1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu ảnh hưởng của khuyến nông đến phát triển sản xuất của nông hộ trên địa bàn huyện quốc oai TP hà nội GVHD

108 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu ảnh hưởng của khuyến nông đến phát triển sản xuất của nông hộ trên địa bàn huyện quốc oai TP hà nội
Tác giả Tạ Thị Thiều
Người hướng dẫn TS. Trần Văn Đức
Trường học Trường Đại học Lâm Nghiệp
Chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2014
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 1,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA KHUYẾN NÔNG ĐẾN PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT CỦA NÔNG HỘ Theo nghĩa rộng: KN ngoài việc hướng dẫn cho nông dân biết tiến bộ KH-KT còn phải g

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là luận văn nghiên cứu của riêng tôi Các lập luận

và số liệu nêu trong luận văn là trung thực, đảm bảo tính khách quan khoa học dựa trên kết quả khảo sát thực tế và các tài liệu tham khảo đã công bố Đề tài

và các tư liệu được sử dụng trong luận văn không trùng lặp với bất cứ công trình khoa học nào đã được công bố trước đó

Hà Nội, ngày 24 tháng 10 năm 2014

Tác giả

Tạ Thị Thiều

Trang 2

TS Trần Văn Đức, giảng viên Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, người đã tận tình hướng dẫn, dìu dắt, chỉ bảo tôi trong suốt quá trình thực tập để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến UBND Huyện Quốc Oai, Trạm KN Quốc Oai, Cán bộ KN các xã và đặc biệt là các hộ nông dân trên địa bàn huyện đã nhiệt tình, tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để tôi có thể

dễ dàng nghiên cứu và thực hiện đề tài

Mặc dù đã hết sức cố gắng, nhưng do nhiều lý do khách quan và chủ quan nên luận văn không thể tránh khỏi những sai sót Tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và các độc giả để luận văn của mình có thể hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 24 tháng 10 năm 2014

Tác giả

Tạ Thị Thiều

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục các từ viết tắt vi

Danh mục các bảng vii

Danh mục các hình viii

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA KHUYẾN NÔNG ĐẾN PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT CỦA NÔNG HỘ 4

1.1 Cơ sở lý luận ……….4

1.1.1 Một số khái niệm có liên quan đến KN 4

1.1.2 Vai trò của công tác KN 5

1.1.3 Nội dung của công tác KN 7

1.1.4 Các nguyên tắc hoạt động KN 9

1.1.5 Các phương pháp của KN 11

1.1.6 Ảnh hưởng của công tác KN đến phát triển sản xuất của nông hộ 11 1.2 Cơ sở thực tiễn ……… ……….21

1.2.1 Quá trình hình thành và phát triển của KN trên thế giới 18

1.2.2 Hoạt động KN ở Việt Nam và một số địa phương 21

1.2.3 Các nghiên cứu liên quan 27

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29

2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu ……… 31

2.1.1 Giới thiệu chung về địa bàn nghiên cứu 29

Trang 4

2.1.2 Đặc điểm tự nhiên 29

2.1.3 Đặc điểm kinh tế - xã hội 33

2.2 Phương pháp nghiên cỨu 42

2.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu, khảo sát 42

2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu 43

2.2.3 Phương pháp phân tích thông tin 44

2.2.4 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 46

Chương 3 NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA KHUYẾN NÔNG ĐẾN PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT CỦA NÔNG HỘ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN QUỐC OAI – TP HÀ NỘI Error! Bookmark not defined 3.1 Giới thiệu về trạm biến áp huyện Quốc Oai - TP Hà Nội ………… 48

3.1.1 Bộ máy tổ chức và nguồn lực 48

3.1.2 Kết quả hoạt động công tác KN 54

3.2 Ảnh hưởng của KN đến phát triển sản xuất của nông hộ trên địa bàn huyện Quốc Oai - TP Hà Nội ……… 57

3.2.1 Ảnh hưởng của KN đến việc thay đổi nhận thức của nông hộ 59

3.2.2 Ảnh hưởng của KN đến việc đưa tiến bộ KH-KT vào sản xuất nông nghiệp 63

3.2.3 Ảnh hưởng của KN đến xây dựng nông thôn mới 66

3.2.4 Ảnh hưởng của KN đến thu nhập của người nông dân 70

3.2.5 Ảnh hưởng của KN đến chuyển dịch cơ cấu sản xuất kinh tế nông nghiệp 72

3.2.6 Ảnh hưởng của KN đến việc củng cố lòng tin của Nhân dân đối với chính sách KN 75

3.2.7 Ảnh hưởng của khuyến nông đến phát triển sản xuất về chất và lượng 77

3.2.8 Kết quả và hiệu quả phát triển sản xuất của hộ 80

Trang 5

3.3 Đánh giá của cán bộ và nông dân về ảnh hưởng của KN đối với phát

triển sản xuất của nông hộ ……….78

3.3.1 Đánh giá của cán bộ 82

3.4 Đánh giá chung 86

3.5 Định hướng, quan điểm và một số giải pháp phát triển hoạt động khuyến nông trên địa bàn huyện Quốc Oai - TP Hà Nội ……… 82

3.5.1 Định hướng phát triển 87

3.5.2 Quan điểm phát triển 87

3.5.3 Giải pháp phát triển 88

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 94 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

UBND Ủy ban nhân dân

MHTD Mô hình trình diễn

HTXNN Hợp tác xã nông nghiệp

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

2.1 Dân số huyện Quốc Oai từ năm 2011 đến năm 2013 34 2.2 Tổng hợp thực trạng phát triển kinh tế 37

3.1 Thực trạng lực lượng cán bộ KN tham gia hoạt động KN

trên địa bàn huyện Quốc Oai năm 2012

51

3.2 Kết quả hoạt động đào tạo, tập huấn từ năm 2010 – 2012 54

3.3 Kết quả thực hiện các MHTD lúa của Trạm ở 05 xã từ năm

3.4 Kết quả tham quan hội thảo qua 03 năm (2010-2012) 57

3.5 Kết quả hoạt động thông tin tuyên truyền từ năm

2010-2012

58

3.6 Nhận thức của nông dân khi có khuyến nông 62 3.7 Ảnh hưởng đến việc đưa tiến bộ KHKT 65 3.8 Ảnh hưởng của KN đến xây dựng Nông thôn mới 67 3.9 Khuyến nông đến xây dựng Nông thôn mới 69 3.10 Thu nhập bình quân đầu người của huyện 69 3.11 Ảnh hưởng đến thu nhập của người dân 71

3.12 Ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ sản xuất kinh tế nông

3.15 Đánh giá của cán bộ về ảnh hưởng của KN đến phát triển

Trang 8

DANH MỤC CÁC HÌNH

1.1 Sơ đồ hệ thống tổ chức KN Việt Nam 24 2.1 Bản đồ hành chính huyện Quốc Oai – Hà Nội 29 3.1 Sơ đồ hệ thống tổ chức hoạt động của Trạm KN huyện 49

Trang 9

ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nước ta hiện nay, nông nghiệp vẫn giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế

quốc dân Do đó, muốn phát triển kinh tế của đất nước trong thời điểm hiện nay,

không thể không quan tâm đến phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn và hạt nhân đầu tiên là kinh tế nông hộ Có thể khẳng định rằng trong quá trình phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn, kinh tế hộ gia đình giữ vai trò quan trọng không thể thiếu Nó là đơn vị kinh tế đặc thù và phù hợp với thực trạng phát triển sản xuất nông nghiệp ở nước ta hiện nay Trong những năm qua, cùng với sự chuyển đổi mạnh mẽ về cơ cấu tổ chức quản lý kinh tế của Nhà nước, kinh tế hộ được coi trọng và nó đã thúc đẩy sự phát triển của ngành nông nghiệp nước ta Sản xuất nông nghiệp giữ một vị trí quan trọng trong phát triển kinh tế của đất nước, góp phần vào sự ổn định và tăng trưởng kinh tế quốc gia Tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế ở nước ta năm 2012 là 5,42%, trong đó khu vực nông - lâm - thủy sản tăng 2,67% Sự tăng trưởng của nông nghiệp như trên có sự đóng

góp không nhỏ của khuyến nông (KN) trong phát triển kinh tế hộ

Hiện nay, khoa học kỹ thuật ngày một phát triển Những kỹ thuật tiến bộ (KTTB) ngày một nhiều trong khi điều kiện và trình độ sản xuất của một bộ phận không nhỏ nông dân còn yếu, các kênh thông tin đến được với người dân còn ít và thiếu đồng bộ Mặt khác, các nông hộ còn gặp nhiều rủi ro do thiên tai và dịch bệnh Tất cả khiến cho thu nhập trung bình của các hộ nông dân còn thấp, đời sống chưa đảm bảo và ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng kinh tế nông nghiệp, nông thôn

Do đó, muốn giải quyết được các vấn đề trên cần phải có sự hỗ trợ của các hoạt động khuyến nông mà việc chuyển giao công nghệ, KTTB, kiến thức nông nghiệp và đào tạo tay nghề cho người dân là một vấn đề cốt lõi.Hệ thống

KN - Khuyến ngư Việt Nam chính thức được hình thành từ năm 1993 KN có vai trò quan trọng trong việc đào tạo tay nghề cho nông dân, tuyên truyền chủ

Trang 10

chương chính sách về nông nghiệp, truyền bá kiến thức, kỹ thuật, kinh nghiệm sản xuất cho nông dân Qua gần 20 năm xây dựng và phát triển, KN

đã và đang khẳng định vị thế quan trọng của mình trong chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn Mạng lưới KN đã phát triển rộng khắp trên cả nước với 100% số tỉnh, thành phố đều có Trung tâm KN Điều đó đã mang đến một diện mạo mới cho nông nghiệp, nông thôn Việt Nam, hiện đại và năng động hơn; Kinh tế các hộ nông dân cải thiện hơn, nhận thức của hộ cũng chủ động

và cầu thị hơn Ngày nay, KN đã là địa chỉ tin cậy và là người bạn đồng hành không thể thiếu của bà con nông dân cả nước nói chung và ở huyện Quốc Oai nói riêng

Quốc Oai là huyện mà thu nhập của người dân chủ yếu từ sản xuất nông nghiệp và còn thấp Vì vậy, việc nâng cao hiệu quả hoạt động KN rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của huyện Đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay, khoa học - kỹ thuật (KH-KT) ngày càng hiện đại mà trong

đó điều kiện và trình độ sản xuất của nhiều người dân còn yếu, các kênh thông tin đến với các hộ nông dân còn ít và thiếu đồng bộ, hiệu quả sản xuất chưa cao Do đó vấn đề nâng cao kiến thức sản xuất, kinh nghiệm quản lý, thông tin thị trường, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật đến các hộ nông dân là một yêu cầu bức thiết trong phát triển kinh tế - xã hội

Vậy ảnh hưởng của công tác KN đến phát triển sản xuất của nông hộ trên địa bàn huyện như thế nào? Các hoạt động KN đã có những tác động gì đến kinh tế hộ nông dân của huyện? Cần phải làm gì để đẩy mạnh hoạt động

KN cơ sở? Để trả lời những câu hỏi này tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:

"Nghiên cứu ảnh hưởng của khuyến nông đến phát triển sản xuất của nông hộ trên địa bàn huyện Quốc Oai - TP Hà Nội”

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

2.1 Mục tiêu chung

Trang 11

Trên cơ sở phân tích ảnh hưởng của khuyến nông đến phát triển sản xuất của hộ nông dân trên địa bàn huyện Quốc Oai, từ đó đề xuất giải pháp nhằm nâng cao ảnh hưởng của khuyến nông đến phát triển sản xuất của hộ trên địa bàn huyện trong những năm tới

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu ảnh hưởng của công tác KN đến phát triển sản xuất của nông hộ

Số liệu được sử dụng chủ yếu trong phạm vi 04 năm: 2010, 2011, 2012,

2013 và một số thông tin từ các năm trước phục vụ cho việc phân tích, đánh giá

Trang 12

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA KHUYẾN

NÔNG ĐẾN PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT CỦA NÔNG HỘ

Theo nghĩa rộng: KN ngoài việc hướng dẫn cho nông dân biết tiến bộ KH-KT còn phải giúp họ liên kết với nhau để phòng chống thiên tai, để có vật

tư kỹ thuật, để sản xuất, để tiêu thụ sản phẩm, để thi hành chính sách của Chính phủ và luật lệ của Nhà nước, giúp cho nông dân phát triển khả năng tự quản lý, tổ chức cuộc sống một cách tốt nhất

Trên thế giới, từ “Extension” được sử dụng đầu tiên ở nước Anh năm

1866 có nghĩa là “mở rộng, triển khai” Từ “Extension” ghép với từ

“Agriculture” thành “Agriculture Extension” thì được dịch là “KN”

Theo nghĩa cấu tạo của từ ngữ Hán - Việt thì “KN” là những hoạt động nhằm khuyến khích, giúp đỡ và tạo điều kiện để phát triển sản xuất nông nghiệp trên tất cả các lĩnh vực: Trồng trọt, chăn nuôi, lâm sinh, thuỷ sản ở nông thôn

Theo định nghĩa của Trung tâm KN quốc gia (TTKNQG) thì: KN là một quá trình, một dịch vụ thông tin nhằm truyền bá những chủ trương, chính sách về nông nghiệp, những kiến thức về kỹ thuật, kinh nghiệm tổ chức và quản lý sản xuất, những thông tin về thị trường giá cả, rèn luyện tay nghề cho nông dân, để họ có đủ khả năng tự giải quyết vấn đề của sản xuất, đời sống,

Trang 13

của bản thân họ và cộng đồng, nhằm phát triển sản xuất, nâng cao dân trí, cải thiện đời sống và phát triển nông nghiệp nông thôn

Như vậy, KN là cách giáo dục không chính thức ngoài học đường cho nông dân, là cách đào tạo người lớn tuổi KN là quá trình vận động quảng bá, khuyến cáo cho nông dân theo các nguyên tắc riêng Đây là một quá trình tiếp thu dần dần và tự giác của nông dân Nói cách khác, KN là những tác động vào quá trình sản xuất kinh doanh của người nông dân, giúp họ sản xuất đạt hiệu quả cao nhất Nội dung của hoạt động KN phải khoa học, kịp thời và thích ứng với điều kiện sản xuất của người nông dân

1.1.1.2 Khái niệm hộ nông dân

Hộ nông dân là hộ có phương tiện kiếm sống từ ruộng đất, sử dụng chủ yếu lao động gia đình vào sản xuất, luôn nằm trong một hệ thống kinh tế rộng hơn, nhưng về cơ bản được đặc trưng bởi sự tham gia từng phần vào thị trường với mức độ hoàn hảo không cao

Ngoài ra, còn có thể hiểu, hộ nông dân là những hộ sống ở nông thôn,

có ngành nghề sản xuất chính là nông nghiệp, nguồn thu nhập và sính sống chủ yếu bằng nghề nông; Ngoài hoạt động nông nghiệp, hộ nông dân còn tham gia các hoạt động phi nông nghiệp như: Tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ…ở các mức độ khác nhau

1.1.1.3 Khái niệm phát triển sản xuất

Sản xuất của cải vật chất là hoạt động chủ yếu trong các hoạt động kinh

tế của con người Sản xuất là quá trình làm ra sản phẩm để sử dụng, hay để trao đổi trong thương mại Quyết định sản xuất dựa vào những vấn đề chính sau: Sản xuất cái gì? Sản xuất như thế nào? Gía thành sản xuất và làm thế nào

để tối ưu hóa việc sử dụng và khai thác các nguồn lực cần thiết làm ra sản phẩm

1.1.2 Vai trò của công tác KN

Thứ nhất, KN có vai trò to lớn cho phát triển bền vững nông nghiệp và

nông thôn Nông thôn nước ta chiếm tới 76,5% dân số, 55% lực lượng lao

Trang 14

động, gần 40% GDP của cả nước, 90% tài nguyên đất, nước và rừng KN góp phần tạo việc làm, sinh kế kiếm sống của đại đa số dân số và lao động của cả nước, góp phần quản lý, sử dụng và bảo tồn các tài nguyên đất, nước, sinh vật quốc gia Thông qua các chương trình, dự án KN nhằm tăng cường sự tham gia, tính độc lập, tự chủ, tự cường của cộng đồng cư dân trong giải quyết các vấn đề về kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường của địa phương

Thứ hai, KN góp phần thúc đẩy nhanh quá trình xóa đói, giảm nghèo

trong nông thôn Hiện nay, tỷ lệ hộ nghèo ở nông thôn chiếm khoảng 20%,

cao gấp 4 lần so với thành thị; 90% số người nghèo đang sống ở khu vực nông thôn KN góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, công nghiệp hóa nông thôn, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, phát triển kinh tế nông thôn, tạo điều kiện để người dân thoát nghèo Các hoạt động KN giữ vị trí trọng tâm của hầu hết các chương trình, dự án xóa đói giảm nghèo ở các địa phương

Thứ ba, đại đa số nông dân đang rất cần kiến thức và thông tin KN là

giải pháp để đáp ứng nhu cầu đó Nông dân ở các vùng thiên tai, khó khăn,

vùng sâu, vùng xa đang cần kiến thức và sự hỗ trợ để giảm thiểu rủi ro về thiên nhiên, thị trường Nông dân ở các vùng bị thu hồi đất để phục vụ mục đích đô thị hóa và công nghiệp hóa, đặc biệt là những nông dân bị thu hồi đất đang rất cần kiến thức để chuyển đổi nghề nghiệp, thích ứng với điều kiện mới và hoàn cảnh mới của họ

Thứ tư, ở nước ta, đổi mới hệ thống tổ chức nông thôn, kinh tế hộ được

xác lập Vì thế, KN là phương thức thích hợp để tiếp cận và hỗ trợ các hộ nông dân nâng cao đời sống của họ

Thứ năm, KN là quá trình truyền bá kỹ thuật và công nghệ cho nông

dân Đó chính là quá trình chuyển giao công nghệ, kỹ thuật tiến bộ tới nông

Trang 15

dân, nông nghiệp và nông thôn Đây là yếu tố quan trọng đối với tiến trình phát triển nông thôn

1.1.3 Nội dung của công tác KN

Tại chương II của Nghị định số 02/2010/NĐ-CP ngày 08 tháng 01 năm

2010 của Chính phủ về KN đã quy định nội dung của hoạt động KN như sau:

1.1.3.1 Bồi dưỡng, tập huấn và đào tạo

ưu tiên là đào tạo nông dân trên truyền hình;

+ Qua trang thông tin điện tử KN trên internet

+ Tổ chức khảo sát, học tập trong và ngoài nước

- Tổ chức triển khai

Trang 16

+ Việc đào tạo nông dân và đào tạo người hoạt động KN do các tổ chức

KN quy định tại điểm b khoản 2 Điều 1 Nghị định này đảm trách

+ Giảng viên nòng cốt là các chuyên gia, cán bộ KN có trình độ đại học trở lên, các nông dân giỏi, các cá nhân điển hình tiên tiến, có nhiều kinh nghiệm trong sản xuất, kinh doanh, có đóng góp cho xã hội, đã qua đào tạo kỹ năng KN

1.1.3.2 Thông tin tuyên truyền

- Phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước thông qua hệ thống truyền thông đại chúng và các tổ chức chính trị

xã hội

- Phổ biến tiến bộ KH&CN, các điển hình tiên tiến trong sản xuất, kinh doanh thông qua hệ thống truyền thông đại chúng, tạp chí KN, tài liệu KN, hội nghị, hội thảo, hội thi, hội chợ, triển lãm, diễn đàn và các hình thức thông tin tuyên truyền khác; Xuất bản và phát hành ấn phẩm KN

- Xây dựng và quản lý dữ liệu thông tin của hệ thống thông tin KN

1.1.3.3 Trình diễn và nhân rộng mô hình

- Xây dựng các mô hình trình diễn về tiến bộ KH&CN phù hợp với từng địa phương, nhu cầu của người sản xuất và định hướng của ngành, các

mô hình thực hành sản xuất tốt gắn với tiêu thụ sản phẩm

- Xây dựng các mô hình ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp

- Xây dựng mô hình tổ chức, quản lý sản xuất, kinh doanh nông nghiệp hiệu quả và bền vững

- Chuyển giao kết quả KH&CN từ các mô hình trình diễn, điển hình sản xuất tiên tiến ra diện rộng

Trang 17

+ Khởi nghiệp cho chủ trang trại, doanh nghiệp vừa và nhỏ về lập dự

án đầu tư, tìm kiếm mặt bằng sản xuất, huy động vốn, tuyển dụng và đào tạo lao động, lựa chọn công nghệ, tìm kiếm thị trường;

+ Hợp đồng tiêu thụ sản phẩm, hợp đồng bảo hiểm sản xuất, kinh doanh;

+ Cung ứng vật tư nông nghiệp

- Tư vấn và dịch vụ khác liên quan đến phát triển nông nghiệp, nông thôn

1.1.4 Các nguyên tắc hoạt động KN

Hoạt động KN phải tuân theo những nguyên tắc cơ bản sau:

1.1.4.1 Nguyên tắc tự nguyện, không áp đặt, mệnh lệnh

Trang 18

Mỗi hộ nông dân là một đơn vị kinh tế tự chủ, sản xuất của họ do họ quyết định Vì vậy, nhiệm vụ của KN là tìm hiểu cặn kẽ những yêu cầu, nguyện vọng của họ trong sản xuất nông nghiệp, đưa ra những tiến bộ KH-KT mới sao cho phù hợp để họ tự cân nhắc, lựa chọn Vụ này họ chưa áp dụng vì

họ chưa đủ điều kiện, chưa thật tin tưởng nhưng vụ sau, thông qua một số hộ

đã áp dụng có hiệu quả, lúc đó họ sẽ tự áp dụng

1.1.4.2 Nguyên tắc không làm thay

Cán bộ KN giúp đỡ nông dân thông qua trình diễn kết quả, trình diễn phương pháp để họ mắt thấy tai nghe Cán bộ KN cần thao tác chậm để nông dân theo dõi, vừa làm vừa giải thích sau đó mời nông dân làm thử

1.1.4.3 Nguyên tắc không bao cấp

KN chỉ hỗ trợ những khâu khó khăn ban đầu về kỹ thuật, giống và vốn

mà từng hộ nông dân không thể tự đầu tư áp dụng do hạn chế về nguồn lực của mình Không nên bao cấp toàn bộ, tránh trường hợp nông dân ỉ lại không phát huy được năng lực và trách nhiệm vào công việc

1.1.4.4 Nguyên tắc KN là nhịp cầu thông tin hai chiều

Giữa nông dân với các tổ chức và cơ quan khác luôn có mối quan hệ,

KN phải phản ánh trung thực những ý kiến tiếp thu, phản hồi của nông dân về những vấn đề chưa phù hợp cần sửa đổi khắc phục

1.1.4.5 Nguyên tắc KN không hoạt động đơn độc

KN phải phối hợp chặt chẽ với các tổ chức phát triển nông thôn khác Ngoài việc phối hợp chặt chẽ với các trường, viện nghiên cứu khoa học, trung tâm khoa học nông nghiệp còn phải phối hợp chặt chẽ với các hội, đoàn thể quần chúng, các tổ chức quốc tế, các doanh nghiệp… để đẩy mạnh hoạt động

KN Công tác KN cần được xã hội hóa

1.1.4.6 Nguyên tắc công bằng

KN phải quan tâm tạo điều kiện đến mọi thành viên, mọi tầng lớp nông dân, đặc biệt là những người nghèo để họ phát triển sản xuất, vươn lên cải thiện đời sống và hoà nhập với cộng đồng

Trang 19

1.1.5 Các phương pháp của KN

Hiện nay các phương pháp KN được chia làm ba nhóm, dựa vào phương thức tác động giữa CBKN với hộ nông dân: Phương pháp cá nhân, phương pháp nhóm và phương pháp thông tin đại chúng

1.1.5.1 Phương pháp cá nhân

Là phương pháp KN mà thông tin được chuyển giao trực tiếp cho từng

cá nhân hay hộ nông dân Phương pháp này được thực hiện bằng cách: Thăm

và gặp gỡ, gửi thư hoặc điện thoại Ưu điểm của phương pháp này là dễ thực hiện, nhanh, kịp thời, đáp ứng thông tin theo yêu cầu Nhược điểm là diện hẹp, từng nông dân

1.1.5.2 Phương pháp nhóm

Là phương pháp KN mà thông tin được truyền đạt cho một nhóm người

có chung một mối quan tâm và nhằm mục đích giúp nhau phát triển Phương pháp này được thực hiện bằng cách: trình diễn, họp nhóm và thăm quan Ưu điểm của phương pháp này là tính phổ cập thông tin cao, tốn ít nhân lực, khơi dậy sự tham gia của dân, cải tiến kỹ thuật do dân góp ý, phát hiện vấn đề mới nhanh chóng Nhược điểm của phương pháp này là kinh phí lớn, dân trí thấp, địa lý khó khăn

1.1.5.3 Phương pháp thông tin đại chúng

Là phương pháp được thực hiện bằng phương tiện nghe (đài), phương tiện đọc (sách, báo, tạp chí), phương tiện nhìn (tranh ảnh, mẫu vật), phương tiện nghe nhìn (phim video, phim nhựa, tivi) Ưu điểm của phương pháp này

là phạm vi tuyên truyền rộng, phục vụ được nhiều người, linh hoạt ở mọi nơi, truyền thông tin nhanh và chi phí thấp Nhược điểm của nó là không có lời khuyên và sự giúp đỡ cụ thể cho từng cá nhân

1.1.6 Ảnh hưởng của công tác KN đến phát triển sản xuất của nông hộ

1.1.6.1 Ảnh hưởng đến thay đổi nhận thức của hộ

Các kết quả nghiên cứu của tổ chức ActionAid Vietnam cho thấy các

hộ nông dân nghèo ở Việt Nam không chủ động trong việc tìm tòi các giải pháp thúc đẩy phát triển sản xuất nông nghiệp của hộ gia đình mình, hoàn

Trang 20

toàn thụ động học hỏi theo các hộ gia đình khác nếu thấy họ phát triển sản xuất nông nghiệp đạt hiệu quả Do vậy, hoạt động sản xuất nông nghiệp của nhiều hộ nông dân hiện nay không đa dạng, chủ yếu tập trung vào sản xuất các cây lương thực phục vụ cho mục đích tiêu dùng của họ Có địa phương trên 50% nông dân thiếu kiến thức sản xuất, hầu hết các hộ nông dân đều thiếu vốn sản xuất Người nông dân nghèo luôn có tâm lý dè chừng khi thay đổi, lo sợ rủi ro trong tiếp cận đầu tư và khoa học kỹ thuật mới

Nông nghiệp Việt Nam đi lên từ nền sản xuất nhỏ, lạc hậu nên các hộ nông dân ít nhiều vẫn còn giữ tư tưởng tiểu nông Vì thế, để chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất cần bắt đầu từ nhận thức của người dân Trong đó công tác KN đóng vai trò then chốt

Với các mục tiêu cơ bản của KN như: Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của người sản xuất để tăng thu nhập, thoát đói nghèo, làm giàu; Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng phát triển sản xuất hàng hóa, nâng cao năng suất, chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu; Công tác KN không chỉ giúp các hộ nông dân nắm bắt thông tin về chính sách, pháp luật liên quan đến phát triển nông nghiệp, nông thôn, các điển hình tiên tiến mà còn giúp hộ nông dân xác định được nên sản xuất cái gì, sản xuất cho ai, lựa chọn cơ cấu cây trồng dựa vào căn cứ nào, tổ chức sản xuất ra sao, bảo quản sản phẩm nông nghiệp như thế nào Như vậy, công tác KN không chỉ giúp nông hộ thay đổi tập quán sản xuất mà cả tư duy sản xuất

1.1.6.2 Ảnh hưởng đến việc đưa tiến bộ KH-KT vào sản xuất nông nghiệp

Ứng dụng tiến bộ KH-KT vào sản xuất nông nghiệp hiện nay là một xu hướng tất yếu Việc ứng dụng nhanh và kịp thời các thành tựu KH&CN vào sản xuất, để nâng cao hiệu quả và giá trị của các sản phẩm nông nghiệp, đáp ứng yêu cầu trong nước và xuất khẩu là rất cần thiết bởi những lý lo sau:

Trang 21

(1) Mô hình phát triển nông nghiệp theo chiều rộng đã đến điểm tới hạn, đòi hỏi phải chuyền sang mô hình phát triển theo chiều sâu dựa vào ứng dụng tiến bộ KH&CN;

(2) Dưới tác động của biến đổi khí hậu và toàn cầu hóa đối với nông nghiệp, cần có những nghiên cứu và ứng dụng công nghệ mới trong ngành sản xuất nông nghiệp;

(3) Đóng góp của KH&CN đối với nông nghiệp ở Việt Nam trong chuỗi giá trị gia tăng của nông sản còn hết sức hạn chế;

(4) Công nghệ của những ngành liên quan đến của ngành nông nghiệp,

mà còn ở trình độ thấp kém của công nghiệp và dịch vụ liên quan đến sản

xuất nông nghiệphàng hoá

Thông qua công tác KN, người nông dân được phổ biến về ý nghĩa của việc ứng dụng tiến bộ KH&CN vào sản xuất nông nghiệp, chuyển giao kết quả KH&CN, được tư vấn về việc ứng dụng tiến bộ KH&CN vào sản xuất nông nghiệp Nhờ đó, nhiều mô hình chuyển giao tiến bộ KH&CN mới đã được hộ nông dân ứng dụng vào sản xuất nông nghiệp, giúp họ có điều kiện tiếp cận với quy trình sản xuất tiên tiến, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm nông nghiệp Những tiến bộ KH&CN được ứng dụng vào sản xuất nông nghiệp hiện nay được nhìn nhận theo nghĩa rộng, không chỉ những yếu tố mang tính kỹ thuật như cây và con giống mới, máy móc kỹ thuật, thuốc trừ sâu và phân bón mới, v.v mà cả những yếu tố phi kỹ thuật như quy trình sản xuất, những tiến bộ trong việc lập kế hoạch và phân bố mùa vụ, những tiến bộ trong quản lý

1.1.6.3 Ảnh hưởng đến xây dựng nông thôn mới

Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020 là nội dung quan trọng nhằm đưa Nghị quyết số 26-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương vào thực tế đời sống Đây là một chương trình tổng thể về phát triển kinh tế - xã hội, chính trị và an ninh quốc phòng, được thực hiện trên phạm vi toàn quốc với nhiều nội dung, bao gồm cả những

Trang 22

chương trình mục tiêu quốc gia khác và các chương trình hỗ trợ có mục tiêu đang thực hiện trên địa bàn nông thôn

Để thực hiện được các tiêu chí của Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới đòi hỏi phải kiên trì thực hiện trong thời gian dài, với sự tham gia của cả

hệ thống chính trị, trong đó công tác KN đóng vai trò quan trọng trong tiến trình thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới Trong 19 tiêu chí (thuộc 5 nhóm tiêu chí) của Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới, có 4 tiêu chí liên quan trực tiếp đến vai trò, nhiệm vụ của KN Đó là các tiêu chí thuộc nhóm III về Kinh tế và Tổ chức sản xuất, bao gồm: Tiêu chí

số 10 về thu nhập; Tiêu chí số 11 về hộ nghèo; Tiêu chí số 12 về tỷ lệ lao động có việc làm thường xuyên và tiêu chí số 13 về hình thức tổ chức sản xuất Các xã có phấn đấu đạt được các tiêu chí này hay không (chiếm tỷ lệ 21% tổng số tiêu chí) là nhờ vào công tác KN

1.1.6.4 Nâng cao thu nhập cho người nông dân

Về mặt lý luận, mục đích của công tác KN là làm thay đổi bộ mặt nông thôn, thay đổi cuộc sống của người nông dân thông qua nâng cao mức thu nhập và mức sống của người nông dân Chính vì vậy, công tác KN tập trung vào việc hướng dẫn nông dân xây dựng và thực hiện đề án phát triển sản xuất hàng hóa, vận động nông dân chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo hướng phát triển sản xuất hàng hóa, có hiệu quả kinh tế cao; Đồng thời đẩy mạnh cơ giới hóa các khâu trong sản xuất nông nghiệp, giảm tổn thất sau thu hoạch trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp; Xây dựng các

mô hình ứng dụng cơ giới hóa trong các khâu sản xuất trồng trọt, chăn nuôi cho các sản phẩm hàng hóa sản xuất tập trung; Tạo điều kiện thu hút các doanh nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp như sản xuất kinh doanh, thu mua, chế biến nông sản Với những nhiệm vụ trên đây, công tác KN góp phần giải

Trang 23

quyết việc làm, tăng thu nhập và chuyển dịch nhanh cơ cấu lao động ở nông thôn

Theo Tổng cục Thống kê, hiện nay thu nhập của một nông dân ở Việt Nam ở mức rất thấp (khoảng 1.400.000 đồng/tháng) Có tới 50% phải vay nợ,

tỷ lệ nghèo nông thôn dù vẫn giảm nhưng tốc độ chậm lại trong thời gian gần đây Giai đoạn 2010-2012 có khoảng trên 500.00 hộ nông thôn tái nghèo Các nhà nghiên cứu về nông nghiệp, nông thôn cũng như các nhà quản lý cho rằng, trong 19 tiêu chí Quốc gia về xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam hiện nay, thì việc nâng cao thu nhập cho người dân (tiêu chí thứ 10) là tiêu chí khó thực hiện nhất Đây là bài toán chưa có lời giải, bởi sản xuất nông nghiệp tại Việt Nam còn lệ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên và sự bấp bênh của thị trường Vai trò của công tác KN là hỗ trợ người nông dân tìm kiếm các giải pháp để nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống, thu hẹp khoảng cách chênh lệch về mức sống giữa nông thôn và thành thị

1.1.6.5 Ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu sản xuất kinh tế nông nghiệp

Cơ cấu nông nghiệp của một nền kinh tế bao gồm tập hợp tất cả các nhóm ngành nông nghiệp (hiểu theo nghĩa rộng bao gồm các ngành nông-lâm-ngư nghiệp; theo nghĩa hẹp gồm trồng trọt-chăn nuôi) và các mối quan hệ tương đối ổn định giữa chúng Nói cách khác giữa các ngành nông nghiệp gồm các yếu tố quan hệ chặt chẽ với nhau, hỗ trợ nhau cùng phát triển trong những không gian và thời gian nhất định, trong những điều kiện kinh tế nhất định

Cơ cấu ngành nông nghiệp luôn thay đổi theo từng thời kỳ phát triển của nền kinh tế Đó là sự thay đổi tỷ lệ giữa các ngành (nông-lâm-ngư nghiệp; trồng trọt, chăn nuôi), các vùng, các thành phần (do sự xuất hiện của các ngành ngoài nông nghiệp như tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ nông thôn, v.v )

Sự thay đổi của cơ cấu ngành nông nghiệp từ trạng thái này sang trạng thái

Trang 24

khác cho phù hợp với môi trường phát triển được gọi là chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp Chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp trong nền kinh tế

thị trường và hội nhập quốc tế hiện nay luôn phù hợp với Quy luật tiêu thụ sản phẩm của E.Engel, Quy luật tăng năng suất lao động của Fisher

Việc đưa ra chính sách KN có tác động lớn đến chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp Sau hơn 20 năm kể từ khi thực hiện chính sách KN (Nghị định 13/CP năm 1993 về công tác khuyến nông-khuyến ngư), nước ta từ một nước nông nghiệp lạc hậu, tự cung, tự cấp, quy mô nhỏ, đã vươn lên trở thành một nước có nền nông nghiệp hàng hoá, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia

và có tỷ suất hàng hoá ngày càng lớn, có vị thế đáng kể trong khu vực và thế giới Nước ta đã trở thành một trong những nước đứng đầu về xuất khẩu gạo,

cà phê, điều, tiêu, thuỷ hải sản trên thị trường quốc tế

Với mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng phát triển sản xuất hàng hóa, nâng cao năng suất, chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu, công tác KN ở ta trong những năm qua đã góp phần làm tăng các ngành chuyên môn hóa Ngành cấp

3, cấp 4 phát triển theo xu hướng toàn diện, quy mô ngày càng tăng và xu hướng ngày càng chuyên sâu Năm 1999, ngành nông nghiệp thuần túy có 13 ngành cấp 4 đến năm 2007 tăng lên 31 ngành Ngành lâm nghiệp từ 1 ngành cấp 4 (năm 1999) tăng lên 5 ngành (năm 2007) Ngành thủy sản cũng từ 1 ngành cấp 4 (năm 1999) tăng lên 5 ngành (năm 2007) Đáng chú ý hơn các hoạt động dịch vụ trong nông nghiệp những năm gần đây đã có sự phát triển phù hợp với quy luật chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp trong nền kinh tế thị trường

Cơ cấu toàn ngành nông nghiệp Việt Nam trong GDP có sự chuyển dịch tích cực, tỷ trọng đã giảm từ mức 24,6% năm 2000 xuống còn 20,6% năm 2010 Sự chuyển dịch biểu hiện tỉ trọng nông nghiệp thuần túy trong toàn

Trang 25

ngành giảm từ 80,20% năm 2000 xuống còn 72,35% năm 2010 và chiếm tỷ trọng cao nhất trong nội bộ ngành với tốc độ tăng trưởng bình quân hằng năm

là 4,1%, ngược lại ngành 7 chiếm tỷ trọng thấp nhất là lâm nghiệp, chỉ chiếm 3,17% vào năm 2010 và có tốc độ tăng trưởng bình quân hằng năm giai đoạn này là 2,25% Bên cạnh đó, ngành thuỷ sản tăng từ 15,58% năm 2000 lên 24,49% vào năm 2010 với tốc độ tăng bình quân hằng năm là 10,1%

Rõ ràng, chính sách KN tác động tới chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp rất mạnh mẽ thông qua việc tạo ra một hệ thống các tiểu ngành, nghề mới trong ngành nông nghiệp tổng hợp phù hợp điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của mỗi vùng Chuyển dịch cơ cấu chung của ngành nông nghiệp Việt Nam là giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp tổng hợp trong cơ cấu toàn ngành kinh tế nhưng không ngừng gia tăng về giá trị, trong đó tỷ trọng nông nghiệp thuần túy giảm mạnh nhất và tỷ trọng ngành thủy sản ngày càng tăng chiếm tỷ

lệ cao trong nội bộ ngành nông nghiệp tổng hợp

1.1.6.6 Củng cố lòng tin của Nhân dân đối với chính sách KN của Đảng, Nhà nước

Quan điểm về xây dựng Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân của Đảng ta đã chỉ rõ: Chính sách của Nhà nước phải xuất phát từ thực tiễn đời sống nhân dân, giải quyết được những bức thiết trong đời sống nhân dân, đáp ứng được nguyện vọng và mang lại lợi ích thiết thực cho nhân dân Chỉ có như vậy mới củng cố được lòng tin và tăng tình đoàn kết giữa nhân dân với Đảng, với Nhà nước, đây cũng chính là bài học dành thắng lợi trong cách mạng của Đảng và Nhà nước ta

Riêng đối với chính sách KN của Đảng và Nhà nước ta trong những năm qua đã đáp ứng được nguyện vọng của nông dân, từng bước xóa đói giảm nghèo, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho nông dân, từng bước thu hẹp khoảng cách chênh lệch về mức sống giữa nông thôn với thành thị,

Trang 26

làm thay đổi bộ mặt nông thôn; nông dân ngày nay được thông tin và tiếp cận với những tiến bộ khoa học kỹ thuật hiện đại, được đào tạo và tư vấn về phát triển sản xuất nông nghiệp, nhiều sản phẩm hàng hóa nông nghiệp của nông dân trở thành mặt hàng xuất khẩu đem lại giá trị kinh tế cao Những kết quả này từ công tác KN đã củng cố lòng tin của nông dân với chính sách KN của Đảng và Nhà nước ta Tuy nhiên, để tiếp tục khẳng định lòng tin này, chính sách KN cần hướng vào thực hiện triệt để các mục tiêu và nội dung đã đặt ra, đồng thời phải tìm các giải pháp khắc phục những mặt trái của chính sách này

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Quá trình hình thành và phát triển của KN trên thế giới

Trên thế giới KN đã ra đời từ rất sớm đặc biệt là các nước có nền nông nghiệp phát triển và được tiến hành từ các tổ chức

Các hội nông nghiệp: Hội nông nghiệp đầu tiên thực hiện KN ở Scotlen (1723 - 1743), sau đó là hội của Pháp (1761), ở Anh, Mỹ (1784) Trường Đại học và Trung học chuyên nghiệp: Đại học Cambridge - Anh (1866), các lớp nông dân lớn tuổi ở Mỹ (1880) Các tổ chức phi chính phủ: Nhiều chính quyền ở địa phương đã tài trợ cho các tổ chức làm KN từ 1850, sau đó chính phủ đã trực tiếp quản lý các hoạt động KN hình thành hệ thống KN quốc gia Các nước phát triển ở Châu Âu (đặc biệt là ở Anh) từ năm 1600 - 1700 đã có nhiều tài liệu hướng dẫn về các chương trình giảng dạy, làm thực hành trong việc trồng cây, chăn nuôi, xe tơ, dệt vải… Hoạt động KN ở một số nước Châu

Âu có nền nông nghiệp phát triển

* Tại Mỹ: Năm 1845 tại Ohio.N S Townshned chủ nhiệm khoa Nông học đề xuất việc tổ chức những câu lạc bộ nông dân tại các quận huyện và sinh hoạt định kỳ Đây là tiền thân của KN tại Mỹ Năm 1891 Bang New York dành 10.000 đô la cho KN đại học Năm 1892 Trường Đại Học

Trang 27

Chicago, Trường Wicosin bắt đầu tổ chức chương trình KN đại học Năm

1907 có 42 trường Đại học trong đó 39 bang đã thực hiện công tác KN Năm

1910 có 35 trường Đại học đã có Bộ môn KN Năm 1914 Tổ chức KN được hình thành chính thức ở Mỹ, có 1861 hội nông dân có với 3050150 hội viên Tại châu Phi có muộn hơn, vào những năm 1960 - 1970 nhà nước tổ chức KN thuộc Bộ Nông nghiệp Các chính phủ thực dân kiểu mới đỡ đầu nghiên cứu vào hoạt động KN để thu mua được nông sản thô như: cà phê, ka cao, chè,…

Họ ít chú đến hoạt động KN phục vụ các cây lương thực Hoạt động KN của một số nước châu Á

* Ấn độ: Hệ thống KN Ấn Độ được hình thành từ năm 1960 và được

tổ chức theo 5 cấp: cấp quốc gia, cấp vùng, cấp bang, cấp huyện và cấp xã Trước năm 1960, sản xuất nông nghiệp của Ấn Độ vô cùng nghèo nàn, lạc hậu, thường xuyên thiếu lương thực, nhiều người chết đói Nhờ có công tác

KN tốt nên Ấn Độ đã có một nền nông nghiệp phát triển mạnh mẽ Mở đầu là cuộc “Cách mạng xanh” giải quyết được vấn đề lương thực, giải quyết được nạn đói quốc gia Sau đó là cuộc “Cách mạng trắng” đó chính là sản xuất sữa Chuyển sang hướng chăn nuôi bằng cuộc “Cách mạng nâu”, chủ yếu là chăn nuôi bò, trâu để lấy thịt có màu nâu

* Thái lan: Có 3 tổ chức hoạt động có liên quan đến KN khuyến lâm Cục lâm nghiệp Hoàng Gia: Triển khai các hoạt động KN khuyến lâm trên các lĩnh vực như bảo vệ rừng, sử dụng đất trồng cây Hoạt động này được thực hiện và chỉ đạo bởi các phòng Nông nghiệp Lâm nghiệp Hoàng Gia, bao gồm 21 cơ quan cấp vùng và 72 cơ quan cấp tỉnh Hội nông dân: có ba phòng chức năng là phòng KN khuyến lâm, phòng tổ chức hoạt động và phòng đối ngoại Hội thực hiện chức năng KN lâm qua việc cầu nối giữa khu vực tư nhân và chính phủ Hội phát triển các tài liệu tuyên truyền, đào tạo và tạo các

Trang 28

hành lang pháp lý thuận lợi cho phát triển nông lâm nghiệp Hội phát triển cộng đồng: Tập trung chú trọng đến việc tăng cường bảo vệ ở cấp cộng đồng

* Indonesia: Thành lập năm 1955 gồm 4 cấp: ở cấp quốc gia có hội KN quốc gia điều hành, ở cấp tỉnh có diễn đàn KN cấp I do giám đốc nông nghiệp làm chủ tịch, ở cấp huyện có diễn đàn KN cấp II do huyện chọn một trong các trưởng dịch vụ nông nghiệp của huyện làm chủ tịch, ở cấp xã và liên xã có cơ quan KN cơ sở Tại đó có bộ phận dịch vụ KN và trung tâm thông tin phục vụ cho nhu cầu của nông dân Ở Indonêxia rất chú trọng hai tổ chức này và được coi là tuyến đầu của KN Indonêxia Hiện tại, Indonêxia có trên 30.000 cán bộ KN; cán bộ hợp đồng là 24.608 người và còn lại là các KN viên tự nguyện Tất cả được bố trí từ ở cấp Trung Ương đến 33 đơn vị cấp tỉnh, 489 đơn vị cấp huyện và 4.239 đơn vị cấp xã, với mỗi thôn được bố trí 1 cán bộ KN Ngày nay Indonêxia thường xuyên được chọn là nơi tổ chức đào tạo cán bộ

KN cho các nước trong khu vực

* Trung Quốc: Hoạt động KN ở Trung Quốc đã có từ lâu, năm 1933 trường đại học Kim Lãng đã thành lập phân khoa KN nhưng mãi đến năm

1970 nước này mới chính thức có tổ chức KN Trong Nghị quyết của đảng cộng sản Trung Quốc khoá VIII về “Tăng cường công tác nông nghiệp và nông thôn” nêu rõ “phải nắm vững chiến lược KHCN và KN”, đưa ngay sinh viên mới tốt nghiệp xuống cơ sở, chú trọng đào tạo các nông dân giỏi trở thành KN viên Trong kế hoạch năm năm lần thứ VII về phát triển nông nghiệp, Trung Quốc đã tập huấn cho 1,2 triệu người về công tác KN và bồi dưỡng cho 150 triệu nông dân vê kiến thức KN và tiến bộ KH-KT mới Cả nước Trung Quốc có 10/33 lãnh đạo tỉnh là trưởng ban KN Cho tới nay, Trung Quốc đã có Uỷ ban quốc gia - cục phổ cập kỹ thuật nông nghiệp, cấp tỉnh có cục KN, dưới tỉnh có KN phân khu, cấp cơ sở là KN thôn xã Trung

Trang 29

Quốc rất tự hào là đang dẫn đầu thế giới ở 3 lĩnh vực: Lúa lai, chuẩn đoán thú

y và nuôi trồng thuỷ sản

1.2.2 Hoạt động KN ở Việt Nam và một số địa phương

1.2.2.1 Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về KN

Nông nghiệp là ngành sản xuất truyền thống và phát triển cùng nền văn minh lúa nước ở nước ta Vì vậy, KN Việt Nam đã có từ rất sớm và có bước phát triển ngày càng lớn mạnh

Trong thời kỳ phong kiến, công tác KN đã đặc biệt được chú trọng Thời tiền Lê, hàng năm vua Lê Hoàn đã tự mình xuống ruộng cày đường cày đầu tiên cho vụ sản xuất đầu xuân Năm 1226, dưới thời Trần lập chức quan

“KN sứ” là viên quan chuyên chăm lo khuyến khích phát triển nông nghiệp Năm 1789, vua Quang Trung ban bố “Chiếu KN” sau khi đại phá quân Thanh nhằm phục hồi lại ruộng bị bỏ hoang Chỉ sau 3 năm hầu hết ruộng hoang đã được khôi phục, sản xuất phát triển, bổ sung chế độ cấp công điền

Năm 1960, ở miền Nam (dưới thời Mỹ ngụy) thành lập “Nha KN” trực thuộc bộ nông nghiệp cải cách điền địa nông mục Trong khi đó ở miền Bắc, Bộ nông nghịêp thường xuyên đưa sinh viên xuống giúp các hợp tác xã (HTX) làm công tác Đông xuân, chọn giống lúa, trồng ngô - khoai, tiêm phòng cho gia súc - gia cầm…

Từ năm 1964, Bộ nông nghiệp chính thức có chủ trương thành lập các đoàn chỉ đạo, đưa sinh viên mới tốt nghiệp xuống cơ sở (các HTX, nông lâm trường) xây dựng các mô hình và mở các lớp tập huấn cho cán bộ chủ chốt của địa phương về công tác sản xuất, công tác thuỷ lợi

Năm 1981, Ban bí thư Trung ương Đảng đã ra Chỉ thị 100 chính thức thực hiện chủ trương “Khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm và người lao động”

Trang 30

Đến tháng 12 năm 1986, Đại hội VI của Đảng cộng sản Việt Nam đã nhìn thẳng vào sự thật với tinh thần “Đổi mới”, rút ra bài học hành động phù hợp với quy luật khách quan để thực hiện chủ trương đổi mới cơ chế quản lý, đưa nông nghiệp đi lên sản xuất hàng hoá

Ngày 05 tháng 04 năm 1988, Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết 10 về

“Đổi mới quản lý trong nông nghiệp” Từ đó, nhờ việc nắm vững và thực hiện Nghị quyết 10 (Khoán 10) đã đem lại những tác dụng tích cực cho sản xuất Lực lượng lao động không ngừng tăng lên, KH&CN được tạo điều kiện đi vào sản xuất, tiến bộ KH-KT được chuyển giao rộng rãi, công tác KN đi vào

nề nếp Khoán 10 đã đem lại hiệu quả nhanh chóng, tạo ra một bước ngoặt mới trên mặt trận nông nghiệp Hộ nông dân trở thành đơn vị kinh tế tự chủ,

tự quyết định kết quả sản xuất kinh doanh của mình Vì vậy mà những đòi hỏi của hàng triệu hộ nông dân trong cả nước về hướng dẫn kỹ thuật, về quản lý,

về giống cây trồng - vật nuôi, về chính sách khuyến khích sản xuất, về thị trường… tăng lên gấp bội

Nghị định 13/CP của Chính phủ ra ngày 02 tháng 03 năm 1993 về công tác KN, Thông tư 02/LB/TT hướng dẫn việc tổ chức hệ thống KN và hoạt động KN đã kịp thời đáp ứng được những đòi hỏi nói trên Hệ thống KN của Việt Nam chính thức được thành lập năm 1993

Ngày 02 tháng 5 năm 2003, Thủ tướng Chính phủ ký Nghị định số 43/2003/NĐ-CP, thành lập Trung tâm Khuyến ngư Quốc gia

Ngày 26 tháng 04 năm 2005, bằng việc ban hành Nghị định 56/2005/NĐ-CP về công tác KN, khuyến ngư thì hệ thống KN Việt Nam đã thêm một bước được hoàn thiện cả về cơ cấu lẫn nội dung hành động

Ngày 03 tháng 01 năm 2008, Chính phủ ban hành Nghị định số 01/2008/NĐ-CP về Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ NN& PTNT, sau khi sát nhập Bộ NN&PTNT và Bộ Thủy sản

Trang 31

Tại Nghị định này, Chính phủ cho phép thành lập Trung tâm KN - Khuyến ngư Quốc gia Ngày 28 tháng 01 năm 2008, Bộ trưởng Bộ NN&PTNT ký Quyết định số 236/QĐ-BNN-TCCB, thành lập Trung tâm KN - Khuyến ngư Quốc gia trên cơ sở hợp nhất hai trung tâm: TTKNQG và Trung tâm Khuyến ngư Quốc gia

Tại Điều 9 của Nghị định số 02/2010/NĐ-CP của Chính phủ về KN ký ngày 08 tháng 01 năm 2010 quy định tổ chức KN Trung ương đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Bộ NN&PTNT với tên gọi là TTKNQG

Ngày 28 tháng 06 năm 2010, Bộ NN&PTNT đã có Quyết định số 1816/QĐ-BNN-TCCB quy định chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của TTKNQG

Trong hoạt động, KN Việt Nam đang tiếp tục đón nhận kinh nghiệm của KN các nước tiên tiến, làm cho hoạt động KN trong nước ngày càng phong phú, bộ mặt nông thôn và sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp phát triển không ngừng

1.2.2.2 Hoạt động khuyến nông ở Việt Nam và một số địa phương

Bộ Nông nghiệp & PTNT

Sở Nông nghiệp & PTNT

tỉnh, thành phố

Trung tâm khuyến nông tỉnh,

thành phố

UBND huyện, thị xã Trạm khuyến nông

UBND xã, phường Cán bộ khuyến nông cơ sở

Trung tâm khuyến nông

quốc gia

KN viên HTX NN CLB KN Các hội Các đoàn thể DN

Nông dân

Trang 32

Hình 1.1: Sơ đồ hệ thống tổ chức KN Việt Nam

Hệ thống KN ở Việt Nam được phân thành 4 cấp từ Trung Ương đến địa phương như Sơ đồ 1

* Cấp Trung ương có TTKNQG

TTKNQG là đơn vị sự nghiệp trực thuộc Bộ NN & PTNT là cơ quan giúp Bộ trưởng thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về công tác KN, về SXNN trên phạm vi cả nước Trung tâm có nhiệm vụ: (1) Xây dựng, chỉ đạo các chương trình KN về trồng trọt, chăn nuôi, BVTV, thú y, bảo quản chế biến nông sản theo từng lĩnh vực chuyên môn, từng vùng sinh thái trong phạm

vi cả nước; (2) Hướng dẫn các địa phương, các tổ chức KN xây dựng và thực hiện các dự án KN; (3) Tham gia thẩm định các chương trình, dự án KN theo quy định của Bộ NN&PTNT; (4) Quan hệ với các tổ chức KTXH trong và ngoài nước để thu hút vốn hoặc tham gia trực tiếp vào các hoạt động KN; (5) Xây dựng, theo dõi, đôn đốc và hướng dẫn thực hiện các quy trình kỹ thuật trồng trọt - chăn nuôi; (6) Quản lý chất lượng giống cây trồng, vật nuôi, chất lượng TAGS, phân bón trên thị trường; (7) Theo dõi, đánh giá và thực hiên các chương trình dự án KN để tổng hợp tình hình báo cáo Chính phủ

* Cấp tỉnh có Trung tâm KN (TTKN) tỉnh

TTKN tỉnh trực thuộc Sở NN&PTNT, mỗi trung tâm thường có từ 3 - 5 phòng ban với số cán bộ biên chế từ 15 - 20 người Nhiệm vụ của TTKN tỉnh bao gồm: (1) Xây dựng và hướng dẫn thực hiện các chương trình, dự án KN trong tỉnh, từng tiểu vùng sinh thái, từng lĩnh vực SXNN tại địa phương; (2) Phổ biến và chuyển giao tiến bộ KH-KT về nông - lâm - ngư nghiệp và những kinh nghiệm điển hình trong sản xuất cho nông dân; (3) Bồi dưỡng kỹ thuật, rèn luyện tay nghề và quản lý kinh tế cho cán bộ KN cơ sở, cung cấp cho nông dân các thông tin thị trường, giá cả nông - lâm - thuỷ sản; (4) Quan hệ với các tổ chức trong và ngoài nước để thu hút nguồn vốn hoặc tham gia trực

Trang 33

tiếp vào các hoạt động KN ở địa phương; (5) Tham gia xây dựng và phổ biến cho nông dân thực hiện các quy trình kỹ thuật sản xuất thâm canh cây trồng, vật nuôi, lâm sinh, thuỷ sản; (6) Tổng kết đánh giá việc thực hiện các chương trình dự án KN cấp tỉnh

* Cấp huyện, thị xã có Trạm KN huyện, thị xã

Trạm KN huyện trực thuộc phòng nông nghiệp (hoặc phòng kinh tế) huyện, mỗi trạm có từ 5 - 7 nhân viên làm việc theo phòng ban hoặc theo ngành sản xuất được phân công Trạm KN huyện có nhiệm vụ sau: (1) Đưa những tiến bộ KH-KT theo các chương trình dự án KN, khuyến lâm, khuyến ngư vào sản xuất đại trà trện địa bàn huyện; (2) Xây dựng các mô hình trình diễn phục vụ cho các chương trình dự án KN, khuyến lâm, khuyến ngư; (3) Hướng dẫn quy trình kỹ thuật cho nông - lâm - ngư dân theo mùa vụ hoặc theo yêu cầu của sản xuất; (4) Tổ chức tham quan học tập các điển hình tiên tiến ở trong và ngoài huyện; (5) Bồi dưỡng kỹ thuật và tập huấn nghiệp vụ cho KN viên cơ sở và cho nông dân; (6) Xây dựng câu lạc bộ KN, nhóm nông dân sản xuất giỏi, nhóm hộ nông dân cùng sở thích; (7) Hợp tác với các tổ chức và cá nhân thực hiện hoạt động KN

* Cấp xã, thôn thành lập mạng lưới KN cơ sở

Cán bộ KN ở cơ sở không thuộc biên chế nhà nước, làm việc theo chế

độ hợp đồng dài hạn hoặc ngắn hạn Cán bộ KN cơ sở thực hiện nhiệm vụ theo hợp đồng cơ bản gồm: (1) Tự bồi dưỡng nâng cao trình độ và hiểu biết

về chuyên môn, kinh tế - xã hội, nghiệp vụ KN; (2) Cố vấn kỹ thuật và thông tin thị trường cho nông dân; (3) Thực thi các dự án khyến nông trên địa bàn phụ trách; (4) Thực hiện, tổ chức và theo dõi các mô hình sản xuất tiên tiến; (5) Điều tra thu thập thông tin làm cơ sở cho xây dựng và triển khai dự án KN; (6) Hàng tháng tổng hợp tình hình hoạt động KN viết và trình bày báo cáo tại các kỳ họp giao ban thường niên

Trang 34

* Trên thực tế cho ta thấy KN đã có những đóng góp to lớn trong qúa trình phát triển nông nghiệp, nông thôn của nước ta, nâng cao trình độ dân trí

và trình độ kỹ thuật cho nông dân Phần lớn các giống cây, làm tăng năng suất, chất lượng cây trồng vật nuôi

* Với nhiệm vụ giúp UBND huyện và xã xây dựng và tổ chức, thực hiện các chương trình khuyến ngư nông lâm trên địa bàn được phân công, tham gia phòng chống dịch bệnh thuộc lĩnh vực KN lâm ngư, Phối hợp với các tổ chức quần chúng, đoàn thể ở các địa phương vận động nông dân, các chủ trang trại áp dụng tiến bộ KH-KT vào sản xuất, tuyên truyền vận động khuyến cáo những mô hình, chương trình chuyển đổi thành công thuộc lĩnh vực KN lâm ngư, báo cáo tình hình sản xuất nông nghiệp tại địa phương…Để làm tốt công việc này lãnh đạo Trung tâm đã phân công 01 phó giám đốc phụ trách, Phòng kế hoạch thông tin trực tiếp điều hành nhiệm vụ chuyên môn, mỗi tháng họp giao ban định kỳ 1 lần có sự tham gia của Lãnh đạo và các Phòng chuyên môn của Trung tâm Các khuyến nông viên cơ sở phản ánh tình hình sản xuất, các thông tin, tâm tư nguyện vọng của bà con nông dân, phát hiện kịp thời những khó khăn, thuận lợi trong sản xuất tại địa phương và nhận

sự chỉ đạo và điều hành về nhiệm vụ chuyên môn thời gian tới

Có thể thấy đội ngũ khuyến nông viên cơ sở có vai trò quan trọng Thời gian qua nhờ đội ngũ này tình hình sản xuất tại các địa phương được phản ánh nhanh nhạy nên các cơ quan chức năng chỉ đạo kịp thời hạn chế mức thấp nhất thiệt hại về nông nghiệp, khuyến nông viên cơ sở là hạt nhân nòng cốt trong tổ chức các hoạt động KN trên địa bàn xã Họ tiếp xúc trực tiếp với nông dân để nắm rõ nhu cầu về tổ chức sản xuất cây con, trang trại, gia trại, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, con vật nuôi và phát triển các ngành nghề khác tại cơ sở, hỗ trợ lựa chọn đối tượng phù hợp tham gia KN, hỗ trợ và triển khai các lớp đào tạo, tập huấn, mô hình trình diễn, cung cấp, tư vấn kỹ thuật cho

Trang 35

người dân, giám sát và hỗ trợ tại hộ Không những thế, đội ngũ này còn tham gia triển khai nhiều hoạt động phát triển sản xuất nông nghiệp trên địa bàn xã góp phần nâng cao thu nhập cho bà con nông dân ở các địa phương

1.2.3 Các nghiên cứu liên quan

Chủ đề KN thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà quản lý, nhà khoa học trong và ngoài nước Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề này, như:

* Đỗ Đức Mẫn (2011) “Nghiên cứu giải pháp KN có sự tham gia nhằm đáp ứng nhu cầu của nông hộ tại xã Hóa Trung, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên”, Khóa luận tốt nghiệp Đại học, Trường Đại học Nông nghiệp

Hà Nội Tác giả đi sâu vào nghiên cứu thực trạng nhu cầu tiếp cận và tham gia các hoạt động KN, các giải pháp KN có sự tham gia đã triển khai, từ đó đề xuất một số giải pháp KN có sự tham gia nhằm đáp ứng nhu cầu của nông hộ tại xã Hóa Trung, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên

* Phạm Thị Ngoan (2011) “Nghiên cứu hoạt động KN trên địa bàn huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh”, Khóa luận tốt nghiệp Đại học, Trường Đại

học Nông nghiệp Hà Nội Là công trình nghiên cứu cho chúng ta thấy thực trạng công tác KN, những thành tựu và hạn chế; qua đó, đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động KN trên địa bàn huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh

* Phạm Ngọc Hải (2011) “Nghiên cứu nhu cầu và khả năng đáp ứng dịch vụ KN của Trạm KN huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An”, Khóa luận tốt

nghiệp Đại học, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội Đề tài đi vào nghiên cứu nhu cầu của các hộ nông dân đối với các hoạt động KN và khả năng đáp ứng nhu cầu đó của Trạm KN, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác KN của Trạm KN huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An…

Trang 36

Và còn rất nhiều công trình nghiên cứu khác Song, nhìn chung các công trình trên chỉ bàn đến việc định hướng các hoạt động KN, phương pháp

KN, giải pháp KN nhằm đáp ứng nhu cầu hoặc hoàn thiện tổ chức KN mà chưa đề cập đến vấn đề nghiên cứu ảnh hưởng của KN đến phát triển sản xuất của nông hộ

Vì vậy, đề tài này sẽ đi sâu nghiên cứu ảnh hưởng của KN đến phát triển sản xuất của nông hộ trên địa bàn huyện Quốc Oai Từ đó đưa ra các giải pháp để phát triển hơn nữa hoạt động KN trên địa bàn huyện

Trang 37

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU 2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

2.1.1 Giới thiệu chung về địa bàn nghiên cứu

Trước đây, Quốc Oai là một trong 14 huyện của tỉnh Hà Tây (cũ) Từ 1/8/2008, theo Nghị quyết của Quốc hội và quyết định của Thủ tướng Chính Phủ, tỉnh Hà Tây hợp nhất với Hà Nội, huyện Quốc Oai đã tiếp nhận thêm xã Đông Xuân (tách từ huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình), nâng tổng diện tích lên 147 km2 và số dân lên 172.691 nhân khẩu

Hiện nay, Quốc Oai có 1 thị trấn và 20 xã (Thị trấn Quốc Oai và các xã: Phú Mãn, Phú Cát, Hoà Thạch, Tuyết Nghĩa, Đông Yên, Liệp Tuyết, Ngọc Liệp, Ngọc Mỹ, Cấn Hữu, Nghĩa Hương, Thạch Thán, Đồng Quang, Sài Sơn, Yên Sơn, Phượng Cách, Tân Phú, Đại Thành, Tân Hoà, Cộng Hoà, Đông Xuân) trong đó có 2 xã miền núi là Đông Xuân và Phú Mãn Dân số của huyện tính đến tháng 12 năm 2013 là 172.691 người (2,5% dân số Hà Nội) Mật độ dân số là 1.175 người/km2)

2.1.2 Đặc điểm tự nhiên

Hình 2.1 Bản đồ hành chính huyện Quốc Oai – Hà Nội

Trang 38

2.1.2.1 Vị trí địa lý, địa hình

Huyện Quốc Oai nằm ở khoảng giữa khu vực phía tây Hà Nội, giáp danh với tỉnh Hoà Bình Cách trung tâm Hà Nội 20 km về phía Tây, huyện được giới hạn bởi: Phía Bắc giáp với huyện Thạch Thất; Phía Đông giáp huyện Hoài Đức; Phía Nam giáp huyện Chương Mỹ; Phía Tây giáp với huyện Lương Sơn tỉnh Hòa

Diện tích tự nhiên của huyện là 147 km2, chiếm 4,4% diện tích tự nhiên của Hà Nội Quốc Oai vốn có những lợi thế nhất định về vị trí địa lý, đất đai: Không chỉ là nằm trong vùng kinh tế trọng điểm của Bắc Bộ, mà còn thuộc phạm vi quy hoạch chuỗi đô thị lớn: Miếu Môn – Xuân Mai – Hòa Lạc – Sơn Tây, đã được Thủ tướng phê duyệt tại QĐ 372/QĐ - TTg

2.1.2.2 Điều kiện khí hậu

Quốc Oai có khí hậu nhiệt đới gió mùa, hàng năm có 4 mùa rõ rệt Mùa

hạ, nhiệt độ trung bình 25-350C, đây là mùa có nhiều mưa bão, gây ảnh hưởng lớn đến phát triển sản xuất, đặc biệt là trong lĩnh vực nông nghiệp Mùa đông

có nhiệt độ trung bình 16-220C

Điều kiện khí hậu thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp đa dạng Vùng đồng bằng ven sông phù hợp để canh tác cây nông nghiệp, vùng gò đồi

có thể phát triển tốt các giống cây ăn quả, cây công nghiệp

- Lượng mưa và bốc hơi:

+ Lượng mưa bình quân năm là 1.628 mm, phân bố trong năm không đều, mưa tập trung từ tháng 4 đến tháng 10, lượng mưa ngày lớn nhất có thể tới 336mm Mùa khô từ cuối tháng 10 đầu tháng 11 đến tháng 3 năm sau, những tháng mưa ít nhất trong năm là tháng 12, tháng 1 và tháng 2

+ Lượng bốc hơi: bình quân năm là 989 mm, trong các tháng mưa ít lượng bốc hơi cao, do đó mùa khô đã thiếu nước lại càng thiếu hơn, tuy nhiên

Trang 39

do hệ thống thuỷ lợi tương đối tốt nên ảnh hưởng không lớn đến cây trồng vụ đông xuân trên địa bàn Huyê ̣n

- Độ ẩm không khí: độ ẩm không khí trung bình năm là 84% Độ ẩm không khí thấp nhất trong năm là các tháng 11, tháng 12, tuy nhiên chênh lệch

về độ ẩm không khí giữa các tháng trong năm không lớn

- Gió: hướng gió thịnh hành về mùa khô là gió mùa Đông Bắc từ tháng

11 đến tháng 3 năm sau Còn lại các tháng trong năm chủ yếu là gió Nam, gió Đông Nam và gió Tây Nam

2.1.2.3 Đặc điểm địa hình

Địa hình mang tính chất chuyển tiếp giữa miền núi và đồng bằng, lại bị chia cắt nhiều bởi sông ngòi nên khá phức tạp Địa hình Quốc Oai được chia làm ba 3 vùng sinh thái khá rõ là: Vùng Bãi sông Đáy; vùng bán sơn địa và các xã miền núi Hai con sông Đáy và sông Tích chảy song song trên địa bàn huyện không chỉ tạo điều kiện thuận lợi cho giao thông đường thủy mà còn đem lại nguồn nước dồi dào phục vụ sản xuất, phát triển kinh tế Trong đó vùng ven sông chủ yếu phát triển cây ăn quả, rau màu, chăn nuôi bò sữa; vùng đồng bằng trung tâm tập trung phát triển cây lương thực mà lúa là cây trồng chủ đạo; vùng bán sơn địa trồng cây ăn quả, cây lấy gỗ, chăn nuôi gia súc và một số cây khác

2.1.2.4 Điều kiện thuỷ văn

Đi ̣a bàn huyê ̣n Quốc Oai có hai con sông lớn chảy qua: sông Đáy tiếp giáp phía Đông của huyê ̣n và sông Tích đi qua trung tâm huyê ̣n

Sông Đáy là phân lưu của sông Hồng Sông có chiều dài 240 km, lòng sông he ̣p và nông do bồi lắng, sông có bãi rô ̣ng và nhiều khu trũng có bu ̣ng chứ a lớn, nên có khả năng điều tiết rất lớn, hê ̣ số uốn khúc khá lớn 1,7 Sông Đáy đoa ̣n đi qua huyê ̣n Quốc Oai có chiều dài 15 km Sông Tích bắt đầu từ

nú i Tản Viên (Ba Vì) theo hướng Tây Bắc – Đông Nam chảy vào sông Đáy

Trang 40

tại Ba Thá, sông dài 91 km, diê ̣n tích lưu vực 1.330 km2 (phần phía bờ phải 910km2 và phần phía bờ trái 390km2 ) Lưu vực dài 75,5 km, rô ̣ng 17,6 km,

đô ̣ cao trung bình lưu vực 92m, đô ̣ dốc trung bình lưu vực 5,8%, mâ ̣t đô ̣ lưới sông 0,66 km/km2 Đô ̣ dốc của lòng sông không lớn nhưng đô ̣ dốc của các nhánh khá lớn trung bình 10 – 20m/km có suối tới 30m/km Sông Đáy đoa ̣n chảy qua huyê ̣n Quố c Oai có chiều dài 18km

Nhìn chung, tài nguyên nước của Quốc Oai đã có dấu hiê ̣u suy kiê ̣t: nước ao hồ bi ̣ ô nhiễm, nước sông Tích dễ gây úng trong mùa mưa, ca ̣n kiê ̣t về mù a khô do bi ̣ bồi lấp, nước sông Đáy ha ̣n chế

2.1.2.5 Tài nguyên khoáng sản, môi trường

Tài nguyên khoáng sản: Khoáng sản có trữ lượng để khai thác là đá vôi, sét, cát, than bùn, trong đó tại khu vực đồi núi có loại đá vân đẹp có thể sản xuất đá xẻ trang trí, có đá vôi độ tinh khiết cao có thể dùng sản xuất sản phẩm

mỹ nghệ và CaCO3 (bột nhẹ) dùng cho ngành công nghiệp cao su, NaHCO3 (thuốc muối) dùng cho ngành y tế Đất sét ở nhiều khu vực có thể sản xuất vật liêu xây dựng, cát ở Lam Điền có thể khai thác Than bùn có ở nhiều xã Tuy nhiên do để bảo vệ cảnh quan và sử dụng cho mục đích quốc phòng việc khai thác đá đã chấm dứt; để bảo vệ môi trường nhiều khu vực cũng đã cấm khai thác đất sản xuất VLXD; để chống sói lở đất và bảo vệ đê huyện cũng không cho phép khai thác cát

2.1.2.6 Tài nguyên rừng

Toàn huyện Quốc Oai có 04 xã có rừng, gồm có Đông Xuân, Đông Yên, Hòa Thạch, Phú Mãn Tổng diện tích rừng và đất lâm nghiệp là: 1.493,07 ha Diện tích đất có rừng là 1.293,70 ha, đất trống quy hoạch dành cho lâm nghiệp là 199,37 ha; diện tích rừng trồng là 1.005,25 ha có trữ lượng, diện tích rừng tự nhiên của huyện là 288,45 ha Rừng trồng trên đất lâm

Ngày đăng: 18/05/2021, 17:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. A.W.VandenBan và H.S.Hawskins (1996), Khuyến nông, (Nguyễn Văn Linh dịch), Nxb nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khuyến nông, (Nguyễn Văn Linh dịch)
Tác giả: A.W.VandenBan và H.S.Hawskins
Nhà XB: Nxb nông nghiệp
Năm: 1996
2. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2008), Báo cáo tổng kết hoạt động khuyến nông-khuyến ngư giai đoạn 1993-2008 và định hướng hoạt động giai đoạn 2009-2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết hoạt động khuyến nông-khuyến ngư giai đoạn 1993-2008 và định hướng hoạt động giai đoạn 2009-2020
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Năm: 2008
3. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2012), Báo cáo tổng kết công tác khuyến nông toàn quốc năm 2011 và triển khai kế hoạch khuyến nông năm 2012, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2012), "Báo cáo tổng kết công tác khuyến nông toàn quốc năm 2011 và triển khai kế hoạch khuyến nông năm 2012
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Năm: 2012
4. Chính phủ (2010), Nghị định số 02/2010/NĐ-CP quy định về công tác khuyến nông, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 02/2010/NĐ-CP quy định về công tác khuyến nông
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2010
5. Đỗ Kim Chung (2008), Phương pháp khuyến nông và Tổ chức công tác khuyến nông, Bài giảng cho cán bộ Khuyến nông Bắc Ninh, Trường Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp khuyến nông và Tổ chức công tác khuyến nông
Tác giả: Đỗ Kim Chung
Năm: 2008
6. Phạm Ngọc Hải (2011), Nghiên cứu nhu cầu và khả năng đáp ứng dịch vụ KN của Trạm KN huyện Quế Phong,tỉnh Nghệ An, Khóa luận tốt nghiệp Đại học, Trường Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu nhu cầu và khả năng đáp ứng dịch vụ KN của Trạm KN huyện Quế Phong,tỉnh Nghệ An
Tác giả: Phạm Ngọc Hải
Năm: 2011
7. Trương Thị Mỹ Hoa (2011), Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam, Tóm tắt Luận văn thạc sĩ kinh tế, Đại học Đà Nẵng, Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam
Tác giả: Trương Thị Mỹ Hoa
Năm: 2011
8. Huyện ủy Quốc Oai (2013), Báo cáo sơ kết 2 năm thực hiện Nghị quyết số 16-NQ/HU về chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp trên địa bàn huyện Quốc Oai giai đoạn 2011-2015, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Huyện ủy Quốc Oai (2013), "Báo cáo sơ kết 2 năm thực hiện Nghị quyết số 16-NQ/HU về chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp trên địa bàn huyện Quốc Oai giai đoạn 2011-2015
Tác giả: Huyện ủy Quốc Oai
Năm: 2013
9. Huyện ủy Quốc Oai (2014), Báo cáo sơ kết 4 năm thực hiện Nghị quyết 01- NQ/HU về lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010- 2015 và những năm tiếp theo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Huyện ủy Quốc Oai (2014), "Báo cáo sơ kết 4 năm thực hiện Nghị quyết 01-NQ/HU về lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2015 và những năm tiếp theo
Tác giả: Huyện ủy Quốc Oai
Năm: 2014
10. Nguyễn Thị Hường (2013), “Vấn đề chuyển giao tiến khoa học, công nghệ vào sản xuất nông nghiệp hiện nay”, Tạp chí Kinh tế và dự báo, (số 23), Tr.10-11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề chuyển giao tiến khoa học, công nghệ vào sản xuất nông nghiệp hiện nay”, "Tạp chí Kinh tế và dự báo
Tác giả: Nguyễn Thị Hường
Năm: 2013
11. Nguyễn Phượng Lê (2009), Bài giảng Phương pháp khuyến nông, Trường Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng Phương pháp khuyến nông
Tác giả: Nguyễn Phượng Lê
Năm: 2009
12. Đỗ Đức Mẫn (2011), Nghiên cứu giải pháp KN có sự tham gia nhằm đáp ứng nhu cầu của nông hộ tại xã Hóa Trung, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên, Khóa luận tốt nghiệp Đại học, Trường Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu giải pháp KN có sự tham gia nhằm đáp ứng nhu cầu của nông hộ tại xã Hóa Trung, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên
Tác giả: Đỗ Đức Mẫn
Năm: 2011
13. Phạm Thị Ngoan (2011), Nghiên cứu hoạt động KN trên địa bàn huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh, Khóa luận tốt nghiệp Đại học, Trường Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu hoạt động KN trên địa bàn huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh
Tác giả: Phạm Thị Ngoan
Năm: 2011
14. Nguyễn Thị Thu Phương (2009), Thực trạng và một số giải pháp KN nhằm phát triển sản xuất cây ăn quả trên địa bàn huyện Sóc Sơn – TP.Hà Nội, Luận văn Thạc sĩ kinh tế, Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh Thái Nguyên, Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và một số giải pháp KN nhằm phát triển sản xuất cây ăn quả trên địa bàn huyện Sóc Sơn – TP.Hà Nội
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Phương
Năm: 2009
15. Thủ tướng Chính phủ (2009), Quyết định số 491/QĐ-TTg ban hành Bộ Tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 491/QĐ-TTg ban hành Bộ Tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới
Tác giả: Thủ tướng Chính phủ
Năm: 2009
16. Thủ tướng Chính phủ (2010), Quyết định số 800/QĐ-TTg ban hành về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 – 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 800/QĐ-TTg ban hành về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 – 2020
Tác giả: Thủ tướng Chính phủ
Năm: 2010
17. Thủ tướng Chính phủ (2013), Quyết định số 342/QĐ-TTg ban hành một số tiêu chí của Bộ Tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 342/QĐ-TTg ban hành một số tiêu chí của Bộ Tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới
Tác giả: Thủ tướng Chính phủ
Năm: 2013
18. Trần Thị Thoa (2012), “Vấn đề thực hiện chính sách phát triển nông thôn”, Nội san,(số 4), Tr.5-6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “"Vấn đề thực hiện chính sách phát triển nông thôn”", Nội san
Tác giả: Trần Thị Thoa
Năm: 2012
19. Tổng cục thống kê (2012), Đánh giá tổng quan về thực trạng nông thôn, nông nghiệp từ kết quả Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp và thủy sản năm 2011, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Đánh giá tổng quan về thực trạng nông thôn, nông nghiệp từ kết quả Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp và thủy sản năm 2011
Tác giả: Tổng cục thống kê
Năm: 2012
20. Tổng cục Thống kê (2014), Niên giám thống kê năm 2013, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê năm 2013
Tác giả: Tổng cục Thống kê
Năm: 2014

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w