1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giáo trình Mĩ thuật - Tập một (Những vấn đề chung về nghệ thuật tạo hình): Phần 2

61 11 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 61
Dung lượng 27,29 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phần 2 Giáo trình Mĩ thuật - Tập một (Những vấn đề chung về nghệ thuật tạo hình) gồm nội dung chương 6 đến chương 9, trình bày các nội dung về màu sắc, trang trí cơ bản, chữ mĩ thuật và mĩ thuật trang trí, bố cục.

Trang 1

CHƯƠNG VI MÀU SẮC

1 ÁNH SÁNG VÀ MÀU SẮC

Trong cuộc sống hàng ngày, xung quanh chúng ta đâu đâu cũng có màu sắc, nhờ có hình khối, màu sắc… mà chúng ta nhận biết ra vật thể và cảm nhận được chúng

Tự thân mỗi vật thể đều mang trên mình một màu riêng biệt Nhờ có thị giác và ánh sáng mà ta phân biệt được màu sắc đó, nhắm mắt lại hoặc trong đêm tối màu sắc không còn tồn tại nữa

Màu sắc thay đổi theo không gian, thời gian Màu sắc của vật tươi sáng hơn ngoài ánh nắng mặt trời, phai nhạt hoặc sẫm tối khi ở trong bong râm, phong canh buổi trưa, buổi sáng và buổi chiều cũng cho ta những sắc màu khác nhau Màu sắc thay đổi theo sắc thái tình cảm của con người , khi buồn ta có cảm giác mọi vật như u xám và khi vui thì ngược lại

- Ánh sáng mặt trời là những ánh sáng trắng khi chiếu qua bầu khí quyển mang hơi nước cho ta hiện tượng cầu vồng

- Ta biết ánh sáng mặt trời là ánh sáng trắng bới khi chiếu một chùm ảnh sáng trắng qua lăng kính, kết quả cũng cho ta 7 sắc cầu vồng như ở trong thiên nhiên

2.HỆ THỐNG MÀU SẮC

2.1.Màu gốc

Màu cầu vồng là màu có trong tự nhiên, theo quan điểm hội họa, dù thực

tế có hàng vạn, hàng triệu màu song chúng đều xuất phát từ ba màu gốc (màu cơ bản) đó là: Đỏ ,vàng và xanh lam Kết hợp 2 trong 3 màu trên ta có 3 màu nhị hợp: da cam (đỏ+ vàng), xanh lục (vàng+ lam) và tím (lam+đỏ)

2.2.Màu bổ túc

Trang 2

Màu bổ túc chỉ hai màu (trong 6 màu trên) khi đặt cạnh nhau nó có tác dụng bổ túc cho nhau, làm tăng độ tươi thắm của màu, làm cho màu trở nên đẹp hơn, mạnh mẽ hơn

Ta có các cặp màu bổ túc sau đây:

- Tím và xanh

- Xanh và lục đỏ

- Da cam và xanh lam

Trong lịch sử mĩ thuật, các họa sĩ ấn tượng đã triệt để khai thác đặc điểm trên của màu sắc khi đặt các nét bút màu bên nhau, gây ấn tượng mạnh mẽ và tươi sáng

Sự phân biệt màu nóng – lạnh chỉ là tương đối, nó thực sự có ý nghĩa khi

ta so sánh với màu cạnh đó, một màu sẽ làm lạnh khi ta so sánh với màu lạnh hơn

2.4.Màu tương phản

Là những màu đặt cạnh nhau nhưng khác nhau về sắc, về nóng lạnh, độ đậm nhạt, về tỉ lệ (to, nhỏ) đến mức đối chọi nhau nhưng lại làm tôn nhau lên Màu này làm nối bật màu kia Màu tương phản đặt cạnh nhau gây cảm giác tương đối mạnh, thường thu hút thị giác của người xem, người ta hay dùng tương quan này trong tranh cổ động hay tranh quảng cáo

Trang 3

3.CÁCH PHA MÀU VÀ SỬ SỤNG MÀU TRONG MÔN VẼ

3.1.Màu dân gian và màu hiện tại

Màu dân gian là màu trước kia ông cha ta thường dùng để vẽ tranh dân gian hoặc vẽ sơn mài

- Màu trắng :nghiền từ vỏ sò, vỏ trai đã được nung đốt

- Màu đen: lấy từ than rơm nếp, lá tre…

- Màu vàng: lấy từ quả giành giành, hoa hòe

- Màu đỏ : hoa hiên

- Màu xanh : lấy từ rỉ đồng…

Trang 4

Ba bức tranh trên được vẽ bằng màu nóng, màu lạng và màu tương phản

- Vàng ,bạc , đồng, son (lấy từ đá) thường dùng cho tô và dát sơn mài, tượng , trang trí đình chùa hoặc cung đình

Hội họa ngày nay thường sung máu lấy từ các khoảng chất, ví dụ: trâng kẽm, lam cô ban, vàng crôm, đỏ ca-mi-um… Những màu trên nếu nghiền kỹ với keo, đóng tuýp hoặc thỏi cho ta màu nước, để ở dạng bột ta gọi là bột màu, và nếu nghiền kỹ với dầu lanh đóng tuýp ta gọi là sơn dầu Dù màu ở dạng nào thì khi ta vẽ đều phải pha trộn trên bảng pha màu hay trên bức vẽ

3.2.Cách pha màu

Vẫn biết mọi màu sắc ở thực tế đều từ ba màu gốc đỏ, vàng, lam pha trộn

mà ra, song trong hộp màu, màu đã được pha sẵn bao giờ cũng nhiều hơn ba màu

cơ bản, số màu pha sẵn có khi lên tới 24 màu và nhiều hơn nữa

Dù nhiều hay ít , khi pha trộn để vẽ không nên pha trộn quá 3 màu có sẵn, tính chất khác nhau về hóa chất dễ làm màu bị đen, xám, không còn sắc nữa; Bút

vẽ ,nước rữa bút phải sạch trước khi lấy màu nước Sắp xếp màu pha trên bảng

Trang 5

pha màu trước khi vẽ lên tranh hoặc pha màu ngay trên tranh đối với màu đơn giản, cách pha này là vẽ tiếp màu thứ hai lên trên màu trước khi màu đó chưa khô, cách vẽ này màu dễ trong trẻo và thắm

Quan sát bảng pha màu dưới đây ta phần nào hiểu được cách pha màu

Trong hội họa, sự pha trộn để làm thay đối là hết sức quan trọng ví dụ: Hồng +vàng hồng ngả sang vàng

Hồng +lam – hồng ngả sang tím

Hồng +đỏ - hồng tuwoi…

Màu sắc trên một bức tranh có lúc rõ ràng, mạch lạc , tươi tắn, có lúc biến chuyển hết sức tinh tế Màu đẹp không chỉ phụ thuộc vào khả năng hay cảm xúc của từng người, mà sự rền luyện bao giờ cũng cho kết quả rõ rệt

3.3.Cách sử dụng màu trong môn vẽ

3.3.1.Màu nước

Là màu được chế tạo từ màu bột loại mịn, nghiền với các chất kết dính,đựng trong ống tuýp hoặc dạng bánh khô Pha màu nước với nước lã để vẽ,

vẽ mỏng, từ nhạt đến đậm dần, màu chồng lên nhau cũng có tác dụng pha màu,

vẽ nhiều quá hoặc di nhiều lần làm màu không còn trong trẻo nữa Giấy vẽ màu nước thường là giấy xốp, mặt giấy có ganh

Ta dùng màu nước để vẽ ký họa hoặc ghi chép tài liệu, vẽ tranh lụa, vẽ trên giấy dó, giấy xuyến chỉ v.v…

Trang 6

3.3.2.Màu bột

Là màu khô ở dạng bột, người ta thường đóng hộp bằng gỗ, chia ra nhiều ngăn để đựng, dùng nước sạch để rửa bút Khi vẽ người tap ha màu bột với keo, trước khi vẽ nên dùng bút lông hoặc dao để nghiền mịn Giống như màu nước, màu bột khi vẽ cho hiệu quả riêng: trong trẻo, mềm mại, mịn màng… khả năng diễn tả của bột màu khá phong phú, không thua kém sơn dầu là mấy nhược điểm cảu màu bột là nhanh khô, nên khi đang vẽ có hiện tượng chỗ khô, chỗ ướt gây khó khăn cho việc diễn tả tương quan, đậm nhạt và màu sắc; khi khô bột màu thường nhạt đi so với lúc ướt

Keo để pha bột màu phải có nồng độ vưa phải, khi xoa ngón tay lên bột màu đã khô thấy có một lớp phấn mỏng bám trên da tay là vừa độ, keo loãng làm bong bột màu, keo đặc làm bề mặt bột màu đanh lại màu xỉn và đục làm mất đi

Trang 7

tính chất mịn màng như nhung của bột màu, người ta vẽ bột màu trên giấy, bìa, vải gỗ…Nếu vẽ trên giấy mỏng thì trước khi vẽ người ta thường bôi giấy lên bảng cho phẳng, khi vẽ , nước không làm giấy nhăn nhúm

Người vẽ màu nước và bột màu cần tích lũy kinh nghiệm trong xử lí các tình huống, phát huy những ưu việt của chất liệu, vẫn có thể làm ra các tác phẩm đẹp và lưu giữ được lâu dài

Thực hành bài tập:

1.Lập bảng pha màu

Vẽ trên giấy A4 bảng pha màu gốc, màu nhị hợp có hai cách vẽ

- Hai hình tam giác đều giao nhau

- Ba hình tròn giao nhau

2 Lập bảng hòa sắc

Trang 8

Pha màu và vẽ nhanh, đơn giản các vật mẫu để có toàn bộ

Vẽ nhiều lần chú ý đến việc diễn tả có đậm nhạt và gam màu cho toàn bài Vận dụng những kiến thức về màu sắc đã học để làm bài

Vẽ xong cắt bài ra khỏi bản vẽ, gián lên một tờ giấy trắng to hơn, để chừ

bỏ sung quanh từ 7 đến 10cm

3.2.Vẽ phong cảnh

Học viên lựa chon một góc cảnh đơn giản, có màu sắc và bố cục đẹp để

vẽ

Trang 9

Thực hiện phác hình trên giấy như bài vẽ tĩnh vật

Vẽ màu từ nhạt tới đậm, vẽ đơn giản sau đó vẽ diễn tả kỹ hơn

Khi vẽ phải quan sát thật kỹ, ghi nhớ những sắc màu cơ bản của từng vật, từng chỗ Chủ động, sáng tạo trong quá trình vẽ( không quá lệ thuộc ,sao chép y như thực)

Vẽ đơn giản bằng những mảng màu lớn Có gợi chi tiết khi bài sắp hoàn thành Không sa đà vào diễn tả chi tiết làm giảm đi khả năng bao quát chung và toàn bộ

Lựa chọn gam màu chủ đạo để thể hiện

Vẽ xong bo bài như bài vẽ tĩnh vật

Trang 12

CHƯƠNG VII TRANG TRÍ CƠ BẢN

1.KHÁI QUÁT VỀ NGHỆ THUẬT TRANG TRÍ

1.1 Khái niệm, nguồn gốc

Trang trí là một phạm trù thẩm mĩ tồn tại từ rất xa xưa trong lịch sử loài người Nói một cách dễ hiểu: trang trí là “làm đẹp”, cụ thể là trang hoàng, bài trí,

tô vẽ… để đáp ứng nhu cầu của tinh thần

Mác- xim Goocs-ky đã từng nói:

“Mỗi người là một nghệ sĩ vì ở đâu, lúc nào, chỗ nào , con người cũng mong muốn làm đẹp cho cuộc sống của mình”

Con người khồn chỉ cần ăn no, mặc ấm mà còn đòi hỏi cuộc sống phải được tô điểm, đó là nhu cầu của bộ óc con người, thông qua thị giác

Kế từ khi con người ở trong hang động, biết dùng dụng cụ thô sơ để săn bắt, trồng trọt, con người đã có ý thức làm đẹp, nó thể hiện trong việc trang hoàng nơi ăn, chốn ở, tô điểm cho dụng cụ lao động… Trong các hang động có loài người sinh sống, từ hàng vạn năm nay người ta đã tìm thấy các hình khắc trên vách hang, động, mô tả cách săn bắn như hang Ô-ri –nhắc( miền nam nước Pháp); hình những con bò rừng ở hang Al-ta-mi-ra( Tây ban nha) hay hang Lat-scô (Pháp) Ngoài mục đích truyền bá kinh nghiệm săn bắn, nó còn làm trang trí cho nơi ở của họ

Người nguyên thủy việt nam cũng đã từng biết trang trí trên các đồ dùng hàng ngày Ở các di chí di hóa văn Điển,Thiệu dương Phùng nguyên người ta tìm thấy nhiều đồ gốm có hình hoa văn khác nhau:Hoa văn hình sóng ,hình nan thúng,hình quả tram, các đường nét hình sin… vô cùng phong phú

Trong thời kỳ đồ sắt, đồ đồng là các chuôi dao, lưỡi rìu , thân nỏ, các đồ vật thờ cúng… tiếp đó là việc trang trí ở các chùa chiền, cung điện thời trung cổ,

y phục , đồ trang sức… Trống đồng Ngọc Lũ là một điển hình

Trang 14

Ngày nay, trang trí lại càng trở nên thân thiết trong đời sống; Nơi ăn, chốn

ở, nơi làm việc, đồ dùng hàng ngày…tất cả đều đòi hỏi phải được thiết kế hình dáng, màu sắc, họa tiết cho thuận tiện, cho đẹp, cho hấp dẫn Trang trí ngội ngoại thất, thời trang, trang trí công nghiệp, trang trí điện ảnh, sân khấu, hội trường, trang trí sách báo, các ấn phẩm, trang trí mĩ thuật…đều có những ngành riêng và không ngừng phát triến

1.2 Tác dụng của trang trí

Mỗi dân tộc, mỗi giai cấp, mỗi vùng miền đều có những nhận thức về cái đẹp khác nhau Nhưng con người có một điểm chung là thích nhìn ngắm một ngôi nhà đẹp, một căn phòng đẹp, một bộ quần áo đẹp, một bức tranh đẹp…

Một căn phòng đẹp ,phong nhã,màu sắc êm dịu, ngăn nắp có hoa, có tranh treo tường sẽ làm tiêu tan đi mệt mỏi, căng thẳng sau một ngày lao động vất vả

Một môi trường làm việc gon gang, ngăn nắp, thuận tiện, màu sắc hấp dẫn, dụng cụ lao động đẹp đẽ… chắc chắn sẽ làm tăng năng suất lao động v v…

Trang 15

Một số quần áo đúng mốt, gọn gàng, thuận tiện, đồ dùng hợp thời trang…làm cho con người thấy tự tin trong giao tiếp và trong công việc sự tự tin

đó là cơ sở đầu tiên cho lao động sáng tạo và thành công

Rõ ràng trang trí có tác dụng to lớn đối với đời sống xã hội con người, nói lên mức sống, trình độ văn hóa,trình độ thẩm mĩ của họ

Cũng như các ngành nghệ thuật khác, trang trí luôn hưởng theo một mục đích nào đó, phục vụ cho một tâng lớp cụ thể, con người cụ thể, trong thời đại cụ thể Nó luôn biến động và không ngừng tiến tới

Trang trí luôn bám sát cuộc sống, trở thành đồng hành với cuộc sống Hiện đại hóa là một yêu cầu tất yếu trong thời đại của khoa học và công nghệ thông tin, song phải trên nền tảng văn hóa dân tộc, kế thừa những tinh túy của cha ông

để lại; Trang trí phải phù hợp vói phong tục, tập quán của địa phương của dân tộc phù hợp với môi trường và điều kiện kinh tế; trang trí phải mang tính dân tộc

Trang 16

2.CÁC NGUYÊN TẮC CHUNG CỦA BỐ CỤC TRANG TRÍ

Các nguyên tắc của trang trí được vận dụng trước hết vào trang trí hình cơ bản suy cho cùng thì tất cả các vật thể mà chúng ta thấy ở xung quanh mình đều

có hình khối, các hình khối lại được cấu tạo lên hàng trăm, hàng nghìn bề mặt, các bề mặt đa dạng và phong phú vô cùng Và cũng suy cho cùng thì dù có phức tạp bao nhiêu, các bề mặt cũng chỉ là biến dạng của hình vuông Hình trong mà thôi( vuông vắn, tròn trịa,vuông vức, tròn vành vạch, mẹ tròn, con vuông… là những từ chỉ sự hoàn thiện) như vậy hình tròn và hình vuông là những hình hoàn thiện, hình cơ bản, hình gốc cho mọi loại hình mảng

Minh họa trên đây cho ta thấy sự biến dạng của hình vuông và hình tròn cho ta hình chữ nhật, hình elip, hình tam giác hoặc hình thoi…

2.1 Trang trí cơ bản

Thông qua những bài tập về trang trí cơ bản, học sinh nắm được những nguyên tắc về bố cục Từ những thiên cửu thiên nhiên, con người học sinh cấu tạo thành hoa tiết, trang trí và bố cục cho hình cơ bản

Đó là cơ sở cho người làm trang trí cụ thể( vật dụng, trang phục, ngành nghề…) sau này

2.2 Các nguyên tắc bố cục trang trí cơ bản

2.2.1 Nguyên tắc đăng đối, cân đối

Trong một hình trang trí cụ thể, có một họa tiết, hoặc một cụm họa tiết, đối xứng nhau qua một hoặc hai đường trục, ta gọi sự sắp đặt đó dựa trên nguyên tắc đăng đối, cân đối

Trang 17

Trước hết ta chia hình trang trí ra hai hoặc bốn phần đều nhau qua điểm trọng tâm, sau đó đặt họa tiết vào một hình được chia, sao cho phù hợp rồi nối tiếp như thể với các mảng hình khác Đăng đối bao giờ cũng cho ta hưởng về trọng tâm, tạo sự cân bằng cho hình trang trí

Sự cân đối thường áp dụng trong lối trang trí đồng tâm( Mặt trống đồng Ngọc Lũ là một ví dụ)sự hưởng tâm của các họa tiết hình kỷ hà, chuyển động cùng hưởng cho ta cảm giác động nhưng cân đối và yên tĩnh Trang trí đồng tâm

ta không tìm thấy đường trục, nhưng lại cho ta cảm giác cân bằng, vững chãi

2.2.2 Nguyên tắc nhắc lại và xoay chiều

Nhắc lại là một nhóm họa tiết hay một họa tiết được lặp lại nhiều lần, giữ nguyên hoặc xoay chiều, đối hưởng Đây cũng là một yếu tổ làm nên sự đăng đối( khi các họa tiết đối nhau qua một đường trục nào đó)

Trang trí hình cơ bản, các họa tiết được nhắc lại nằm trong những hình được phân chia, còn trong trang trí đường điểm, chúng lặp lại và kéo dài

Trang 19

2.2.3.Nguyên tắc phá thế

Phá thể có nghĩa là làm thay đổi về chiều hưởng của hình, làm giảm đi sự chênh lệch về màu sắc, đậm nhạt của các mảng hình, tạo sự cân bằng cho thị giác

Trong bố cục trang trí, sự lặp lại quá nhiều của đường hưởng, của màu, của đậm nhạt dễ làm cho mắt nhìn cảm giác nhàm chán Sự hài hòa giữa đường cong và đường thẳng,giữa màu tươi và màu giữa các hình sắc nhọn và hình tròn trặn đó là ta đã sử dụng những nguyên tắc phá thế

Trong bố cục hình trang trí, ta có thể vận dụng một hay nhiều nguyên tắc trang trí, các nguyên tắc này không thể hiện một cách cứng nhắc, mà dường như

sự xuất hiện của nguyên tắc này đã chứa đựng cả nguyên tắc kia; mục đích của việc vận dụng của các nguyên tắc trên là tạo ra một bố cục trang trí cân xứng nhịp nhàng, đẹp mắt Nắm vững các nguyên tắc này, ta có thể vận dụng nó trong học tập và sáng tác mĩ thuật chứ không chỉ riêng với bộ môn trang trí

Trang 20

Thực hành bài tập

BÀI TẬP 1 TRANG TRÍ ĐƯỜNG ĐIỂM

1 Đường điểm và các nguyên tắc bố cục

1.1 Đường điểm trong thực tế

Đường điểm là một hình thức trang trí, xuất hiện thường xuyên trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta:Đường điểm trên trống đồng cổ, đường điểm quanh những tấm bia, trên bục tượng, trên kiến trúc đình làng…Đường điểm trên váy

áo của trang phục dân tộc, trên khăn ren trải bàn, quanh lớp học mẫu giáo v.v bất cử ở đâu, lúc nào chúng ta cũng có thể bắt gặp những trang trí đường diềm Hình thức của đường diềm vô cùng phong phú muôn hình, muôn vẻ Mỗi mục đich sử dụng khác nhau đường diềm lại có hình thức thể hiện khác nhau, nội dung họa tiết khác nhau Ngay trên một vật trang trí có nhiều đường diềm thì mỗi đường diềm cũng có những nội dung và cách thể hiện khác nhau

Trang 21

1.2 Khái niệm

Đường diềm là một dải trang trí kéo dài liên tục được trang trí dựa trên nguyên tắc trang trí cơ bản

1.3 Các nguyên tắc trang trí bố cục đường diềm

1.3.1 Nguyên tắc nhắc lại, xoay chiều

Dùng một hay nhóm họa tiết lặp lại xếp cạnh nhau và kéo dài cũng có thể một nhóm họa tiết này, đặt cạnh một nhóm họa tiết kia, giữ nguyên hoặc xoay chiều và nhắc lại nhiều lần

Trang 22

Nguyên tắc nhắc lại cũng được áp dụng cả với màu sắc, khi các họa tiết được tô màu, tạo cho đường diềm không những có nhịp điệu của hình mà còn có

cả nhịp điệu của màu, làm cho đường diềm chuyển động nhịp nhàng, uyển chuyển

1.3.3 Nguyên tắc đối xứng

Đường diềm không có trục đối xứng; đối xứng chỉ xảy ra trong từng họa tiết hay từng cặp họa tiết Từng họa tiết hoặc nhóm họa tiết dựa vào các trục đối xứng mà lặp lại, mà xoay quanh và chuyển động Sự đối xứng trên tạo ra sự cân đối và vững chải cho đường diềm

Việc vận dụng một hay nhiều các nguyên tắc trang trí vào trang trí đường diềm là tùy thuộc vào nội dung và hình thức do yêu cầu thực tế đặt ra

1.4 Giới hạn của đường diềm

Khac với các hình trang trí khác, đường diềm chỉ dưởi hạn về chiều cao, chỉ giới đó có thể là nơi kết thúc của các họa tiết, một đường thẳng bằng màu , hay một nẹp họa tiết là do ý đồ của người sáng tác đặt ra Đây là giới hạn cổ định, không đối Giới hạn theo chiều phát triến của họa tiết (chiều ngang) là vô hạn, nó tùy theo đường diềm nó nằm ở đâu và khi nào đường diềm được ngắt

1.5 Họa tiết đường diềm

Họa tiết đường diềm là các họa tiết trang trí được ghi chép, chọn lựa, đơn giản, cách điệu mà thành: hoa lá, côn trùng, chim cá, con vật, người, cây cối , phong cảnh,… tùy thuộc theo nội dung trang trí mà lựa chọn họa tiết cho phù hợp với môi trường, tâm sinh lý nguời sử dụng

1.6.Màu sắc đậm nhạt

Trang 23

Đường diềm chỉ mang mục đích trang trí cho đồ vật, nhà cửa, nó là thành phần phụ nên bởi vậy nó được tô điểm bằng màu sắc nhẹ nhàng, thanh thoát là chính( khác với đường diềm chung, đường diềm trên trang phục của người dân tộc thường được thêu bằng sắc màu nguyên chất mạnh mẽ và dứt khoát)

Bởi vậy hòa sắc của đường diềm cần được lựa chọn một cách tinh tế và hài hòa, sao cho đường diềm không ảnh hưởng đến hình khối, cấu trúc của vật thể, hoàn toàn phù hợp với yêu cầu sử dụng

2 Phương pháp tiến hành

2.1 Đề bài

Vẽ một đường diềm trang trí lớp mầu giáo, có kích thước là 10,5 x28(cm) trên giấy A4 giáo viên hưởng dẫn học sinh làm tiếp ngoài giờ

- kẻ khuôn hình : bố cục sao cho cân đối

- tìm một hoặc nhiều họa tiết, sắp xếp thành nhóm

- Căn hình lên giấy( trên khổ giấy cho trước, tổi thiểu chiều ngang phải đặt được 2,5 n hóm họa tiết trở lên)

- Vẽ màu: chọn màu sắc phù hợp với đề tài để tô màu

- Vẽ nét viền họa tiết (nếu có)

Trang 24

BÀI 2 TRANG TRÍ CÁC HÌNH CƠ BẢN

1 Đặc điểm và việc vận dụng các nguyên tắc trang trí và trang trí hình cơ bản

chúng ta biết hình vuông và tròn là những hình học sơ bản, muốn trang trí chúng, chúng ta phải hiểu cấu tạo, đặc điểm riêng biệt của chúng, mới có thể tìm

ra phương thức trang trí cho phù hợp

1.1 Đặc điểm của hình vuông và hình tròn

Hình vuông có 4 cạn bằng nhau, 4 góc vuông, nó là hình ngoại tiếp của hình tròn và hình vuông nhỏ hơn của nó( ta có thể phân chia hình vuông ra nhiều phần bằng nhau bằng cách kẻ đường chéo hoặc các đường thẳng đi qua điểm giữa các cạnh góc vuông)

Hình tròn có chu vi là một đường tròn cách đều tâm Nó là hình ngoại tiếp của hình vuông, ta có thể chia hình tròn thành hai hình bán nguyệt hoặc hình quạt bằng nhau, bằng cách kẻ các đường kính qua tâm dựa vào các đặc điểm trên đây ta có thể chia hình tròn và hình vuông ra nhiều phần bằng nhau để trang trí

1.2 Các nguyên tắc bố cục trang trí

Trang trí hình học cơ bản vận dụng các nguyên tắc chung của bổ cục trang trí Song đi vào cụ thể ta có thể tìm hiểu sâu hơn một vài cách ứng dụng mang tính mở rộng để bài tập thêm phong phú và hấp dẫn

1.2.1 Nguyên tắc đăng đối: Sự đăng đối luôn đòi hỏi một đườn trục ta có

3 cách hiểu khác nhau:

- Đăng đối đơn: đăng đối chỉ có một đường trục

- Đăng đối kép: có hai hoặc nhiều đường trục

- Đăng đối giả: có sự đăng đối nhưng khó xác định được đường trục, hoặc khi gập đôi qua đường trục, hai hình không trùng khít nhau

Trang 25

Tùy theo ý đồ bố cục, tùy theo họa tiết ta có thể chọn cách đăng đối cho hình trang trí của mình

1.2.2 Nguyên tắc nhắc lại và xoay chiều

Việc chia hình cơ bản ra nhiều phần bằng nhau có mục đích nhắc lại các họa tiết; ta cũng có thể dùng nguyên tắc xoay chiều nếu cần thiết làm cho họa tiêt thêm phong phú và ưa nhìn

1.2.3 Nguyên tắc xen kẽ

khi vận dụng nguyên tắc xen kẽ vào trang trí hình cơ bản, cần quan tâm đến khoảng trống giữa các họa tiết, sự dày đặc hay thưa doãng họa tiết đều làm kém hiệu quả của bài tập Ta lựa chọn hoa tiết sao cho khi đặt cạnh nhau chúng

Trang 26

hài hòa giữa mảng màu và nền, xen kẽ hai hay nhiều họa tiết ta luôn quan tâm đến khoảnh trống giữa chúng đẻ khoảng trống đó tạo ra một hình mới, làm tăng thêm sự phong phú và hấp dẫn của hình trang trí

2 Họa tiết và màu sắc

2.1 Họa tiết trang trí

Trang 27

- Trên một hình trang trí, họa tiết trang trí phải được thống nhất( theo nghĩa lý giải) Ví dụ: ta có thể dùng hoa, lá, quả làm một tổ hợp họa tiết cho một hình Cũng có thể kết hợp hoa,lá quả với côn trùng như ong, bướm, chuồn chuồn… Nếu như họa tiết chính là cá thì đi với chúng là rong, rêu, và cây cỏ sống trên mặt nước… chính vì thể nếu ta chọn họa tiết cho một hình trang trí cũng có cá và chim là không thống nhất

- Họa tiết phải đơn giản và cách điệu từ những ghi chép và chọn lọc

từ thực tế, tránh dùng hình thực làm họa tiết trang trí

2.2 Màu sắc , đậm nhạt

Thường thì ta hay chọn màu sắc có cùng sắc thái, cung nóng hoặc cùng lạnh để trang trí, màu sắc dễ nhuần nhuyễn và hấp dẫn Phải rất thận trọng khi sử dụng những màu nguyên chất trong một trang trí vì rất khó tạo ra sự hòa hợp

3 Phương pháp tiến hành

- Tìm họa tiết

- Làm nhiều phác thảo bằng bút chì( sắp xếp họa tiết vào hình cơ bản)

- Dựa vào phác thảo nhỏ để tìm màu, chú ý phân bố màu và đậm nhạt

để làm nối rõ trọng tâm của hình trang trí

- Tìm hình to bằng khổ hình yêu cầu, tìm họa tiết cho một khổ hình trang trí đã được chia ,sau đó dùng giấy can chuyển hình sang ô khác

- Quét màu nền theo phác thảo đã chọn, can hình từ bản tìm hình xuống nền màu

- Thể hiện bằng màu đã nghiền kỹ, sao cho màu phẳng, ke gọn và trung thực với màu phác thảo

Sinh viên có thể vẽ trang trí hình vuông hoặc hình tròn, vẽ ở lớp, dưới sự giúp đỡ của giáo viên, còn hình kia làm ngoài giờ

- Hình vuông có cạnh 18 cm

- Hình tròn có đường kính 18 cm

- Bố cục trên giấy A4

BÀI 3 VẬN DỤNG VỐN CỔ TRONG TRANG TRÍ

1 Một vài nét về vốn cổ trong dân tộc

Mỗi nước, mỗi dân tộc đều có một truyền thống lịch sử và văn hóa lâu dài

Đó là tinh thần , truyền thống dân tộc, những tinh hoa về văn hóa, nghệ thuật… truyền từ đời này sang đời khác, nó được thể nghiệm, chắt lọc và ngày càng hoàn thiện

Vốn cố dân tộc mà mĩ thuật nghiên cứu đó là những công trình kiến trúc đình chùa, những tác phẩm điêu khắc, những bức tranh Đông hồ, hàng Trống, những sản phẩm dệt may sẵn mang trong mình nghệ thuật trang trí tuyệt đẹp, sức sáng tạo tài ba vô cùng phong phú của dân tộc

Nghệ thuật bắt nguồn từ cuộc sống, do bàn tay và khối óc của người lao động sáng tạo nên, bới vậy nó có một sức sống mạnh liệt, nó gần gũi và gắn bỏ với mọi người, nó chi phối nếp nghĩ, thói nghĩ và tư duy của thế hệ kế thừa

Trang 28

Những người làm công tác nghệ thuật lấy vốn cổ dân tộc làm gốc, làm chỗ dựa cho sáng tác của mình.Nhiệm vụ của họ là kế thừa và phát triến truyền thống quý báu đó

Đối với bộ môn trang trí, nghiên cửu và ghi chép vốn cổ dân tộc là những bài học đầu tiên cho sáng tác Nghiên cửu ghi chép không phải là sao chép một cách máy móc mà để phát hiện ra cái đẹp, cái tinh hoa vốn cổ rồi từ đó phát huy

và vận dụng vào sáng tác của mình

Vốn cổ mà cha ông để lại là những hình đắp, những đường cong tuyệt vời của mái đình, mái chùa ,của những bức chạm khắc tài ba khéo léo, muôn hình muôn vẻ trên kèo, trên cột, trên mái hồi, đầu đao…Những vật dụng mang trên mình vô vàn mô tuýp trang trí như: trống đồng, thạp đồng, lọ gốm… ở đâu chúng ta cũng bắt gặy p vốn cổ và được tiếp xúc với cái hay cái đẹp của nó

2.Vận dụng vốn cổ trong trang trí

2.1 Tìm hiểu , nghiên cửu và ghi chép vốn cổ

Trang trí thường quan tâm đến các mô tuýp trang trí, các họa tiết mà ông cha ta để lại trên vốn cổ

Ví dụ: trên mặt trống đồng Ngọc Lũ là một tác phẩm trang trí tuyệt vời, với lối diễn tả họa tiết hình kỷ hà, người và vật được cách điệu cao, sắp đặt tài tình và hấp dẫn

Trọng tâm mặt trống là hình mặt trời và 14 cánh tỏa rộng giữa các cạnh được xen kẽ các họa tiết lông công, tỏa rộng hơn là những vòng hoa văn hình học Đáng chú ý nhất là 3 vành hoa văn diễn tả sinh hoạt của con người, của chim, của thú Tất cả nối tiếp nhau cùng chuyển động theo hưởng ngược chiều kim đồng hồ

Họa tiết kỷ hà khúc triết đơn giản và được cách điệu cao Đó là vốn họa tiết phong phú và quý giá để chúng ta khai thác làm họa tiết trang trí cho các bài học của mình Những họa tiết kỷ hà này chúng ta còn thấy phảng phất trên các hoa văn váy áo của phụ nữ các dân tộc Mường, Dao, Mông, các dân tộc Tây Nguyên

Đối tượng mà cha ông chúng ta chọn làm họa tiết trang trí chủ yếu vẫn là con người với những hoạt động cuả họ, cạnh đó là các con vật trong tứ linh: Rồng, Quy , Ly, Phượng, các con vật gần với con người như: Trâu, bò, gà ngựa… con mèo, con cá, con chim… Những hoa lá, mây nước được cách điệu và chắt lọc Đó là những họa tiết trang trí mà chúng ta có thể khai thác làm họa tiết cho bài học của mình

Trang 29

2.2.Vận dụng trong trang trí

Trước hết chúng ta học cách quan sát, chắt lọc và cách điệu từ những thứ bình thường, gắn bó với cuộc sống hàng ngày thành những họa tiết trang trí, cách diễn đạt làm cho các họa tiết đó vừa điển hình, vừa sống động

Đường nét trong vốn cổ rất dứt khoát, khỏe khoắn và linh hoạt nhưng không kém phần mềm mại, uyển chuyển, phân bố hình to, hình nhỏ, xen kẽ một cách khéo léo, tạo sự phong phú và hấp dẫn

Tìm hiểu cách sắp đặt các họa tiết tạo ra khoảng đầy khoảng rộng, âm dương gắn kết chặt chẽ, những đường lượn nhịp nhàng, uyển chuyển…

Ghi chép các họa tiết đẹp, phù hợp bằng những nét chu vi hay bằng màu

sử dụng để làm họa tiết trang trí cho mình

Sáng tạo họa tiết mới dựa trên cấu trúc và cách thức của các họa tiết trong vốn cổ dân tộc

Trong một bài trang trí cơ bản hay trang trí cụ thể ( khay đựng, khăn bàn, vải hoa…), việc sử dụng vốn cổ làm họa tiết trang trí phải đảm bảo tính nhất quán trong phong cách, về kiểu loại họa tiết, để bài vẽ hoàn thiện về kết cấu hình thức, chặt chẽ và vững vàng về nội dung diễn đạt

Bài tập thực hành:

Trang 30

Học sinh tập chép vốn cổ trên bản dập ở lớp- giáo viên hưởng dẫn cách chia đoạn, phân mảng họa tiết, cách ghi chép bằng nét chu vi

Học sinh tập ghi chép ở thực tế nơi có vốn cổ dân tộc

Ghi chép bằng bút chì trên giấy A4

Học sing tự lựa chọn họa tiết hay nhóm họa tiết riêng biệt làm vốn cho họa tiết trang trí của mình

Ngày đăng: 18/05/2021, 17:58

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w