1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số giải pháp nhằm phát triển du lịch bền vững trên địa bàn tỉnh quảng bình

118 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một số giải pháp nhằm phát triển du lịch bền vững trên địa bàn tỉnh Quảng Bình
Tác giả Hoàng Ngọc Đan
Người hướng dẫn Tiến sĩ Lê Khắc Côi
Trường học Đại học Lâm nghiệp Việt Nam
Chuyên ngành Du lịch
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2012
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 1,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xác định vị trí quan trọng của ngành du lịch đối với sự phát triển kinh tế -xã hội và để khai thác hợp lý các tiềm năng du lịch phong phú, Quảng Bình đã coi phát triển du lịch là một tro

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, luận văn này là kết quả nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của giáo viên hướng dẫn Các thông tin và kết quả nghiên cứu trong luận văn là do tôi tự tìm hiểu, đúc kết và phân tích một cách trung thực, phù hợp với tình hình thực tế Mọi thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn

Hoàng Ngọc Đan

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Luận văn là kết quả của quá trình học tập, nghiên cứu ở nhà trường, kết hợp với kinh nghiệm thực tiễn trong quá trình công tác, sự nỗ lực cố gắng của bản thân

Đạt được kết quả này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến quý thầy, cô giáo trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam đã nhiệt tình giúp đỡ, hỗ trợ cho tôi trong suốt quá trình học tập Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến Thầy giáo, Tiến sĩ Lê Khắc Côi - là người trực tiếp hướng dẫn khoa học, Thầy đã dày công giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu

và hoàn thành luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn đến Lãnh đạo UBND tỉnh Quảng Bình, Văn phòng UBND tỉnh Quảng Bình, Sở Văn hóa thể thao và Du lịch Quảng Bình, Cục thống kê tỉnh Quảng Bình, các sở: Kế hoạch đầu tư, Tài chính, Tài nguyên – Môi trường, Xây dựng tỉnh Quảng Bình; Vườn Quốc gia Phong Nha

Kẽ Bàng, Lãnh đạo Ủy ban nhân dân thành phố Đồng Hới, huyện Lệ Thủy đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi nghiên cứu và hoàn thành luận văn này

Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè, người thân luôn động viên, khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu để hoàn thành luận văn

Mặc dù bản thân đã rất cố gắng nhưng luận văn không tránh khỏi những khiếm khuyết, tôi mong nhận được sự góp ý chân thành của quý thầy,

cô giáo, đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn

Xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày 01 tháng 11 năm 2012

Hoàng Ngọc Đan

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

LỜI MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Nội dung nghiên cứu 3

5 Phương pháp nghiên cứu 4

6 Kết cấu của luận văn 4

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG 6

1.1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH 6

1.1.1 Khái niệm du lịch 6

1.1.2 Một số khái niệm liên quan 8

1.2 LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG 10

1.2.1 Khái niệm phát triển bền vững 10

1.2.2 Phát triển du lịch bền vững 13

1.2.3 Nội dung phát triển du lịch bền vững 14

1.2.4 Các tiêu chí đánh giá phát triển du lịch bền vững 16

1.2.5 Các nhân tố tác động đến phát triển du lịch bền vững 17

1.3 MỘT SỐ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VÀ TRONG NƯỚC VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG 17

1.3.1 Kinh nghiệm quốc tế 17

1.3.3 Những bài học rút ra cho phát triển du lịch bền vững Quảng Bình 22

Chương 2: ĐẶC ĐIỂM VÀ TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN DU LỊCH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG BÌNH 24

Trang 4

2.1 KHÁI QUÁT ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ -XÃ HỘI VÀ CÁC NGUỒN LỰC PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG TRÊN ĐỊA BÀN

TỈNH QUẢNG BÌNH 24

2.1.1 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên du lịch tự nhiên 24

2.1.2 Điều kiện kinh tế -xã hội và tài nguyên du lịch nhân văn 37

2.1.3 Các động lực phát triển du lịch khác 43

2.2 HỆ THỐNG CƠ SỞ HẠ TẦNG PHỤC VỤ DU LỊCH 45

2.2.1 Hệ thống hạ tầng kỹ thuật 45

2.2.2 Hệ thống hạ tầng xã hội 48

2.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ CÁC ĐIỀU KIỆN VÀ NGUỒN LỰC PHÁT TRIỂN DU LỊCH 50

2.4 ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH QUẢNG BÌNH ĐẾN NĂM 2010 51

2.4.1 Khách du lịch 51

2.4.2 Thu nhập và GDP du lịch 56

2.4.3 Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch 57

2.2.4 Công tác xúc tiến, quảng bá du lịch 59

2.4.5 Lao động và việc làm 60

2.4.6 Tình hình đầu tư và phát triển du lịch 60

2.4.7 Công tác quản lý Nhà nước về du lịch 62

2.5 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN NGÀNH DU LỊCH QUẢNG BÌNH 63

2.5.1 Đánh giá chung về tình hình du lịch Quảng Bình 63

2.5.2 Đánh giá tính bền vững của du lịch Quảng Bình dựa vào hệ thống tiêu chí 64

2.6 THUẬN LỢI, KHÓ KHĂN VÀ THÁCH THỨC TRONG PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG BÌNH 67

2.6.1 Những thuận lợi 67

2.6.2 Những khó khăn 68

2.6.3 Thách thức 68

Chương 3: PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NGÀNH DU LỊCH QUẢNG BÌNH ĐẾN NĂM 2025 69

Trang 5

3.1 CƠ SỞ TIỀN ĐỀ CHO VIỆC ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP 69

3.1.1 Vị trí của du lịch Quảng Bình trong vùng Bắc Trung bộ và đối với kinh tế Quảng Bình 69

3.1.2 Mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020 70

3.1.3 Quan điểm phát triển du lịch bền vững tỉnh Quảng Bình đến năm 2020 72 3.1.4 Mục tiêu phát triển du lịch tỉnh Quảng Bình đến năm 2020 72

3.1.5 Các chỉ tiêu phát triển chủ yếu 73

3.2 MỘT SỐ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG Ở QUẢNG BÌNH 78

3.2.1 Định hướng phát triển các thị trường khách du lịch 78

3.2.2 Định hướng phát triển các sản phẩm du lịch 82

3.2.3 Định hướng phát triển không gian lãnh thổ du lịch 84

3.3 CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG TRÊN ĐỊA BÀN QUẢNG BÌNH ĐẾN NĂM 2020 89

3.3.1 Phát triển du lịch bền vững về kinh tế 89

3.3.2 Nhóm các giải pháp phát triển bền vững về tài nguyên - môi trường 100

3.3.3 Nhóm giải pháp phát triển du lịch bền vững về xã hội 102

3.3.4 Giải pháp về tài chính 105

3.3.5 Giải pháp về quản lý phát triển du lịch 106

KẾT LUẬN 108

TÀI LIỆU THAM KHẢO viii

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU

ASEAN : Association of Southeast Asian Nations - Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

ASEANTA : Association of Southeast Asian Nations Tourism Association - Hiệp hội Du lịch Đông Nam Á

CMKT : Chuyên môn kỹ thuật

GTGT : Giá trị gia tăng

HĐH : Hiện đại hóa

KCN : Khu Công nghiệp

SXKD : Sản xuất kinh doanh

QHCT : Quy hoạch chi tiết

TNHH : Trách nhiệm hữu hạn

TTCN : Tiểu thủ công nghiệp

Vnđ : Đồng Việt Nam

WTO : World Trade Organization - Tổ chức Thương mại Thế giới

UBND : Ủy ban nhân dân

USD : Đô-la Mỹ

Trang 7

2.7 Hiện trạng doanh thu và đóng góp của du lịch trong GDP 56 2.8 Hiện trạng cơ sở lưu trú Quảng Bình 58

3.1 Dự báo khách du lịch Quảng Bình 74 3.2 Dự báo mức chi tiêu bình quân 74

3.5 Dự báo nhu cầu buồng lưu trú 76 3.6 Dự báo tỷ trọng của du lịch trong GDP và nhu cầu vốn đầu tư 77

Trang 8

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong tiến trình phát triển, mọi quốc gia đều đặt mục tiêu phát triển bền vững cho mọi chương trình hành động của mình Đây là hướng đi đúng đắn và cần thiết, là yêu cầu tất yếu đặc biệt là với các quốc gia đang phát triển, đang trong quá trình CNH - HĐH đất nước, trong đó có Việt Nam chúng ta Du lịch là một ngành phát triển nhanh và đã trở thành một trong những ngành kinh tế quan trọng của nhiều nước trên thế giới Vì vậy, nâng cao hiệu quả đầu tư phát triển du lịch một cách bền vững là phù hợp với xu thế thời đại, phù hợp với đường lối phát triển kinh

tế của Việt Nam

Quảng Bình nằm ở vùng Bắc Trung Bộ Phía Bắc giáp Hà Tĩnh, phía Nam giáp Quảng Trị, phía Tây giáp Lào và phía Đông giáp biển Đông Là tỉnh có vị trí chiến lược quan trọng về kinh tế, an ninh quốc phòng, nằm trên hành lang Kinh tế Đông Tây của Việt Nam

Hệ thống giao thông của Quảng Bình tương đối thuận lợi với các tuyến giao thông quan trọng của Quốc gia như Quốc lộ 1A, đường sắt Bắc Nam, đường Hồ Chí Minh Đồng thời, Quảng Bình còn có sân bay Đồng Hới, cửa khẩu quốc tế Cha Lo

và một số cửa khẩu phụ khác thông sang Lào và cảng biển Hòn La tạo thuận lợi cho Quảng Bình trong việc kết nối đến các thị trường du lịch quan trọng của Việt Nam

Nguồn tài nguyên du lịch của Quảng Bình phong phú, đa dạng cả tự nhiên lẫn nhân văn Quảng Bình vừa có rừng, vừa có biển, với nhiều cảnh quan thiên nhiên đẹp như cửa biển Nhật Lệ, đèo Ngang, đèo Lý Hoa, Bãi Đá Nhảy và đặc biệt là Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng với động Phong Nha được công nhận

là di sản thiên nhiên thế giới - một trong những hang động đẹp nhất thế giới với nhiều kỷ lục Guiness về hang động Với bề dày lịch sử, Quảng Bình còn nổi tiếng với những tài nguyên du lịch nhân văn từ các di chỉ văn hóa cổ thuộc nền văn hóa Hòa Bình và Đông Sơn, các di tích lịch sử như Quảng Bình Quan, Lũy Thầy, Rào Sen, hệ thống các di tích, địa danh nổi tiếng trong hai cuộc kháng chiến chống xâm lược của dân tộc như Cự Nẫm, Cảnh Dương, Cha Lo, Cổng Trời, Xuân Sơn, Long

Trang 9

Đại, đường Hồ Chí Minh cho đến các giá trị văn hóa truyền thống về ẩm thực, biểu diễn nghệ thuật Những người con của đất Quảng Bình đã trở thành những danh nhân của Việt Nam trên nhiều lĩnh vực quân sự, văn hóa - xã hội như Dương Văn An, Nguyễn Hữu Cảnh, Nguyễn Hàm Ninh, Hoàng Kế Viêm, Võ Nguyên Giáp tất cả tạo thành những tiền đề quan trọng để du lịch Quảng Bình phát triển

Trong những năm qua, du lịch Quảng Bình đã có tăng trưởng vượt bậc, lượng khách tăng trưởng với tốc độ cao, thu hút được nhiều du khách trong và ngoài nước, tạo ra nguồn thu ngân sách cho địa phương, giải quyết công ăn việc làm cho hàng ngàn lao động, cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật ngày càng hoàn thiện Xác định vị trí quan trọng của ngành du lịch đối với sự phát triển kinh tế -xã hội và để khai thác hợp

lý các tiềm năng du lịch phong phú, Quảng Bình đã coi phát triển du lịch là một trong những thế mạnh chủ yếu trong Chiến lược phát triển kinh tế của tỉnh Tuy nhiên trong những năm qua vừa qua, nhiều yếu tố mới xuất hiện, đặt ra những phương hướng và nhiệm vụ mới cho phát triển kinh tế -xã hội Quảng Bình nói chung và du lịch nói riêng

Do vậy, những nghiên cứu chuyên sâu nhằm tìm ra các định hướng phát triển bền vững để giúp ngành du lịch Quảng Bình có những bước tiến vượt bậc, khai thác triệt để những tiềm năng về môi trường sinh thái, văn hóa, xã hội cũng như tạo ra những lợi thế so sánh để phát triển du lịch bền vững cho tỉnh Quảng Bình, phù hợp với đặc điểm kinh tế - xã hội và xu thế phát triển là điều cần thiết, có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển du lịch Quảng Bình không chỉ trong thời gian trước mắt mà còn cho giai đoạn lâu dài

Vì vậy tôi chọn nghiên cứu đề tài “Một số giải pháp nhằm phát triển du lịch bền vững trên địa bàn tỉnh Quảng Bình” làm đề tài luận văn tốt nghiệp cao

học của mình

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Mục tiêu tổng quát: góp phần tích cực vào việc phát triển du lịch theo hướng bền vững

- Mục tiêu cụ thể:

Trang 10

+ Hệ thống hóa về cơ sở lý luận phát triển du lịch bền vững;

+ Đánh giá thực trạng, tình hình, tài nguyên, sản phẩm du lịch ở khu vực nghiên cứu Nghiên cứu thực trạng và đưa ra những bài học kinh nghiệm trong việc phát triển du lịch bền vững trên địa bàn tỉnh Quảng Bình;

+ Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch bền vững;

+ Đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm phát triển du lịch bền vững phù hợp với đặc điểm tình hình của tỉnh Quảng Bình

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Phát triển du lịch bền vững trên địa bàn tỉnh Quảng Bình

- Phạm vi nghiên cứu của đề tài:

+ Phạm vi về nội dung: những giải pháp nhằm phát triển du lịch bền vững trên địa bàn tỉnh Quảng Bình

+ Phạm vi về không gian: được giới hạn trên địa bàn tỉnh Quảng Bình Tuy nhiên, luận văn cũng có đề cập đến một số khu vực phụ cận, một số khu du lịch, các tua, tuyến du lịch liên quan trực tiếp đến phát triển du lịch ở Quảng Bình

+ Phạm vi về thời gian: nghiên cứu về thực trạng phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh Quảng Bình thời kỳ 2000 - 2011 và đề xuất các giải pháp nhằm phát triển

du lịch bền vững trên địa bàn tỉnh Quảng Bình cho giai đoạn 2012 – 2015, định hướng đến năm 2025

4 Nội dung nghiên cứu

4.1 Cơ sở lý luận về vấn đề nghiên cứu

- Khái niệm du lịch

- Phát triển bền vững

- Phát triển du lịch bền vững

- Tình hình phát triển du lịch trên thế giới và Việt Nam

4.2 Đặc điểm và tình hình phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh Quảng Bình

- Đặc điểm cơ bản tỉnh Quảng Bình

- Đánh giá tình hình phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2006 - 2010

Trang 11

4.3 Mục tiêu phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh Quảng Bình

4.4 Định hướng phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh Quảng Bình

4.5 Giải pháp phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh Quảng Bình

5 Phương pháp nghiên cứu

+ Phương pháp điều tra thực địa

Để hoàn thành bài khoá luận việc điều tra thực địa là rất quan trọng Phương pháp này giúp cho việc sưu tầm, thu thập tài liệu, số liệu thêm phong phú, xác thực, đồng thời phương pháp thực địa giúp kiểm chứng lại những số liệu, tài liệu có liên quan, từ đó có những đánh giá xác thực hơn và làm cơ sở cho các phương khác

+ Phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh

Phương pháp này sử dụng để thống kê tài liệu, số liệu, các thông tin thu thập được từ thực tế, từ thư viện hay từ các nguồn khác… rồi phân tích xử lý và lựa chọn tổng hợp theo yêu cầu của khoá luận

+ Kế thừa số liệu về điều kiện cơ bản của các khu vực nghiên cứu

+ Phương pháp toán học và thống kê du lịch

Phương pháp toán học và thống kê du lịch được sử dụng trong khoá luận để tập hợp, thống kê các di tích lịch sử văn hoá, các danh lam thắng cảnh, tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên nhân văn quan trọng, thống kê đánh giá lượng khách, doanh thu tỷ trọng và mức độ tăng trưởng du lịch Tính toán cân đối các số liệu, từ đó xác định thực trạng và hiệu quả phát triển

+ Phương pháp dự báo

Phương pháp sử dụng trong việc đề ra các định hướng mục tiêu và các giải pháp phát triển du lịch bền vững của tỉnh Quảng Bình

+ Phương pháp chuyên gia : tham khảo ý kiến của các nhà tư vấn, các

chuyên gia trong việc phát triển du lịch bền vững, nhất là trong công tác qui hoạch

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài lời cảm ơn, phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của khóa luận được kết cấu thành 3 chương:

Chương I: Cơ sở lý luận về phát triển du lịch bền vững

Trang 12

Chương II: Đặc điểm và tình hình phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2000 - 2011

Chương III: Phát triển bền vững ngành du lịch Quảng Bình đến năm 2025

Trang 13

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG

1.1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH

1.1.1 Khái niệm du lịch

Trong đời sống của con người hiện đại ngày nay, du lịch đã trở thành một hiện tượng kinh tế - xã hội phổ biến, nó đã nhanh chóng trở thành nghành kinh tế mũi nhọn của nhiều quốc gia trên thế giới Nhiều nước đã lấy chỉ tiêu đi du lịch của dân cư là một chỉ tiêu để đánh giá chất lượng cuộc sống Và thuật ngữ du lịch đã trở nên rất thông dụng

Thuật ngữ “Du lịch” trong ngôn ngữ nhiều nước bắt nguồn từ tiếng Hi Lạp với nghĩa là đi một vòng Thuật ngữ này được La Tinh hoá thành tornus và sau đó thành tourisme (tiếng Pháp), và tourism (tiếng Anh)

Ở Việt Nam, thuật ngữ Du lịch được dịch thông qua tiếng Hán Du có nghĩa

là chơi, còn lịch có nghĩa là từng trải Tuy nhiên, người Trung Quốc gọi tourism là

du lãm với nghĩa là đi chơi để nâng cao nhận thức

Ngày nay, trên thế giới có rất nhiều khái niệm khác nhau về du lịch Như một chuyên gia nghiên cứu về du lịch đã nhận định: “đối với du lịch, có bao nhiêu tác giả nghiên cứu thì có bấy nhiêu định nghĩa” Đúng vậy, các chuyên gia có các cách tiếp cận khác nhau, cách hiểu khác nhau dưới các góc độ nghiên cứu khác nhau về

du lịch dẫn đến các cách định nghĩa khác nhau về du lịch

Theo liên hiệp Quốc các tổ chức lữ hành chính thức (International Union of Official Travel Oragnization: IUOTO): du lịch được hiểu là hành động du hành đến một nơi khác với địa điểm cư trú thường xuyên của mình nhằm mục đích không phải để làm ăn, tức không phải để làm một nghề hay một việc kiếm tiền sinh sống Hội nghị Liên hợp quốc về du lịch họp tại Roma - Italia (21/8 – 5/9/1963), các chuyên gia đưa ra định nghĩa về du lịch: Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá

Trang 14

nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hoà bình Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ

Theo các nhà du lịch Trung Quốc thì: hoạt động du lịch là tổng hoà hàng loạt quan hệ và hiện tượng lấy sự tồn tại và phát triển kinh tế, xã hội nhất định làm cơ

sở, lấy chủ thể du lịch, khách thể du lịch và trung gian du lịch làm điều kiện

Theo I.I pirôgionic, 1985 thì: Du lịch là một dạng hoạt động của dân cư trong thời gian rỗi liên quan với sự di chuyển và lưu lại tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức văn hoá hoặc thể thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế và văn hoá

Theo Guer Freuler trong cuốn Nhập môn khoa học du lịch: “Du lịch là quá trình hoạt động của con người rời khỏi quê hương đến một nơi khác với mục đích chủ yếu là được thẩm nhận những giá trị vật chất và tinh thần đặc sắc, độc đáo, khác

lạ với quê hương, không nhằm mục đích sinh lời được tính bằng đồng tiền”.

Theo tác giả Nguyễn Cao Thường và Tô Đăng Hải trong giáo trình Thống kê

du lịch: “Du lịch là một ngành kinh tế - xã hội, dịch vụ, có nhiệm vụ phục vụ nhu cầu tham quan, giải trí nghỉ ngơi có hoặc không kết hợp với các hoạt động chữa bệnh, thể thao, nghiên cứu khoa học và các nhu cầu khác”

Theo từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam (2005) du lịch chia ra làm hai nghĩa: Nghĩa thứ nhất: “du lịch là một dạng nghỉ dưỡng sức tham quan tích cực của con người ngoài nơi cư trú với mục đích: nghỉ ngơi, giải trí, xem danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, công trình văn hoá, nghệ thuật.” Nghĩa thứ hai: “du lịch là ngành kinh doanh tổng hợp có hiệu quả cao về nhiều mặt: nâng cao hiểu biết về thiên nhiên, truyền thống lịch sử và văn hoá dân tộc, từ đó góp phần làm tăng tình yêu quê hương đất nước; về mặt kinh tế du lịch là lĩnh vực kinh doanh mang lại hiệu quả kinh tế rất lớn; có thể coi là hình thức xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ tại chỗ.”

Theo Điều 4, Luật du lịch được Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 14 tháng 6 năm 2005 có giải thích

Trang 15

“Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định.”

Các định nghĩa trên đều nêu lên được bản chất của du lịch đó là:

- Là hoạt động của con người rời khỏi nơi cư trú thường xuyên của mình (trừ trường hợp di chuyển đi cư trú chính trị, tìm việc làm hoặc xâm lược)

- Đáp ứng nhu cầu nghỉ ngơi, giải trí, tham quan, tìm hiểu các danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử

- Không mang mục đích kinh tế vì có thể thăm dò để làm kinh tế về sau Tóm lại, du lịch là hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, tìm hiểu giải trí trong một khoảng thời gian nhất định và không mang mục đích kinh

Có thể phân loại sản phẩm du lịch thành hai loại dựa theo đặc tính tiêu thụ của khách hàng như sau: Sản phẩm du lịch trọn vẹn và sản phẩm du lịch riêng lẻ

Đối với sản phẩm du lịch riêng lẻ có thể phân biệt các nhóm sản phẩm sau: Sản phẩm du lịch đặc thù; Sản phẩm du lịch thiết yếu và sản phẩm du lịch mang tính bổ trợ

* Các loại hình du lịch: Theo tác giả Trương Sỹ Quý thì loại hình du lịch có

thể được định nghĩa như sau: “Loại hình du lịch được hiểu là một tập hợp các sản phẩm du lịch có những đặc điểm giống nhau, hoặc vì chúng thỏa mãn những nhu cầu, động cơ du lịch tương tự, hoặc được bán cho cùng một nhóm khách hàng, hoặc

vì chúng có cùng một cách phân phối, một cách tổ chức như nhau, hoặc được xếp chung theo một mức giá bán nào đó”

Trang 16

Các loại hình du lịch được phân loại như sau:

- Theo phạm vi lãnh thổ của chuyến du lịch: Du lịch quốc tế, du lịch nội địa

- Theo nhu cầu trong thực hiện hành vi du lịch: Du lịch nghỉ dưỡng, giải trí;

Du lịch thể thao; du lịch chữa bệnh; Du lịch vì mục đích văn hóa; Du lịch sinh thái;

Du lịch tôn giáo; Du lịch về thăm thân nhân, quê hương; Du lịch thương gia; Du lịch công vụ; Du lịch quá cảnh

Ngoài ra còn phân theo: Theo đối tượng đi du lịch; Theo hình thức tổ chức chuyến đi; Theo phương tiện được sử dụng trong thời gian đi du lịch; Theo loại hình lưu trú; Theo thời gian đi du lịch; Theo vị trí địa lý của nơi đến

* Thị trường du lịch: Thị trường du lịch là bộ phận của thị trường chung,

một phạm trù của sản xuất và lưu thông hàng hóa, dịch vụ du lịch, phản ánh toàn bộ quan hệ trao đổi giữa người mua và người bán, giữa cung và cầu và toàn bộ các mối quan hệ, thông tin kinh tế, kỹ thuật gắn với mối quan hệ đó trong lĩnh vực du lịch

* Khách du lịch: Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch,

trừ những trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến

* Doanh nghiệp kinh doanh du lịch

Doanh nghiệp du lịch là một đơn vị cung ứng trên thị trường du lịch, đồng thời là một đơn vị tiêu thụ

Để tạo ra các dịch vụ du lịch nhằm thỏa mãn các nhu cầu của khách du lịch đòi hỏi cần phải có các loại hình kinh doanh du lịch tương ứng Cho đến nay, về phương diện lý thuyết cũng như thực tế được chấp nhận ở nhiều nước trên thế giới

và ở Việt Nam bốn loại hình kinh doanh tiêu biểu sau đây: Công ty lữ hành, cơ sở lưu trú, kinh doanh vận chuyển khách du lịch, kinh doanh các dịch vụ du lịch khác

* Nguồn nhân lực du lịch

Nguồn nhân lực ngành du lịch bao gồm toàn bộ lực lượng lao động trực tiếp

và gián tiếp liên quan đến quá trình phục vụ khách du lịch Do đó, khi đề cập đến khái niệm nguồn nhân lực ngành du lịch thì không chỉ đề cập đến các lao động nghiệp vụ phục vụ khách một cách trực tiếp mà còn cả các lao động ở cấp độ quản

Trang 17

lý, lao động làm công tác đào tạo và các lao động gián tiếp khác phục vụ khách du lịch

* Xúc tiến du lịch

Theo Khoản 17, Điều 4, Luật du lịch Việt Nam năm 2005, xúc tiến du lịch là hoạt động tuyên truyền, quảng bá, vận động nhằm tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội phát triển du lịch

1.2 LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG

1.2.1 Khái niệm phát triển bền vững

Phát triển được xem là một quá trình tăng trưởng bao gồm nhiều yếu tố cấu thành khác nhau về kinh tế, chính trị, văn hoá… Phát triển là xu hướng tự nhiên tất yếu của thế giới vật chất nói chung, của xã hội loài người nói riêng Phát triển kinh

tế - xã hội là quá trình nhằm nâng cao điều kiện sống về vật chất và tinh thần của con người thông qua phát triển lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất, nâng cao các giá trị văn hoá cộng đồng

Bên cạnh những lợi ích xã hội, nâng cao điều kiện sống cho con người, hoạt động phát triển cũng đã và đang làm cạn kiệt tài nguyên, gây ra những tác động tiêu cực làm suy thoái môi trường Trước thực tế đó, con người nhận thức được nguồn tài nguyên của Trái đất không phải là vô hạn, không thể tuỳ tiện khai thác Bởi nếu quá trình này không kiểm soát được sẽ dẫn đến hậu quả không chỉ làm cạn kiệt nguồn tài nguyên môi trường và còn làm mất cân bằng về môi trường sinh thái gây

ra những hậu quả môi trường nghiêm trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình phát triển của xã hội qua nhiều thế hệ… từ nhận thức này xuất hiện một khái niệm mới của con người về hoạt động phát triển, đó là “Phát triển bền vững”

Thuật ngữ "phát triển bền vững" xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1980 trong

ấn phẩm Chiến lược bảo tồn Thế giới (công bố bởi Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên Quốc tế - (IUCN) với nội dung rất đơn giản: "Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế, mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học" Khái niệm này được phổ biến rộng rãi vào năm 1987 nhờ Báo cáo Brundtland (còn

Trang 18

gọi là Báo cáo Our Common Future) của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới (WCED) (nay là Ủy ban Brundtland) Báo cáo này ghi rõ: Phát triển bền vững là

"sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai " Nói cách khác, phát triển bền vững phải bảo đảm có sự phát triển hài hòa: kinh tế hiệu quả, xã hội công bằng và môi trường được bảo vệ, gìn giữ, - nghĩa là sự phát triển luôn luôn được diễn ra trong tra ̣ng thái cân bằng đô ̣ng Để đạt được điều này, tất cả các thành phần kinh tế - xã hội, nhà cầm quyền, các tổ chức xã hội phải bắt tay nhau thực hiện nhằm mục đích dung hòa 3 trụ cột chính:kinh tế - xã hội - môi trường Rõ ràng

là, phát triển bền vững đã trở thành một nội dung cấu thành tất yếu, một tiêu chuẩn quan trọng trong chiến lược phát triển của hầu hết mọi nước Sở dĩ có và hình thành được cách tiếp cận này trong chiến lược phát triển của các nước là do “nó phản ánh

sự quan ngại đối với một số quốc gia muốn tăng trưởng kinh tế vội vã, chọn cách phát triển thiển cận, miễn sao tăng thu nhập hiện tại cho nhanh, mà không để ý đến những nguy hại dài lâu của lối phát triển ấy đến môi trường sinh thái (tàn phá rừng,

sa mạc hóa ), đến trữ lượng hữu hạn của tài nguyên thiên nhiên (quặng mỏ, dầu hỏa, khí đốt)”

Ở Việt Nam, trước đổi mới, việc phát triển nền kinh tế nước ta đã được vận hành theo một quan điểm giản đơn là, bằng cách nào đó và bằng mọi giá để đẩy mạnh sản xuất nhằm tạo ra một lượng của cải ngày càng lớn mà không cần tính đến những hậu quả xã hội của nó, nghĩa là ở đây sự phát triển được nhìn nhận đơn giản chỉ là sự tăng trưởng thuần túy về số lượng Quan niệm và hiểu về cách phát triển như vậy, về thực chất, là chưa và không lường trước được hết những hậu quả khôn lường đối với thế hệ hiện tại và cả với các thế hệ tương lai sau này Với cách tiếp cận về phát triển như vậy, thì “chúng ta đã vay trước của con cháu tương lai của chúng ta”, - như cảnh báo của nhiều chuyên gia về vấn đề này

Sau Đại hội Đảng lần thứ VI, nhờ quá trình đổi mới toàn diện đất nước, nhất

là trong quá trình đổi mới tư duy và cùng với đó là sự ho ̣c hỏi, tiếp thu cách tiếp cận mới của thế giới về phát triển, chú ng ta đã nhâ ̣n thức ra, lĩnh hô ̣i được và chủ đô ̣ng

Trang 19

về chủ trương để có cách nhìn mới, quan điểm mới về phát triển Phát triển bền

vững đã trở thành quan điểm chính thức của Đảng và Nhà nước ta và được đưa vào Văn kiê ̣n Đảng, kể từ Đa ̣i hô ̣i Đa ̣i biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng và được cu ̣ thể hóa mô ̣t bước trong Chiến lược phát triển kinh tế – xã hô ̣i 10 năm (2001-2010) Hơn thế nữa, không chỉ tiếp thu thành quả của thế giới, xuất phát từ tình hình thực

tế đất nước, Đảng ta cho rằng, ở Viê ̣t Nam, sự phát triển được xác đi ̣nh không chỉ

bền vững, mà còn phải nhanh, bởi lẽ nhanh và bền vững là thành tố cối lõi, có ý nghĩa quyết đi ̣nh để làm nên thắng lợi của sự nghiê ̣p công nghiê ̣p hóa, hiê ̣n đa ̣i hóa,

tạo nền tảng để nước ta đến năm 2020 cơ bản trở thành nước công nghiê ̣p theo hướng hiê ̣n đa ̣i và đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước công nghiê ̣p hiê ̣n

đa ̣i Quan điểm này ngày càng được hoàn thiê ̣n và đã được quán triê ̣t, xuyên suốt trong cả quá trình đổi mới đất nước Chính vì vâ ̣y, Đảng ta đã đưa ra quan điểm về phát triển nhanh và bền vững thời gian tới trong tầm nhìn, cách tiếp câ ̣n mới: “Quan điểm phát triển bền vững trong Chiến lược lần này mang một nội hàm mới, thể hiện

sự gắn kết chặt chẽ giữa phát triển nhanh với phát triển bền vững, coi phát triển bền vững là yêu cầu xuyên suốt trong Chiến lược; giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với phát triển các lĩnh vực văn hóa xã hội, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường; đặt yêu cầu bảo đảm tốc độ tăng trưởng nhanh, rút ngắn khoảng cách phát triển với các nước, đồng thời khắc phục tư tưởng chạy theo tốc độ mà không chú ý đúng mức đến chất lượng tăng trưởng” Trong các Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XI (tháng 1-2011) đề ra 22 chỉ tiêu chủ yếu trong 5 năm

và 10 năm tới, (kinh tế có 8, xã hội có 8, môi trường có 6 chỉ tiêu Các chỉ tiêu về môi trường gồm có: tỷ lệ che phủ rừng năm 2015 là 42%, năm 2020 là 45%; 100% dân cư thành thị/nông thôn được sử dụng nước sạch/ nước hợp vệ sinh; 100% cơ sở sản xuất, kinh doanh mới áp dụng tiêu chuẩn môi trường; 80% cơ sở sản xuất, kinh doanh mới đạt tiêu chuẩn vệ sinh môi trường; 95% nước thải, 85% rác thải nguy hại, 100% rác thải y tế được xử lý Trong tổng số 17 chỉ tiêu của Kế hoạch năm

2011, thì kinh tế có 6, xã hội có 6 và môi trường có 5 chỉ tiêu Theo tinh thần này, định hướng cho phát triển nhanh và bền vững ở Việt Nam trong giai đoạn 10 năm

Trang 20

(2011-2020) mà Chính phủ đặt ra là: Tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững; Chuyển đổi mô hình sản xuất và tiêu dùng theo hướng thân thiện môi trường; Thực hiện "công nghiệp hóa sạch"; Phát triển nông nghiệp, nông thôn bền vững; Phát triển bền vững các vùng và địa phương…

1.2.2 Phát triển du lịch bền vững

Khái niệm phát triển du lịch bền vững không tách rời khái niệm phát triển bền vững Ngay từ những năm 1980, khi các vấn đề về phát triển bền vững bắt đầu được đề cập, tiến hành nghiên cứu thì có nhiều nghiên cứu khoa học được thực hiện nhằm đưa ra các khía cạnh ảnh hưởng của du lịch có liên quan đến phát triển du lịch bền vững Nhiệm vụ trọng tâm của những nghiên cứu này nhằm để giải thích cho sự cần thiết phải đảm bảo tính toàn vẹn của môi trường sinh thái, các giá trị văn hoá trong khi tiến hành các hoạt động khai thác tài nguyên phục vụ phát triển du lịch, góp phần tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững

Từ đầu thập niên 90 của Thế kỷ trước, các nhà khoa học trên thế giới đã đề cập nhiều đến việc phát triển du lịch với mục đích đơn thuần về kinh tế đang đe doạ huỷ hoại môi trường sinh thái, đến các nền văn hoá bản địa Hậu quả của các tác động này sẽ lại làm ảnh hưởng đến bản thân sự phát triển lâu dài của ngành du lịch Chính vì vậy đã xuất hiện yêu cầu nghiên cứu “Phát triển du lịch bền vững” nhằm hạn chế các tác động tiêu cực của hoạt động du lịch đảm bảo sự phát triển lâu dài Một số loại hình du lịch bước đầu quan tâm đến khía cạnh môi trường đã bắt đầu xuất hiện như “Du lịch sinh thái”, “Du lịch dựa vào thiên nhiên”, “Du lịch khám phá”, “Du lịch mạo hiểm”…đã góp phần nâng cao hình ảnh về một hướng phát triển

du lịch có trách nhiệm đảm bảo sự phát triển bền vững

Theo định nghĩa của Tổ chức Du lịch (UNWTO) đưa ra tại Hội nghị về Môi trường và Phát triển của Liên hợp quốc tại Rio de Janerio năm 1992 thì “Du lịch bền vững là việc phát triển các hoạt động du lịch nhằm đáp ứng các nhu cầu hiện tại của khách du lịch và người dân bản địa trong khi vẫn quan tâm đến việc bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên cho việc phát triển hoạt động du lịch trong tương lai

Du lịch bền vững sẽ có kế hoạch quản lý các nguồn tài nguyên nhằm thoả mãn các

Trang 21

nhu cầu về kinh tế, xã hội, thẩm mỹ của con người trong khi đó vẫn duy trì được sự toàn vẹn về văn hoá, đa dạng sinh học, sự phát triển của các hệ sinh thái và các hệ thống hỗ trợ cho cuộc sống của con người”

Như vậy có thể coi du lịch bền vững là một nhánh của phát triển bền vững chung đã được Hội nghị Uỷ ban Thế giới về Phát triển và Môi trường (hay Uỷ ban Brundtlant) xác định năm 1987 Phát triển du lịch bền vững là hoạt động phát triển

ở một khu vực cụ thể, với nội dung, hình thức, quy mô thích hợp ; đảm bảo bền vững theo thời gian, không gian ; và không làm suy thoái môi trường, không làm ảnh hưởng đến khả năng hỗ trợ các hoạt động phát triển khác

Ngược lại tính bền vững của hoạt động phát triển du lịch được xây dựng trên nền tảng sự thành công trong phát triển bền vững của các ngành khác, sự phát triển bền vững nói chung của khu vực

“Du lịch bền vững” ở Việt Nam là một khái niệm còn mới Tuy nhiên, thông qua các bài học và kinh nhiệm thực tế về phát triển du lịch tại nhiều quốc gia trong khu vực và trên thế giới, nhận thức về một phương thức phát triển du lịch có trách nhiệm với môi trường, có tác dụng giáo dục, nâng cao hiểu biết cho cộng đồng đã xuất hiện ở Việt Nam dưới hình thức các loại hình du lịch tham quan, tìm hiểu, nghiên cứu…với tên gọi là “Du lịch sinh thái”, “Du lịch tự nhiên”

Mặc dù còn những quan điểm chưa thật sự thống nhất về khái niệm phát triển du lịch bền vững, cho đến nay đa số ý kiến các chuyên gia trong lĩnh vực du lịch có liên quan khác ở Việt Nam đều cho rằng:

“Phát triển du lịch bền vững là hoạt động khai thác có quản lý các giá trị tự nhiên và nhân văn nhằm thoả mãn các nhu cầu đa dạng của khách du lịch, có quan tâm đến các lợi ích kinh tế dài hạn trong khi vẫn đảm bảo sự đóng góp cho bảo tồn

và tôn tạo các nguồn tài nguyên, duy trì được sự toàn vẹn về văn hoá để phát triển hoạt động du lịch trong tương lai; cho công tác bảo vệ môi trường và góp phần nâng cao sức sống của cộng đồng địa phương”

1.2.3 Nội dung phát triển du lịch bền vững

1.2.3.1 Xây dựng chiến lược phát triển du lịch bền vững

Trang 22

Xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch và chính sách phát triển

du lịch Nâng cao nhận thức xã hội về du lịch và phát triển du lịch bền vững, quản lý hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực; nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ

1.2.3.2 Phát triển các cơ sở kinh doanh du lịch

Sự phát triển cơ sở kinh doanh du lịch thể hiện ở tốc độ tăng trưởng số lượng, quy mô cơ sở kinh doanh du lịch, phân theo các nhóm ngành dịch vụ Để phân tích sự phát triển du lịch của mỗi địa phương, cần phân tích sự biến động số lượng cơ sở kinh doanh du lịch (doanh nghiệp), sự tăng trưởng số lượng doanh nghiệp phân theo các nhóm ngành dịch vụ như vận chuyển, lưu trú, nhà hàng theo các loại hình sở hữu như doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

1.2.3.3 Nâng cao số lượng, chất lượng các nguồn lực cho ngành du lịch

- Tài nguyên: Việc bảo tồn và sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên, nhân văn là rất cần thiết, nó bảo đảm cho hoạt động kinh doanh du lịch phát triển lâu dài Sử dụng tổng hợp các nguồn lực cho phát triển bền vững trong đó cần quan tâm đến cộng đồng địa phương gắn với địa bàn sinh sống của họ Trong chiến lược phát triển du lịch cần quan tâm đến ảnh hưởng của du lịch đối với các di sản văn hóa và các yếu tố truyền thống, các hoạt động và động lực của từng cộng đồng địa phương

- Nâng cao chất lượng lao động: Lao động là một nhân tố không thể thiếu trong quá trình phát triển du lịch Sự phát triển lao động du lịch thể hiện ở số lượng, cơ cấu, trình độ, kỹ năng ứng xử của đội ngũ lao động trong các doanh nghiệp thuộc ngành

- Mở rộng nguồn vốn đầu tư phát triển du lịch: Nguồn vốn kinh doanh du lịch được huy động từ nhiều nguồn Khi phân tích sự phát triển du lịch, cần phải phân tích mức độ tăng trưởng của quy mô, mức độ đa dạng của nguồn vốn đầu tư và sự tăng trưởng của vốn đầu tư

- Tăng cường cơ sở vật chất - kỹ thuật du lịch: Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch được biểu hiện là toàn bộ các phương tiện vật chất do các tổ chức du lịch tạo ra để

Trang 23

khai thác các tiềm năng du lịch, tạo ra các sản phẩm và hàng hóa cung cấp và làm thỏa mãn nhu cầu du khách Ngành du lịch muốn phát triển gia tăng và bền vững đòi hỏi phải có một hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật tốt

- Tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ du lịch: góp phần hiện đại hóa cơ

sở vật chất kỹ thuật du lịch, tạo ra những sản phẩm du lịch ngày càng mới lạ, hấp dẫn, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của du khách

1.2.3.4 Nâng cao năng lực và tạo lập sự liên kết chặt chẽ giữa các chủ thể tham gia hoạt động du lịch

Khi hoạt động du lịch đã phát triển mạnh mẽ hơn, các doanh nghiệp kinh doanh du lịch đã chủ động hợp tác bằng những hợp đồng liên kết Phát triển du lịch cần có sự liên kết hợp tác của cộng đồng địa phương và các đối tượng liên quan Để phát triển du lịch bền vững cần phải kết hợp hai mục tiêu bảo tồn các tài nguyên thiên nhiên với phát triển cộng đồng

1.2.3.5 Nâng cao chất lượng môi trường cho phát triển du lịch

Bảo vệ môi trường trong hoạt động du lịch là rất cần thiết Hoạt động du lịch luôn gắn với việc khai thác các tiềm năng tài nguyên tự nhiên cũng như tài nguyên nhân văn nên chịu tác động và gây ảnh hưởng rất lớn đến môi trường

1.2.4 Các tiêu chí đánh giá phát triển du lịch bền vững

* Các tiêu chí về kinh tế: Kinh tế du lịch phát triển nhanh chóng và trở thành

ngành kinh tế quan trọng trong thời đại ngày nay của các quốc gia Phát triển du lịch bền vững phải đảm bảo kinh tế du lịch có tăng trưởng cao, liên tục, ổn định dài hạn

* Các tiêu chí về xã hội: Phát triển du lịch bền vững về mặt xã hội đòi hỏi

ngành du lịch phải có những đóng góp cho quá trình phát triển ngày càng cao trong việc thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội

* Các tiêu chí về môi trường: Các tiêu chí cơ bản được xem xét là: Tỷ lệ các

khu điểm du lịch được bảo vệ, quản lý ; Áp lực môi trường tại các khu, điểm du lịch; Mức độ đóng góp của ngành du lịch cho bảo tồn, tôn tạo và bảo vệ môi trường; Số lượng các khu, điểm du lịch được quy hoạch

Trang 24

1.2.5 Các nhân tố tác động đến phát triển du lịch bền vững

- Điều kiện tự nhiên;

- Trình độ nhận thức của xã hội về phát triển du lịch bền vững;

- Chất lượng xây dựng và quản lý quy hoạch phát triển du lịch;

- Tính đồng bộ và nghiêm minh của hệ thống pháp luật;

- Trình độ phát triển kinh tế - xã hội;

- Chất lượng của hoạt động xúc tiến quảng bá du lịch;

- Mối liên kết và hợp tác trong hoạt động du lịch giữa các địa phương trong nước và quốc tế

1.3 MỘT SỐ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VÀ TRONG NƯỚC VỀ PHÁT TRIỂN

DU LỊCH BỀN VỮNG

1.3.1 Kinh nghiệm quốc tế

1.3.1.1 Một số điển hình phát triển du lịch không bền vững

- Pattaya (Thái Lan): Trong hai thập kỷ từ năm 1970, Pattaya đã đầu tư xây dựng từ 400 lên 21.000 phòng khách sạn Sự tập trung phát triển ồ ạt các cơ sở lưu trú trong một thời gian ngắn tại một điểm du lịch đã gây những ảnh hưởng tiêu cực Biển bị ô nhiễm nghiêm trọng và vào năm 1989, Uỷ ban Môi trường Quốc gia Thái Lan tuyên bố việc tắm biển trở nên không an toàn

Cùng với đặc điểm tự nhiên khác, sự đánh mất cây cối đã làm cho môi trường trở nên thô ráp và cằn cỗi Sự phát triển bất hợp lý, sự ùn tắc giao thông, thiếu nước sinh hoạt, xung đột về chính trị và xã hội gia tăng là vấn đề phổ biến và gây khó khăn cho du lịch Khung cảnh của khu du lịch ban đầu bị mất đi, sự hấp dẫn đối với du khách giảm sút Sau cao điểm năm 1988, số lượng khách đến Pattaya giảm đi rõ rệt Mãi đến năm 1993, khi những giải pháp hữu hiệu được đưa ra nhằm giải quyết các vấn đề cấp thiết thì xu hướng phát triển tiêu cực mới được đảo ngược

và số lượng khách tăng dần trở lại

Có thể nhận thấy dấu hiệu của việc đánh mất sự nổi tiếng của Pattaya là sự suy thoái về môi trường: Ô nhiễm, sự phá huỷ môi trường tự nhiên, sạt lở, lũ lụt, đánh mất cây cối, động vật hoang dã…Sự phát triển du lịch trong trường hợp của

Trang 25

Pattaya là quá trình phản thu hút quyến rũ, đô thị hoá phản hấp dẫn Điều quan trọng ở đây phải nhận thức được vấn đề phát triển du lịch và bảo vệ môi trường là không thể tách rời nhau Phát triển và quản lý khu du lịch bao gồm nhiều mối quan

hệ tổng hợp của nhiều yếu tố, trong đó môi trường là rất quan trọng Mọi sự cố gắng

về vấn đề môi trường tách biệt khỏi những vấn đề khác sẽ dẫn đến thất bại Để du lịch phát triển có hiệu quả, điều quan trọng là các chính sách phát triển phải đề cập đến tất cả các vấn đề

- Đảo Canary (Tây Ban Nha): Đảo Canary là quần đảo gồm 7 đảo và một số đảo nhỏ ở Đại Tây Dương, cách Tây Ban Nha lục địa khỏng 1.500 km, nổi tiếng là trung tâm sinh học với sự tập trung của các loài đặc hữu, có nhiều cảnh quan đẹp, phong phú, khí hậu lý tưởng Canary đã trở thành điểm đến quen thuộc của du khách Châu Âu Du lịch trên các hòn đảo bắt đầu từ cuối thế kỷ 19 với một số ít khách du lịch Châu Âu vì lý do chữa bệnh Từ 8.000 khách du lịch vào năm 1900, quần đảo Canary đã đón 2 triệu khách vào năm 1975; 7,4 triệu khách vào năm 1990

và 13 triệu khách năm 1999 Ngành du lịch- dịch vụ chiếm 76,8% tổng thu nhập kinh tế Rõ ràng, nền kinh tế của Canary phụ thuộc nhiều vào du lịch Sự tập trung đầu tư vào bất động sản đã bùng nổ vào những năm 60 và 70 Sự bùng nổ này kết hợp với việc bất hợp lý trong quy hoạch phát triển cơ sở hạ tầng du lịch là nguyên nhân của quá tải du lịch Nói một cách chính xác, kẻ thù nguy hiểm nhất của du lịch Canary là việc kinh doanh bất động sản do du lịch gây ra và việc quản lý hành chính không sẵn sàng để kiểm soát Hậu quả của quá trình xây dựng không quy hoạch đã tác động đến giai đoạn điều hành như : tiêu thụ nước, cạnh tranh về công việc với các nhân tố khác, tắc nghẽn giao thông, sự quá tải của khu bảo vệ, các cuộc đi săn thú hoang dã trở nên phổ biến…Tốc độ tăng trưởng của yêu cầu xây dựng, dịch vụ

đã thu hút nhiều nguồn nhân lực từ bên ngoài hòn đảo này và tạo ra áp lực về đất đai Sự tham gia của nước ngoài trong việc mua bán đất đai, sự tăng trưởng của các bất động sản với dấu hiệu của ngôn ngữ nước ngoài đã tạo ra môi trưởng không tốt cho cư dân địa phương và gây ra cảm giác Canary là của người nước ngoài Vấn đề trở nên tồi tệ hơn tại các đảo Lanzarote và Fuerteventura, nơi mà cư dân đang dần

Trang 26

trở thành người thiểu số Không còn tranh cãi gì nữa, vai trò kinh tế của du lịch tại quần đảo Canary qua hầu hết các số liệu phản ánh một tình trạng phát triển không bền vững Các đảo ở Canary thải ra nhiều rác thải trung bình cao nhất Tây Ban Nha (2kg/người); mật độ phương tiện đi lại bằng 150% mức trung bình của Tây Ban Nha (666 phương tiện đi lại/ 1000 dân) Mức độ khai thác du lịch bất hợp pháp đang ở mức cao (trên 20% hoặc thậm chí có nơi trên 50%, như ở Fuerteventura có 36.000 giường bất hợp pháp trên 35.000 giường hợp pháp) Tham nhũng phổ biến nhưng không được xem xét và các phương tiện truyền thông, báo chí đã giấu thông tin Tóm lại, mục tiêu phát triển du lịch ở đây đã bị đảo ngược: “Canary cho ngành công nghiệp du lịch”, chứ không phải là “Du lịch cho Canary” Sự quá tải của ngành du lịch đã tạo những vấn đề về môi trường và xã hội cũng như sự lệ thuộc vào bên ngoài quá nhiều Các đảo ở Canary đang bị cuốn hút quá nhiều vào du lịch, phụ thuộc quá nhiều vào du lịch và không hiểu số phận của các hòn đảo này ra sao khi du lịch bị thất bại Kịch bản cuối cùng: các đảo ở Canary giống như những quả

chanh bị vắt kiệt trôi nổi trên đại dương

1.3.1.2 Một số kinh nghiệm phát triển du lịch bền vững

- Khu bảo tồn Annapurna (ACAP)- Nê Pan: Ở khu bảo tồn Annapurna (ACAP), phát triển du lịch sinh thái dược sử dụng như là đòn bẩy để phát triển cộng đồng và bảo tồn thiên nhiên trong khu bảo tồn Phí tham quan được đầu tư trở lại để công tác bảo tồn sự đa dạng sinh học và các hoạt động phát triển cộng đồng bền vững ở ACAP

Trong khu bảo tồn, các chương trình đã được đưa vào mục tiêu giảm bớt sức

ép đối với nguồn tài nguyên rừng, cải thiện chất lượng cuộc sống của cộng đồng dân cư địa phương và làm cho du lịch có trách nhiệm hơn Các vườn ươm đã được xây dựng nhằm cung cấp cây giống cho cộng đồng và các chương trình trồng rừng

Để giải quyết vấn đề củi đốt, các kho chứa dầu hoả, khí hoá lỏng và các máy phát điện thuỷ lực loại nhỏ được xây dựng dưới sự quản lý của cộng đồng Tại những khu vực thường xuyên có khách tham quan du lịch, các chương trình chăn nuôi, lâm nghiệp, nông nghiệp được triển khai nhằm tăng thu nhập cho người dân địa phương,

Trang 27

đồng thời cung cấp lương thực thực phẩm cho khách du lịch Ngoài ra, các chương trình giáo dục du khách cũng như người dân bản địa và công tác thông tin được ưu tiên triển khai hiện Hoạt động chủ yếu ở ACAP là xây dựng năng lực địa phương, rồi cuối cùng chính người dân địa phương quyết định cuộc sống của mình Họ là những nhân tố hoạt động chính và họ chính là những người hưởng lợi chính

Cộng đồng dân cư địa phương được tổ chức đào tạo và giao nhiệm vụ để bảo

vệ chất lượng các nguồn tài nguyên thiên nhiên và nhân văn riêng có của mình; là nhân tố chính thu hút du khách cũng là cơ sở nền tảng cho nguồn sinh nhai bền vững Thành công của Dự án Bảo tồn khu vực ACAP đã khuyến khích nhiều dự án khác ở Nê Pan theo mô hình du lịch sinh thái của ACAP Trong tất cả các dự án này, các nỗ lực của du lịch sinh thái đều hướng đến việc làm cho du lịch có trách nhiệm hơn, lợi ích cho xã hội và môi trường cũng như lợi ích về kinh tế và có thể quản lý được ở cấp cộng đồng Các bài học được rút ra từ kinh nghiệm về du lịch sinh thái ở Nê Pan đó là: Hoạch định trước và quản lý nhằm nâng cao sức chứa du lịch; sự tham gia của người dân và khả năng có được sự bền vững; xúc tiến mối quan hệ liên ngành nhằm phân chia rộng rãi hơn các lợi ích du lịch; tiếp thị sản phẩm nhằm nâng đầu tư bền vững; giáo dục và vấn đề nhạy bén trong sự tôn trọng song phương giữa du khách và người dân địa phương

- Du lịch Thenmala- Kerala, Ấn Độ: Mục tiêu phát triển du lịch ở Thenmala là: phát triển Themala và vùng lân cận thành điểm đến du lịch hấp dẫn; xúc tiến du lịch sinh thái trên cơ sở các nguyên tắc bền vững; xây dựng các điểm đến du lịch theo đúng quy hoạch, trong đó nhấn mạnh việc phát triển du lịch bền vững, làm mẫu hình cho các chương trình phát triển du lịch khác Để đạt được các mục tiêu trên, ba nhóm sản phẩm sản phẩm du lịch đã được đầu tư phát triển là: Du lịch thân thiện với môi trường, Du lịch sinh thái và Du lịch hành hương Du lịch thân thiện với môi trường được phát triển ở ngoại vi khu bảo tồn hoang dã Shenduruney với mục đích giảm áp lực lên khu bảo tồn Trong khu bảo tồn chỉ dành cho những khách

du lịch sinh thái thật sự Những du khách khác có thể trải nghiệm các sản phẩm thân thiện với môi trường như: Các lối mòn tự nhiên nhỏ, xe đạp địa hình hay lối đi bộ

Trang 28

trên cao nhìn xuống Nhằm giảm thiểu tác động lên hệ sinh thái rừng trong khu bảo tồn, một số phương tiện được cấp ở Thenmala như: Du thuyền trên hồ, các lối đi bộ, khán đài vòng, đài phun nước có nhạc, xe đạp địa hình… Du lịch sinh thái được quy hoạch phát triển trong khu rừng xung quanh Trung tâm giáo dục môi trường được thành lập Khu bảo tồn hoang dã Shenduruney Có tiểm năng rất lớn để phát triển du lịch sinh thái và ngoài ra, một loạt các điểm du lịch vệ tinh trong vòng bán kính 50km cũng đã có Trung tâm du lịch sinh thái Du lịch hành hương, du lịch thân thiện với môi trường cũng được phát triển Tuyến du lịch hành hương nối Thenmala với ba điểm linh thiêng nằm trong vùng rừng linh thiêng nổi tiếng Sabarimala (nơi

có khoảng 10 triệu lượt du khách đến trong vòng 2 tháng) Để đạt được mục tiêu đề

ra, tổ chức xúc tiến du lịch sinh thái đã phối hợp chặt chẽ với Phòng quản lý rừng, Phòng Thuỷ lợi, và Phòng Du lịch triển khai nhiều hoạt động cụ thể Về cơ sở lưu trú, vận chuyển khách trong khu vực được khối tư nhân đảm nhận Quy hoạch về xây dựng được quản lý chặt chẽ Không có xây dựng tạm bợ trong các khu rừng, cơ

sở lưu trú được xây dựng tách biệt, ưu tiên ở những nơi ở xa rừng

1.3.2 Kinh nghiệm trong nước

Ở Việt Nam, việc nghiên cứu và vận dụng vào thực tiễn để phát triển du lịch bền vững còn hạn chế Chúng ta chưa có được một chiến lược, một chính sách cấp quốc gia để phát triển các mô hình du lịch bền vững trên phạm vị cả nước; chúng ta cũng chưa có được mô hình điểm, điển hình để phát triển du lịch bền vững sau đó nhân rộng ra ở quy mô lớn hơn Tuy nhiên trong những năm gần đây, theo xu thế phát triển chung của khu vực và trên thế giới, ở nước ta đã có một số nghiên cứu ứng dụng, một số mô hình điểm ở quy mô nhỏ liên quan đến phát triển du lịch bền vững như mô hình phát triển du lịch sinh thái, du lịch xanh, du lịch cộng đồng, du lịch khám phá, du lịch văn hoá Các mô hình phát triển này đều có chung mục đích gắn các hoạt động du lịch với thiên nhiên- môi trường, gắn với văn hoá cộng đồng

và lợi ích của họ, đồng thời quan tâm đến việc bảo tồn, tôn tạo tài nguyên môi trường, đảm bảo cho sự phát triển du lịch bền vững Một số mô hình phát triển du lịch bền vững đang hoạt động có hiệu quả ở nước ta bao gồm:

Trang 29

- Mô hình phát triển du lịch sinh thái Núi Voi của Công ty Du lịch Phương Nam (Đà Lạt- Lâm Đồng): Các hoạt động du lịch ở đây đều được gắn liền với thiên nhiên, gắn với văn hoá cộng đồng (chủ yếu là dân tộc Chứt) và có trách nhiệm với công tác bảo tồn các giá trị tự nhiên và văn hoá Các dịch vụ du lịch ở đây được mang đậm màu sắc của tư nhiên (vận chuyển bằng voi, ngựa, thuyền; ngủ nhà sàn ở trong rừng, thậm chí cả ở chòi trên cây cao) và văn hoá cộng đồng ( khách du lịch được tham gia vào các hoạt động cộng đồng) Mô hình du lịch sinh thái Núi Voi đã

và đang được tiến hành có hiệu quả và thu hút ngày càng nhiều khách tham quan du lịch, nghiên cứu

- Mô hình phát triển du lịch sinh thái Cát Tiên của Ban quản lý vườn quốc gia Cát Tiên: Mục đích của mô hình này là đưa du khách gần gũi với thiên nhiên để khám phá và nghiên cứu những giá trị của thiên nhiên và bản sắc văn hoá dân tộc

Mạ, Stiêng, đồng thời nâng cao trách nhiệm trong việc bảo vệ các giá trị đó Các sản phẩm du lịch đã và đang được khai thác ở đây là du lịch sinh thái, du lịch tham quan, nghiên cứu, dã ngoại, mạo hiểm Các đối tượng đang được tham quan, nghiên cứu và khám phá bao gồm Bàu Sấu; Bàu Chim; làng dân tộc Mạ, Stiêng ở Tài Lài; rừng Bằng Lăng; thác Bến Cự; thác Mỏ Vẹt; thác Trời- thác Dựng; khu di chỉ khảo

cổ Cát Tiên; xem thú ban đêm

- Mô hình phát triển du lịch cộng đồng ở Sapa: Mô hình này quan tâm đến việc khuyến khích và tạo điều kiện cho cộng đồng tham gia vào các hoạt động du lịch, thông qua đó nâng cao lợi ích và trách nhiệm của cộng đồng dân cư trực tiếp tham gia vào các dịch vụ du lịch như hướng dẫn khách du lịch, phục vụ khách (lưu trú, ăn uống) tại nhà dân, sản xuất và bán hàng lưu niệm, biểu diễn nghệ thuật văn hoá dân gian

1.3.3 Những bài học rút ra cho phát triển du lịch bền vững Quảng Bình

- Nhận thức đúng đắn của các cấp uỷ đảng, chính quyền, của các ngành, cộng đồng dân cư cũng như các doanh nghiệp về vị trí quan trọng của phát triển du lịch bền vững, những đóng góp của ngành du lịch vào phát triển kinh tế- xã hội, tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, bảo vệ môi

Trang 30

trường sinh thái, thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển là tiền đề và là điều kiện cần thiết cho sự phát triển bền vững của ngành du lịch

- Vai trò của chính quyền địa phương, nhất là cấp xã, thôn rất quan trọng trong việc giải phóng mặt bằng: theo dõi, giám sát, phối hợp tháo gỡ khó khăn cho các dự án đầu tư phát triển du lịch và đặc biệt khuyến khích cộng đồng địa phương tham gia vào các hoạt động du lịch và các hoạt động bảo tồn

- Xã hội hoá quá trình phát triển du lịch bền vững đối với điều kiện nước ta nói chung và Quảng Bình nói riêng nhằm huy động các nguồn lực cho đầu tư phát triển du lịch, trong đó có sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương, các doanh nghiệp trong và ngoài nước, các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ là một trong những giải pháp quan trọng để phát triển du lịch bền vững

- Sự tham gia của cộng đồng dân cư địa phương là tối cần thiết cho du lịch phát triển bền vững, đặc biệt là những điểm du lịch nhạy cảm với môi trường như ở các Khu bảo tồn thiên nhiên hay các Vườn quốc gia Người dân địa phương, nền văn hoá, môi trường, lối sống và truyền thống của họ là những nhân tố quan trọng thu hút du khách Phát triển du lịch bền vững mang lại những lợi ích kinh tế, môi trường và văn hoá cho cộng đồng và ngược lại, sự tham gia tích cực của cộng đồng làm phong phú thêm kinh nghiệm và sản phẩm du lịch

- Cộng đồng dân cư địa phương phải được hưởng các nguồn lợi kinh tế từ hoạt động du lịch một cách công bằng Một phần đáng kể lợi nhuận từ hoạt động du lịch phải được đầu tư để cải thiện môi trường sống của cộng đồng dân cư địa phương

- Xây dựng tổ chức gọn, mạnh, hợp lý và thường xuyên chăm lo việc tuyển chọn, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Tăng cường phối hợp liên ngành trong công tác quản lý nhà nước, tạo ra sức mạnh tổng hợp để phát triển du lịch bền vững

Trang 31

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM VÀ TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN DU LỊCH TRÊN

ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG BÌNH

2.1 KHÁI QUÁT ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ CÁC NGUỒN LỰC PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG BÌNH

2.1.1 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên du lịch tự nhiên

2.1.1.1 Điều kiện tự nhiên

* Vị trí địa lý

Tỉnh Quảng Bình nằm ở vĩ độ tò 16°55'12" đến 18°05'12" Bắc và kinh độ 105°36'55" đến 106°59'37" Đông Là tỉnh ven biển Bắc Trung Bộ, cách Thủ đô Hà Nội khoảng 500km về phía Nam; Phía Bắc giáp tỉnh Hà Tĩnh; phía Nam giáp tỉnh Quảng Trị; phía Đông giáp biển với bờ biển dài 116,04km và có diện tích 20.000km2 thềm lục địa; phía Tây giáp Lào với 201km đường biên giới, có cảng Hòn La, Quốc lộ I A và đường Hồ Chí Minh, đường sắt Bắc Nam, có quốc lộ 12A qua cửa khẩu quốc tế Cha Lo nối liền với CHDCND Lào và Đông Bắc Thái Lan

Có một số con đường chạy từ Đông sang Tây tiếp giáp với CHDCND Lào như Tỉnh

lộ 16, 20, đường 10 và qua một số cửa khẩu phụ khác Đây là điều kiện thuận lợi để

mở rộng quan hệ với Lào, Thái Lan và các nước trong khu vực Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 8.065,3km2, dân số 847,96 ngàn người

* Địa hình

Quảng Bình nằm phía Đông Trường Sơn, địa hình hẹp và dốc từ phía Tây sang phía Đông, đại bộ phận lãnh thổ là vùng đồi núi (chiếm trên 85% diện tích tự nhiên), đồng bằng nhỏ hẹp, đất lúa ít, đất nông lâm xen kẽ và bị chia cắt bởi nhiều sông suối có độ dốc cao

Địa hình của tỉnh có sự khác biệt giữa các tiểu vùng: vùng núi cao 1.500m nằm ở dọc sườn Đông Trường Sơn, trong đó cao nhất là đỉnh Phi Co Pi 2017m; vùng gò đồi và trung du phân bố theo kiểu bát úp, tập trung chủ yếu ở các

Trang 32

1.000-huyện Bố Trạch, Quảng Trạch, một phần của 1.000-huyện Quảng Ninh, Lệ Thủy và thành phố Đồng Hới; vùng đồng bằng ven biển và vùng cát ven biển ở các huyện Quảng Trạch, Bố Trạch, thành phố Đồng Hới, Quảng Ninh, Lệ Thủy

Sự phong phú và đa dạng địa hình của tỉnh Quảng Bình là điều kiện để phát triển nền kinh tế theo hướng kết hợp giữa biển và đất liền, tạo nên nhiều cảnh quan đẹp như Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng có động Phong Nha được coi là "đệ nhất động”, Đá Nhảy điều kiện để phát triển các loại hình du lịch; khu vực Vũng Chùa – Đảo Yến, Bang, Bảo Ninh, Hòn La có tiềm năng lớn về phát triển du lịch và thiết lập cảng nước sâu

* Khí hậu

Quảng Bình nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng của khí hậu chuyển tiếp giữa miền Bắc và miền Nam, với đặc trưng của khí hậu nhiệt đới điển hình ở phía Nam và có mùa đông tương đối lạnh ở miền Bắc Khí hậu Quảng Bình chia làm hai mùa rõ rệt: mùa khô và mùa mưa

Mùa mưa tập trung từ tháng 9 đến tháng 3 năm sau, chiếm 80% tổng lượng mưa của cả năm nên thường gây lũ lụt trên diện rộng, lượng mưa trung bình hàng năm từ 2.000 - 2.300mm/năm Thời gian mưa tập trung vào các tháng 9,10 và 11

Mùa khô từ tháng 4 đến tháng 8 với mùa khô hanh nắng gắt với gió Tây Nam khô nóng, lượng bốc hơi lớn nên thường xuyên gây hạn hán

Nhiệt độ trung bình toàn tỉnh là 24-25oC tăng dần từ Bắc vào Nam, giảm dần

từ Đông sang Tây, tổng nhiệt độ hàng năm khoảng 8.600 - 8.700oC, số giờ nắng trung bình hàng năm khoảng 1.700 - 1.800 giờ/năm

Nhìn chung, các đặc điểm khí hậu của Quảng Bình không quá khắc nghiệt và phù hợp với hoạt động sinh hoạt và du lịch của con người

Trang 33

và thuộc vào lớn nhất ở Việt Nam Tuy nhiên, địa hình dốc, dòng chảy ngắn nên thường xảy ra lũ lụt đột ngột, gây ngập úng nặng ở nhiều vùng

Toàn tỉnh có khoảng 160 hồ tự nhiên và nhân tạo với dung tích ước tính 243,3 triệu m3 Ngoài ra khu vực ven biển còn có trên 2.500 ha mặt nước ngọt, mặn,

lợ có khả năng nuôi trồng thủy sản với quy mô lớn Đồng thời, với 5 cửa sông, tổng diện tích 15.000 ha Độ mặn ở vùng mặt nước từ cửa sông vào sâu khoảng 10-15km giao động từ 8-30%o và độ pH từ 6,5- 8 rất thuận lợi cho nuôi tôm cua xuất khẩu Chế độ bán nhật triều vùng ven biển thuận lợi cho việc cấp thoát nước cho các ao nuôi tôm cua

Nguồn nước ngầm của tỉnh khá phong phú, tuy nhiên phân bổ không đều, độ nông sâu thay đổi phụ thuộc vào địa hình và lượng mưa trong mùa Thường vùng đồng bằng ven biển có mực nước ngầm nông và dồi dào, đối với vùng trung du nước ngầm sâu và dễ bị cạn kiệt vào mùa khô Chất lượng nước ở các vùng nhìn chung khá tốt, thích hợp cho dân cư và sản xuất Riêng đối với vùng đồng bằng ven biển thường bị nhiễm mặn do thủy triều, gây khó khăn cho sản xuất và đời sống

* Biển

Quảng Bình là tỉnh ven biển có những điều kiện thuận lợi để phát triển kinh

tế biển trong đó có du lịch, với bờ biển dài 116,04 km ở phía Đông với 5 cửa sông, trong đó có hai cửa sông lớn, có cảng Nhật Lệ, cảng Gianh, cảng Hòn La, Vịnh Hòn

La có diện tích mặt nước 4km2, có độ sâu trên 15m và xung quanh có các đảo che chắn: Hòn La, Hòn Cọ, Hòn Chùa có thể cho phép tàu 3-5 vạn tấn vào cảng mà không cần nạo vét Trên đất liền có diện tích khá rộng (trên 400 ha) thuận lợi cho việc xây dựng khu công nghiệp gắn với cảng biển nước sâu

Quảng Bình có vùng thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế rộng trên 2 vạn km² Ngoài khơi lại có các đảo Hòn La, Hòn Gió, Hòn Nồm, Hòn Cỏ, Hòn Chùa nên đã hình thành các ngư trường với trữ lượng 10 vạn tấn hải sản các loại

Bờ biển có nhiều thắng cảnh đẹp, cùng với thềm lục địa rộng gấp 2,6 lần diện tích đất liền tạo cho Quảng Bình có một ngư trường rộng lớn với trữ lượng khoảng 10 vạn tấn và phong phú về loài (1650 loài), trong đó có những loại quý

Trang 34

hiếm như tôm hùm, tôm sú, mực ống, mực nang, san hô Phía Bắc Quảng Bình có bãi san hô trắng với diện tích hàng chục ha, đó là nguồn nguyên liệu quý cho sản xuất hàng mỹ nghệ và tạo ra vùng sinh thái của hệ san hô Điều đó cho phép phát triển nền kinh tế tổng hợp vùng ven biển

đa dạng sinh học cao nhất hành tinh

Về động vật: có 493 loài, 48 loài bò sát, 297 loài chim, 61 loài cá…có nhiều loài quý hiếm như Voọc Hà Tĩnh, Gấu, Hổ, Sao La, Mang Lớn, gà Lôi lam đuôi trắng, gà Lôi lam mèo đen, Trĩ

Về đa dạng thực vật: với diện tích rừng 486.688 ha, trong đó có 17.397 ha rừng thông nhựa Thực vật ở Quảng Bình đa dạng về giống, loài, có nhiều loại gỗ quý như lim, gụ, mun, hủynh, thông và nhiều loại mây tre, lâm sản quý khác Với trữ lượng gỗ là 31 triệu m3, Quảng Bình là một trong những tỉnh có trữ lượng gỗ cao trong toàn quốc

Ngoài ra hệ sinh thái biển của Quảng Bình cực kỳ đa dạng với hơn 1.600 loài, đặc biệt là bãi san hô trắng với diện tích hàng chục ha có khả năng tạo thành những khu vực lặn biển và nghiên cứu sinh thái hấp dẫn khách du lịch

2.1.1.2 Tài nguyên du lịch tự nhiên

Quảng Bình là một tỉnh nằm ở phần đông của dãy Trường Sơn với điều kiện

tự nhiên đa dạng tạo thành những khu vực tài nguyên du lịch tự nhiên thuộc loại độc đáo và có giá trị lớn nhất của Việt Nam

* Di sản thiên nhiên thế giới Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng

Vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng nằm ở huyện Bố Trạch và Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình, cách thành phố Đồng Hới khoảng 50 km về phía Tây Bắc, cách

Trang 35

thủ đô Hà Nội khoảng 500 km về phía nam Vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng nằm ở một khu vực núi đá vôi rộng khoảng 200.000 ha thuộc lãnh thổ Việt Nam, được thiết lập để bảo vệ một trong hai vùng karst lớn nhất thế giới với khoảng 300 hang động và bảo tồn hệ sinh thái Bắc Trường Sơn ở khu vực Bắc Trung bộ Vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng được UNESCO công nhận là di sản thế giới vì "là ví

dụ nổi bật đại diện cho các giai đoạn của lịch sử trái đất, bao gồm bằng chứng sự sống, các tiến triển địa chất đang diễn ra đáng kể trong quá trình diễn biến của các kiến tạo địa chất hay các đặc điểm địa chất và địa văn" Những giá trị lớn nhất của Phong Nha-Kẻ Bàng nằm ở hệ thống hang động và sự đa dạng sinh thái

Hệ thống hang động tại khu vực Phong Nha -Kẻ Bàng được hình thành do những kiến tạo địa chất xảy ra trong lòng dãy núi đá vôi Kẻ Bàng cách đây hơn 400 triệu năm vào thời kỳ Đại Cổ Sinh Trải qua các thời kỳ kiến tạo quan trọng và các pha chuyển động đứt gãy, phối tảng và uốn nếp đã liên tục tạo ra các dãy núi trùng điệp do chuyển động nâng cao và các bồn trầm tích do chuyển động sụt lún, đóng vai trò như nguyên nhân của mọi nguyên nhân để tạo ra tính đa dạng về địa chất, địa hình - địa mạo, mạng lưới thủy văn và tính đa dạng, kỳ thú về hang động du lịch đối với các thành hệ đá vôi Phong Nha-Kẻ Bàng phát triển từ Devon đến Carbon – Trecmi Với một quần thể hơn 300 hang động lớn nhỏ phong phú, kỳ vỹ được mệnh danh là "Vương quốc hang động", được đánh giá là một trong những cảnh quan đẹp nhất với các đặc trưng: có sông ngầm đẹp nhất, có cửa hang cao và rộng nhất, các bãi cát, bãi đá ngầm đẹp nhất, có hồ nước ngầm đẹp nhất, có hang khô rộng và đẹp nhất, có hệ thống thạch nhũ kỳ ảo và tráng lệ nhất… Trong số đó những hang động

có giá trị khai thác du lịch tham quan, du lịch hang động bao gồm:

- Động Phong Nha (động chính): Có tên gọi khác là động Trốc hay chùa

Hang, Động Phong Nha được coi là "Thiên Nam đệ nhất động" của Việt Nam Ðộng Phong Nha có rất nhiều nhánh với tổng chiều dài lên đến khoảng 20km nhưng hiện nay người ta mới khám phá nhánh dài nhất là một phần của con sông ngầm có tên là Nậm Aki mà sông Son là phần lộ ra mặt đất Nó chui ngầm dưới đất ở vùng núi Pu-Pha-Ðam cách đó hơn 20km về phía nam Cửa động rộng khoảng 20m, cao

Trang 36

10m, có nhũ đá lô nhô Bơi thuyền qua cửa hang, động rộng như một cái bát úp trên mặt nước Nước sông trong veo và phẳng lặng như mặt gương, càng vào sâu ánh sáng càng nhạt dần rồi mất hẳn Phong Nha có trên 20 buồng với hành lang chính dài tới 1500m và nhiều hành lang phụ dài hàng trăm mét Các hang ngoài cùng có trần cao hơn mặt nước rộng khoảng 10m Các hang phía trong, từ hang thứ 4 trở vào trần hang cao đến 25-50m Từ buồng thứ 14, du khách theo các hành lang khác đi sâu hơn nữa dưới mặt đất đến những buồng to hơn rộng hơn nhưng có phần nguy hiểm hơn, nơi mà quá trình phong hoá đá vôi vẫn còn tiếp tục Thuyền ngược dòng

độ 800m thì đến chỗ cạn gọi là hang nước cạn do nước biến đi nhường chỗ cho đá cát Nhũ đá từ trên rủ xuống, măng đá từ dưới nhô lên tua tủa như cây rừng với những hình dáng kỳ lạ

- Động Tiên Sơn: Hay còn gọi là động Khô, là một động đẹp nổi tiếng ở khu

vực Phong Nha -Kẻ Bàng Cửa vào động Tiên Sơn nằm cách cửa động Phong Nha khoảng 1.000 m, ở độ cao so với mực nước biển khoảng 200 m Động Tiên Sơn có chiều dài là 980 m Từ cửa động đi vào khoảng 400 m có một vực sâu chừng 10 m,

và sau đó là động đá ngầm tiếp tục dài gần 500 m, khá nguy hiểm nên du khách chưa được phép đến khu vực này mà chỉ tham quan tới khoảng cách 400 m từ tính

từ cửa động Động này được phát hiện năm 1935, ban đầu, cư dân địa phương gọi động này là động Tiên, do vẻ đẹp kỳ bí thần tiên của nó Sau này động Tiên Sơn được gọi là động Khô, để phân biệt với động Phong Nha là động nước Động Tiên Sơn là nơi có cảnh thạch nhũ và măng đá kỳ vĩ huyền ảo như trong động Phong Nha nhưng lại có nét riêng là các âm thanh phát ra từ các phiến đá và cột đá khi được gõ vào vang vọng như tiếng cồng chiêng và tiếng trống Theo các nhà khoa học thuộc Hội hang động Hoàng gia Anh, động Tiên Sơn được hình thành cách đây hàng chục triệu năm, khi một dòng nước chảy qua quả núi đã đục rỗng, bào mòn núi đá vôi Kẻ Bàng Sau đó, do kiến tạo địa chất khối núi này hoặc đã được nâng lên, hoặc đã bị

hạ xuống khiến các khối đá đổ sụp ngăn chặn dòng chảy làm nên động Tiên Sơn ở phía trên Còn phần có sông ngầm chảy qua tạo ra hang động Phong Nha Dù động Phong Nha và động Tiên Sơn nằm liền kề nhau nhưng giữa hang động này lại

Trang 37

không thông nhau Cư dân địa phương đã nhặt được một số hiện vật có thể là di chỉ của người xưa ở trên bãi đất bằng phẳng trước cửa động

- Động Thiên Đường: Được đánh giá là động lớn và dài Theo kết quả khảo

sát của các nhà khoa học, so với động Phong Nha thì động Thiên Đường có chiều dài và quy mô lớn hơn nhiều Trong động Thiên Đường có nhiều khối thạch nhũ và măng đá kỳ ảo Phần lớn nền động là đất dẻo, khá bằng phẳng nên thuận tiện cho việc tham quan và thám hiểm Trong khi nhiệt độ mùa Hè ở bên ngoài là 36-37 °C thì nhiệt độ trong động Thiên Đường luôn ở 20-21°C

- Động Sơn Đoòng: Sơn Động hay Sơn Đoòng là một trong những hang mới

nhất được phát hiện tại khu vực Phong Nha -Kẻ Bang Hang này được cho là hang động lớn nhất thế giới Khoang lớn nhất ở Sơn Động có chiều dài hơn 5km, cao 200m và rộng 150m Với kích thước này, hang Sơn Động vượt hang Deer ở vườn quốc gia Gunung Mulu ở Sarawak Malaysia, lớn gấp 4-5 lần động Phong Nha, lớn hơn Động Thiên Đường

Bên canh hệ thống hang động, rừng nguyên sinh Phong Nha - Kẻ Bàng có hàng chục đỉnh núi cao trên 1.000m, hiểm trở chưa từng có vết chân người, là các điểm hấp dẫn về thể thao leo núi và thám hiểm Trong Vườn Quốc gia Phong Nha -

Kẻ Bàng còn tồn tại một khu rừng nhiệt đới nguyên sinh ít bị tác động và có tính đa dạng sinh học cao

Cho đến nay, chủng loại thực vật lớn nhất ở đây là rừng thường xanh ẩm, rậm nhiệt đới trên đá vôi cao 800m so với mực nước biển 96,2% diện tích khu vườn quốc gia này được rừng bao phủ; 92,2% là rừng nguyên sinh; 74,7% (110.476 ha) khu vườn quốc gia này là rừng ẩm nhiệt đới thường xanh trên đá vôi có độ cao dưới 800 m; 8,5% (12.600 ha) là rừng ẩm nhiệt đới thường xanh trên đá vôi có độ cao trên 800 m; 8,3% (12.220 ha) là rừng ẩm nhiệt đới trên đất núi đất có cao độ dưới 800 m, 1,3% (1.925 ha) là bụi cây và cỏ và cây rải rác trên đá vôi; 2% (2.950 ha) là cỏ, bụi cây và cây rải rác trên núi đất; 180 ha là rừng tre nứa và mây song; thảm cây nông nghiệp 521 ha

Trang 38

Theo số liệu thống kê mới nhất, Vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng là rừng nguyên sinh trên núi đá vôi điển hình các loại thực vật đặc trưng như: nghiến (Burretiodendron hsienmu), chò đãi (Annamocarya spp.), chò nước (Plantanus kerii) và sao (Hopea spp.) Thực vật có mạch 152 họ, 511 kiểu gen, 876 loài thực vật có mạch, trong đó có 38 loài nằm trong Sách đỏ Việt Nam và 25 loài nằm trong Sách đỏ thế giới, 13 loài đặc hữu Việt Nam, trong đó có sao và cây họ Dầu (Dipterocarpaceae)

Ở vườn quốc gia này có một khu vực rừng bách xanh được phân bổ trên đỉnh núi đá vôi có diện tích khoảng trên 5000 ha, có khoảng 2500 cây với mật độ 600 cây/ha Các cây bách xanh ở vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng có tuổi 500-600 năm Bởi hiện trên thế giới chỉ có 3 loài bách xanh đã được nhận diện Đây là quần thể bách xanh núi đá (Calocedrus rupestris) lớn nhất Việt Nam Loài bách xanh này nằm trong nhóm 2A theo quy định tại công văn số 3399/VPCP-NN (ngày 21 tháng

6 năm 2002) đính chính cho nghị định 48 của Chính phủ, thuộc nhóm quý hiếm, hạn chế khai thác

Trường Đại học Khoa học tự nhiên thuộc Đại học quốc gia Hà Nội, phối hợp với Trung tâm nghiên cứu khoa học và Cứu hộ của Vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng phát hiện thêm tại vườn quốc gia này 1.320 loài thực vật mới, trong đó có một

số quần thể thực vật lớn được đánh giá là đặc biệt quý hiếm

Các nhà khoa học cũng phát hiện 3 loài lan hài quý hiếm, và rừng bách xanh núi đá duy nhất trên toàn lãnh thổ Việt Nam Lan Hài ở vườn quốc gia Phong Nha-

Kẻ Bàng có 3 loài: lan hài xanh (Paphiopedilum malipoense), lan hài xoắn (Paphiopedilum dianthum), lan hài đốm (Paphiopedilum concolor) IUCN (Hiệp hội Bảo vệ Thiên nhiên Thế giới-the International Union for Conservation of Nature) trong năm 1996 đã xếp lan hài là loài đang đứng trước nguy cơ diệt vong rất cao (tuyệt chủng trong tương lai gần)

Hệ động vật: Phong Nha-Kẻ Bàng là nơi sinh sống của 140 loài thú thuộc 31

họ và 10 bộ, nổi bật nhất là hổ và bò tót, loài bò rừng lớn nhất thế giới, 302 loài chim, trong đó có ít nhất 43 loài nằm trong Sách đỏ Việt Nam và 19 loài nằm trong

Trang 39

Sách đỏ thế giới; 81 loài bò sát lưỡng cư (18 loài trong Sách đỏ Việt Nam và 6 loài Sách đỏ thế giới); 259 loài bướm; 72 loài cá, trong đó có 4 loài đặc hữu Việt Nam Năm 1996, ở đây có loài cá mới phát hiện ở Việt Nam Linh trưởng có 10 loài linh trưởng, chiếm 50% tổng số loài thuộc bộ linh trưởng ở Việt Nam, 7 loài nằm trong Sách đỏ Việt Nam, đặc biệt là voọc Hà Tĩnh, sao la, mang Phong Nha-Kẻ Bàng được đánh giá là có hệ tự nhiên đa dạng nhất trong tất cả các vườn quốc gia và khu

dự trữ sinh quyển quốc gia trên thế giới

Phong Nha-Kẻ Bàng là nơi có cộng đồng linh trưởng phong phú bậc nhất Đông Nam Á Năm 2002, nhà khoa học Đức Thomas Zegler đã phát hiện ra một loài thằn lằn tai mới có tên là Tripidophrus Nogei tại vùng núi Karst thuộc khu vực Chà Nòi Loài thằn lằn này đã được đăng trên số báo 114 (2) phát hành tháng 7 năm

2007 của tạp chí Revue Suise De Zoologie Các nhà khoa học đã đặt tên loài này là Thằn lằn Phong Nha-Kẻ Bàng (danh pháp khoa học: Cyrtodactylus phongnhakebangensis) Qua một thời gian khảo sát, các nhà khoa học Đức, Nga và Việt Nam đã phát hiện thêm 10 loài mới trong vườn quốc gia này, trong đó bao gồm

5 loài rắn, 5 loài tắc kè, thằn lằn, nhiều loài trong số mới phát hiện này là động vật đặc hữu ở đây

Các nhà khoa học Việt Nam và các nhà khoa học Nga thuộc Viện Động vật hoang dã Saint - Peterburg, các nhà khoa học Đức của Vườn thú Köln đã phát hiện thêm tại vườn quốc gia này hơn 100 loài mới trong khu hệ cá Mười loại cá chưa từng thấy ở Việt Nam đã được phát hiện ở vườn quốc gia này

Trong 3 loài cá ở Phong Nha-Kẻ Bàng được ghi vào Sách Đỏ Việt Nam thì

đã có 2 loài cá chình Đó là cá Chình hoa (Anguilla marmorota) và cá Chình mun (Anguilla bicolo) Tổ chức Hệ động thực vật quốc tế (Founa and Flora International

FFI) đã tiến hành khảo sát và đã có báo cáo cho rằng Vườn Quốc gia Phong Nha

-Kẻ Bàng có 4 loài được xếp vào diện nguy cấp trên phạm vi toàn cầu, đó là voọc Hà Tĩnh, voọc đen tuyền, voọc ngũ sắc và vượn đen má trắng

Ngoài sinh cảnh thảm thực vật và động vật hoang dã, khu Phong Nha - Kẻ Bàng còn là nơi đã từng tồn tại và đang hiện diện cả một hệ di tích lịch sử văn hóa

Trang 40

có giá trị cho nhiều thời đại như các di tích khảo cổ học thời tiền sử, văn hóa Chămpa và Việt cổ, di tích căn cứ kháng chiến chống Pháp của vua Hàm Nghi cuối thế kỷ XIX và những địa danh nổi tiếng trên đường mòn Hồ Chí Minh như bến phà Xuân Sơn, bến phà Nguyễn Văn Trỗi, đường 20 Quyết Thắng…

Trong khu vực Phong Nha Kẻ Bàng còn rất nhiều điểm du lịch hấp dẫn du khách như Khu du lịch nguyên sinh suối nước Moọc, các bản dân tộc Rục, thôn Chày Lập

Nằm cách Trung tâm Du lịch Văn hóa và Sinh thái Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng khoảng 10 - 12 km đường chim bay Tại Khu du lịch nguyên sinh suối nước Moọc, khách du lịch có thể hòa mình trong không gian của núi rừng hoang dã với tiếng rì rào của suối nước, lắng nghe tiếng kêu của côn trùng và chim muông Hơn thế, đến đây du khách có cơ hội khám phá nơi thâm sơn này một phần của thế giới sinh học đa dạng, bí ẩn của rừng nguyên sinh Phong Nha - Kẻ Bàng Địa danh "nước Moọc" theo tiếng địa phương có nghĩa là "nước mọc lên từ lòng đất" Tại đây du khách được chiêm ngưỡng những đụn nước, cột nước trồi ra từ lòng đất, hòa quyện vào nhau, khởi thủy cho dòng sông Chày thơ mộng

Trong những năm qua, Khu du lịch Phong Nha - Kẻ Bàng đã trở thành địa chỉ yêu thích của du khách, số lượng khách du lịch đến tham quan Phong Nha - Kẻ Bàng ngày càng tăng, nhất là khi Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng được UNESCO công nhận là Di sản Thiên nhiên Thế giới Cùng với Thánh địa Mỹ Sơn, Phố cổ Hội An, Cố đô Huế, Di sản Thiên nhiên Thế giới Phong Nha - Kẻ Bàng, tuyến du lịch độc đáo '"Con đường Di sản Miền Trung" hình thành và lan rộng, tạo nên sức hấp dẫn đối với khách du lịch

* Tài nguyên du lịch biển

Vùng ven biển Quảng Bình cũng là nơi tập trung phần lớn tiềm năng du lịch với 9 bãi tắm chính, nhiều điểm du lịch biển nổi tiếng như cửa Nhật Lệ, Bảo Ninh, vịnh Hòn La, bãi tắm Đá Nhảy, Hải Ninh, Ngư Thủy và một số bãi tắm còn ở dạng tiềm năng ở khu vực Nam Lệ Thủy Các khu danh thắng nổi tiếng trên đất Quảng

Ngày đăng: 18/05/2021, 17:33

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w