, hòng đưa chiến tranh đến chỗ “tàn lụi”

Để tiêu diệt tận gốc cách mạng miền Nam, tập đoàn Níchxơn còn sử dụng thủ đoạn chính trị, ngoại giao xảo quyệt và sức mạnh quân sự mà chưa

một tổng thống nào (trong số 5 tổng thống) sử dụng đến Đó là thủ đoạn đánh vào hậu phương quốc tế của Việt Nam, mở rộng chiến tranh sang Lào và

Campuchia, thủ tiêu nền độc lập, trung lập, hoà bình của Vương quốc Campuchia, tiến công vào các vùng giải phóng Lào, chia rẽ Liên Xô và Trung Quốc, hy vọng dùng Trung Quốc và Liên Xô tác động tiêu cực đến cuộc tiến công quân sự của nhân dân ta Tung ra những đòn tiến công hiểm độc này,

Mỹ hy vọng cắt nguồn viện trợ của Liên Xô và Trung Quốc và các nước xã

hội chủ nghĩa khác cho Việt Nam, hy vọng bóp nghẹt cuộc kháng chiến của

nhân dân ta, làm cạn kiệt sức chiến đấu, từ đó phải đầu hàng chúng

Chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh” dự định tiến hành theo ba giai đoạn:

Giai đoạn 1: Năm 1969-tháng 6-1970, kiểm soát được những vùng đông dân quan trọng nhất, quân nguỵ được tăng cường đủ sức đối phó với các đơn vị tương đương của ta; rút được một bộ phận quân Mỹ về nước; làm suy yếu ta thông qua bình định nông thôn Đây là giai đoạn mở đầu của kế hoạch,

có ý nghĩa quan trọng đối với Mỹ

1 Mititary Assistance Command, Civil Operation and Revolutionry Development Support

Trang 7

Giai đoạn 2: Tháng 6-1970 đến tháng 6-1971, kiểm soát hầu hết những vùng đông dân; quân nguỵ đảm nhiệm được đại bộ phận nhiệm vụ chiến đấu trên bộ, rút đại bộ phận quân chiến đấu Mỹ

Giai đoạn 3: Tháng 6-1971 đến tháng 6-1972, cơ bản hoàn thành “Việt Nam hoá chiến tranh”, phục vụ cho Níchxơn thắng cử trong cuộc bầu tổng thống Mỹ tháng 11-1972

Chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh” của tập đoàn Níchxơn là chính sách tiếp tục chiến tranh ở cường độ quyết liệt, đẫm máu và tốn kém không kém chiến lược chiến tranh của Tổng thống Giônxơn Nó chỉ khác một điểm

căn bản là làm sao tránh được càng nhiều càng tốt thương vong của lính Mỹ

Để có đủ thời gian vực dậy quân đội Sài Gòn, Mỹ cần chuyển giao nhiệm vụ và tiến hành rút quân Mỹ về nước theo cách từ từ, nhỏ giọt và kéo dài Số liệu từ “Trung tâm nghiên cứu về Đông Dương” (Mỹ) cho thấy tiến độ rút quân Mỹ cũng như số lượng ngày càng tăng của quân đội Sài Gòn: năm

1969, số quân Mỹ lúc cao nhất là 543.000, sau đó giảm dần xuống 474.000, 335.000 (1970), 184.000 (1971); quân đồng minh từ 69.000 năm 1969 (số lượng quân đồng minh lúc cao nhất là 72.600) giảm xuống 68.000 (1970), đến 60.000 (1971); quân đội Sài Gòn từ 998.000 (1968) lên 1.148.000 (1969), 1.200.000 (1970)1

Nhà Trắng, Lầu Năm Góc cũng như phái “Diều hâu” đều tin tưởng chiến lược mới của Tổng thống Níchxơn và đánh giá cao tài năng của tập

đoàn Níchxơn-Kítxinhgiơ Song họ đã không thấy được các mâu thuẫn nằm ngay trong chiến lược này, và các mâu thuẫn đó sẽ bộc lộ nhanh chóng cùng

với năm tháng chiến tranh

Mâu thuẫn căn bản nhất không thể giải quyết được là, mâu thuẫn giữa chương trình kinh tế, xã hội và yêu cầu chiến tranh Chính phủ Mỹ muốn đè

bẹp đối phương phải dốc lực lượng cho chiến tranh, muốn tăng cường hiện đại hoá quân đội Sài Gòn thì phải chi phí nhiều hơn Giai cấp thống trị Mỹ

1Văn Tập (1973), Chiến tranh Việt Nam và kinh tế Mỹ, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

Trang 8

không thể thực hiện lời hứa chống đói nghèo, ngu dốt, thất nghiệp, bệnh tật Mâu thuẫn cơ bản này sẽ bùng nổ và kết thúc bằng thấy bại hoàn toàn của đế quốc Mỹ ở Việt Nam

Mâu thuẫn thứ hai là, Tổng thống Níchxơn tuyên bố rút quân, nhưng

chỉ rút nhỏ giọt, đại bộ phận quân Mỹ vẫn còn ở Việt Nam, và khi lính Mỹ

còn chết, các gia đình họ vẫn là đội quân phản chiến Quân Mỹ còn ở Việt

Nam thì quân đội Sài Gòn còn ỷ lại và quân Mỹ lại phải tiếp tục chết thay Báo chí Mỹ đưa tin 2 tháng sau khi Níchxơn nhậm chức, 33.641 lính Mỹ đã chết

Mâu thuẫn thứ ba là, chiến trường Đông Dương mở rộng do Mỹ đánh

sang Lào và Campuchia, sức mạnh của quân Mỹ và quân đội Sài Gòn vì thế

bị phân tán, căng mỏng Đồng thời Mỹ-nguỵ lại phải đương đầu với cả một

tầng Mặt trận thống nhất đánh Mỹ của nhân dân ba nước Đông Dương ngày

càng lớn mạnh, lôi cuốn cả mặt trận thống nhất toàn thế giới chống Mỹ

Mẫu thuẫn thứ tư là, Mỹ muốn chia rẽ ta với các nước xã hội chủ

nghĩa, nhưng các nước đó vẫn ủng hộ, giúp đỡ Việt Nam tích cực hơn

Bốn mâu thuẫn trên là bốn chỗ yếu căn bản mà tập đoàn Kítxinhgiơ không thể khắc phục được và ngày càng phát triển sâu sắc khi chiến tranh còn tiếp tục

Níchxơn-Nhân dân Việt Nam cùng nhân dân Lào và Campuchia kiên cường chống Mỹ đã tìm hiểu được bước đầu chỗ yếu của chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh”, song cũng phải gánh chịu nhiều tai hoạ, đau khổ, chết chóc trong thời gian không ngắn Tập đoàn Níchxơn sử dụng tất cả sức mạnh và quyền lực trong tay, lợi dụng triệt để những vấp váp, sơ hở, tổn thất và sai lầm của ta sau tổng tiến công để thực hiện kế hoạch nham hiểm và độc ác này

Năm 1969 và đầu năm 1970, Mỹ tiếp tục sử dụng đội quân viễn chinh

to lớn sẵn có trên chiến trường với khối lượng bom đạn nhiều hơn, thủ đoạn đánh phá tàn bạo, xảo quyệt hơn so với những năm trước Chúng ráo riết đẩy mạnh kế hoạch “bình định”, được Níchxơn coi không chỉ là biện pháp mà còn

Trang 9

là mục đích của chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh”, và được nguỵ quyền coi là chìa khoá quyết định thắng lợi

Sau Tết Mậu Thân, Mỹ biết ta dồn lực lượng đánh vào thành thị bị nhiều tổn thất, lại để nông thôn, chỗ đứng căn bản của ta, sơ hở nên đã tập trung lực lượng đánh vào nông thôn

Từ cuối năm 1968, sau khi tiến hành thí điểm có kết quả ở hai tỉnh Vĩnh Long, Trà Vinh (Khu IX) và một số huyện phía Bắc tỉnh Bình Định (Khu V), Mỹ và chính quyền Sài Gòn sử dụng cả bốn loại lực lượng (quân chủ lực, quân địa phương, các lực lượng kìm kẹp của nguỵ và quân Mỹ yểm trợ) mở các cuộc tiến công rộng lớn vào vùng nông thôn, đặc biệt là các vùng trọng điểm xung quanh Sài Gòn, vùng đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng Khu V, dưới hình thức các chiến dịch “bình định cấp tốc” (cuối năm

1968 đến giữa 1969), “bình định và xây dựng” (giữa năm 1969 đến năm 1970), “bình định đặc biệt” (từ hè năm 1970), kế hoạch “Phượng hoàng” Địch tiến hành hàng vạn cuộc hành quân càn quét, đóng hàng nghìn đồn bốt (tăng 4.270 đồn bốt, từ 4.954 lên 9.224 trên toàn miền Nam)1

Địch phát huy toàn bộ sức mạnh của bộ máy bình định đã được kiện toàn và chỉ đạo thống nhất từ trung ương đến địa phương, cơ sở Chúng phân loại tính chất từng vùng để áp dụng các thủ đoạn bình định, tăng cường các cuộc bình định quy mô từ cấp tiểu đoàn trở lên Trung bình mỗi tháng địch

mở 377 cuộc hành quân ở miền Đông Nam Bộ, 427 cuộc hành quân ở đồng bằng sông Cửu Long, tập trung đánh phá lần lượt trên từng khu vực, chà xát dai dẳng rồi dồn dân về các khu tập trung hoặc đưa các đội “bình định” đến các ấp xã để kìm kẹp dân tại chỗ Chúng chú trọng phát triển hệ thống đồn bốt

ở ấp, xã, phối hợp với mạng lưới mật vụ, tình báo, “phượng hoàng” để kiểm soát dân, tìm diệt lực lượng cơ sở của ta Địch chiếm lại hầu hết vùng nông thôn ta đã mở ra trong Tết Mậu Thân, kìm kẹp thêm nhiều dân, kiểm soát thêm nhiều vùng Ở Khu VIII, địch líp lại 119 xã và 680 ấp, chỉ còn 4 xã và

312 ấp giải phóng Thương vong của riêng Nam Bộ trong 2 năm 1968-1969

1 Ban Chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị: Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thắng lợi và bài học, Nxb Chính trị quốc gia, H 1995, tr 314

Trang 10

lớn gấp 2 lần 7 năm trước đó (từ 1961 đến 1967), bằng 1/3 tổng quân số chiến trường miền Nam hồi đó Địch chiến thêm gần 3.000 ấp, kiểm soát thêm gần

3 triệu dân1 Đến cuối năm 1969, địch đã giết hại hàng chục vạn người, triệt phá hầu hết cơ sở cách mạng của ta Riêng ở Tây Nam Bộ, số cán bộ, chiến sĩ

hy sinh trong 2 năm 1968-1969 lên tới hơn 30.000 người; 10.000 người khác

bị bắt, 12.000 người bỏ ngũ, trong đó có một số ít làm tay sai cho địch Lực lượng vũ trang bị tổn thất lớn, du kích giảm từ 45.000 người xuống còn 6.200 người2

Đây là một trong hai thời kỳ khó khăn nhất, tổn thất lớn nhất của cách mạng miền Nam, với hơn 10 vạn cán bộ, chiến sĩ, cơ sở bị thương vong (từ giữa 1968 đến đầu 1970)

Ở các vùng giải phóng và vùng tranh chấp, địch tăng cường bom đạn và hoá chất độc huỷ diệt môi trường sống hòng buộc dân phải chạy vào các khu tập trung Ở những vùng ven các căn cứ quân sự quan trọng mà địch không kiểm soát được, chúng gom dân vào các khu tập trung, dùng xe cơ giới cày ủi san bằng nhà cửa của dân trên từng vùng rộng hàng chục kilômét vuông, làm cho lực lượng vũ trang của ta không còn điều kiện bám trụ như ở các vùng Bắc Sài Gòn, Nam Đà Nẵng… Tại tỉnh Quảng Đà, nơi bị địch tặng tàn phá nặng nhất, trong tổng số 441 thôn, chúng đã san phẳng 351 thôn Hòng uy hiếp tinh thần đấu tranh của nhân dân, chúng khủng bố đẫm máu, tàn sát 1500 người ở Ba Làng An (Quảng Ngãi), 347 người ở xã Bình Dương (Quảng Nam) Tại tỉnh Bến Tre, trong những tháng đầu năm 1969 đã có 1.285 người chết, hàng ngàn người bị đánh đập, bắt bớ3

Tại các vùng căn cứ của ta, địch tăng cường hành quân càn quét, dùng máy bay và pháo binh bắn phá, tung biệt kích lùng sục, bắn phá kho tàng, làm cho căn cứ mất ổn định, sinh hoạt vật chất khó khăn

Trang 11

Địch phong toả các cửa khẩu thu mua, tiếp tế lương thực của ta, kiểm soát chặt các cửa ra vào các ấp chiến lược, các “khu dồn” hòng “không để lọt một hạt muối, một hạt gạo rơi vào tay Việt Cộng” Trên tuyến đường vận chuyển chiến lược Trường Sơn, địch tăng cường đánh phá bằng không quân, năm 1969 tăng gấp 4 lần chiếc B.52, gấp 2,5 lần chiếc máy bay cường kích và

3 lần số bom đạn (so với 1968) hòng “thiêu cháy” dãy Trường Sơn, chặn đứng sự tăng viện của miền Bắc vào miền Nam

Đi đôi với các hoạt động càn quét, đánh giá triệt hạ kinh tế, hậu cần của

ta, địch đẩy mạnh chiến tranh tâm lý, chiêu hồi nhằm gây hoang mang trong dân và lực lượng vũ trang của ta Chúng dùng cả thủ đoạn kinh tế, mua chuộc, lừa mị nông dân như thực hiện các chương trình cung cấp phân bón, thuốc trừ sâu, các giống lúa mới năng suất cao, các máy móc nông nghiệp nhỏ…

Song song với việc thực hiện ráo riết chương trình “bình định”, chính quyền Níchxơn ra sức tăng cường củng cố quân đội Sài Gòn

Đầu năm 1969, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Leđơ yêu cầu Quốc hội Mỹ

bổ sung 450 triệu đôla vào số 1.100 triệu đôla viện trợ đã được thông qua để

“hiện đại hoá” nhanh quân đội Nam Việt Nam Chúng ra sức tăng quân, bắt tất cả nam thanh niên (kể cả thiếu niên 13, 14 tuổi) vào tổ chức “phòng vệ dân sự”, thực hiện “đôn quân” theo thứ tự từ phòng vệ dân sự lên dân vệ, từ dân

vệ lên bảo an, từ bảo an lên chủ lực

Đến năm 1970, quân đội Sài Gòn phát triển thêm 36 tiểu đoàn pháo binh và xe tăng, xe thiết giáp, 4 phi đoàn máy bay gồm 150 máy bay các loại (cuối 1971 tăng 784 chiếc), 308 tàu tuyền hải quân làm nhiệm vụ cơ động ở ven biển, trên sông Hàng nghìn sĩ quan chỉ huy, sĩ quan kỹ thuật được đi đào tạo, bổ túc ở nước ngoài Một hệ thống gồm 20 trung tâm huấn luyện binh lính và 25 trường đào tạo sĩ quan các binh chủng được xây dựng hoàn chỉnh

Mỹ tập dượt cho quân đội Sài Gòn từng bước đảm đương nhiệm vụ chiến đấu trên từng địa bàn ở một số khu vực đường số 9, Tây Ninh, miền Đông Nam Bộ, đồng bằng sông Cửu Long để Mỹ có điều kiện rút quân chiến đấu về nước

Trang 12

Đế quốc Mỹ ra sức củng cố chính quyền Sài Gòn làm công cụ cho chính sách xâm lược thực dân mới Chúng tiếp tục duy trì chính quyền Thiệu-

Kỳ mà nòng cốt là quân nhân, điều hoà mâu thuẫn nội bộ, cố giữ vỏ “hợp hiến”, “hợp pháp” của bọn tay sai để làm chỗ dựa chính trị cho “Việt Nam hoá chiến tranh” Chúng tích cực tập hợp lực lượng phản động, thành lập

“Mặt trận quốc gia xã hội” để mở rộng cơ sở chính trị cho chính quyền Sài Gòn, tổ chức bầu cử hội đồng thành phố, tỉnh và một số ấp, xã để tạo bộ mặt dân chủ giả hiệu

Chính quyền Níchxơn tích cực xúc tiến hoạt động ngoại giao xảo quyệt Tại cuộc đàm phái với phái đoàn ta ở Pari, chúng nêu ra những điều kiện không thể chấp nhận được để cố tình phá hoại, trì hoãn giải pháp cho vấn

đề hoà bình ở Việt Nam Trước sau chúng vẫn muốn giành thế mạnh trên chiến trường, ép ta nhận một giải pháp có lợi cho chúng

Ngày 14-5-1969, chính quyền Níchxơn đưa ra đề nghị 8 điểm, đòi miền Bắc cũng như Mỹ và đồng minh cùng rút quân khỏi miền Nam Việt Nam, ngoan cố duy trì chính quyền Thiệu-Kỳ-Hương, chống việc thành lập chính phủ liên hiệp của nhân dân miền Nam Trong cuộc gặp riêng trưởng đoàn ta (tháng 8-1969), Kítxinhgiơ (cố vấn Tổng thống Mỹ) hăm doạ: “Nếu đến ngày 1-11-1969 mà không đạt được tiến bộ nào thì Mỹ sẽ tính đến thực hiện những biện pháp có hậu quả nghiêm trọng”

Trước tình hình đế quốc Mỹ triển khai chiến lược chiến tranh mới tàn bạo và thâm độc, toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta bước vào một giai đoạn chiến đấu đầy thử thách gay go và phức tạp

Do ta không kịp thời chuyển hướng tiến công sau Tết Mậu Thân, bỏ lỏng vùng nông thôn nên địch đã tập trung lực lượng phản kích quyết liệt, chiếm lại phần lớn địa bàn đã mất, vơ vét thêm nhân lực, vật lực, củng cố chính quyền, quân đội Vùng giải phóng bị đánh phá rất quyết liệt Cơ sở cách mạng bị tổn thất Ta bị mất dân ở nhiều vùng nông thôn đồng bằng Phong trào chiến tranh nhân dân địa phương sa sút, gặp vô vàn khó khăn

Trang 13

Căn cứ của các tỉnh không ổn định do địch càn quét, bom pháo liên tục

Việc chỉ đạo sản xuất trong năm 1968 không được coi trọng đúng mức, sản

lượng lương thực trong các vùng căn cứ vì thế giảm sút Thêm vào đó, địch ra

sức bao vây và phá hoại kinh tế nên nguồn gạo lấy từ vùng địch không bảo

đảm Bộ đội, cơ quan và dân các vùng căn cứ đều thiếu ăn Một số đơn vị và

địa phương thiếu đói nghiêm trọng

Mặc dù các chiến trường và các địa phương rất cố gắng nhưng đến cuối

năm 1969, ta bị mất nhiều vùng nông thôn rộng lớn, bộ đội chủ lực mất nhiều

căn cứ đứng chân Bộ đội địa phương chiến đấu liên tục, thiếu quân số bổ

sung; du kích, tự vệ giảm Bộ đội chủ lực Miền, quân khu bị đẩy lùi dần về

rừng núi, một số đơn vị phải tạm đứng chân bên phía biên giới Campuchia

Tình hình thiếu đói diễn ra nghiêm trọng, bệnh tật phát triển Số đào ngũ, lánh

ngũ bị địch chiêu hồi ngày càng tăng

Địch ráo riết đẩy mạnh chiến tranh tâm lý, chiêu hồi, chiêu hàng, cài

cắm gián điệp bằng nhiều thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt Thâm độc hơn, chúng

dùng thủ đoạn bôi đen quần chúng, gây hoang mang, nghi ngờ trong nhân

dân

Tình hình các lực lượng kháng chiến gặp rất nhiều khó khăn về lương

thực, bổ sung lực lượng, vũ khí trang bị, địa bàn đứng chân không ổn định

Về tư tưởng, một số cán bộ, kể cả cán bộ lãnh đạo khu, tỉnh chủ quan

cho rằng quân Mỹ đã rút, quân ngụy không thể đương đầu nổi với ta, dẫn đến

coi thường các biện pháp và thủ đoạn đánh phá của địch

Sau các đợt tiến công và nổi dậy của quân và dân ta trong năm 1968,

Mỹ-nguỵ điên cuồng phản kích gây cho ta một số khó khăn: cơ sở nông thôn

bị tổn thất, phong trào quần chúng sa sút, nhiều nơi mất đất, mất dân, bộ đội

ta tiêu hao chưa được bổ sung phải rút lên các vùng giáp ranh, các căn cứ

miền núi Một số cán bộ cho rằng quân Mỹ đã thua phải rút quân thì quân

nguỵ không thể đương đầu với ta, dẫn đến coi thường các biện pháp và thủ

đoạn đánh phá của địch…

Trang 14

2 Chủ trương chuyển hướng chiến lược của Đảng

Tháng 11-1968, trong chỉ thị gửi Đảng bộ miền Nam, Bộ Chính trị

Trung ương Đảng vạch rõ khuyết điểm của ta là chưa đánh giá hết âm mưu thâm độc và hành động phản kích điên cuồng của địch vào vùng nông thôn

Vì vậy ta đã không kịp thời chuyển hướng chiến lược khi tình hình đã thay đổi Bộ Chính trị vạch phương hướng cho năm 1969 là phải chuẩn bị đợt

“công kích và khởi nghĩa” mùa xuân, đợt “công kích và khởi nghĩa” mùa hè

và những đợt tiếp theo nhằm xoay chuyển cục diện chiến trường có lợi cho ta

Ngày 1-1-1969, nhân dịp năm mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư chúc đồng bào và chiến sĩ “năm mới đoàn kết, chiến đấu, thắng lợi”, đánh cho

quân Mỹ phải rút về nước, đánh cho nguỵ quân, nguỵ quyền phải sụp đổ hoàn toàn Người khẳng định:

“Chắc chắn giặc Mỹ sẽ hoàn toàn thất bại Quân và dân ta trong cả nước, thừa thắng xông lên, nhất định sẽ thắng lợi hoàn toàn”1

Người kêu gọi nhân dân cả nước ra sức chiến đấu nhằm đạt mục tiêu chiến lược cao cả:

“Vì độc lập, vì tự do

Đánh cho Mỹ cút, đánh cho nguỵ nhào

Tiến lên! Chiến sĩ đồng bào

Bắc-Nam sum họp, Xuân nào vui hơn” 2

Ngày 10-5-1969, Bộ Chính trị Trung ương Đảng ra Nghị quyết “Về tình hình và nhiệm vụ” của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta Bộ Chính trị

khẳng định những thắng lợi của quân và dân ta từ cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt Tết Mậu Thân (1968) là hết sức to lớn và có ý nghĩa chiến lược

Trên chiến trường miền Nam, “Ta đã làm đảo lộn căn bản thế chiến lược của

địch, buộc địch phải đột ngột huỷ bỏ kế hoạch “tìm diệt và bình định” đi vào

thực hiện chiến lược “quét và giữ” Ở miền Bắc “ta đánh bại cuộc chiến tranh

1 Hồ Chí Minh Toàn tập, Tập.12, 1966-1969, Nxb CTQG, HN, 2000, tr.425

2 Hồ Chí Minh Toàn tập, Tập.12, 1966-1969, Nxb CTQG, HN, 2000, tr.426

Trang 15

phá hoại của Mỹ, (…), Mỹ đã buộc phải chấm dứt không điều kiện việc đánh

phá miền Bắc và bị thất bại hoàn toàn trong cuộc chiến tranh phá hoại…”1

Trên thế mạnh về quân sự, chính trị “ta đã chủ động tiến công địch trên mặt trận ngoại giao, buộc địch phải chịu vừa đánh vừa đàm một cách bị

động…”2

Bộ Chính trị phân tích những mâu thuẫn trong nội bộ chính quyền, chính sách của Mỹ, đồng thời khẳng định thất bại của Mỹ ở Việt Nam đang tác động nghiêm trọng đến chiến lược toàn cầu của Mỹ, Mỹ càng bị cô lập vì mất uy tín hơn bao giờ hết trên thế giới

Bộ Chính trị phân tích mâu thuẫn cơ bản của Mỹ là phải xuống thang chiến tranh nhưng lại muốn xuống thang thế mạnh, phải rút quân Mỹ ra mà lại muốn cho quân nguỵ mạnh lên, muốn giảm thương vong chiến tranh và chi phí cho quân Mỹ nhưng lại buộc phải rút nhỏ giọt Đây chính là những chỗ yếu cơ bản của chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh”

Bộ Chính trị cũng chỉ rõ những chỗ mạnh của đế quốc Mỹ trên chiến trường là, quân số còn đông, hoả lực và khả năng cơ động còn mạnh, chúng còn giữ được những địa bàn chiến lược quan trọng, tiềm lực kinh tế và quân

sự còn rất lớn Đế quốc Mỹ đã bị những thất bại rất nặng nề về mọi mặt,

chúng đã “buộc phải xuống thang chiến tranh từng bước, khó lòng duy trì cuộc chiến tranh xâm lược với quy mô hiện nay trong một thời gian dài và nhất định sẽ thất bại”3 Bộ Chính trị nhấn mạnh: nếu ta tiếp tục tạo được sức mạnh tổng hợp, khoét sâu thêm những mâu thuẫn và chỗ yếu cơ bản, hạn chế những chỗ mạnh tạm thời của địch thì ta nhất định đánh bại được chiến lược mới của chúng

Bộ Chính trị đề ra nhiệm vụ trước mắt là: “động viên sự nỗ lực cao nhất của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân trên cả hai miền, phát huy thắng lợi

đã đạt được, tiếp tục đẩy mạnh tổng công kích, tổng khởi nghĩa, (…), phát triển chiến lược tiến công một cách toàn diện, liên tục và mạnh mẽ, (…), đánh

1 Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập.30, 1969, Nxb CTQG, HN, tr 117

2 Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập.30, 1969, Nxb CTQG, HN, tr 117

3 Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập.30, 1969 Nxb CTQG, HN, tr 123

Trang 16

bại âm mưu kết thúc chiến tranh trên thế mạnh và chủ trương “phi Mỹ hoá” của chúng, đánh cho Mỹ phải rút quân, đánh cho nguỵ phải suy sụp và ta giành được thắng lợi quyết định, (…), tiến tới thống nhất nước nhà”1

Các Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 18 và 21 khoá III sau này vạch rõ, sự chỉ đạo của ta lúc này “chưa đánh giá thật đầy đủ” ý đồ nham hiểm và khả năng mới của địch cũng như tình hình khó khăn của ta trên chiến trường, nên vẫn đề ra phương hướng “tổng công kích, tổng khởi nghĩa”, tập trung nỗ lực giành thắng lợi quyết định trong thời gian tương đối ngắn trong điều kiện thế và lực ta giảm sút, thời cơ chiến lược không còn Do ta chậm đề

ra chủ trương chuyển hướng tiến công chủ yếu về nông thôn để đập tan một cách có hiệu quả ý đồ của địch, nên “đã chậm trễ và sơ hở đưa đến nhiều khó khăn trên chiến trường” Các đồng chí lãnh đạo chủ chốt Trung ương Cục miền Nam cũng nhận phần trách nhiệm của mình là “nghe báo cáo của dưới không hết, báo cáo lên trên không đầy đủ cũng góp phần làm cho trên không

đủ cơ sở đánh giá lại tình hình cho thật khách quan đúng như nó có dể đề ta chủ trương đúng đắn kịp thời”2

Thực hiện quyết tâm chiến lược của Trung ương Đảng, miền Bắc nỗ lực vượt bậc khắc phục hậu quả chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, đồng thời tăng cường lực lượng mọi mặt cho chiến trường miền Nam Trong năm

1969, miền Bắc bổ sung vào chiến trường 17 vạn tấn vũ khí và vận dụng, tăng 28% so với năm 1968 và 8 vạn chiến sĩ cho các mặt trận Bộ Quốc phòng còn điều động 6 trung đoàn bộ binh ở miền Bắc với đầy đủ quân số và trang bị cho các chiến trường Khu V, Tây Nguyên và Trị-Thiên, đồng thời chuyển 7 trung đoàn tại những nơi này vào tăng cường cho chiến trường Nam Bộ Lực lượng đặc công được chú trọng phát triển nhằm phát huy cách đánh lợi hại vào các mục tiêu nằm sâu trong các khu vực phòng thủ của địch Cùng với lực lượng lớn bổ sung từ miền Bắc gồm 10 tiểu đoàn và 100 đại đội, trung đội đặc

1 Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập.30, 1969 Nxb CTQG, HN, tr 132

2 Đại tướng Hoàng Văn Thái: Mấy vấn đề tổng kết chiến tranh và viết lịch sử quân sự Viện lịch

sử quân sự Việt Nam xuất bản, Hà Nội, 1987, tr.276

Trang 17

công, các mặt trận còn xây dựng thêm một số đơn vị đặc công từ các đơn vị

bộ binh chuyển sang

Đêm 22 rạng ngày 23-2-1969, quân và dân ta đồng loạt mở đợt tiến công mùa Xuân trên toàn miền Nam Miền Đông Nam Bộ có một số trận đánh tiêu diệt các cụm tiểu đoàn hoặc nhiều đại đội địch ở Bến Tranh, Trà Cao, Lộc Ninh, Dầu Tiếng… Đặc biệt các lực lượng đặc công ba thứ quân đánh gần 300 trận, trong đó có 90 trận đánh vào sở chỉ huy, sân bay, kho tàng của địch, tiêu diệt và làm bị thương 2 vạn tên, có nhiều sĩ quan và nhân viên kỹ thuật Mỹ, phá huỷ 250 máy bay, 150 khẩu pháo lớn và hàng trăm triệu lít xăng dầu Trong 30 ngày đêm chiến đấu kiên cường, ta đã diệt hàng vạn tên

Mỹ, đồng minh và quân đội Sài Gòn, phá huỷ hàng nghìn máy bay, xe tăng và pháo lớn, thiêu cháy hàng chục kho bom đạn, xăng dầu Lối đánh sáng tạo, bất ngờ của lực lượng tinh nhuệ ta vào những mục tiêu hiểm yếu của địch ngay khi chúng đã co về phòng ngự, không những đã gây cho địch những thiệt hại về sinh lực và phương tiện chiến tranh mà còn góp phần duy trì thế tiến công của ta trên các chiến trường

Tiếp theo đợt tiến công mùa Xuân, từ ngày 11-5-1969, quân và dân miền Nam tiếp tục tiến công địch trong đợt mùa Hè, đánh vào 800 mục tiêu, trong đó có gần 100 căn cứ, sở chỉ huy, sân bay quân sự, tiêu diệt và đánh thiệt hại hơn 20 tiểu đoàn và cụm địch tương đương Ở miền Đông Nam Bộ ta

mở chiến dịch Tây Ninh, Bình Long-Long Khánh đánh mạnh vào tuyến phòng thủ vòng ngoài của địch Tại Tây Trị-Thiên, ta đánh bại cuộc càn lớn của quân Mỹ vào vùng Abia, A Lưới, loại khỏi vòng chiến đấu 1.500 tên Mỹ

Ở Tây Nguyên, ta mở chiến dịch tiến công Đắc Tô, tiêu diệt 4 tiểu đoàn quân Sài Gòn đánh đòn phủ đầu kế hoạch thí điểm “Việt Nam hoá chiến tranh” của

đế quốc Mỹ đưa quân cơ động Sài Gòn thay quân Mỹ ra đối phó với chủ lực của ta

Phối hợp với đòn tiến công quân sự, đồng bào ta ở nhiều nơi nổi dậy diệt ác, phá kìm kẹp của địch, giành quyền làm chủ Chỉ trong một tháng đầu đợt tiến công mùa Xuân, đồng bào ở miền Trung Trung Bộ đã phá 150 ấp chiến lược, 90 khu tập trung dân, diệt 13.000 tên thuộc lực lượng kìm kẹp của

Trang 18

địch, 20 vạn dân giành quyền làm chủ Ở các tỉnh Cần Thơ, Vĩnh Long, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Cà Mau (Nam Bộ) ta phá hơn 100 ấp chiến lược, giải phóng trên 2 vạn dân Hàng trăm đồn bốt địch bị nhân dân và du kích bao vây, bắn tỉa Hàng nghìn cuộc đấu tranh của quần chúng chống địch cào nhà, cày ủi ruộng vườn, gom dân, bắt lính, nổ ra quyết liệt Ở Ba Làng An (Quảng Ngãi) 6.000 đồng bào bị địch xúc vào khu tập trung đã bền bỉ đấu tranh buộc chúng phải trả về làng cũ

Phong trào đấu tranh của nhân dân thành thị đòi dân sinh, dân chủ diễn

ra sôi nổi gây thêm khó khăn cho nguỵ quyền Mở đầu là cuộc bãi công của

400 nhân viên bệnh viện Đồn Đất (Sài Gòn) với sự ủng hộ của 200 nghiệp đoàn đã giành thắng lợi (tháng 1-1969) Tiếp đó là cuộc đấu tranh rộng lớn của 30 vạn công nhân vận tải toàn miền Nam gây cho địch nhiều thiệt hại Nổi bật là cuộc bãi công của 5.000 công nhân các nghiệp đoàn thương cảng Sài Gòn (tháng 4-1969), được sự hưởng ứng rộng rãi của 3.000 công nhân hãng bia, nước ngọt, và hơn 3.000 công nhân xe lửa tuyến Sài Gòn-Huế làm đình trệ toàn bộ việc vận chuyển, bốc dỡ hàng quân sự của bọn xâm lược Mỹ, buộc chúng phải huỷ bỏ lệnh sa thải 105 công nhân

Trước những yêu cầu cấp thiết của giai đoạn mới, ngày 6 tháng 6 năm

1969, thực hiện chủ trương của Đảng, Đại hội đại biểu quốc dân miền Nam họp, bầu Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam Đây

là một sự kiện quan trọng có ý nghĩa to lớn của nhân dân miền Nam Chính phủ là đại diện chân chính cho cách mạng miền Nam trong mọi hoạt động Việc thành lập Chính phủ là một cuộc vận động trung lập, mở rộng hàng ngũ của mặt trận cách mạng Tính chất của Chính phủ cách mạng lâm thời là Chính phủ liên hiệp rộng rãi, tập hợp các lực lượng tán thành hoà bình, trung lập, độc lập, dân chủ dưới sự lãnh đạo của Đảng Đây là một thắng lợi trong quá trình hoàn chỉnh hệ thống chính quyền cách mạng miền Nam, đáp ứng yêu cầu cấp thiết về đấu tranh ngoại giao với địch và tiến tới thực hiện các quyền dân sinh dân chủ cho nhân dân miền Nam Sự kiện quan trọng này đã được sự đồng tình ủng hộ rộng rãi của các nước anh em và bè bạn Ngay

Trang 19

trong tháng 6-1969, 23 nước đã công nhận Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam

Đấu tranh ngoại giao, đàm phán và vận động quốc tế của Chính phủ Cách mạng lâm thời và Mặt trận Dân tộc giải phóng có thêm thuận lợi mới, tiếp thêm sức mạnh cho cuộc đấu tranh trên mặt trận ngoại giao của cả nước Bên cạnh ngoại giao Nhà nước ngoại giao nhân dân hai miền đã phát huy được sức mạnh như bộ phận hợp thành của nền ngoại giao Việt Nam

Sau các đợt hoạt động Đông-Xuân và Hè năm 1969, lực lượng ta bị hao mòn chưa được củng cố, sự chỉ đạo trên các chiến trường vẫn chưa thấy hết

âm mưu và khả năng mới của địch, chưa có sự chuyển hướng nhiệm vụ đánh phá bình định Lợi dùng mùa mưa, tiếp tế của ta khó khăn, địch dồn toàn bộ lực lượng phản kích quyết liệt trên các vùng nông thôn đồng bằng, các khu vực giáp ranh, đẩy đại bộ phận chủ lực của ta bật lên vùng rừng núi Sau đó chúng mở các cuộc hành quân đánh sâu vào các căn cứ của ta, phá huỷ kho hàng, cắt đứt hành lang tiếp tế

Đến cuối năm 1969, địch lấn chiếm gần hết vùng đồng bằng Nam Bộ

Ta chỉ còn giữ được các căn cứ U Minh, Đồng Tháp Mười, một số lõm giải phóng phía bắc đường số 4 (Mỹ Tho) và huyện Cao Lãnh, nhưng 50% số dân

đã phải bỏ vào vùng tạm chiếm Ở Khu V, vùng giải phóng bị thu hẹp, địch kiểm soát thêm 46 vạn dân

Trên toàn miền Nam trong năm 1969, địch đã kiểm soát thêm 2.622 ấp với 2.932.700 dân Riêng ở miền Trung Nam Bộ (Khu VIII) trong năm 1968, ta

có 123 xã và 1.000 ấp giải phóng, đến cuối năm 1969 ta chỉ còn 4 xã, 312 ấp

Do bị mất nhiều dân, nên số quân bổ sung tại chỗ của ta tuyển được rất

ít Cả Nam Bộ chỉ tuyển được 100 chiến sĩ mới (năm 1968 tuyển được 16.000), Khu V bổ sung được 1.500 thanh niên (năm 1968 được 8.000) Thiếu quân, các quân khu phải giảm số đầu đơn vị Ở khu VIII, 2 trung đoàn dồn lại

1 trung đoàn; Khu IX có 3 trung đoàn nhưng cũng dồn lại còn 1 trung đoàn và

1 tiểu đoàn; Khu V từ 2 trung đoàn pháo giảm còn 2 tiểu đoàn

Trang 20

Lực lượng chính trị và vũ trang ở cơ sở của ta bị tổn thất nặng Ở Nam

Bộ, riêng trong nửa năm đầu 1969 có 1.080 đảng viên bị bắt và giết, kèm theo

16 chi bộ đảng bị phá vỡ Ở hai tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên, từ giữa năm

1969 đến đầu năm 1970, có 900 đảng viên, trong đó có 60 huyện uỷ viên sa vào tay địch, phần lớn bị chúng sát hại Du kích các xã ở miền Tây Nam Bộ (Khu IX) từ 85.000 người (tháng 9-1968) giảm còn 21.000 người (tháng 9-1969) Một số cán bộ, đảng viên cơ sở và nhân dân chạy dạt lên vùng căn cứ, vùng giáp ranh Không còn địa bàn đứng chân, các sư đoàn chủ lực Miền bị đẩy lên vùng biên giới Campuchia

Các cơ quan tỉnh uỷ, huyện uỷ không còn địa bàn ổn định đứng chân, thường phải di chuyển, gặp nhiều trở ngại trong sự chỉ đạo phong trào Ở tỉnh Vĩnh Long cuộc họp của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ bị địch tập kích, 3 đồng chí

uỷ viên hy sinh tại chỗ Đường dây liên lạc các cấp thường bị gián đoạn, 3 đồng chí lãnh đạo cấp khu, quân khu bị địch phục kích ở Tây Ninh hy sinh ngay trên đường lên Trung ương Cục dự hội nghị

Tại các căn cứ và vùng giải phóng, sinh hoạt của bộ đội và nhân dân hết sức gian khổ, thiếu thốn Do địch ngăn chặn và đánh phá ác liệt, việc bổ sung tiếp tế từ đồng bằng lên rất khó khăn Bộ đội Khu V phải hy sinh hàng nghìn người khi đi thu gom, vận chuyển lương thực Cán bộ, chiến sĩ cơ quan quân khu có ngày 8 người chỉ được cấp nửa kilôgam gạo Dự trữ lương thực của mặt trận Tây Nguyên chỉ đủ nuôi bộ đội khoảng một tuần lễ Đến tháng 9-

1969, dự trữ lương thực của Bộ chỉ huy Miền chỉ còn 2.000 tấn, tạm đủ cho

bộ đội ăn trong một tháng

Trước những khó khăn, tổn thất, trong một bộ phận cán bộ đảng viên

và lực lượng vũ trang xuất hiện tư tưởng bi quan, dao động, ngại chiến đấu ác liệt, ngại bám trụ chiến trường Có người đào nhiệm về phía sau, thậm chí ra đầu hàng địch Trong cấp chỉ đạo Miền và quân khu nảy sinh những quan điểm khác nhau trong vấn đề sử dụng bộ đội chủ lực: 1) Phân tán thành những đơn vị nhỏ về địa phương chống bình định giành dân đồng thời giải quyết được khó khăn hậu cần, bảo tồn được lực lượng; 2) Củng cố khối chủ lực để

Trang 21

đánh tiêu diệt địch hỗ trợ cho nhân dân nổi dậy giành quyền làm chủ nhưng lại thấy khó bảo đảm sinh hoạt vật chất cho các đơn vị tập trung

Trong khi đó, do kiểm soát được nhiều vùng đông dân, bắt được nhiều lính, địch phát triển mạnh quân địa phương (thêm 20 vạn cuối năm 1969) làm nhiệm vụ bình định, tạo điều kiện cho chúng rút một bộ phận quan trọng quân chiếm đóng sang làm nhiệm vụ cơ động (tăng thêm 33 tiểu đoàn, gấp 2 lần năm 1968) Lực lượng so sánh trên chiến trường thay đổi, địch ưu thế hơn ta;

từ thế bị động đến nay địch giành lại được thế chủ động Cách mạng miền Nam đứng trước khó khăn thử thách rất nghiêm trọng Phong trào ở đồng bằng “bị thất thế”, thế tiến công liên tục không còn

Trong thời gian từ giữa năm 1968 đến cuối năm 1969, ta đánh giá địch chưa đúng, không nhận thấy những cố gắng mới của địch trong kế hoạch

“bình định nông thôn”, chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh”, “học thuyết Níchxơn”, để có chủ trương đối phó phù hợp Bên cạnh đó, việc đánh giá ta cũng chưa đúng, không thấy hết khó khăn sau năm 1968: lực lượng hao mòn, tổn thất, phong trào cách mạng ở đồng bằng bị thất thế, bộ đội chủ lực mất chỗ đứng chân, phải chuyển ra ngoài biên giới1

Phân tích tình hình trên, Hội nghị lần thứ 18 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (tháng 1-1970) chỉ rõ thiếu sót là do “đối phó của ta không kịp thời, hoạt động của bộ đội chủ lực và chiến tranh du kích chưa phát huy hiệu lực lớn, việc phá âm mưu bình định của địch chưa được coi trọng đúng mức” Trung ương Cục miền Nam vạch rõ trong quá trình Mỹ xuống thang chiến tranh, đã chuyển hướng chiến lược sang Việt Nam hoá chiến tranh mà khâu then chốt là kế hoạch bình định thì Trung ương Cục lại “chưa kịp thời đánh giá một cách toàn diện, sâu sắc âm mưu thâm độc và xảo quyệt của địch”, do

đó “chưa kịp thời xác định một sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược toàn diện, dứt khoát, tập trung, (…) mà khâu then chốt nhất là đánh bại cho được

kế hoạch bình định của địch”2 chưa tập trung sức của toàn đảng bộ vào nhiệm

Trang 22

vụ đánh bại kế hoạch bình định của địch Đồng thời, chưa kịp thời “giải quyết một cách triệt để tư tưởng nôn nóng muốn thắng nhanh, (…), ỷ lại trông chờ hoặc khuynh hướng nặng về dùng quân sự (…), không kiên trì xây dựng và phát triển thực lực chính trị vũ trang một cách căn cơ vững chắc…”1

Từ mùa Thu 1969, Bộ Chính trị chỉ đạo các chiến trường “chuyển hướng hành động nhằm đánh mạnh vào kế hoạch bình định của địch”2

Cụ thể hoá và triển khai Nghị quyết Bộ Chính trị, đầu tháng 7-1969, Hội nghị Trung ương Cục miền Nam họp lần thứ chín bàn về chỉ đạo cách mạng miền Nam Hội nghị đã chỉ ra một số điểm yếu của ta như đấu tranh chính trị chưa mạnh, binh vận còn yếu, chiến tranh du kích phát triển chậm, công tác hậu cần chưa bảo đảm

Nghị quyết Hội nghị nhấn mạnh phải ra sức thực hiện những mục tiêu

chiến lược: đánh mạnh quân Mỹ để chúng phải rút quân, đánh cho quân nguỵ phải suy sụp, phải đánh bại kế hoạch bình định nông thôn của địch Nghị

quyết Hội nghị nêu rõ: nhiệm vụ yêu cầu trước mắt của ta rất to lớn và khẩn

trương, vì vậy, hơn lúc nào hết “vấn đề nâng cao tác động lãnh đạo chủ quan của các cấp là điều có ý nghĩa quyết định trực tiếp nhất”3

Hội nghị đề ra những công tác lớn sau đây:

- Đẩy mạnh tiến công quân sự và xây dựng lực lượng vũ trang, coi đây

1 Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập.31, 1970, Nxb CTQG, HN, 2004, tr 404

2 Báo cáo của Bộ Chính trị tại Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 19, tháng 12-1970

3 Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, T.30, 1969, Nxb CTQG, HN, 2004, tr 347

Trang 23

Tháng 4-1969, Hội nghị Khu uỷ V (mở rộng) họp Sau khi quán triệt Nghị quyết Bộ Chính trị và từ thực tiễn chiến trường, Hội nghị khẳng định: muốn đánh bại “Việt Nam hoá chiến tranh”, trước hết phải đánh bại biện pháp chiến lược chủ yếu của địch là “bình định nông thôn” Đây là một cuộc chiến đấu toàn diện, quyết liệt trên mọi mặt trận: quân sự, chính trị, kinh tế, tư tưởng1 Tháng 9-1969, Hội nghị Thường vụ Khu uỷ Khu V tiếp tục xác định

“nhiệm vụ chống bình định giành dân, giữ dân là nhiệm vụ trung tâm của đảng bộ”

Thời gian này, mặc dù sức khoẻ yếu, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn thường xuyên gặp gỡ nhiều cán bộ, chiến sĩ và nhân dân miền Nam Ngày 12-4-1969, làm việc với đồng chí Phạm Hùng, Uỷ viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Cục miền Nam, Chính uỷ Bộ Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam, Người nhắc nhở trong chống phá âm mưu bình định của địch, phải luôn luôn nắm vững phương châm đấu tranh quân sự kết hợp với đấu tranh chính trị, kết hợp chặt chẽ ba mũi giáp công, kết hợp ba thứ quân trên ba vùng chiến lược; phải xây dựng lực lượng vũ trang cho mạnh2

Ngày 1-8-1969, khi nghe đồng chí Nguyễn Văn Linh, Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, phó Bí thư Trung ương Cục miền Nam, từ miền Nam ra báo cáo tình hình chiến trường, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hỏi nhiều về các chiến dịch “bình định cấp tốc” của Mỹ-nguỵ trên toàn miền Nam Người căn dặn đồng chí Nguyễn Văn Linh: “Bất kỳ trong tình huống nào cũng phải bám chắc lấy dân, dựa vào dân đề mà tồn tại… Đó là chìa khóa của mọi thắng lợi”3

Trung ương Cục miền Nam điều động một số đồng chí uỷ viên về tăng cường lãnh đạo trên một số địa bàn trọng điểm: đồng chí Nguyễn Văn Linh

Trang 24

làm Bí thư Thành uỷ Sài Gòn-Gia Định, đồng chí Võ Văn Kiệt làm Bí thư Khu uỷ Khu IX, đồng chí Lê Đức Anh làm Tư lệnh Quân khu IX

Trung ương Cục miền Nam, Bộ chỉ huy Miền và các quân khu kiên quyết giữ vững khối chủ lực, chỉ thị cho các đơn vị vừa đánh địch bảo vệ căn

cứ, vừa củng cố nâng cao sức chiến đấu, đồng thời cùng với nhân dân thực hiện phong trào tăng gia sản xuất, khai thác nguồn hậu cần tại chỗ và mở thêm đường vận tải, tiếp nhận sự tăng viện của miền Bắc Hơn mười trung đoàn chủ lực lần lượt được điều động về hoạt động tại các khu vực quan trọng, cùng các lực lượng địa phương bám trụ địa bàn, xây dựng lực lượng cơ

sở, phát động chiến tranh du kích, tạo thế đứng xen kẽ với địch Nhiều đội vũ trang công tác gồm những đảng viên, chiến sĩ ưu tú được phái vào các xã ở vùng sâu cùng cán bộ địa phương gây dựng lại cơ sở

Một số địa phương đã sớm nhận rõ vấn đề bám đất, bám dân, xây dựng

cơ sở, giữ vững phong trào đấu tranh chống bình định của địch của địch là vấn đề sống còn của quân và dân trên địa bàn Đầu năm 1969, các Tỉnh uỷ Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà (Khu V) nêu nhiệm vụ “Kiên trì bám trụ, diệt kẹp giành dân, giữ vững quyền làm chủ ở nông thôn” Tháng 5-1969, Tỉnh uỷ Rạch Giá (Khu IX) ra nghị quyết thực hiện phương châm “ba bám”1, lấy xã, ấp làm địa bàn chính, đánh địch bằng ba mũi giáp công, phá kế hoạch bình định của địch và phát động cuộc vận động xây dựng “chi bộ 4 tốt” để nâng cao vai trò hạt nhân lãnh đạo quần chúng trong nhiệm vụ đánh địch bình định cơ sở Tại những nơi này, lực lượng vũ trang tỉnh phân tán cùng đảng viên du kích bám trụ, khôi phục lực lượng, tiến hành đấu tranh đánh địch bằng cả quân sự, chính trị và binh vận, giành giật từng tấc đất, từng người dân, giữ thế làm chủ Cán bộ khu, tỉnh, huyện có mặt trên những khu vực xung yếu để tăng cường chỉ đạo phong trào Phát huy truyền thống đánh thuỷ lôi từ hồi kháng chiến chống Pháp, Khu IX lập các đơn vị đặc công đến cấp tiểu đoàn chuyên đánh tàu của địch, tập trung đánh ở Năm Căn, Xẻo Rô Các

sở chỉ huy tiền phương của Quân khu VIII đóng ở Lai Cậy (Mỹ Tho) chỉ cách

1 Đảng bám dân, dân bám đất, du kích và bộ đội bám địch

Trang 25

đồn địch một tầm súng bộ binh; Quân khu IX đóng ở Long Mỹ (Cần Thơ) sát chi khu quân sự địch

Trong quá trình bám trụ, cán bộ, đảng viên và lực lượng vũ trang ta chịu đựng nhiều hy sinh gian khổ, tổn thất Ở tỉnh Gò Công, 30 đồng chí uỷ viên tỉnh uỷ và huyện uỷ đã ngã xuống trong khi chỉ đạo phong trào Trung đoàn 320 hoạt động tại Long An chỉ trong mấy tháng cuối năm 1969 bị tổn thất hơn 400 cán bộ, chiến sĩ trong đó có toàn bộ ban chỉ huy trung đoàn Ở Khu IX, đảng viên của 50 xã trong tổng số 250 xã phải ly hương; 40 xã chỉ còn 1, 2 đảng viên, không còn chi bộ Tỉnh Cà Mau còn 13 xã giải phóng, chỉ tuyển được 7 tân binh, bổ sung cho chủ lực Khu Địch lấn chiếm hầu hết vùng giải phóng1 Đây là thời kỳ khó khăn nhất lần thứ hai của Khu IX, kể từ sau thời kỳ 1957-1959

Cuối năm 1969, Mỹ-nguỵ liên tiếp mở nhiều cuộc hành quân quy mô nhiều trung đoàn đánh vào các căn cứ trọng yếu của Miền và các khu hòng xoá nốt địa bàn đứng chân của các cơ quan chỉ đạo kháng chiến, hất bộ đội chủ lực ta ra ngoài biên giới

Vượt qua gian khổ, khó khăn, quân và dân các vùng căn cứ cảnh giác chiến đấu cao, phát huy thế trận lợi hại của chiến tranh nhân dân, anh dũng và mưu trí đánh lui các cuộc tiến công của địch, bảo vệ được căn cứ tại vùng núi Tây Trị-Thiên, khu vực Tây Quảng Nam, vùng Bắc và Nam đường số 4 Mỹ Tho, vùng U Minh, vùng biên giới Tây Ninh, Bình Long (căn cứ của Miền) Thắng lợi quan trọng này cổ vũ quyết tâm kháng chiến của quân và dân ta, góp phần làm thất bại bước đầu chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh” của đế quốc Mỹ Ta đã bảo vệ được các căn cứ trọng yếu, duy trì được lực lượng cơ động trên chiến trường, do đó giữ thế uy hiếp địch thường xuyên và tạo cơ sở khi có thời cơ chuyển sang phản công và tiến công địch mở ra thế chiến lược mới

1 Ban chỉ đạo và Ban biên tập truyền thống Tây Nam Bộ: Tây Nam Bộ 30 năm kháng chiến (1945-1975), tháng 12-2000, tr 624

Trang 26

Cùng với thắng lợi của các trận phản công địch, quân và dân ta khắc phục khó khăn mở đợt tiến công mùa Đông vào hàng trăm mục tiêu Nổi bật

là chiến thắng của quân và dân Tây Nguyên trong chiến dịch Búprăng-Đức Lập, diệt căn cứ Ka Te, liên tiếp đánh thiệt hại các đơn vị đến ứng cứu, diệt hơn 1.000 tên địch Hơn 7.000 dân Gia Lai và Đắc Lắc nổi dậy giành quyền làm chủ

Tại miền Đông Nam Bộ, ta tiến công mạnh ở tuyến ngoài trên các khu vực Phước Long, Bình Long, Tây Ninh thu hút địch, tạo điều kiện cho quân

và dân vùng đồng bằng sông Cửu Long phá bình định Nhưng ta không thực hiện được những trận đánh tiêu diệt để hỗ trợ các lực lượng tại chỗ tiến công

và nổi dậy trên phạm vi rộng Phong trào chỉ diễn ra sôi nổi ở một số nơi như Chương Thiện, Rạch Giá, Cà Mau, An Giang, Bến Tre, Mỹ Tho, Trà Vinh

Do lực lượng còn đông, địch tiếp tục bình định khẩn trương và quyết liệt vùng nông thôn đồng bằng, tiếp tục mở rộng và củng cố diện lấn chiếm bình định

Ta gặp những khó khăn lớn, thực tiễn chiến trường đặt ra những vấn đề gay gắt, sống còn Từ ngày 27-1 đến ngày 30-1-1970, tại Hà Nội, Ban Chấp

hành Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ 18 đánh giá sự phát triển của

cục diện kháng chiến từ đầu Tết Mậu Thân, chủ yếu là nhìn lại tình hình năm

1969 và đề ra phương hướng, giải pháp đưa cuộc kháng chiến tiến lên

Sau khi khẳng định những thắng lợi của nhân dân ta trong hai năm (1968-1969), Hội nghị đặc biệt lưu ý những nhược điểm, khuyết điểm, khó khăn của ta và phân tích nguyên nhân của thiếu sót khuyết điểm Hội nghị vạch rõ sự chỉ đạo của ta “chưa nắm thật vững quy luật giành thắng lợi trong

giai đoạn mới cũng phải trải qua từng bước mới tiến lên giành được thắng lợi quyết định”, “chưa xác định được một cách sát, đúng yêu cầu cụ thể của từng

bước tiến lên nhằm tiến công quân địch với một tinh thần vừa kiên quyết, vừa linh hoạt càng đánh càng mạnh, giành thắng lợi ngày càng lớn”1 Ta đã nhận định đúng âm mưu chiến lược của địch, nhưng “chưa đánh giá thật đầy đủ và

1 Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập.31, 1970, Nxb CTQG, HN, 2004, tr 40

Trang 27

kịp thời” nên trong chỉ đạo “chưa thật kịp thời xác định phương hướng đánh địch thích hợp nhằm đập tan một cách có hiệu quả nhất ý đồ của chúng”1 Có những nơi không quán triệt đầy đủ phương châm, phương thức tiến hành

chiến tranh của ta như các vấn đề kết hợp tiêu diệt địch với giành dân, duy trì

và đẩy mạnh chiến tranh du kích và đấu tranh chính trị ở cơ sở với việc chú trọng xây dựng lực lượng chính trị, lực lượng du kích, bộ đội địa phương

Nhiều nơi chưa chú trọng phát huy tác dụng quan trọng của hậu phương tại chỗ, chưa coi trọng công tác bảo đảm hậu cần…

Nhận định về âm mưu và chủ trương chiến lược mới của địch, Hội nghị

chỉ rõ: Thực tiễn chiến tranh đến nay cho thấy đế quốc Mỹ buộc phải xuống thang chiến tranh nhưng chúng rất ngoan cố và còn có tiềm lực Tuy bị thất

bại nặng nề chúng vẫn ra sức khắc phục khó khăn, tìm cách chủ động xuống

thang từng bước trên thế mạnh, kéo dài chiến tranh xâm lược, giành thời gian

thực hiện “Việt Nam hoá chiến tranh”, cố duy trì chủ nghĩa thực dân kiểu mới của chúng ở miền Nam Việt Nam “Việt Nam hoá chiến tranh” là một cố gắng lớn của địch trong giai đoạn mới, một ý đồ hết sức thâm độc của đế quốc Mỹ nhằm “kéo dài chiến tranh xâm lược, từng bước rút bớt quân Mỹ ra mà nguỵ quân, nguỵ quyền vẫn mạnh lên, cố giành thế mạnh trong thế thua”2

Dự đoán âm mưu sắp tới của địch, Hội nghị vạch rõ địch sẽ tiếp tục thực hiện chiến lược “quét và giữ” trong điều kiện mới, lấy bình định làm biện pháp chiến lược chủ yếu; tăng cường hoạt động, âm mưu mở rộng chiến tranh ra miền Bắc, Lào, Campuchia; tiếp tục bám giữ lập trường ngoan cố

trong đàm phán, và chỉ khi nào hết hy vọng vào âm mưu “Việt Nam hoá chiến tranh” thì chúng mới buộc phải đi vào con đường thương lượng nghiêm chỉnh

để tìm một giải pháp chính trị

Hội nghị nêu lên đặc điểm của quá trình cách mạng mới là một quá trình lâu dài, hết sức gay go quyết liệt và phức tạp, là quá trình ta đánh bại địch từng bước, giành thắng lợi từng bước, đi tới giành thắng lợi quyết định

1 Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập.30, 1970, Nxb CTQG, HN, 2004, tr 41

2 Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập.31, 1970, Nxb CTQG, HN, 2004, tr 46

Trang 28

Căn cứ nhận định trên, Hội nghị nêu ra nhiệm vụ trước mắt là: Động viên sự nỗ lực cao nhất của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân trên cả hai miền, phát huy thắng lợi đã đạt được, kiên trì và đẩy mạnh cuộc kháng chiến, kết hợp tiến quân địch về cả quân sự, chính trị và ngoại giao, vừa tiến công địch vừa ra sức xây dựng lực lượng quân sự và chính trị của ta ngày càng lớn mạnh, tạo nên chuyển biến mới trong cục diện chiến tranh, giành thắng lợi từng bước đi tới giành thắng lợi quyết định, tạo điều kiện cơ bản để thực hiện một miền Nam độc lập, dân chủ, hoà bình, trung lập, tiến tới thống nhất nước nhà

Hội nghị lần thứ 18 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng nhấn mạnh việc vận dụng đúng đắn phương châm: tiến công địch trên cả ba vùng chiến lược, lấy nông thôn là hướng tiến công chính; quán triệt phương châm đánh lâu dài, trên cơ sở đó tranh thủ giành thắng lợi quyết định trong thời gian tương đối ngắn, đập tan mưu đồ “Việt Nam hoá chiến tranh” của đế quốc Mỹ

Hội nghị nêu lên nhiệm vụ xây dựng và phát triển lực lượng ba thứ quân, tăng cường sức mạnh và hiệu lực chiến đấu; đẩy mạnh tác chiến tập trung của bộ đội chủ lực đồng thời phải thực hiện cho kỳ được một chuyển biến mạnh mẽ trong phong trào chiến tranh du kích ở địa phương

Hội nghị nêu rõ hậu cần là một công tác có tầm quan trọng chiến lược, cần tổ chức tuyến vận chuyển Bắc-Nam thật vững chắc; đồng thời lại coi trọng phát triển hậu cần tại chỗ Phải triển khai xây dựng hệ thống đường ống, đường sông, đường bộ để đối phó với tình hình khi địch liều lĩnh mở rộng chiến tranh cắt tuyến hậu cần của ta qua Lào và Campuchia vào miền Nam

Hội nghị chủ trương tăng cường sự lãnh đạo của Đảng ở các thành thị,

đẩy mạnh đấu tranh quân sự và nổi dậy của quần chúng ở nông thôn, mở rộng vùng giải phóng

Hội nghị lần thứ 18 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng có ý nghĩa

rất quan trọng đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước Hội nghị đã khẳng định những quan điểm, những nhận định, những chủ trương, mục tiêu

Trang 29

chiến lược của Đảng về cuộc kháng chiến ở miền Nam cũng như những kết quả mà quân và dân ta đạt được

Hội nghị lần thứ 18 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng đánh dấu

bước chuyển biến quan trọng về sự chỉ đạo của Đảng trong giai đoạn mới Hội nghị tổng kết thực tiễn cuộc đấu tranh đã qua, rút ra những bài học kinh nghiệm sâu sắc trong việc vận dụng đường lối chiến tranh của Đảng, mở ra phương hướng mới khắc phục những khó khăn và chuẩn bị cho những thắng lợi trong năm 1970 và những năm sau Những kết luận của Hội nghị là cơ sở

để các đảng bộ ở miền Nam điều chỉnh kế hoạch tác chiến, bố trí lực lượng ở mỗi địa bàn nhằm giành lại thế chủ động trên toàn chiến trường, đưa cuộc kháng chiến ra khỏi khó khăn, đồng thời giải tỏa được những vấn đề tư tưởng trong một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 18 truyền xuống các cấp, tạo ra một không khí mới nhất trí trong toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, khắc phục hiện tượng hữu khuynh tiêu cực, quyết tâm đánh bại từng bước chương trình bình định nông thôn của địch

II TIẾP TỤC XÂY DỰNG HẬU PHƯƠNG VỮNG MẠNH, CHI VIỆN CHO CHIẾN TRƯỜNG ĐÁNH MỸ

1 Khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục và phát triển kinh tế

Cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất do Mỹ tiến hành từ năm 1965 đến 1968 đã gây cho miền Bắc những tổn thất nặng nề Hầu hết các thành phố, thị xã, thị trấn, các trung tâm kinh tế, văn hoá, hệ thống giao thông vận tải bị đánh phá Có những thị xã, thị trấn gần như bị san bằng như: Đồng Hới, Ninh Bình, Phủ Lý, Yên Bái, Hồ Xá Nhiều nhà máy, xí nghiệp, thôn xóm bị thiệt hại nặng nề vì bom đạn Mỹ Giá trị tài sản của miền Bắc bị thiệt hại trong 4 năm là hơn 11,2 tỷ đồng

Trang 30

Thiệt hại về người, về nguồn nhân lực cho chiến tranh hết sức to lớn: hàng vạn người chết, bị thương1 trong đó có nhiều nhà chuyên môn giỏi: bác

sĩ, kỹ sư, người quản lý, công nhân kỹ thuật, giáo viên

Chiến tranh phá hoại đã làm đảo lộn cuộc sống và nếp lao động của xã hội miền Bắc, gây hậu quả lớn về các mặt quản lý kinh tế, xáo trộn tổ chức sản xuất, tổ chức lao động, tổ chức vận tải

Trước tình hình đó, nhiệm vụ của miền Bắc là phải nhanh chóng tranh thủ những thuận lợi mới trong hoàn cảnh không còn chiến tranh phá hoại, khắc phục hậu quả chiến tranh, tăng cường lực lượng cho cách mạng miền Nam Cuộc chiến đấu chống chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh” đòi hỏi

hậu phương miền Bắc phải cố gắng gấp bội Nghị quyết Hội nghị lần thứ 18 của Trung ương Đảng (tháng 1-1970) chỉ rõ nhiệm vụ của miền Bắc trước tình hình mới: “tích cực khắc phục những hậu quả của chiến tranh, khôi phục

và phát triển một bước nền kinh tế, tiếp tục đưa sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa

xã hội tiến lên; (…); đồng thời hết lòng chi viện cho miền Nam (…) làm tròn nghĩa vụ thiêng liêng của hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn” “Quân và dân miền Bắc phải đề cao cảnh giác cách mạng, (…), luôn luôn sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu tốt để đánh bại mọi âm mưu khiêu khích vũ trang và

mở rộng chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ và tay sai”2

Đối với nhiệm vụ khôi phục và phát triển kinh tế, Đảng và Nhà nước chủ trương tập trung sức phát triển mạnh kinh tế địa phương, đẩy mạnh việc khôi phục, phát triển một số ngành công nghiệp trung ương, xúc tiến một bước việc cải tiến quản lý kinh tế Đi đôi với việc phát triển sản xuất, cần đẩy mạnh thực hành tiết kiệm, tổ chức tốt đời sống, đẩy mạnh phong trào “vì miền Nam ruột thịt” Ngày 28-10-1968, Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương

1 Trong 4 năm (1965-1986), tổng số thiệt hại về người là 13,4 vạn (không kể bộ đội và công an võ

tranh; trong đó 5,6 vạn chết, 7,6 vạn bị thương, hơn 500 người bị bắt và mất tích) Tình hình kinh tế miền Bắc từ 1965 đến nay, 12-1970, Tài liệu Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng, Phông 11,

ĐVBQ 81

2 Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập.31, 1970, Nxb CTQG, HN, 2004, tr 124-125

Trang 31

Đảng đã ra Nghị quyết về khôi phục và phát triển kinh tế miền Bắc trong tình hình mới

Để tạo nên sự cân đối từng bước giữa nông nghiệp và công nghiệp, cũng như để đáp ứng nhu cầu phát triển chung của nền kinh tế quốc dân, ngoài sản xuất lương thực là trọng tâm, phải chú ý đến chăn nuôi gia súc; đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp bằng biện pháp thâm canh tăng năng suất và tăng nhanh diện tích canh tác

Đối với công nghiệp, phải nhanh chóng khôi phục phát triển các cơ sở sản xuất Cần phải chỉnh đốn và tích cực khôi phục các xí nghiệp do trung ương quản lý, sắp xếp lại một cách hợp lý các xí nghiệp đã sơ tán, phân tán, ra sức đẩy mạnh sản xuất, nâng cao sản lượng và chất lượng sản phẩm Hướng chủ yếu của sản xuất trong ngành công nghiệp trong năm 1969 là tăng sản lượng than, điện, cơ khí, gỗ, xi măng, sử dụng tốt lực lượng cơ khí phục vụ nông nghiệp, giao thông vận tải và công nghiệp địa phương, giải quyết tốt việc chế biến lương thực, thực phẩm, tăng thêm hàng tiêu dùng cho nhân dân

Song song với các chủ trương đó, Đảng ta còn chú trọng đến công tác văn hoá, giáo dục Ngày 14 tháng 2 năm 1969, Ban Bí thư ra Chỉ thị về công tác giáo dục trong ba năm 1968-1970 Ban Bí thư nêu rõ bên cạnh sự phát triển của sự nghiệp giáo dục, góp phần nâng cao trình độ hiểu biết, năng lực

lao động và chiến đấu của nhân dân ta, thì chất lượng giáo dục còn yếu nhất

là kiến thức văn hoá của học sinh Nhân tố quyết định sự phát triển số lượng

và nâng cao chất lượng của giáo dục là giáo viên, song lực lượng giáo viên còn thiếu và yếu

Xuất phát từ quan điểm: nhà trường là một công cụ đắc lực của nền chuyên chính vô sản, công tác giáo dục là một bộ phận rất quan trọng của cuộc cách mạng tư tưởng và văn hoá, từ tình hình giáo dục trong những năm

đã qua, Ban Bí thư đề ra phương hướng chung của công tác giáo dục trong ba năm 1968-1970 là: “Trên cơ sở nâng cao chất lượng, ra sức phấn đấu nhằm đáp ứng những yêu cầu học tập cấp bách của nhân dân và yêu cầu đào tạo lực lượng cán bộ và lao động có kỹ thuật, đồng thời tích cực chuẩn bị điều kiện

Trang 32

để đưa sự nghiệp giáo dục trong cả nước tiến lên mạnh mẽ và có chất lượng tốt hơn nữa trong những năm sau”1

Những biện pháp chính để thực hiện nhiệm vụ phát triển giáo dục là:

Mở rộng và củng cố hệ thống các trường sư phạm và bồi dưỡng giáo viên ở trung ương và địa phương, thực hiện tốt các chính sách và chế độ đối với giáo viên Tăng cường cơ sở vật chất cho ngành giáo dục và cho các trường học Đẩy mạnh công tác tư tưởng, công tác xây dựng đảng, công đoàn thanh niên, đội thiếu nhi và công đoàn trong ngành giáo dục Cải tiến và tăng cường bộ máy quản lý công tác giáo dục

Muốn làm tròn những nhiệm vụ khôi phục kinh tế, điều mấu chốt là phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao chất lượng sinh hoạt các chi

bộ và các tổ chức đảng; đẩy mạnh tự phê bình và phê bình; phát huy mạnh mẽ dân chủ nội bộ và động viên quần chúng tích cực kiểm tra, phê bình cán bộ, đảng viên Mặt khác, trong giai đoạn phục hồi và phát triển kinh tế, đảng viên phải nâng cao năng lực quản lý kinh tế, trình độ hiểu biết khoa học-kỹ thuật

để có thể lãnh đạo và đảm nhận tốt những nhiệm vụ mới

Nhân dịp kỷ niệm lần thứ 39 ngày thành lập Đảng, dưới bút danh T.L,

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết bài Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân Người phân tích những sai lầm và tác hại chủ nghĩa cá

nhân trong Đảng Người nhấn mạnh: “Để làm cho tất cả cán bộ, đảng viên xứng đáng là những chiến sĩ cách mạng, Đảng ta phải ra sức tăng cường giáo dục toàn Đảng về lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, về đường lối, chính sách của Đảng, về nhiệm vụ và đạo đức của người đảng viên Phải thực hành phê bình

và tự phê bình nghiêm chỉnh trong Đảng Phải hoan nghênh và khuyến khích quần chúng thật thà phê bình cán bộ, đảng viên Chế độ sinh hoạt của chi bộ phải nghiêm túc Kỷ luật của Đảng phải nghiêm minh Công tác kiểm tra của Đảng phải chặt chẽ”2

1 Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập.30, 1969, Nxb CTQG, HN, 2004, tr 23

2 Hồ Chí Minh Toàn tập, Tập.12, 1966-1969, Nxb CTQG, HN, 2000, tr 439

Trang 33

Người nhấn mạnh mỗi cán bộ, đảng viên phải đặt lợi ích của cách

mạng, của Đảng, của nhân dân lên trên hết “phải kiên quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng, bồi dưỡng tư tưởng tập thể, tinh

độ quản lý kinh tế, kỹ thuật vào các cấp uỷ

Những cố gắng của Đảng trong năm 1969 nhằm tranh thủ phục hồi kinh tế đã thu được những kết quả đáng kể

Ở nông thôn, các hợp tác xã học tập Điều lệ hợp tác xã sản xuất nông nghiệp Khí thế thi đua lao động sản của xã viên được nâng cao Qui mô hợp tác xã được tiếp tục mở rộng, số hợp tác xã từ bậc thấp lên bậc cao ngày càng tăng Tỷ lệ nông dân vào hợp tác xã năm 1969 là 95,11% (năm 1965 là 88,79%)2 Đi đôi với mở rộng qui mô hợp tác xã, các cấp đã cố gắng tăng cường cơ sở vật chất và kỹ thuật cho nông nghiệp nhằm đẩy mạnh sản xuất Sản lượng lương thực (quy thóc) năm 1969 tăng hơn năm 1968, riêng lúa tăng trên 18 vạn tấn Đặc biệt diện tích lúa được mở mang nhiều sau khi địch chấm dứt chiến tranh phá hoại, tăng hơn năm 1968 là 77.000 hécta Sản lượng cây công nghiệp, cây ăn quả đạt xấp xỉ năm 19683 Đàn lợn và trâu bò đều tăng hơn năm 1968 Tuy nhiên, nhìn chung sản xuất nông nghiệp năm 1969 chưa tạo ra được một thế vững để vươn lên mạnh mẽ

Các xí nghiệp, công trường, hầm mỏ có nhiều cố gắng mới trong cải tiến quản lý kinh tế Ngành than ra sức sửa chữa khuyết điểm, đẩy mạnh sản

Trang 34

xuất Các ngành công nghiệp có cố gắng lớn trong việc sửa chữa, khôi phục, sắp xếp lại cơ sở Giá trị tổng sản lượng toàn ngành công nghiệp đạt 97% kế hoạch, tăng 7,8% so với năm 1968, trong đó, công nghiệp trung ương 8,5%, công nghiệp địa phương tăng 7,3%1 Tuy điều kiện sản xuất còn nhiều khó khăn, các sản phẩm chủ yếu đều tăng và có một số tăng khá: ngành điện, cơ khí, khai thác gỗ, than, sản xuất gạch, xi măng, vải, cá biển

Vận tải đạt sản lượng xấp xỉ năm 1964, tăng 14% so với năm 1968, thực hiện tốt nhiệm vụ phục vụ tiền tuyến Xây dựng cơ bản tập trung vào khôi phục, sửa chữa và tiếp tục hoàn thành công trình cũ, nhất là thuỷ lợi, điện, than, giao thông vận tải, cơ khí, kho tàng, nhà ở Ngành thương nghiệp

có cố gắng trong việc động viên các nguồn hàng để phục vụ sản xuất, đời sống và xuất khẩu Tuy nhiên vai trò và tác dụng đòn bẩy kinh tế của thương nghiệp, giá cả, tài chính còn kém

Trong khu vực kinh tế quốc doanh, kỷ luật lao động có tiến bộ, việc phấn đấu ngày công, giờ công đạt kết quả khá ở những nơi mà điều kiện sản xuất tương đối bảo đảm Trong khu vực kinh tế tập thể, cuộc vận động quần chúng bàn bạc điều lệ và xây dựng nội quy hợp tác xã nông nghiệp, việc sửa chữa những thiếu sót trong công tác 3 khoán cho hộ ở một số nơi đã có tác dụng, ngăn chặn hiện tượng lấn chiếm ruộng đất của hợp tác xã, củng cố hợp tác xã và phát huy khí thế của quần chúng trong sản xuất

Những cố gắng trên đây vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu rất lớn, khẩn trương của cách mạng Công tác quản lý ở các hợp tác xã sản xuất nông nghiệp vẫn chưa tiến kịp yêu cầu Đời sống nhân dân có nơi gặp nhiều khó khăn Sản lượng công nghiệp tuy có tăng nhưng chưa đạt mức trước chiến tranh và kế hoạch năm Năng suất lao động và chất lượng sản phẩm vẫn chưa

có tiến bộ Tuy chất lượng các công trình xây dựng tốt hơn các năm trước đó nhưng công tác xây dựng cơ bản tiến hành chậm, chưa đáp ứng nhanh chóng yêu cầu khôi phục, sửa chữa những công trình thuỷ lợi, điện, than, giao thông

1 Văn phòng Trung ương: Thông báo tình hình năm 1969, Hà Nội ngày 3-2-1970, Tài liệu Viện Lịch sử Đảng, II3/3.1/19.4

Trang 35

vận tải, cơ khí, kho tàng, nhà ở vv… Công tác quản lý kinh tế chuyển biến còn chậm

Công tác văn hoá, văn nghệ, giáo dục và y tế có bước phát triển Anh chị em văn nghệ sĩ có những tác phẩm ca ngợi đạo đức, công lao của Chủ tịch

Hồ Chí Minh và cổ vũ cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước Các hoạt động xuất bản, điện ảnh sân khấu, bảo tàng, thư viện, triển lãm đều tăng Tuy nhiên tác dụng của các hoạt động văn hoá, văn nghệ đối với xây dựng nếp sống mới

ở các thành phố còn yếu

Khi đế quốc Mỹ ngừng ném bon miền Bắc, toàn ngành giáo dục nhanh chóng đi vào củng cố để tiếp tục phát triển Thực hiện nhiệm vụ giáo dục, học sinh sơ tán đã được trở về học tập ở thành phố Số học sinh mẫu giáo, vỡ lòng, cấp 1, cấp 2 và cấp 3 phổ thông đều tăng so với năm học 1968-1969 Mùa hè năm 1969, toàn ngành giáo dục tiến hành học tập Chỉ thị 169-CT/TW

và bài nói chuyện của Thủ tướng Phạm Văn Đồng tháng 5-1969 Năm học 1969-1970, một khí thế thi đua “dạy tốt, học tốt” trong toàn ngành đã đưa sinh hoạt nhà trường vào nền nếp, từng bước nâng cao chất lượng giáo dục Trong 4 năm 1965-1969, giáo dục đại học đã có bước tiến rõ rệt Năm học 1964-1965, ta có 17 trường đại học với 29.337 sinh viên, 2.747 cán bộ giáo viên, thì năm học 1968-1969 tăng lên 31 trường đại học với 71.414 sinh viên

và 6.727 cán bộ giáo viên1 Tuy nhiên, việc phát triển mạnh mẽ về quy mô trong điều kiện chiến tranh là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến những hạn chế về chất lượng đào tạo thời gian này

Công tác y tế phục vụ tiền tuyến được thực hiện tốt Việc khám bệnh và chữa bệnh cho cán bộ và nhân dân, việc phân phối thuốc có cải tiến Một số tỉnh lập được bệnh viện đông y, trên 2.000 xã sử dụng thuốc nam và châm cứu để chữa bệnh2 Tuy nhiên số giường bện còn thiếu nhiều, chất lượng công tác phòng bệnh, phòng dịch còn yếu, việc bảo quản thuốc men chưa tốt

Trang 36

Các đoàn thể quần chúng hoạt động tích cực trong việc đóng góp sức người, sức của cho tiền tuyến lớn; đồng thời vận động quần chúng nhân dân thực hiện kế hoạch Nhà nước đấu tranh chống buông lỏng quản lý kinh tế và giữ gìn trật tự trị an

Ở nông thôn, công tác sửa chữa “ba khoán cho hộ”, việc phổ biến thi hành điều lệ hợp tác xã nông nghiệp có tác dụng củng cố quan hệ sản xuất mới, thúc đẩy phong trào sản xuất Ý thức lao động tập thể của xã viên có tiến

bộ

Mặc dù phải chấm dứt chiến tranh phá hoại đối với miền Bắc, đế quốc

Mỹ và tay sai tiếp tục cho máy bay do thám khiêu khích, tung gián điệp, biệt kích xâm nhập miền Bắc Phát huy khí thế chiến thắng và đề cao tinh thần cảnh giác, các lực lượng vũ trang nhân dân đã bắn rơi 70 máy bay, tiêu diệt và bắt sống hàng chục tên gián điệp, biệt kích do địch tung vào Tây Vĩnh Linh, Quảng Bình, Nghệ An và Lai Châu

Nhằm giữ gìn trật tự trị an xã hội, ta đã tiến hành trấn áp và phân hoá bọn phản động, trừng trị gián điệp, đặc vụ, lưu manh, buôn lậu, xử lý nghiêm

một số phần tử thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng tài sản Nhà nước

Phối hợp với đòn tiến công quân sự, chính trị trên chiến trường, Đảng chủ trương mở rộng mặt trận đấu tranh ngoại giao để tranh thủ thêm sự ủng

hộ của nhân dân thế giới

Trên mặt trận ngoại giao, trong năm 1969, ta đạt những bước tiến quan trọng Ngày 25 tháng giêng 1969, lúc 10 giờ 30 phút, Hội nghị đàm phán bốn bên về vấn đề Việt Nam long trọng khai mạc Trong phiên họp đầu tiên này, ông Trần Bửu Kiếm, Trưởng đoàn đại biểu Mặt trận Dân tộc Giải phóng vạch

rõ nguồn gốc của tình hình miền Nam Việt Nam, lên án Mỹ xâm lược, vạch tội chính quyền Sài Gòn, nêu cao chính nghĩa của Mặt trận và khẳng định lại các nội dung nêu trong Tuyên bố năm điểm của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ngày 3 thánh 11 năm 1968

Trang 37

Trải qua mấy tháng, hội nghị không có tiến triển Để phá vỡ bế tắc và

mở cuộc tấn công mới, trong phiên họp ngày 8-5-1969, Đoàn đại biểu Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đưa ra một đề nghị hoà bình,

gọi là Giải pháp toàn bộ mười điểm về vấn đề miền Nam Việt Nam1 Đây là lần đầu tiên Mặt trận Dân tộc Giải phóng đưa ra một giải pháp toàn bộ về vấn

đề Việt Nam Bản đề nghị hoà bình nêu quan điểm tổng quát của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Mặt trận Dân tộc Giải phóng về tất cả các vấn đề của một giải pháp chính trị cho cuộc chiến, nhưng then chốt tập trung vào hai vấn

đề chính:

Một là, Hoa Kỳ chấm dứt chiến tranh, rút hết quân Mỹ khỏi miền Nam

Việt Nam mà không được đòi điều kiện gì

Hai là, công việc nội bộ miền Nam Việt Nam do nhân dân miền Nam

Việt Nam giải quyết: lập chính phủ liên hiệp lâm thời để tổ chức tuyển cử tự

do

Đây là hai vấn đề có ý nghĩa nguyên tắc, thể hiện mục tiêu của giải pháp cũng là mục tiêu của cách mạng miền Nam là độc lập và dân chủ

1 1 Tôn trọng các quyền dân tộc của nhân dân Việt Nam

2 Rút hết quân Mỹ, nhân viên quân sự, vũ khí và dụng cụ chiến tranh của Hoa Kỳ và các nước phe Mỹ, huỷ bỏ các căn cứ quân sự của Hoa Kỳ ở miền Nam Việt Nam

3 Vấn đề các lực lượng vũ trang Việt Nam ở miền Nam Việt Nam do các bên Việt Nam cùng giải quyết

4 Nhân dân miền Nam Việt Nam giải quyết công việc nội bộ của mình, không có sự can thiệp của nước ngoài, bầu ra quốc hội lập hiến, xây dựng hiến pháp, thành lạp chính phủ liên hiệp

5 Thành lập chính phủ liên hiệp lâm thời trên nguyên tắc bình đẳng, dân chủ và tôn trọng lẫn nhau nhằm thực hiện một miền Nam Việt Nam hoà bình, độc lập, dân chủ, trung lập

6 Miền Nam Việt Nam thực hiện chính sách ngoại giao hoà bình, trung lập, thực hiện chính sách láng giềng tốt với Campuchia và Lào, lập quan hệ với tất cả các nước

7 Thực hiện từng bước thống nhất nước Việt Nam bằng phương pháp hoà bình trên cơ sở bàn bạc giữa hai miền; trong khi chờ đợi thực hiện hoà bình thống nhất nước Việt Nam, lập lại quan

hệ bình thường về mọi mặt giữa hai miền

8 Hai miền Nam-Bắc, trong khi chờ thống nhất, cam kết không tham gia liên minh quân sự nào, không cho phép nước ngoài có căn cứ quân sự, quân đội và nhân viên quân sự trên đất mình

9 Giải quyết những hậu quả của chiến tranh: vấn đề tù binh, vấn đề thiệt hại về chiến tranh ở Việt Nam

10 Thoả thuận về sự giám sát quốc tế đối với việc rút vũ khí và dụng cụ chiến tranh

Trang 38

Giải pháp toàn bộ mười điểm được dư luận thế giới kể cả ở Mỹ hoan nghênh và ủng hộ rộng rãi, góp phần củng cố cục diện “vừa đánh, vừa đàm”

Ngày 18-5-1969, tại Xtốckhôm (Thuỵ Điển), hội nghị quốc tế ủng hộ Việt Nam gồm 300 đại biểu của 50 nước và 21 tổ chức quốc tế hoan nghênh lập trường của ta đòi Mỹ phải rút quân, chấm dứt chiến tranh

Đây là lần đầu tiên Mặt trận Dân tộc Giải phóng đưa ra một giải pháp toàn bộ về vấn đề Việt Nam, đại diện của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam cũng là người đầu tiên đưa ra một giải pháp hoàn chỉnh với thái độ xây dựng và những yêu cầu nhìn chung là vừa phải

H Kissinger - người đại diện của Tổng thống Níchxơn hiểu đây là đòn tiến công ngoại giao sắc bén của Mặt trận, nhận xét: Riêng việc tồn tại một kế hoạch hoà bình của cộng sản mặc dù bản thân nó là một sự bất ngờ đã gây ra ngay lập tức sự phản ứng trong Quốc hội, trong các phương tiện truyền thông

và trong dư luận công chúng Họ gây sức ép với chính phủ đừng bỏ qua cơ hội đó1

Ngày 14-5, Tổng thống Níchxơn đưa ra Kế hoạch tám điểm, kế hoạch

đầu tiên của Mỹ giải quyết vấn đề Việt Nam Đại ý trong tám điểm, Tổng thống Níchxơn nói Hoa Kỳ muốn rút quân nhanh chóng ra khỏi miền Nam Việt Nam, đề nghị hai bên cùng rút số quân lớn trong vòng 12 tháng sau khi

có hiệp định Ông ta đe doạ dùng những biện pháp cứng rắn nếu miền Bắc Việt Nam cho sự mềm dẻo của ông ta là sự suy yếu Tinh thần chung là đặt ngang hàng kẻ xâm lược và người bị xâm lược, giữ chính quyền thân Mỹ ở Sài Gòn, hạ thấp vai trò của Mặt trận Dân tộc Giải phóng

Tháng 6-1969, Tổng thống Níchxơn công bố rút đợt quân đầu tiên gồm 25.000 quân Mỹ

Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam lên án Mỹ “”rút quân nhỏ giọt” và đòi Mỹ rút nhanh, rút hết

1 Ngoại giao Việt Nam 1945-2000, Nxb Chính trị quốc gia, H 2005, tr 241

Trang 39

Ngày 20-7-1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi nhấn mạnh:

“Nhân dân Việt Nam kiên quyết đòi tất cả quân Mỹ và quân chư hầu của Mỹ phải rút hết sạch, không phải chỉ rút 25.000 hoặc 250.000 hay 50 vạn mà phải rút hết, toàn bộ, không điều kiện”1 Ngày 15-8-1969, trả lời thư của Tổng thống Níchxơn, Chủ tịch Hồ Chí Minh lại khẳng định muốn có hoà bình “Mỹ phải chấm dứt chiến tranh xâm lược và rút quân ra khỏi miền Nam Việt Nam, tôn trọng quyền tự quyết của nhân dân miền Nam và dân tộc Việt Nam, không

có sự can thiệp của nước ngoài”2 “Đó là con đường để Mỹ rút khỏi cuộc chiến tranh trong danh dự”

Vào năm 1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh lâm bệnh nặng Người đã vĩnh biệt chúng ta hồi 9 giờ 47 phút ngày 2-9-1969 tại Hà Nội, thọ 79 tuổi

Đó là tổn thất vô cùng lớn lao và nỗi đau thương vô hạn của Đảng và nhân dân ta Quốc tang Chủ tịch Hồ Chí Minh được tổ chức với nghi thức trọng thể nhất, toàn Đảng toàn quân và toàn dân để tang Người trong 7 ngày (từ ngày 4 đến ngày 10-9-1969)

Trong lời kêu gọi ngày 3-9-1969 gửi cán bộ, đảng viên, chiến sĩ, đồng bào cả nước và kiều bào ở nước ngoài cũng như trong điếu văn tại buổi lễ truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đánh giá rất cao công lao to lớn của Người đối với cách mạng nước ta và thế giới “Hơn

60 năm qua, từ buổi thiếu niên cho đến phút cuối cùng HỒ CHỦ TỊCH đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta và nhân dân thế giới Người đã trải qua một cuộc đời oanh liệt, đầy gian khổ hy sinh,

vô cùng cao thượng và phong phú, vô cùng trong sáng và đẹp đẽ”3 Tên tuổi

và sự nghiệp của Người luôn luôn gắn chặt với Đảng ta và dân tộc ta Mối quan hệ của Người với Đảng ta và dân tộc với tư cách là lãnh tụ, là mối quan

hệ máu thịt, bởi vì “dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra

HỒ CHỦ TỊCH, người anh hùng dân tộc vĩ đại, và chính Người đã làm rạng

rỡ dân tộc ta, nhân dân ta và non sông đất nước ta”4

1 Hồ Chí Minh Toàn tập, Tập.12, 1966-1969, Nxb CTQG, HN, 2000, tr 478

2 Hồ Chí Minh Toàn tập, Tập.12, 1966-1969, Nxb CTQG, HN, 2000, tr 489

3 Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập.30, 1969, Nxb CTQG, HN, 2004, tr 275

4 Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập.30, 1969, Nxb CTQG, HN, 2004, tr 275

Trang 40

Đồng chí Hồ Chí Minh là người sáng lập ra Đảng và Nhà nước ta, Mặt trận dân tộc thống nhất và lực lượng vũ trang nhân dân, lãnh tụ vĩ đại của giai cấp công nhân và nhân dân ta, một chiến sĩ lỗi lạc của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế và phong trào giải phóng dân tộc Là một nhà yêu nước vĩ đại và là học trò trung thành của Mác, Ăngghen, Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu cao tinh thần triệt để chống chủ nghĩa đế quốc, đã cống hiến cả đời mình cho sự nghiệp giải phóng giai cấp công nhân và giải phóng dân tộc,

vì độc lập, tự do, vì chủ nghĩa xã hội Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, kết hợp thống nhất chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế vô sản Cuộc đời của Người là tấm gương sáng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, của tinh thần đoàn kết chiến đấu, của đạo đức giản dị, khiêm tốn, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư

Sáng ngày 9-9-1969, lễ truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh được tổ chức tại quảng trường Ba Đình Hơn 10 vạn người và 34 đoàn đại biểu quốc tế có mặt tại buổi lễ

Nhân dân ta ở tất cả các địa phương hai miền Nam-Bắc, kể cả ở những vùng địch chiếm, những người bị địch giam giữ trong các nhà tù cũng như kiều bào ta ở nước ngoài vô cùng thương tiếc Chủ tịch Hồ Chí Minh, tổ chức

lễ tang Người và nguyện biến đau thương thành sức mạnh thắng Mỹ

Tại vùng giải phóng miền Nam, Hội nghị liên tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và Liên minh các lực lượng Dân tộc Dân chủ và Hoà bình Việt Nam quyết định ngừng bắn ba ngày

để tang Chủ tịch Hồ Chí Minh Hội nghị ra lời kêu gọi quân và dân miền Nam biến đau thương thành sức mạnh “dốc hết tinh thần và sức lực đánh thắng hoàn toàn giặc Mỹ xâm lược”

Nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới chia sẻ với nhân dân ta nỗi đau buồn thương tiếc Chủ tịch Hồ Chí Minh Hơn 40 đoàn đại biểu quốc tế đã đến

Hà Nội dự lễ tang và viếng Người Đảng và Chính phủ ta nhận được hơn 22.000 bức điện và thư của 120 nước và tổ chức quốc tế gửi đến chia buồn

Ngày đăng: 18/05/2021, 18:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ăngghen - Lênin - Xtalin (1970), Bàn về chiến tranh nhân dân, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về chiến tranh nhân dân
Tác giả: Ăngghen - Lênin - Xtalin
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1970
3. AFP, “Bản tin ngày 1-12-1969”, Phụ lục Tài liệu tham khảo đặc biệt, Việt Nam Thông tấn xã phát hành, ngày 30-11-1970 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản tin ngày 1-12-1969”," Phụ lục Tài liệu tham khảo đặc biệt
4. Ban Tư tưởng – Văn hoá Trung ương (2005), Lịch sử biên niên công tác tư tưởng - văn hoá của Đảng Cộng sản Việt Nam (1955-1975), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử biên niên công tác tư tưởng - văn hoá của Đảng Cộng sản Việt Nam (1955-1975)
Tác giả: Ban Tư tưởng – Văn hoá Trung ương
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2005
5. Ban Chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị (1995), Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước: Thắng lợi và bài học, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước: Thắng lợi và bài học
Tác giả: Ban Chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1995
6. Ban Chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị (2000), Chiến tranh cách mạng Việt Nam 1945-1975: Thắng lợi và bài học, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến tranh cách mạng Việt Nam 1945-1975: Thắng lợi và bài học
Tác giả: Ban Chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2000
7. Ban Tư tưởng – Văn hoá Trung ương: Lịch sử báo Đảng bộ các tỉnh và thành phố (Sơ thảo), NXB Chính trị quốc gia, HN, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử báo Đảng bộ các tỉnh và thành phố
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
8. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Phú Thọ: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Phú Thọ, tập I (1930-1968), NXB Chính trị quốc gia, HN, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Phú Thọ
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
9. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phú: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phú, tập II (1954-1975), NXB Chính trị quốc gia, HN, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phú
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
10. Ban Chấp hành Đảng bộ Đảng CSVN tỉnh Sơn La: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Sơn La, tập II (1954-1975), NXB Chính trị quốc gia, HN, 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Sơn La
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
11. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Hà Giang: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Hà Giang, tập I (1955-1975), 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Hà Giang
12. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc, tập I (1928-1968), 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc
14. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh, tập III (1955-1975), 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh
15. Ban Chấp hành Đảng bộ Đảng CSVN tỉnh Cao Bằng: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Cao Bằng, tập III (1954-1975), 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Cao Bằng
16. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Lai Châu: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Lai Châu, tập I (1945-1975), NXB Chính trị quốc gia, HN, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Lai Châu
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
17. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Hưng Yên: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Hưng Yên, tập II (1954-1975), NXB Chính trị quốc gia, HN, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Hưng Yên
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
18. Ban Chấp hành Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam thành phố Hồ Chí Minh (2000), Lịch sử Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam thành phố Hồ Chí Minh, tập II (1954-1974), sơ thảo, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam thành phố Hồ Chí Minh, tập II (1954-1974
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam thành phố Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2000
19. Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố Pleiku tỉnh Gia Lai (2006), Lịch sử Đảng bộ thành phố Pleiku (1945-2005), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ thành phố Pleiku (1945-2005)
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố Pleiku tỉnh Gia Lai
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
20. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Gia Lai (1996), Lịch sử Đảng bộ Gia Lai, tập I, 1945-1975, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ Gia Lai, tập I, 1945-1975
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Gia Lai
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
21. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi (1999), Lịch sử Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi (1945-1975), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi (1945-1975)
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1999
22. “Bản tin ngày 29-3-1973”, Tài liệu tham khảo đặc biệt, Thông tấn xã Việt Nam, Lịch sử quân sự, số 3-1988 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản tin ngày 29-3-1973”, "Tài liệu tham khảo đặc biệt", Thông tấn xã Việt Nam, "Lịch sử quân sự

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w