Nội dung bài viết Vấn đề công bằng và khả năng cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại các bệnh viện tư hiện nay trình bày về một số đặc điểm và chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại các bệnh viện tư, tình hình khám và điều trị của khách hàng tại các bệnh viện tư, dịch vụ khám bệnh cho khách hàng,...
Trang 1Vấn đề công bằng và khả năng cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại các bệnh viện tư hiện nay
Trịnh Hòa Bình
Đào Thanh Trường
Trong khuôn khổ Diễn đàn Hợp tác Kinh tế, tài chính Việt - Pháp, được tài trợ bởi A.D.E.T.E.F, nghiên cứu về: “Hệ thống tài chính và khả năng cung cấp các dịch vụ Chăm sóc sức khỏe của Bệnh viện tư ở Việt Nam” do nhóm tác giả Viện Xã hội học thực hiện trong khoảng thời gian từ tháng 5 - 8/2003 Công trình này đã được giới thiệu tại khóa họp lần thứ tư của Diễn đàn với chủ đề:
“Vì một sự tăng trưởng và xã hội công bằng” được tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh trong các ngày 10 - 11/9/2003 Tạp chí Xã hội học giới thiệu một phần kết quả nghiên cứu này
TCXHH
I Đặt vấn đề
Sự ra đời của các bệnh viện tư đã phá vỡ thế độc tôn của hệ thống các bệnh viện công ở Việt Nam hiện nay Điều đó có thể xem như là một xu thế tất yếu khi đi vào cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Bệnh viện tư ra đời đã tạo điều kiện cho người dân có nhiều cơ hội lựa chọn dịch vụ chăm sóc sức khỏe hơn làm cho nâng cao hơn tính cạnh tranh phát triển giữa các cơ sở y tế Chăm sóc sức khỏe với nhau và ít nhiều làm cho giá thành dịch vụ Chăm sóc sức khỏe giảm đi v.v… Đó là một bức tranh có nhiều mảng mầu sáng sủa Tuy nhiên, bên cạnh đó các bệnh viện tư cũng có không ít những điểm cần bàn đến Bài viết này chúng tôi sử dụng một số kết
quả của Dự án nghiên cứu: “Bài toán công bằng và hiệu quả trong vấn đề tài chính của bệnh viện tư ở Việt Nam hiện nay” được thực hiện bởi phòng Xã hội học Sức khỏe, Viện
Xã hội học để đề cập tới một số khía cạnh quan trọng xung quanh vấn đề cung cấp các dịch vụ Chăm sóc sức khỏe của hệ thống bệnh viện tư ở Việt Nam hiện nay1
1 Thực hiện nghiên cứu này, nhóm tác giả đã tiến hành khảo sát tại hai bệnh viện tư ở thành phố Hồ Chí Minh (Bệnh viện Triều An và Bệnh viện Vạn Xuân) và một bệnh viện tư ở Hà Nội (Bệnh viện Tràng An) Các kỹ thuật được áp dụng là thu thập thông tin thống kê, phỏng vấn cá nhân (thầy thuốc, nhà quản lý và người bệnh) và quan sát thực tế các khoa phòng điều trị, thực hiện 360 bảng hỏi đối với người bệnh
Trang 2II Một số đặc điểm và chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại các bệnh viện tư
1 Khách hàng tại các bệnh viện tư
1.1 Khách hàng đang điều trị tại các bệnh viện tư
Với bệnh viện nói chung, khách hàng (người bệnh) là yếu tố quyết định sự tồn tại Với bệnh viện tư điều đó càng có ý nghĩa sống còn hơn Do vậy, bên cạnh các yếu tố quan trọng khác có ý nghĩa quyết định sự tồn tại và phát triển của Bệnh viện tư, chân dung khách hàng là mối quan tâm lớn của nhiều nghiên cứu Khảo sát tại 3 bệnh viện tư tiêu biểu ở thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội, người
ta thấy không có sự khác biệt đáng kể về tuổi và giới tính giữa khách hàng đến
điều trị tại các cơ sở này Đa số khách hàng thường ở độ tuổi lao động sung sức nhất: 20 - 40 tuổi (36,9%), tiếp đến là 41 - 60 (23,8%), khách hàng là trẻ em dưới
10 tuổi có chỉ số 16,9% Về giới tính, không có sự chênh lệch đáng kể giữa số khách hàng là nam hay là nữ Tuy nhiên, về nghề nghiệp và việc làm của khách hàng thì có sự khác biệt đáng kể Khách hàng làm nghề buôn bán có tỉ lệ cao nhất (chiếm 29,2%) tiếp đó là nội trợ và h ưu trí (28,5%) Nếu so sánh tương quan nghề
nghiệp và mức sống của khách hàng (tự đánh giá) thì đa số khách hàng đến bệnh
viện tư đều ở mức khá giả và đủ ăn (99,2%), trong đó đủ ăn chiếm 81,5%, khá giả
chiếm 17,7%, hầu như không có người thiếu thốn (0,8%) Số khách hàng có bảo hiểm y tế chiếm tỷ lệ thấp (13,1%) Điều này cũng dễ hiểu, bởi đối với bệnh viện tư thì không có sự khác biệt trong ưu đãi giữa người có bảo hiểm và người không
có bảo hiểm, vả chăng, tỷ lệ người dân nói chung có bảo hiểm y tế còn thấp Phần lớn khách hàng sống ở thành thị Điều này được giải thích bởi đại đa số bệnh viện tư nằm ở đô thị, gần các khu dân cư Từ các thông tin sơ bộ đó rất dễ nhận thấy
chân dung khách hàng đang điều trị tại bệnh viện tư không phải là ng ười nghèo Mức sống và Nơi ở là hai chỉ báo quan trọng đã chứng minh điều đó Hơn nữa,
qua quan sát và phỏng vấn trực tiếp, nhóm nghiên cứu xác nhận những thông tin trên là đúng Như vậy, khách hàng đến bệnh viện tư là những người có nhu cầu
về chăm sóc sức khỏe và họ tìm thấy ở đây dịch vụ chất l ượng cao, nhanh chóng, thuận tiện
1.2 Khách hàng đến khám tại bệnh viện tư
Cũng gần giống như khách hàng đến điều trị tại bệnh viện tư, các khách hàng
đến khám bệnh ở các cơ sở này tập trung nhiều hơn trong nhóm tuổi 20 – 40 (43.3%)
và nữ giới có phần nhiều hơn Điều này được lý giải về sau với các đặc trưng bệnh tật của phụ nữ (sản phụ khoa) Chia theo nghề nghiệp, việc làm, người đến khám bệnh
là nông dân chiếm tỉ lệ cao nhất (32.9%), tiếp đó là công nhân viên chức (25.7%), nhóm buôn bán, dịch vụ chiếm 22.9%, khách hàng là h ưu trí, nội trợ chiếm tỉ lệ thấp
hơn một chút (18.6%) Tỷ lệ khách hàng không có bảo hiểm y tế cao (88.6%) Điều đặc biệt là 100% khách hàng đều thuộc diện khá giả và đủ ăn Như vây, khách hàng đến
khám tại bệnh viện tư cũng không phải là người nghèo mà là các đối t ượng khá giả
có nhu cầu khám chữa bệnh chất lượng cao và thuận tiện Để hiểu rõ hơn về hoạt
Trang 3động chăm sóc sức khỏe tại bệnh viện tư, chúng ta cần tìm hiểu thêm về tình hình
khám bệnh và điều trị của khách hàng trước khi đến cơ sở này
2 Tình hình khám và điều trị của khách hàng trước khi đến bệnh
viện tư
Điều này có thể là một nội dung quan trọng để đánh giá sự tín nhiệm của
khách hàng đối với bệnh viện tư Các số liệu của nghiên cứu cho thấy một tỉ lệ khá
cao các khách hàng trước khi điều trị hay khám bệnh ở bệnh viện tư đã “đến thẳng”
các cơ sở này (60% và 52,3%) Đó là một chỉ báo quan trọng khẳng định sự lựa chọn
ngay từ đầu của khách hàng: Bệnh viện t ư là ưu tiên số một Khỏi cần phân tích sâu
lý do, chí ít điều đó đã phản ánh sự lựa chọn rõ ràng, thể hiện hành vi tìm kiếm dịch
vụ tư nhân của khách hàng Một tỉ lệ khách hàng ít hơn, đứng ở vị trí số 2 đó là bệnh
nhân đã từng khám hay điều trị (24,3% và 33,8%) ở các cơ sở dịch vụ y tế công trước
khi tới bệnh viện tư cho thấy các dịch vụ công đã không đáp ứng được nhu cầu của
nhóm đối tượng này Lý do có thể có nhiều hay không, nhưng chí ít, bệnh viện tư đã
giải quyết được nhu cầu đó là hứa hẹn một sự hài lòng ở đây Phải chăng đó là sự
nhanh gọn, tiện lợi, và rõ ràng về tài chính? Một tỉ lệ nhỏ hơn nữa là các khách hàng
đã đến các phòng mạch tư rồi mới đến bệnh viện tư Số này chứng tỏ sự hạn chế của
các phòng mạch tư là đã không thoả mãn nhu cầu của họ Và xu thế chọn dịch vụ t ư
vẫn là lựa chọn ưu tiên đối với những khách hàng này
Bảng 1 Tình hình khách hàng khám và điều trị trước khi đến bệnh viện tư
1 Trước khi khám ở bệnh
viện tư
2 Trước khi điều trị ở
bệnh viện tư
Nguồn: Trịnh Hòa Bình và cộng sự, Bài toán công bằng và hiệu quả trong vấn đề tài chính ở bệnh viện tư Việt Nam
hiện nay, Dự án nghiên cứu A.D.E.T.E.F tài trợ, Hà Nội - 2003
3 Tình hình bệnh tật và các dịch vụ tại bệnh viện tư
3.1 Cơ cấu bệnh tật của bệnh nhân đang điều trị và đang khám tại bệnh viện tư
Thống kê 130 trường hợp bệnh nhân đang điều trị tại hai bệnh viện tư Triều
An và Vạn Xuân (Thành phố Hồ Chí Minh) chúng tôi thấy chiếm tỷ lệ cao nhất là các
bệnh về sản phụ khoa (16,9%), nhiễm khuẩn hô hấp trên (13,8%), các bệnh phổi và
đường tim mạch, huyết áp, hô hấp (13,1%) (10,8%), v.v… Như vậy, mô hình bệnh tật
của khách hàng ở đây nhìn chung là các bệnh thông th ường, cấp tính Điều này dễ
hiểu bởi bệnh viện tư không có nhiều vốn để đầu tư vào những chuyên khoa, bởi rất
tốn tiền chi cho thiết bị, công nghệ, hơn nữa, đầu tư vào bệnh viện có tính rủi ro cao
Một chỉ báo khác về số ngày điều trị tại trung bình của bệnh nhân là 4, 5 ngày cũng
cho thấy tính chất cấp tính và thông th ường của mô hình bệnh tật ở đây Có lẽ, giá
Trang 4viện phí và các loại dịch vụ tại bệnh viện tư không cho phép các trường hợp bệnh mãn tính, kéo dài đủ khả năng điều trị tại đây
Cũng tại hai bệnh viện này, thống kê 70 bệnh nhân đang khám bệnh cho thấy
mô hình bệnh tật nói chung là đơn giản Bệnh liên quan đến thai sản, phụ khoa chiếm đa số (34,4%) Các bệnh có tỷ lệ đáng kể khác là dạ dày/tiêu hoá (10,4%), các bệnh tim mạch, tiểu đường, xương khớp cũng là bệnh hay gặp ở phòng khám, có tỷ lệ theo thứ tự: (5,7%; 8,6%; 11,4%)
3.2 Chất lượng dịch vụ
Chất lượng dịch vụ là điều mà khách hàng quan tâm nhất ở bệnh viện, có thể
được coi là yếu tố cuốn hút hay th ương hiệu của mỗi bệnh viện Nhóm nghiên cứu đã
tiến hành đánh giá chất lượng một số dịch vụ bệnh viện tư thông qua ý kiến của bệnh nhân bằng một số chỉ báo sau đây:
Đa số bệnh nhân được phía bệnh viện giải thích về tình trạng bệnh tật trước khi nhập viện (86,9%) Không có trường hợp nào mà khách hàng không được giải thích gì Điều này rất có ý nghĩa về mặt tâm lý với người bệnh cũng như những người nhà của họ Khách hàng sẽ cảm thấy được tôn trọng, được chăm sóc tốt hơn và yên tâm về bệnh tật Đây là một bước quan trọng nhằm sửa đổi những nhược điểm trong quan hệ thầy thuốc với bệnh nhân ở các bệnh viện công bấy nay Đó cũng có thể là
điểm khác biệt giữa hai mô hình bệnh viện này Bên cạnh đó, khi nhập viện có tới 3/4
số trường hợp khách hàng (73,8%) được phía bệnh viện giải thích về viện phí và các khoản đóng góp Điều này cũng đã gây cảm giác bệnh viện tư rõ ràng về tài chính và quan trọng hơn là họ đã thực hiện đúng quy định của pháp lệnh hành nghề y dược tư nhân Không những thế, sự rõ ràng về tài chính ở bệnh viện tư dường như đã xoá đi
những lo lắng về những khoản chi phí ngầm như người ta vẫn thường được nghe
thấy ở các bệnh viện công Tuy nhiên, vẫn còn 26,2% số trường hợp khách hàng cho rằng bệnh viện chưa có sự giải thích rõ ràng Dịch vụ ăn uống trong bệnh viện cũng
được phục vụ khá tốt với 84,6% các trường hợp cho rằng đã được phục vụ ăn uống
(một điều hiếm thấy ở các bệnh viện công hiện nay), chỉ có 15,4% số trường hợp người
nhà bệnh nhân phải tự lo Dịch vụ giặt là chưa được đáp ứng theo nguyện vọng của bệnh nhân Chỉ có 6,9% số bệnh nhân được giặt đồ trong quá trình điều trị Đây là
điểm hạn chế trong các dịch vụ của bệnh viện tư Mặc dù vậy, các bệnh viện được 100% bệnh nhân đánh giá là gọn gàng sạch sẽ Đây là điểm khác biệt rõ rệt so với các bệnh viện công hiện nay
Bên cạnh đó, đáng chú ý là một số chỉ báo về tinh thần thái độ của cán bộ nhân viên các bệnh viện từ trong nghiên cứu là rất tốt Hàng ngày, người bệnh được thăm khám, đặc biệt có tới 78,5% số người bệnh được các bác sĩ trưởng khoa xem bệnh, đã gây ấn tượng tốt về sự quan tâm và chất lượng điều trị ở cơ sở tư nhân Đặc biệt, các bác sĩ trưởng khoa ở đây thường là các thầy thuốc đầu ngành Chính điểm này đã tạo cảm giác được chăm sóc tốt về chuyên môn đối với người bệnh Ngoài thầy thuốc thì các nhân viên khác, như y tế, hộ sinh v.v… đều có thái độ cởi mở và vui vẻ với người bệnh, tất cả đều gây ấn tượng chăm sóc, quan tâm chu đáo tới người bệnh
Trang 5Đây là điều ít thấy tại các bệnh viện công Hoàn toàn có thể nói rằng đó chính là những yếu tố thu hút khách hàng đến với y tế tư nhân
4 Giá dịch vụ và phương thức chi trả
Viện phí: Tất cả các bệnh nhân nằm viện đều phải đóng tạm ứng viện phí Mức tạm ứng thấp nhất là 500.000 đồng, cao đến 10 triệu đồng, tuỳ mức độ bệnh và các kỹ thuật sẽ can thiệp Mức viện phí tạm ứng phổ biến nhất là 1 - 2 triệu đồng Như vậy, tại các bệnh viện tư, rõ ràng viện phí không phải là thấp, nhưng điều đó hình như không phải là mối quan tâm quá lớn của khách hàng
Giá tiền giường bệnh: Thấp nhất là mức từ 60 - 100 nghìn đồng/ngày chiếm
11,5% Mức phổ biến nhất mà người bệnh thường chọn là 200 - 300 nghìn đồng, chiếm tỷ lệ 65,4%, mức cao nhất trên 300 nghìn đồng chiếm 23,1% Chỉ báo này cho thấy phần lớn người bệnh lựa chọn dịch vụ chất lượng rất cao Nếu tính mức phổ biến là 5 - 10 ngày điều trị và chỉ ở mức 200 nghìn đồng thôi thì khách hàng đã phải chi trả tới 1 - 2 triệu đồng, chưa kể tiền thuốc
Các loại dịch vụ: như tiền ăn, thuốc, xét nghiệm thì người bệnh chưa biết, họ chỉ được biết khi thanh toán ra viện Riêng tiền người nhà ở lại, quà biếu, các phí tổn khác thì khách hàng không phải tốn ở bệnh viện tư Hình thức thanh toán chính là
đóng tạm ứng, sau đó thanh toán một lần khi ra viện Phải chăng những khoản đóng khác đều nằm trong tiền tạm ứng? Nhưng dẫu sao, chúng tôi cũng cho rằng các hình thức tài chính như vậy khá rõ ràng và thuận tiện cho người bệnh
5 Lý do lựa chọn dịch vụ và mức độ hài lòng của khách hàng
Về lý do khách hàng lựa chọn các bệnh viện tư để điều trị, qua phỏng vấn 130 trường hợp bệnh nhân đang điều trị tại bệnh viện Triều An và bệnh viện Vạn Xuân
(thành phố Hồ Chí Minh), nhóm nghiên cứu thấy có 5 chỉ báo ảnh hưởng đến sự lựa chọn đó Đáng chú ý là có tỷ lệ tương đương giữa 4 loại chỉ báo Đó là: 1) Gần nhà chiếm 20,8%; 2) Do ng ười quen giới thiệu chiếm 26,9%; 3) Đã từng điều trị tại đây chiếm 22,3%; 4) Đ ược quảng cáo chiếm 20,8% Chỉ báo về chất lượng tốt chỉ chiếm 6,2% Rõ ràng, khách hàng ch ưa ý thức được thực chất chất lượng điều trị như thế nào Từ đó cũng thấy được rằng: thực sự ch ưa có yếu tốt nào mang tính quyết định
đến hành vi lựa chọn bệnh viện tư của người bệnh Các tỷ lệ về các chỉ báo trên cũng cho thấy được rằng bệnh viện tư chưa thực sự tạo được th ương hiệu cho mình Điều
đó có thể giải thích bằng sự ra đời muộn của bệnh viện tư, cũng như tính chất điều
trị các bệnh thông th ường, cấp tính của bệnh viện tư
Phân tích về lý do lựa chọn bệnh viện t ư của khách hàng trong tương quan với nghề nghiệp chúng tôi thấy có một số điểm đáng chú ý Trước hết là với chỉ báo gần nhà , có tương quan chặt chẽ với các cháu nhỏ Sự lựa chọn này trước hết vì tính thuận tiện, kịp thời trong xử trí bệnh tật cho các cháu Sự lựa chọn cũng được ưu tiên cho viên chức các cơ quan có lẽ do tính chất công việc của họ không có nhiều thời gian
nên chọn tiêu chí gần nhà để thuận tiện cho khâu chăm sóc Đối tượng buôn bán, nông dân không lấy tiêu chí gần nhà là ưu tiên của họ Điều này phản ánh rõ mong
Trang 6muốn điều trị tại bệnh viện tư không phải vì thuận tiện Lý do ng ười quen giới thiệu
có tương quan chặt chẽ với nhóm buôn bán, dịch vụ, điều này phản ánh khá rõ hành
vi tìm kiếm sức khỏe của nhóm này mang đặc trưng nghề nghiệp Lý do đã điều trị ở
đây có tương quan chặt chẽ với nhóm viên chức, và buôn bán, dịch vụ Lý do quảng
cáo có tương quan chặt chẽ với nhóm buôn bán, dịch vụ và h ưu trí, nội trợ Các tiêu
chí lựa chọn đó đều phản ánh tính chất lệ thuộc của nghề nghiệp dẫn đến hành vi
lựa chọn dịch vụ của khách hàng
Bảng 2 Tương quan giữa lý do chọn bệnh viện tư với nghề nghiệp của bệnh nhân (%)
Lý do Công nhân
viên chức
Nông dân Buôn bán,
dịch vụ
Hưu trí, nội trợ
Trẻ nhỏ Tổng
Người quen giới thiệu 28,6 48,6 22,9 100,0
Đã điều trị ở đây 48,3 3,4 31,0 17,2 100,0
Nguồn: Tài liệu đã dẫn
Khi tìm hiểu sâu hơn về lý do lựa chọn bệnh viện tư để điều trị, nhóm nghiên
cứu thấy khách hàng ở thành thị chiếm đa số (62,3%) và nông thôn chiếm 37,7% So
sánh tương quan lý do lựa chọn với nơi ở thấy 3 chỉ báo “ng ười quen giới thiệu”; “đã
điều trị ở đây ”; “quảng cáo” không có sự khác biệt gì giữa khách hàng sống ở nông
thôn hay thành thị Nhưng chỉ báo gần nhà thì lại có tương quan chặt chẽ với người
dân thành thị Không có ai ở nông thôn lấy tiêu chí gần nhà để lựa chọn bệnh viện
tư Về lý do “chất l ượng tốt” cũng tương quan chặt chẽ với người dân thành thị
Không có ai ở nông thôn lựa chọn chất lượng dịch vụ làm ưu tiên Điều này càng
phản ánh rõ hơn xu hướng hành vi lựa chọn dịch vụ của khách hàng
Bảng 3 Tương quan giữa lý do lựa chọn bệnh viện với nơi ở của khách hàng (%)
Nguồn: Tài liệu đã dẫn
Tìm hiểu về mức độ hài lòng của khách hàng với dịch vụ bệnh viện cho kết
quả 60,8% hài lòng và 30,2% tạm hài lòng Tuy nhiên, khi được hỏi về lý do chưa hài
lòng với bệnh viện thì khách hàng từ chối trả lời Đây cũng là điều nhóm nghiên cứu
cố gắng khai thác qua các cuộc phỏng vấn cá nhân Câu trả lời là: Có băn khoăn là
bởi giá dịch vụ còn cao, gây khó khăn cho chi trả, hoặc giả băn khoăn về sự rõ ràng
các loại tiền dịch vụ (thuốc)…
Phân tích về mức độ hài lòng với dịch vụ bệnh viện tư trong tương quan với
Trang 7mức sống cho thấy, những trường hợp mức sống khá luôn hài lòng với dịch vụ bệnh viện tư Chỉ các đối tượng mức sống khó khăn mới tạm hài lòng với dịch vụ được cung cấp Khi được hỏi “nếu sau này bị bệnh có trở lại đây điều trị nữa không?” thì có tới 86,2% khách hàng trả lời sẽ quay trở lại, chỉ có 13,8% số khách hàng ch ưa biết sẽ quyết định thế nào Số trả lời phương án này đa số nằm trong nhóm hưu trí hoặc có mức sống đủ ăn, hoặc những người khó khăn về tài chính Như vậy, qua tương quan
giữa mức sống với sự hài lòng của khách hàng đã cho thấy ở những nhóm có thu
nhập cao họ có mong muốn tìm đến những dịch vụ có chất lượng tốt, giá cả không phải là mối quan tâm hàng đầu đối với họ Và bệnh viện tư đã đáp ứng được điều đó Theo chúng tôi, bệnh viện tư đã đảm bảo được một khía cạnh quan trọng về sự công bằng trong chăm sóc sức khỏe, đó là người trả tiền nhiều thì xứng đáng được hưởng dịch vụ tốt
Như vậy, chân dung khách hàng lựa chọn bệnh viện tư có mức sống và nghề
nghiệp ổn định Đây chính là những đối tượng có nhu cầu chăm sóc sức khỏe chất
lượng cao Giá dịch vụ không phải là ưu tiên lựa chọn của các đối tượng này
6 Dịch vụ cho các khách hàng đến khám bệnh
Kết quả nghiên cứu cũng giúp rút ra một số nhận xét về tình hình cung cấp dịch vụ tại khu vực phòng khám như sau:
Thời gian khám bệnh còn dài, có đến 2/3 số trường hợp khám bệnh trên 1 giờ
Điều này khiến cho khách hàng chưa hài lòng, họ mong muốn thời gian có thể ngắn hơn để tiết kiệm thời giờ Số phải làm xét nghiệm trước khi khám bệnh còn chiếm tỷ
lệ lớn (tới 88,6%) Với mô hình bệnh tật của khách hành như đã trình bày ở trên thì tỷ
lệ làm xét nghiệm như vậy là cao và không cần thiết Tuy nhiên, người bệnh không phàn nàn nhiều về việc mình phải làm xét nghiệm vì cũng có tới 70% số trường hợp đã
được giải thích trước khi làm xét nghiệm Vả chăng, làm xét nghiệm là để chẩn đoán chính xác hơn đối với bệnh chứng là điều luôn làm cho khách hàng yên tâm Có tới 91,4% số trường hợp được giải thích rõ về tình trạng bệnh tật, gây cảm giác rất tốt cho người bệnh, người bệnh cảm thấy yên tâm và tin tưởng vào chuyên môn của thầy thuốc Cũng rất đáng chú ý là 88,6% số khách hàng được cơ sở giải thích về cách thức
điều trị Phải chăng, đây cũng là điều đã làm thay đổi quan hệ thầy thuốc - bệnh nhân vốn mang tính một chiều bấy lâu nay Chính điều này sẽ vừa làm cho bệnh nhân tin tưởng, vừa làm cho hiệu quả điều trị cao hơn do người bệnh hiểu và tuân thủ phương thức điều trị của thầy thuốc 88,6% số khách hàng được đề nghị mua thuốc tại bệnh viện 100% số trường hợp được hướng dẫn sử dụng thuốc tại nhà Đây cũng là điểm tốt của bệnh viện tư 100% số khách hàng có nhận xét bệnh viện tư gọn gàng sạch sẽ, ngăn nắp, thái độ thầy thuốc ân cần, cởi mở, làm yên lòng bệnh nhân
Về lý do khách hàng lựa chọn bệnh viện tư để khám bệnh chiếm tỷ lệ cao
nhất là do khách hàng có ng ười quen giới thiệu (58,6%) và gần nhà (25,7%) Đây là hai lý do chính Một lần nữa, tính chất thuận tiện và quen biết chiếm ưu thế trong
xu hướng lựa chọn của khách hàng Có 71,4% khách hàng hài lòng về dịch vụ khám
bệnh và có 88,6% số người trả lời sẽ trở lại đây khi có bệnh Đây là hai chỉ báo cho
Trang 8thấy khách hàng đánh giá tốt dịch vụ của cơ sở
III Kết luận
Sự ra đời của bệnh viện tư đã tăng thêm cơ hội cho người dân tiếp cận với dịch
vụ chăm sóc sức khỏe Bệnh viện tư ra đời đã không chỉ tăng tính cạnh tranh giữa các cơ sở chăm sóc sức khỏe mà nó còn đáp ứng nhu cầu của một nhóm dân cư có nhu cầu chăm sóc sức khỏe chất lượng cao Nó đã đảm bảo được một khía cạnh của sự công bằng trong chăm sóc sức khỏe ở chỗ người bỏ nhiều tiền thì đáng được hưởng dịch vụ chất lượng cao nhưng ở chiều cạnh khác lại làm tăng lên tính bất bình đẳng trong chăm sóc sức khỏe giữa nhóm thu nhập cao và nhóm người nghèo Bệnh viện
tư đã khắc phục được một số hạn chế của các cơ sở khác như sự nhanh gọn, thái độ phục vụ, thuận tiện, rõ ràng Vậy là, nó đã đánh đúng vào tâm lý ng ười tiêu dùng có
mức sống không phải là thấp trong xã hội Người nghèo khó có thể đến bệnh viện tư
để tìm cho mình sự chăm sóc sức khỏe Và nó cũng không phải là nơi đến phổ biến
của những người có bảo hiểm y tế Như vậy, thái độ phục vụ, chất l ượng dịch vụ, khách hàng, sự tiện lợi, rõ ràng đã làm nên sự tồn tại và phát triển của bệnh viện tư Với sự ra đời và phát triển của các bệnh viện tư, các nguồn lực từ cộng đồng sẽ được huy động thêm cho công tác Chăm sóc sức khỏe nhân dân trong bối cảnh nguồn vốn nhà nước còn khó khăn Sự ra đời đó, xét đến cùng cũng là yếu tố đảm bảo tính bình
đẳng cho phía những người cung cấp dịch vụ Chăm sóc sức khỏe tư nhân, tạo nên sự cạnh tranh giữa khu vực nhà nước và tư nhân, giữa tư nhân với nhau Và tất nhiên, một hiệu quả tích cực mà người dân được hưởng là giảm giá dịch vụ y tế đồng thời với việc không ngừng nâng cao chất lượng và khả năng cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho nhân dân
Tài liệu tham khảo
1 Trịnh Hòa Bình và cộng sự, Bài toán công bằng hiệu quả trong vấn đề tài chính ở các bệnh viện tư Việt Nam hiện nay, nghiên cứu trường hợp các bệnh viện tư ở Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội A.D.E.T.E.F tài trợ, 2003
2 Trịnh Hòa Bình, Phan Chí Thanh, Dương Huy Liệu…, Đối thoại trực tiếp: “Thầy thuốc với Bệnh nhân” VTV1, Đài truyền hình Việt Nam, chủ nhật, 23/2/2003
3 Phạm Huy Dũng, Tổng quan y tế tư nhân Việt Nam Hội thảo khoa học về y tế công - tư Việt Nam, Viện Chiến lược và chính sách y tế Hà Nội - 2003
4 Vụ Điều trị - Bộ y tế, Thống kê y tế tư nhân Hà Nội - 7/2003
5 Bệnh viện Triều An, Vạn Xuân, Báo cáo hoạt động năm 2002 Thành phố Hồ Chí Minh - 7/2003
6 Bệnh viện Tràng An, Báo cáo hoạt động năm 2002 Hà Nội - 7/2003
7 Heather Odonnell, Phát triển y tế tư nhân, Bài học kinh nghiệm từ các quốc gia Tài liệu tham khảo, Ban Quản lý Dự án, Bộ Y tế Hà Nội - 2002