Một doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển trong nền kinh thế thị trường thì sản phẩm của nó sản xuất ra phải tiêu thụ được, chỉ khi sản phẩm của doanh nghiệp được bán, được tiêu thụ th
Trang 1NGUYỄN PHƯƠNG LOAN
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CHIẾN LƯỢC TIÊU THỤ SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN BÊ TÔNG
VÀ XÂY DỰNG VINACONEX XUÂN MAI
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
HÀ NỘI - 2013
Trang 2NGUYỄN PHƯƠNG LOAN
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CHIẾN LƯỢC TIÊU THỤ SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN BÊ TÔNG
VÀ XÂY DỰNG VINACONEX XUÂN MAI
Chuyên ngành : Kinh tế nông nghiệp
Mã số : 60.62.01.15
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS LÊ TRỌNG HÙNG
HÀ NỘI - 2013
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, các số liệu và kết quả nghiên cứu trình bày trong luận văn
là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ bất kỳ một học vị nào
Tôi xin cam đoan, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được
cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Nguyễn Phương Loan
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn thạc sỹ kinh tế, ngoài sự nỗ lực cố gắng của bản
thân, tôi còn nhận được sự giúp đỡ của nhiều tập thể, cá nhân trong và ngoài
trường
Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới Thầy giáo PGS.TS Lê Trọng
Hùng đã tận tình giúp đỡ để tôi hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn Trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam, Khoa đào
tạo Sau đại học đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn tới các phòng, ban ngành, Ban Giám đốc Công ty
cổ phần Bê tông và Xây dựng Vinaconex Xuân Mai đã tận tình cung cấp tài liệu,
giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu luận văn
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã động viên khích lệ, giúp đỡ tôi
hoàn thành luận văn tốt nghiệp này
Xin chân thành cảm ơn!
Tác giả luận văn
Nguyễn Phương Loan
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC HÌNH viii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHIẾN LƯỢC TIÊU THỤ 4
SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP 4
1.1 Doanh nghiệp và mục tiêu của doanh nghiệp 4
1.1.1 Khái niệm doanh nghiệp 4
1.1.2 Mục tiêu doanh nghiệp 4
1.2 Chiến lược tiêu thụ sản phẩm và vai trò của nó đối với doanh nghiệp 5 1.2.1 Khái niệm chiến lược tiêu thụ sản phẩm 6
1.2.2 Nội dung của chiến lược tiêu thụ sản phẩm 6
1.2.3 Sự cần thiết của chiến lược tiêu thụ sản phẩm 11
1.2.4 Vai trò của chiến lược tiêu thụ sản phẩm 11
1.3 Khái niệm và các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động tiêu thụ sản phẩm trong doanh nghiệp 12
1.3.1 Khái niệm về tiêu thụ sản phẩm 12
1.3.2 Ý nghĩa của tiêu thụ sản phẩm 13
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp 13
1.5 Nội dung hoạt động tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp 19
1.5.1 Nghiên cứu thị trường 19
1.5.2 Xây dựng chiến lược sản phẩm 19
Trang 61.5.3 Xây dựng các điều kiện tiêu thụ sản phẩm 20
1.6 Các biện pháp xúc tiến hỗn hợp 23
1.6.1 Doanh nghiệp trong nước 25
1.6.2 Doanh nghiệp nước ngoài 26
Chương 2: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
2.1 Giới thiệu chung về Công ty cổ phần Bê tông và Xây dựng Vinaconex Xuân Mai 27
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty cổ phần Bê tông và Xây dựng Vinaconex Xuân Mai 27
2.1.2 Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý của Công ty cổ phần Bê tông và Xây dựng Vinaconex Xuân Mai 31
2.2 Đặc điểm các nguồn lực cho sản xuất kinh doanh của Công ty 36
2.2.1 Đặc điểm về cơ sở vật chất kỹ thuật 36
2.2.2 Đặc điểm về lao động của Công ty 37
2.2.3 Đặc điểm về vốn của Công ty 40
2.3 Đặc điểm về tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh của Công ty 43
2.3.1 Đặc điểm về sản phẩm và thị trường tiêu thụ 43
2.3.2 Đặc điểm về tổ chức sản xuất của Công ty 48
2.3.3 Đặc điểm bộ máy quản lý lao động của Công ty 48
2.4 Kết quả sản xuất kinh doanh của Công ty 50
2.5 Phương pháp nghiên cứu 52
2.5.1 Phương pháp khảo sát thực tế 52
2.5.2 Thu thập tài liệu 52
2.5.3 Xử lý số liệu 53
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 54
3.1 Định hướng chiến lược phát triển chung của Công ty 54
Trang 73.2 Chiến lược tiêu thụ sản phẩm của Công ty cổ phần Bê tông và Xây
dựng Vinaconex Xuân Mai 55
3.2.1 Chiến lược thị trường 56
3.2.2 Chiến lược giá 59
3.2.3 Chiến lược sản phẩm 64
3.2.4 Chiến lược phân phối 68
3.2.5 Chính sách xúc tiến hỗn hợp 73
3.3 Đánh giá các nhân tố ảnh hưởng tới kết quả thực hiện chiến lược tiêu thụ sản phẩm của Công ty 76
3.4 Hoàn thiện chiến lược tiêu thụ sản phẩm của Công ty cổ phần Bê tông và Xây dựng Vinaconex Xuân Mai 83
3.4.1 Hoàn thiện chiến lược chất lượng sản phẩm 83
3.4.2 Hoàn thiện chiến lược giá 85
3.4.3 Hoàn thiện chiến lược phân phối sản phẩm của Công ty 86
3.4.4 Hoàn thiện chiến lược thị trường 88
3.5 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện và đẩy mạnh quá trình thực hiện chiến lược tiêu thụ sản phẩm tại Công ty cổ phần Bê tông và Xây dựng Vinaconex Xuân Mai 90
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 98
1 Kết luận 98
2 Khuyến nghị 100
2.1 Đối với Nhà nước 100
2.2 Đối với Công ty 100
TẢI LIỆU THAM KHẢO 101
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Biểu 2.1 Tình hình cơ sở vật chất, kỹ thuật của Công ty 37
Biểu 2.2: Tổng số lao động và thu nhập bình quân người lao động 38
Biếu 2.3: Tình hình lao động của Công ty đến 31/12/2011 39
Biểu 2.4: Tình hình cơ cấu vốn của Công ty giai đoạn 2009 - 2011 41
Biểu 2.5: Tình hình công nợ của Công ty 42
Biểu 2.6: Kết quả sản xuất kinh doanh của Công ty giai đoạn 2009 – 2011 51
Biểu 3.1: Doanh thu tiêu thụ sản phẩm theo khu vực thị trường 58
Biểu 3.2: Giá bán bình quân một số sản phẩm của Công ty 63
Biểu 3.3: Số lượng một số sản phẩm sản xuất kinh doanh của Công ty 65
Giai đoạn 2009 - 2011 65
Biểu 3.4: Kết quả tiêu thụ sản phẩm theo kênh phân phối của Công ty 71
Giai đoạn 2009 - 2011 71
Biểu 3.5: Phân tích tóm tắt ma trận Swot 81
Trang 10DANH MỤC HÌNH
Sơ đồ 1.1 Các kiểu kênh tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp 22
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý Công ty 32
Biểu đồ 2.1: Diễn biến tình hình thay đổi lao động và thu nhập của Công ty giai đoạn 2009 - 2011 38
Sơ đồ 2.2: Quy trình sản xuất sản phẩm bê tông của Công ty 44
Sơ đồ 2.3 Quy trình sản xuất cấu kiện bê tông cốt thép dự ứng lực: 45
Sơ đồ 3.1: Chiến lược tiêu thụ sản phẩm của Công ty 56
Biểu đồ: 3.2: Tỷ lệ khách hàng của Công ty theo vùng 59
Biểu đồ 3.3: Diễn biến giá bán một số mặt hàng của Công ty giai đoạn 2009 - 2011 63
Biểu đồ 3.4: Giá trị sản phẩm tiêu thụ theo kênh phân phối 72
Trang 11ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đại hội VI của Đảng năm 1986 đã đánh dấu sự đổi mới sâu rộng và toàn diện
cả về tư tưởng lẫn đường lối của Đảng và Nhà nước ta, đó là việc xóa bỏ cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp chuyển sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường với sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Trước đây, trong cơ chế bao cấp thì chiến lược tiêu thụ sản phẩm không được coi trọng vì các doanh nghiệp chỉ việc tập trung sản xuất theo kế hoạch của cấp trên, của nhà nước giao cho còn vấn đề tiêu thụ sản phẩm đã được nhà nước bao tiêu
Ngày nay, trong nền kinh tế thị trường thì hoạt động tiêu thụ sản phẩm trở thành hoạt động vô cùng quan trọng, đó là vấn đề sống còn đối với các doanh nghiệp Một doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển trong nền kinh thế thị trường thì sản phẩm của nó sản xuất ra phải tiêu thụ được, chỉ khi sản phẩm của doanh nghiệp được bán, được tiêu thụ thì doanh nghiệp mới bù đắp được chi phí bỏ ra để sản xuất sản phẩm, đồng thời thu được lợi nhuận để tiếp tục duy trì và mở rộng quy
mô sản xuất
Với xu thế hội nhập kinh tế toàn cầu như hiện nay, thị trường của doanh nghiệp không còn bị giới hạn trong phạm vi một quốc gia mà đó là thị trường khu vực, thị trường thế giới Đây vừa là cơ hội tốt cho các doanh nghiệp khẳng định mình không chỉ ở trong nước mà còn vươn ra tầm khu vực, tầm thế giới đồng thời cũng là thách thức đối với các doanh nghiệp
Công ty cổ phần Bê tông & XD Vinaconex Xuân Mai là đơn vị thành viên của Tổng Công ty xuất nhập khẩu Việt Nam, với trên 2.000 cán bộ công nhân viên, ngành nghề sản xuất kinh doanh chính là sản xuất công nghiệp và vật liệu xây dựng, bất động sản, thi công xây dựng, tư vấn thiết kế
Công ty đã không ngừng lớn mạnh và phát triển trong suốt chặng đường nhiều thử thách, đặc biệt là trong thời kỳ đất nước mở cửa hội nhập với nền kinh tế
Trang 12thế giới Công ty đã có những bước phát triển mạnh về kết quả và hiệu quả trong sản xuất và xây dựng Công ty đã góp phần giải quyết những vấn đề bức xúc của xã hội đó là việc làm, thu nhập của người lao động, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh
tế, ổn định trật tự an toàn xã hội gắn với lợi ích doanh nghiệp, lợi ích xã hội là một vấn đề có ý nghĩa rất lớn trong giai đoạn hiện nay
Hiện nay, ngành công nghiệp và vật liệu xây dựng đang phát triển mạnh mẽ, đáp ứng nhu cầu trong nước và quốc tế Cùng với sự phát triển của ngành xây dựng,
là sự xuất hiện ngày càng nhiều các đơn vị sản xuất,thi công, thiết kế xây dựng Điều đó đã tạo môi trường cạnh tranh giữa các Công ty trong ngành nhằm chiếm
“một chỗ” trong thị trường vật liệu xây dựng, thi công, thiết kế,…
Do vậy các Công ty trong ngành xây dựng sẽ cạnh tranh gay gắt trên thị trường về chất lượng sản phẩm, giá cả và chất lượng dịch vụ Để làm được điều này Công ty không chỉ cho ra sản phẩm đáp ứng thị hiếu của người tiêu dùng mà còn phải mạnh dạn tái cấu trúc, nâng cao năng lực quản trị, đầu tư công nghệ, tiết kiệm tối đa chi phí sản xuất, làm tốt chiến lược quảng bá thương hiệu,… với khách hàng vào bất kỳ thời điểm nào, thời gian nào khi họ cần
Để đạt được mục tiêu đó đòi hỏi mỗi Công ty phải có một chiến lược và một mục tiêu cụ thể trong việc xây dựng chiến lược tiêu thụ sản phẩm, phải nghiên cứu thị trường để từ đó lựa chọn được, đưa ra những sản phẩm chiến lược, chọn kênh phân phối phù hợp, định giá bán phù hợp Nhận thấy việc làm này là cần thiết, cấp bách và không thể thiếu được đối với sự tồn tại và phát triển của Công ty
Xuất phát từ thực tế đó tôi chọn đề tài: “Một số giải pháp nhằm hoàn thiện chiến lược tiêu thụ sản phẩm tại Công ty cổ phần Bê tông và Xây dựng Vinaconex Xuân Mai” nhằm hoàn thiện chiến lược tiêu thụ sản phẩm của Công ty,
góp phần đẩy mạnh việc tiêu thụ sản phẩm trên thị trường cạnh tranh, đem lại lợi nhuận cao hơn cho Công ty
Trang 132 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu tổng quát
Trên cơ sở nghiên cứu chiến lược tiêu thụ sản phẩm, đưa ra những giải pháp chủ yếu nhằm góp phần đẩy mạnh quá trình thực hiện và hoàn thiện chiến lược tiêu thụ sản phẩm của Công ty cổ phần Bê tông và Xây dựng Vinaconex Xuân Mai
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hoá được những vấn đề lý luận và thực tiễn của hoạt động tiêu thụ
và chiến lược tiêu thụ sản phẩm trong doanh nghiệp
- Đánh giá được thực trạng chiến lược tiêu thụ sản phẩm tại Công ty cổ phần
Bê tông và Xây dựng Vinaconex Xuân Mai
- Đánh giá được các yếu tố ảnh hưởng đến chiến lược tiêu thụ sản phẩm tại Công ty cổ phần Bê tông và Xây dựng Vinaconex Xuân Mai
- Đề xuất được một số giải pháp nhằm đẩy mạnh quá trình thực hiện và hoàn thiện chiến lược, góp phần đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ sản phẩm tại Công ty cổ phần Bê tông và Xây dựng Vinaconex Xuân Mai
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các hoạt động liên quan đến thực hiện chiến lược tiêu thụ sản phẩm tại Công ty cổ phẩn Bê tông và Xây dựng Vinaconex Xuân Mai
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về không gian: Đề tài nghiên cứu hoạt động tiêu thụ một số sản
phẩm phục vụ xây dựng của Công ty cổ phần Bê tông và Xây dựng Vinaconex Xuân Mai
- Phạm vi về thời gian: Số liệu phục vụ nghiên cứu đề tài được thu thập từ
năm 2009 đến năm 2011 Lý do không lựa chọn năm 2012 là vì trong này Công ty tiến hành kiểm toán tổng thể nên số liệu chưa được công bố
Trang 14Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHIẾN LƯỢC TIÊU THỤ
SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP 1.1 Doanh nghiệp và mục tiêu của doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm doanh nghiệp
Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế được thành lập để thực hiện các hoạt động kinh doanh với mục tiêu thu lợi nhuận Doanh nghiệp được coi là chủ thể kinh doanh chủ yếu trong nền kinh tế thị trường
Theo Luật doanh nghiệp của nhà nước ta hiện nay, doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh
1.1.2 Mục tiêu doanh nghiệp
Tùy theo đặc điểm sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp mà có các mục tiêu khác nhau, tuy nhiên về cơ bản có những mục tiêu chung sau:
- Mục tiêu thu lợi nhuận: Lợi nhuận là phần thu nhập còn lại của doanh
nghiệp sau khi đã trang trải các chi phí trong sản xuất kinh doanh và làm nghĩa vụ thuế đối với ngân sách nhà nước Đây là mục tiêu trung tâm số một của mỗi doanh nghiệp
- Mục tiêu phát triển: Để có thể đứng vững và phát triển trong nền kinh tế thị
trường, liên tục phát triển là mục tiêu quan trọng được đặt ra một cách thường xuyên đối với mọi doanh nghiệp, bởi tương quan giữa các doanh nghiệp là một trạng thái thường xuyên thay đổi theo thời gian Để có thể phát triển ổn định, bền vững doanh nghiệp cần xây dựng và thực thi một chiến lược kinh doanh khoa học, các chính sách và biện pháp kinh doanh linh hoạt, hiệu quả
- Mục tiêu cung ứng: Cung cấp những sản phẩm và dịch vụ cần thiết cho nền
kinh tế là một mục tiêu quan trọng, là lý do tồn tại của doanh nghiệp trong nền kinh
tế Đây vừa là mục tiêu, vừa là phương tiện để doanh nghiệp đạt được mục tiêu lợi nhuận và những mục tiêu khác của mình Trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp
Trang 15phải tạo cho mình một phân đoạn thị trường hợp lý và một lượng khách hàng đủ lớn
để tồn tại và phát triển
- Mục tiêu trách nhiệm xã hội: Doanh nghiệp là một đơn vị cơ sở sản xuất
kinh doanh của nền kinh tế, là một tế bào của xã hội, vì thế phải đặt ra mục tiêu thực hiện các trách nhiệm xã hội của mình Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là việc đảm bảo chất lượng sản phẩm và dịch vụ đưa ra thị trường, đảm bảo lợi ích chính đáng của người tiêu dùng, bảo vệ và cải thiện các điều kiện môi trường sinh thái trong khu vực nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững của toàn bộ nền kinh tế, góp phần tích cực vào sự nghiệp phát triển toàn diện kinh tế xã hôi, đảm bảo an ninh quốc phòng trên từng địa bàn cụ thể
1.2 Chiến lược tiêu thụ sản phẩm và vai trò của nó đối với doanh nghiệp
Trong nền kinh tế thị trường mỗi doanh nghiệp là một chủ thể kinh tế độc lập Để tồn tại và phát triển lâu dài trên thương trường, mỗi doanh nghiệp cần có chiến lược kinh doanh riêng của mình trong chiến lược kinh doanh thì chiến lược tiêu thụ sản phẩm là khâu trọng yếu quyết định chiến lược kinh doanh Chiến lược tiêu thụ sản phẩm là định hướng tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp trong mỗi thời
kỳ nhất định, với những giải pháp nhằm thực hiện cho được những mục tiêu đề ra Mục tiêu của chiến lược gồm mặt hàng tiêu thụ, tăng doanh số bán ra, tăng lợi nhuận và mở rộng thị trường kể cả thị trường trong và ngoài nước Chiến lược tiêu thụ sản phẩm ở tầm vĩ mô sẽ giúp cho doanh nghiệp đi đúng hướng theo mục tiêu chung của nền kinh tế nó phục vụ cho hoạt động đối ngoại và thúc đẩy tăng trưởng của ngành cũng như của nền kinh tế, góp phần ổn định kinh tế, chính trị xã hội Chiến lược tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp giúp doanh nghiệp nắm bắt nhu cầu của khách hàng, từ đó chủ động đối phó với mọi diễn biến của thị trường giúp doanh nghiệp mở rộng thị trường mới, kế hoạch hoá về khối lượng hàng hoá tiêu thụ, doanh thu lợi nhuận, chọn kênh tiêu thụ và các đối tượng khách hàng
- Xác định sản phẩm tung ra thị trường: sản phẩm tung ra thị trường có phù hợp với nhu cầu của khách hàng không có phù hợp với điều kiện của doanh nghiệp không?
Trang 16- Điều chỉnh cơ cấu sản phẩm xác định sản phẩm “xương sống” trong cơ chế thị trường doanh nghiệp phải tìm cho ra sản phẩm chính của mình đầu tư vào đó một cách hợp lý nhưng bên cạnh vẫn phải có những sản phẩm khác kèm theo (đa dạng hoá sản phẩm) nhằm chia sẻ rủi ro, tiết kiệm chi phí giúp doanh nghiệp đứng vững trên thương trường Phân tích sản phẩm và khả năng thích ứng của sản phẩm với thị trường Người tiêu dùng mua hàng hoá nhằm thoả mãn mọi nhu cầu nào đó
Vì vậy để kinh doanh có hiệu quả doanh nghiệp cần nắm được nhu cầu thị hiếu của khách hàng để phục vụ ngày càng tốt hơn Nâng cao uy tín cho sản phẩm, người tiêu dùng thích dùng những sản phẩm đã quen hoặc những sản phẩm chưa quen nhưng được nhiều người biết và ca ngợi Doanh nghiệp cần biết yếu tố tâm lý này của khách hàng để nâng cao uy tín cho sản phẩm
- Đối với sản phẩm cung cấp: Kinh tế thị trường là cuộc chạy đua không có đích để thoả mãn nhu cầu thay đổi không ngừng của xã hội thì doanh nghiệp cũng luôn luôn phải cải tiến sản phẩm (bổ xung thêm tính này tác dụng, thay đổi mẫu mã bao bì ) hoặc tạo ra sản phẩm mới hoàn toàn, ưu việt hơn sản phẩm cũ Chỉ có như thế doanh nghiệp mới tồn tại và phát triển được
1.2.1 Khái niệm chiến lược tiêu thụ sản phẩm
Chiến lược tiêu thụ sản phẩm là định hướng hoạt động có mục tiêu của doanh nghiệp và hệ thống các giải pháp, biện pháp nhằm thực hiện mục tiêu đề ra trong tiêu thụ Mục tiêu của chiến lược tiêu thụ sản phẩm bao gồm mặt hàng tiêu thụ, tăng doanh số, tối đa hóa lợi nhuận, mở rộng thị trường và nâng cao uy tín cho doanh nghiệp
1.2.2 Nội dung của chiến lược tiêu thụ sản phẩm
Chiến lược tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp thực chất là một chương trình hành động tổng quát hướng tới việc thực hiện những mục tiêu cụ thể của doanh nghiệp Chiến lược tiêu thụ sản phẩm của mỗi doanh nghiệp được xây dựng dựa trên những căn cứ khác nhau, với những mục đích khác nhau nhưng về cơ bản chúng đều bao gồm 2 vấn đề cơ bản là chiến lược tổng quát và chiến lược bộ phận
Trang 17Chiến lược tổng quát có nhiệm vụ xác định các bước đi và hướng đi cùng với những mục tiêu cần đạt tới Nội dung của chiến lược tổng quát thường được thể hiện bằng những mục tiêu cụ thể như: Phương hướng sản xuất, loại sản phẩm, dịch
vụ lựa chọn, thị trường tiêu thụ, nhịp độ tăng trưởng và các mục tiêu về tài chính…Tuy nhiên, vấn đề quan trọng là phải xác định được mục tiêu then chốt cho từng thời kỳ
Chiến lược bộ phận bao gồm:
- Chiến lược sản phẩm: Là phương thức kinh doanh trên cơ sở bảo đảm thỏa mãn nhu cầu của thị trường và thị hiếu của khách hàng trong từng thời kỳ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Chiến lược sản phẩm là xương sống của chiến lược tiêu thụ sản phẩm Trình độ sản xuất càng cao, cạnh tranh càng gay gắt thì vai trò của chiến lược tiêu thụ sản phẩm càng trở nên quan trọng Chiến lược sản phẩm không chỉ bảo đảm cho sản xuất kinh doanh đúng hướng mà còn gắn bó chặt chẽ giữa các khâu của quá trình tái sản xuất mở rộng của doanh nghiệp nhằm thực hiện các mục tiêu của chiến lược tiêu thụ sản phẩm Mục tiêu của chiến lược sản phẩm nhằm trả lời các câu hỏi: sản xuất cái gì? sản xuất như thế nào? và sản xuất cho ai?
số lượng mẫu mã của mỗi loại chính là chiều sâu của tập hợp sản phẩm
Trang 18+ Nghiên cứu và thiết kế sản phẩm mới: phát triển sản phẩm mới ngày càng trở thành yêu cầu tất yếu khách quan trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mọi doanh nghiệp Yêu cầu phải nghiên cứu sản phẩm mới xuất phát từ sự phát triển của khoa học kỹ thuật và cạnh tranh trên thị trường có xu hướng ngả sang cạnh tranh về chất lượng và dịch vụ Đòi hỏi doanh nghiệp phải cải tiến, hoàn thiện các sản phẩm mới hiện có thì mới giành được lợi thế trong cạnh tranh Mặt khác, mỗi sản phẩm đều có chu kỳ sống nhất định khi sản phẩm cũ đã bước sang giai đoạn suy thoái thì doanh nghiệp phải có sản phẩm mới để thay thế nhằm đảm bảo tính liên tục của quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh
- Chiến lược giá cả: Mặc dù trên thị trường hiện nay, cạnh tranh bằng giá cả
đã nhường vị trí hàng đầu cho cạnh tranh bằng chất lượng và dịch vụ nhưng giá cả vẫn có vai trò nhất định Do vậy doanh nghiệp cần xác định được một chiến lược giá phù hợp cho từng loại sản phẩm và từng thời kỳ hoạt động của doanh nghiệp
Chiến lược giá có mối quan hệ mật thiết với chiến lược sản phẩm Chiến lược sản phẩm dù rất quan trọng nhưng nếu không được hỗ trợ bởi chiến lược giá cả thì sẽ thu được ít hiệu quả Xác định một chiến lược giá cả đúng đắn sẽ đẩy mạnh việc tiêu thụ hàng hóa của doanh nghiệp, từ đó bảo đảm các mục tiêu khác
Chiến lược định giá phụ thuộc vào mục tiêu marketing của Công ty Khi xác định giá cho sản phẩm, Công ty cần xem xét các bước của quá trình định giá như sau:
Thứ nhất: Công ty lựa chọn được mục tiêu marketing của mình thông qua định giá, đó là mục tiêu:
- Định giá hướng vào lợi nhuận
- Định giá hướng vào thị phần
- Định giá hướng vào đối thủ cạnh tranh
- Định giá hướng vào người mua
- Định giá hướng vào chất lượng
Thứ hai: Công ty xác định, ước lượng quy mô cầu và độ co giãn của cầu để căn cứ định giá thích hợp
Trang 19Thứ ba: Công ty ước tính giá thành
Thứ tư: Tìm hiểu giá của đối thủ cạnh tranh để làm cơ sở xác định vị trí cho giá của mình
Thứ năm: Lựa chọn phương pháp định giá, nó bao gồm các phương pháp: Định giá theo phụ giá, định giá theo lợi nhuận mục tiêu, định giá theo cảm nhận của khách hàng, định giá theo giá trị, định giá theo giá cả hiện hành, định giá đấu thầu
Do vấn đề cạnh tranh và sự thay đổi của thị trường kéo theo Công ty phải thay đổi, điều chỉnh giá cho thích hợp, có thể có các chiến lược điều chỉnh như: Định giá theo nguyên tắc địa lý, chiết giá và bớt giá, định giá khuyến mãi, định giá phân biệt và định giá cho danh mục sản phẩm
Khi thực hiện việc thay đổi, điều chỉnh giá Công ty cần phải xem xét thận trọng những phản ứng của thị trường, khách hàng và đối thủ cạnh tranh
- Chiến lược phân phối: Chiến lược phân phối sảm phẩm là phương hướng thể hiện cách thức doanh nghiệp cung ứng các sản phẩm, dịch vụ cho khách hàng của mình trên thị trường mục tiêu
Chiến lược phân phối có vai trò quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp Mối chiến lược kinh doanh hợp lý sẽ làm cho quá trình kinh doanh an toàn, tăng cường khả năng liên kết trong kinh doanh, giảm được
sự cạnh tranh và làm cho quá trình lưu thông hàng hóa nhanh chóng
Chiến lược phân phối có mối quan hệ chặt chẽ với chiến lược sản phẩm và chiến lược giá cả, chiến lược phân phối chịu ảnh hưởng của chiến lược giá cả, đồng thời nó cũng tác động quay trở lại đối với việc xây dựng và triển khai hai chiến lược này
+ Chiến lược phân phối bao gồm những nội dung sau:
Xác định mục tiêu của chiến lược phân phối: chiến lược phân phối có nhiều mục tiêu khác nhau nhưng về cơ bản nó có bốn mục tiêu chính là: Bảo đảm phân phối nhanh chóng; Tiêu thụ được khối lượng lớn sản phẩm dịch vụ; Bảo đảm chất lượng hàng hóa; Chi phí thấp Tùy theo mục tiêu tổng quát trong chiến lược tiêu thụ
và các mục tiêu của các chiến lược sản phẩm và giá, mỗi doanh nghiệp có thể lựa
Trang 20chọn một hoặc một số mục tiêu chủ yếu là cơ sở cho xây dựng chiến lược phân phối
+ Lựa chọn căn cứ xây dựng chiến lược phân phối:
Căn cứ vào đặc điểm hàng hóa, có thể chia làm ba nhóm: Nhóm những hàng hóa khó bảo quản, dễ hư hỏng đòi hỏi phải tiếp cận thị trường trực tiếp; Nhóm những hàng hóa đơn chiếc, hàng hóa có kỹ thuật đặc biệt cần phải bán trực tiếp; Nhóm những hàng hóa muốn bán với khối lượng lớn phải qua các khâu trung gian
Căn cứ vào đặc điểm khách hàng: khách hàng đông hay lẻ tẻ, tập trung hay phân tán, mức độ ổn định trong tiêu dùng, đặc điểm tập quán tiêu dùng
+ Xác định kênh phân phối
Nội dung cuối cùng của chiến lược phân phối là phải chọn một kênh phân phối phù hợp với đặc điểm của sản phẩm và đặc điểm khách hàng, nhờ đó mà doanh nghiệp đạt được mục tiêu của chiến lược phân phối
Ngoài nội dung xác định và lựa chọn kênh phân phối, trong chiến lược còn phải xác định một số vấn đề khác liên quan đến phân phối như trung gian, số mạng phân phối và loại phương tiện vận chuyển
- Chiến lược giao tiếp và khuếch trương: Là chiến lược sử dụng kỹ thuật yểm trợ bán hàng nhằm mục đích thúc đẩy hoạt động tiêu thụ Trong nền kinh tế chỉ huy, người sản xuất không cần quan tâm đến xây dựng chiến lược giao tiếp khuếch trương, bởi lẽ họ chỉ là người giao nộp chứ không phải là người bán Trong nền kinh tế thị trường, mục tiêu của người bán là lợi nhuận, do vậy phải thu hút khách hàng, thực hiện các hoạt động yểm trợ bán hàng Do vậy, vai trò của chiến lược giao tiếp và khuếch trương trở nên cực kỳ quan trọng trong chiến lược tiêu thụ sản phẩm Chiến lược giao tiếp và khuếch trương là công cụ hữu hiệu hỗ trợ cho chiến lược sản phẩm, giá cả và phân phối Chiến lược giao tiếp và khuếch trương bao gồm những nội dung sau:
+ Chiến lược quảng cáo: là chiến lược sử dụng các phương tiện thông tin để truyền tin về sản phẩm hoặc cho người trung gian, hoặc cho người tiêu dùng cuối cùng trong một khoảng thời gian và không gian nhất định
Trang 21+ Chiến lược xúc tiến bán hàng: là chiến lược sử dụng những kỹ thuật đặc thù nhằm gây ra một sự gia tăng nhanh chóng nhưng tạm thời trong doanh số bán hàng bằng việc cung cấp một lợi ích ngoại lệ cho người mua như: bán hàng có thưởng, khuyến mại, giảm giá…
+ Chiến lược yểm trợ bán hàng: là chiến lược hoạt động của người bán nhằm gắn bó chặt chẽ với người mua hoặc gắn những người sản xuất kinh doanh với nhau thông qua việc sử dụng hoạt động của các hiệp hội kinh doanh, hội nghị khách hàng…
1.2.3 Sự cần thiết của chiến lược tiêu thụ sản phẩm
Để tồn tại và phát triển, mỗi Công ty cần phải cho mình mục tiêu và cố gắng
để đạt được mục tiêu đó Khi việc quản lý và điều hành công việc dựa trên những kinh nghiệm, trực giác và sự khôn ngoan không thể đảm bảo sự thành công của Công ty thì việc lập kế hoạch chiến lược cho toàn bộ các hoạt động của Công ty là điều cần thiết Kế hoạch chiến lược sẽ giúp cho Công ty thất rõ hơn mục tiêu cần vươn tới của mình và chỉ đạo sự phối hợp các hoạt động hoàn hảo hơn Đồng thời
kế hoạch chiến lược cũng giúp cho nhà quản trị suy nghĩ có hệ thống những vấn đề kinh doanh nhằm đem lại những chuyển biến tốt đẹp hơn
Nằm trong chiến lược chung của Công ty, chiến lược tiêu thụ sản phẩm thể hiện sự cố gắng của Công ty nhằm đạt tới một vị trí mong muốn xét trên vị trí cạnh tranh và sự biên động của môi trường kinh doanh Chỉ khi lập được chiến lược tiêu thụ sản phẩm thì Công ty mới có thể thực hiện một cách đồng bộ các hoạt động tiêu thụ sản phẩm, bắt đầu từ việc tìm hiểu và nhận biết các yếu tố môi trường bên ngoài, đánh giá những điều kiện khác bên trong Công ty để từ đó có những chính sách về sản phẩm, giá cả, phân phối và xúc tiến nhằm đạt tới mục tiêu tốt nhất
Với ý nghĩa đó việc hoàn thiện chiến lược tiêu thụ sản phẩm thực sự là công việc quan trọng, cần thiết phải làm đối với mỗi Công ty Đây là cơ sở để tổ chức và thực hiện các hoạt động tiêu thụ sản phẩm trong Công ty
1.2.4 Vai trò của chiến lược tiêu thụ sản phẩm
Trang 22Chiến lược tiêu thụ sản phẩm của một doanh nghiệp giúp doanh nghiệp nắm bắt được nhu cầu khách hàng, từ đó chủ động đối phó với mọi diễn biến của thị trường, giúp doanh nghiệp mở rộng thêm thị trường mới, kế hoạch hóa về khối lượng tiêu thụ, doanh thu, lợi nhuận, chọn kênh tiêu thụ và các đối tượng khách hàng Chiến lược tiêu thụ sản phẩm giữ vai trò quan trọng và quyết định sự thành công hay thất bại của chiến lược kinh doanh
1.3 Khái niệm và các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động tiêu thụ sản phẩm trong doanh nghiệp
1.3.1 Khái niệm về tiêu thụ sản phẩm
Tiêu thụ sản phẩm là khâu hết sức quan trọng trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Bản chất của tiêu thụ sản phẩm là quá trình thực hiện giá trị của sản phẩm, là giai đoạn đưa sản phẩm từ người sản xuất đến với người tiêu dùng Qua quá trình này, người sản xuất có thể thu hồi vốn đầu tư của mình để trang trải các chi phí sản xuất và tiếp tục tái sản xuất
Tiêu thụ là giai đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất kinh doanh, là giai đoạn thực hiện giá trị và giá trị sử dụng của sản phẩm hàng hóa Đứng trên góc độ luân chuyển vốn thì tiêu thụ là quá trình luân chuyển từ hình thái sản xuất hàng hóa sang hình thái sản xuất giá trị Sản phẩm hàng hóa được coi là tiêu thụ khi doanh nghiệp nhận được tiền hoặc khách hàng chấp nhận trả tiền
Theo nghĩa hẹp: Tiêu thụ sản phẩm là quá trình chuyển từ hình thái hiện vật
sang hình thái giá trị của sản phẩm Sản phẩm được coi là tiêu thụ khi khách hàng chấp nhận thanh toán Theo quan điểm này, quá trình tiêu thụ bắt đầu khi đưa hàng
vào lưu thông và kết thúc khi đã bán hàng xong
Theo nghĩa rộng: Tiêu thụ sản phẩm là một quá trình bao gồm nhiều khâu, từ
việc tổ chức nghiên cứu thị trường, định hướng sản xuất, tổ chức bán hàng và thực hiện các dịch vụ trước, trong và sau khi bán hàng Theo quan điểm này, tiêu thụ sản phẩm là một quá trình xuất hiện từ trước khi tổ chức các hoạt động sản xuất và chỉ kết thúc khi đã bán được sản phẩm
Trang 231.3.2 Ý nghĩa của tiêu thụ sản phẩm
Đối với doanh nghiệp: Hoạt động tiêu thụ sản phẩm có ý nghĩa quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Kết quả của hoạt động tiêu thụ sản phẩm có tác động rất lớn, nhiều khi còn đóng vai trò quyết định đối với hiệu quả của quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Nhờ khâu têu thụ mà doanh nghiệp có thể thu hồi được các chi phí bỏ ra, thực hiện các mục tiêu lợi nhuận và mục tiêu khác trong sản xuất kinh doanh của mình
Kết quả của tiêu thụ sản phẩm sẽ phản ánh đúng đắn của mục tiêu và chiến lược kinh doanh, chất lượng công tác của bộ máy quản lý doanh nghiệp nói chung
và bộ phận tiêu thụ sản phẩm nói riêng
Nếu tổ chức hoạt động tiêu thụ sản phẩm giúp doanh nghiệp thu hồi nhanh, tốc độ vòng quay của vốn lớn, do đó chu kỳ kinh doanh được rút ngắn và sử dụng vốn có hiệu quả cao Việc tổ chức hoạt động tiêu thụ sản phẩm nhằm góp phần làm giảm chi phí lưu thông, giảm thời gian dữ trữ nguyên vật liệu, giảm lượng hàng hóa tồn kho của doanh nghiệp Đồng thời giảm được chi phí về mất mát, hao hụt nguyên vật liệu, giảm chi phí bảo quản
Đối với xã hội: Việc tổ chức tốt các hoạt động tiêu thụ sẽ thúc đẩy nhanh quá trình phân phối lưu thông, đẩy nhanh quá trình tái sản xuất xã hội trên cơ sở đó thúc đẩy sự phát triển mọi mặt của nền kinh tế Quá trình tiêu thụ góp phần thúc đẩy sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và các ngành nghề khác phát triển Tiêu thụ sản phẩm có hiệu quả nghĩa là hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra liên tục
từ đó tạo công ăn việc làm và tăng thu nhập cho người lao động
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp
Kết quả cuối cùng của hoạt động tiêu thụ là khối lượng sản phẩm bán ra và doanh thu thu được Tuy nhiên, trong đó quá trình tiêu thụ sản phẩm có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến kết quả tiêu thụ mà doanh nghiệp cần phải xác định để hạn chế các tiêu cực của nó Có thể chia các yếu tố ảnh hưởng thành hai nhóm sau:
- Nhóm nhân tố bên trong doanh nghiệp: là những nhân tố chủ quan thuộc phạm vi doanh nghiệp Bao gồm:
Trang 24+ Khối lượng sản phẩm sản xuất: Nhân tố này có tác động rất lớn đến công tác tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp Khối lượng sản xuất lớn là điều kiện để đẩy mạnh tiêu thụ và tăng doanh thu tiêu thụ Tuy nhiên, khối lượng sản phẩm sản xuất lại phụ thuộc rất nhiều vào năng lực sản xuất tổng quát của doanh nghiệp và khó có thể tăng lên một cách vô hạn
+ Chất lượng sản phẩm tiêu thụ: Nhân tố này không những ảnh hưởng đến khối lượng sản phẩm tiêu thụ mà còn ảnh hưởng đến giá cả tiêu thụ và uy tín doanh nghiệp Do đó, nó đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải tìm mọi biện pháp nâng cao chất lượng sản phẩm tiêu thụ để tăng khối lượng tiêu thụ và khả năng cạnh tranh trên thị trường
+ Giá cả tiêu thụ: Giá bán sản phẩm là chỉ tiêu người tiêu dùng quan tâm Cùng một loại hàng hóa như nhau nhưng sản phẩm nào có giá bán thấp hơn sẽ được mua nhiều hơn Chính vì vậy, có thể coi giá bán như một đòn bẩy kích thích tiêu dùng, đặc biệt trong điều kiện thu nhập của người mua còn hạn chế Tuy giá cả hàng hóa được hình thành một cách khách quan, tự phát trên thị trường nhưng doanh nghiệp hoàn toàn có thể quyết định được mức giá nhỏ hơn hoặc bằng giá cả trên thị trường Giá bán được coi là hợp lý và linh hoạt khi nó có thể bù đắp được chi phí bỏ ra, có mức lãi hợp lý và tạo ra thế mạnh cạnh tranh trên thị trường, đây cũng chính là chính sách giá của doanh nghiệp
+ Tổ chức công tác tiêu thụ: Việc lựa chọn các kênh tiêu thụ, các phương thức thanh toán và thực hiện các biện pháp hỗ trợ tiêu thụ giúp cho doanh nghiệp khả năng mở rộng thị trường và đẩy mạnh công tác tiêu thụ sản phẩm
- Các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp: Đây là những nhân tố có ảnh hưởng gián tiếp nhưng rất quan trọng đối với hoạt động tiêu thụ của doanh nghiệp Thuộc nhóm nhân tố này bao gồm:
+ Khách hàng: Là những tổ chức, cá nhân thường xuyên hoặc không thường xuyên mua hàng của doanh nghiệp Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, mức độ phụ thuộc và mối quan hệ giữa doanh nghiệp và khách hàng tương đối lớn nó luôn tạo áp lực đối với doanh nghiệp từ phía khách hàng như yêu cầu giảm giá hàng hóa,
Trang 25yêu cầu chất lượng hàng hóa, yêu cầu dịch vụ hậu mãi,… Vì vậy đòi hỏi doanh nghiệp phải nghiên cứu và phân loại khách hàng theo các tiêu chí khác nhau như khách hàng thường xuyên và không thường xuyên; Khách hàng là người tiêu dùng, người bán lại hay người môi giới Mặt khác doanh nghiệp cũng quan tâm tới nhu cầu, mong muốn, mức thu nhập, thị hiếu, sở thích hay tập quán của khách hàng để
có biện pháp đáp ứng hữu hiệu nhất
+ Nhân tố cạnh tranh: Canh tranh trong nền kinh tế thị trường là yếu tố khách quan, không thể thiếu được trong cơ chế vận động của nó Cạnh tranh là linh hồn sống của cơ chế thị trường, nó buộc các doanh nghiệp phải tự vươn lên, nỗ lực phấn đấu trong quản lý sản xuất, trong quản trị kinh doanh nhằm giành được phần lớn chỗ đứng sản phẩm của doanh nghiệp trên thị trường Mức độ cạnh tranh còn tùy thuộc vào hình thái thị trường mà doanh nghiệp đang tiến hành khai thác Chiến thắng trong cạnh tranh có ý nghĩa là mở ra cho doanh nghiệp một khả năng phát triển mới, một thị trường lớn hơn Ngược lại, thất bại trong cạnh tranh gây khó khăn rất lớn cho hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp
Các đối thủ cạnh tranh bao gồm những tổ chức, cá nhân cùng sản xuất kinh doanh mặt hàng như nhau hoặc tương tự mặt hàng của doanh nghiệp trên thị trường hoặc các đối thủ tiềm ẩn có khả năng tham gia vào ngành sản xuất, kinh doanh trong tương lai Do vậy doanh nghiệp phải tìm hiểu đối thủ cạnh tranh, tìm ra điểm mạnh, điểm yếu của từng đối thủ để có biện pháp thu hút khách hàng, chiếm lĩnh thị trường
+ Môi trường kinh doanh: Bao gồm các yếu tố hoàn cảnh bên ngoài tác động đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp như môi trường chính trị, môi trường pháp lý, môi trường kinh tế, môi trường văn hóa xã hội,… Ngoài ra còn phải kể đến tình hình kinh tế xã hội của đất nước, chính sách kinh tế của nhà nước cũng tác động không nhỏ đến hoạt động tiêu thụ sản phẩm nói riêng và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
+ Nhân tố quản lý của nhà nước: Trong thời đại ngày nay, bất kỳ quốc gia nào nhà nước cũng đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế của nhà nước
Trang 26đó Nhà nước tác động đến chủ thể kinh tế thông qua các chính sách, chủ trương và biện pháp cụ thể nhằm đạt được sự phát triển toàn diện theo định hướng Song, mức tác động phụ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng nước, đặc biệt là chế độ chính trị của nước đó Điều mà các chủ thể kinh tế hay các doanh nghiệp quan tâm đến là việc đưa ra các chính sách vĩ mô của nhà nước có ảnh hưởng như thế nào đến hoạt động sản xuất kinh doanh của họ Sự tác động này đương nhiên có thể tác động tích cực hay tiêu cực Chẳng hạn như chính sách hạ thấp tỷ lệ vốn vay, hạn chế nhập khẩu, tăng cường công tác chống buôn lậu,… sẽ tác động tốt đến doanh nghiệp và ngược lại các chính sách như tăng thuế, tăng giá xăng dầu, tăng giá điện, hạn chế thương mại,… sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến doanh nghiệp
Các chỉ tiêu đánh giá hoạt động tiêu thụ sản phẩm
Các chỉ tiêu này cho biết doanh nghiệp đạt kết quả cao hay thấp, qua đó phản ảnh thị phần thị trường mà doanh nghiệp đã xâm nhập
- Khối lượng tiêu thụ sản phẩm:
Công thức tính khối lượng sản phẩm tiêu thụ:
A = B + C – D Trong đó:
A: là khối lượng sản phẩm tiêu thụ B: là khối lượng sản phẩm tồn kho C: là khối lượng sản phẩm xuất trong kỳ D: là khối lượng sản phẩm tồn cuối kỳ
- Doanh thu tiêu thụ:
Được tính theo công thức:
Trong đó:
DT là doanh thu tiêu thụ
Qi là khối lượng hàng hóa i tiêu thụ trong kỳ
Pi là giá bán đơn vị hàng hóa
n là số mặt hàng mà doanh nghiệp tiêu thụ
Trang 27- Lợi nhuận từ hoạt động tiêu thụ sản phẩm:
Được tính theo công thức:
LNtt= TDT – GT – GV – CPBH – CPQLDN Trong đó:
LNtt là lợi nhuận tiêu thụ sản phẩm TDT là tổng doanh thu
GT là khoản giảm trừ
- Tỷ số vòng quay hàng tồn kho
Công thức tính:
Ri =
Trong đó, doanh thu thuần là doanh số của toàn bộ hàng hoá tiêu thụ trong
kỳ không phân biệt đã thu tiền hay chưa, hàng hoá tồn kho bao gồm các loại nguyên vật liệu, sản phẩm dở dang, thành phẩm, vật liệu phụ còn tồn trong kho Độ lớn của quy mô tồn kho tuỳ thuộc vào sợ kết hợp của nhiều yếu tố như: ngành kinh doanh, thời điểm phân tích, mùa vụ,…
Tỷ số này đo lường mức doanh số bán liên quan đến mức độ tồn kho của các loại hàng hoá thành phẩm, nguyên vật liệu, là chỉ tiêu phản ánh năng lực tiêu thụ hàng hoá và tốc độ vòng quay hàng tồn trữ, đồng thời để ước lượng hiệu suất quản
lý hàng tồn trữ của doanh nghiệp và là căn cứ để người quản lý tài chính biết được doanh nghiệp bỏ vốn vào lượng trữ hàng quá nhiều hay không
- Tỷ số lợi nhuận thuần trên doanh thu
Công thức tính:
RP =
Lợi nhuần thuần
Doanh thu thuần
x 100 Doanh thu thuần
Hàng tồn kho
Trang 28Tỷ số này phản ánh cứ một đồng doanh thu thuần thì có bao nhiêu phần trăm lợi nhuận Sự biến động của tỷ số này phản ánh sự biến động của về hiệu quả hay ảnh hưởng của các chiến lược tiêu thụ, nâng cao chất lượng sản phẩm Nếu tỷ số này giảm thì doanh nghiệp cần phân tích và tìm biện pháp giảm các khoản chi phí
để nâng cao tỷ lệ lợi nhuận, từ đó tăng khả năng thu lợi của doanh nghiệp
- Tỷ số lợi nhuận thuần trên tổng tài sản có
Công thức tính:
RC =
Tỷ số này đo lường khả năng sinh lợi của một đồng vốn đầu tư vào doanh nghiệp Hay nói cách khác là tỷ số này phản ánh năng lực thu lợi của doanh nghiệp khi sử dụng toàn bộ các nguồn kinh tế của mình
Cơ sở để doanh nghiệp tiến hành các hoạt động kinh doanh là phải có tài sản nhất định, đồng thời các hình thái của tài sản cũng phải được bố trí hợp lý để các tài sản cố thể được sử dụng một cách có hiệu quả Trong một thời kỳ nhất định, nếu doanh nghiệp chiếm hữu và hao phí ít tài sản, mà lợi nhuận thu được càng nhiều thì năng lực thu lợi của tài sản là ước lượng việc vận dụng có hiệu quả các tài sản và là một phương thức phản ánh hiệu quả đầu tư về tổng thể, đồng thời quan trọng đối với những người quản lý và những người đầu tư
Những người quản lý doanh nghiệp thường quan tâm tới năng lực thu lợi của tài sản có cao hơn mức lợi nhuận bình quân của tài sản xã hội và cao hơn mức lợi nhuận tài sản trong ngành hay không Và trong một thời kỳ nhất định, do đặc điểm kinh doanh và các nhân tố hạn chế khác nhau, năng lực thu lợi của các ngành nghề khác nhau cũng sẽ khác nhau: có ngành thu lợi cao và có ngành thu lợi thấp
Lợi nhuận thuần
Trang 291.5 Nội dung hoạt động tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp
1.5.1 Nghiên cứu thị trường
Thị trường là nơi gặp nhau giữa cung và cầu, là nơi diễn ra các hoạt động mua bán các loại hàng hóa, dịch vụ
Việc nghiên cứu phân loại thị trường sẽ giúp cho doanh nghiệp hiểu hơn về đối tượng tiếp cận của mình trong quá trình tổ chức tiêu thụ sản phẩm, Nghiên cứu thị trường nhằm trả lời câu hỏi: Thị trường đang cần những loại sản phẩm gì? Đặc điểm kinh tế kỹ thuật của nó ra sao? Ai là người tiêu thụ sản phẩm đó?
Nghiên cứu thị trường phải được tiến hành thường xuyên, liên tục trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vì thị trường luôn biến động, doanh nghiệp phải nắm bắt và thích nghi với sự biến đổi nhanh chóng, từ đó tạo ra hiệu quả trong công tác tiêu thụ và xây dựng chiến lược tiêu thụ sản phẩm
1.5.2 Xây dựng chiến lược sản phẩm
Để kinh doanh thành công trên thị trường, các doanh nghiệp phải xây dựng cho mình một chiến lược sản phẩm hợp lý, linh hoạt Quá trình xây dựng chiến lược sản phẩm bao gồm các nội dung sau:
Phân tích chu kỳ sống của sản phẩm: Chu kỳ sống của sản phẩm mô tả biến đổi doanh số tiêu thụ kể từ khi sản phẩm được tung ra thị trường cho đến khi nó rút khỏi thị trường
+ Giai đoạn hàng hóa xâm nhập thị trường: Đây là giai đoạn mở đầu của việc đưa hàng hóa ra bán trên thị trường Trong giai đoạn này người tiêu dùng còn chưa biết hoặc chưa tin tưởng vào sản phẩm của Công ty nên doanh số bỏ ra còn ít, Công ty thường chịu lỗ hoặc lãi rất ít Công việc chủ yếu trong giai đoạn này là nhà sản xuất cần tăng cường quảng cáo và xúc tiến bán hàng sản phẩm
+ Giai đoạn phát triển: Trong giai đoạn này mức tiêu thụ bắt đầu tăng mạnh nên lợi nhuận tăng, trên thị trường xuất hiện nhiều đối thủ cạnh tranh mới Công việc chủ yếu trong giai đoạn này là tiếp tục hoàn thiện và nâng cao đặc tính sử dụng của sản phẩm Tăng cường quản lý chất lượng hàng hóa, nắm vững các kênh phân phối để duy trì bán và thâm nhâp vào thị trường mới
Trang 30+ Giai đoạn chín muồi: Đến thời điểm nào đó nhịp độ tăng mức tiêu thụ bắt đầu chững lại,việc tiêu thụ sản phẩm bước vào giai đoạn chín muồi Hàng hóa tiêu thụ chậm, điều đó hàm chứa một cuộc cạnh tranh gay gắt Nó dẫn đến một sự giảm sút về lợi nhuận Trong giai đoạn này cần: Tìm thị trường mới cho hàng hóa, cải biến hàng hóa, thay đổi một số yếu tố, đặc tính hàng hóa
+ Giai đoạn suy thoái: Xuất hiện khi mức tiêu thụ các loại hàng hóa giảm sút Khi mức tiêu thụ giảm sút dẫn đến lợi nhuận giảm, thị trường mặt hàng của doanh nghiệp bị thu hẹp
Nghiên cứu chu kỳ sống của sản phẩm là điều cần thiết giúp ta chủ động lập
kế hoạch và đưa ra các biện pháp kèm theo tương ứng với từng giai đoạn đó
Phân tích sản phẩm và khả năng thích ứng với thị trường:
+ Đánh giá khả năng và mức độ thành công của sản phẩm trên thị trường + Phát hiện những khuyết tật về nội dung và hình thức của sản phẩm cần phải tiến hành hoàn thiện hơn
+ Phát hiện những cơ hội bán hàng và có kế hoạch khai thác triệt để những
cơ hội đó
1.5.3 Xây dựng các điều kiện tiêu thụ sản phẩm
* Định giá bán và khung giá bán
- Định giá bán, căn cứ vào giá thành đơn vị sản phẩm và các mặt bằng sản phẩm trên thị trường
Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các khoản hao phí về lao động sống và lao động vật hóa để hoàn thành việc sản xuất và tiêu thụ một loại sản phẩm nhất định
Giá thành đơn vị sản phẩm là do tổng chi phí quyết định nên giá thành, là cơ
sở quan trọng nhất để ấn định giá bán Nó luôn quyết định giới hạn thấp nhấp của giá bán Giá bán luôn lớn hơn giá thành sản phẩm thì doanh nghiệp mới có lãi và nó mới có thể đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh
- Xác định khung giá bán tức là xác định giá bán tối thiểu và giá tối đa cho sản phẩm hàng hóa của doanh nghiệp Giá bán tối thiểu là mức giá đảm bảo cho doanh nghiệp không bị thua lỗ Giá bán tối đa là mức giá bán mà thị trường có thể chấp nhận được
Trang 31* Xác định các kênh phân phối:
Hoạt động lưu thông hàng hóa từ người sản xuất đến người tiêu dùng được thực hiện thông qua kênh phân phối Hệ thống phân phối thông thường phải qua một thời gian dài mới xây dựng được và không dễ gì thay đổi được Nó có tầm quan trọng không kém gì những nguồn lực then chốt trong nội bộ như: con người, phương tiện sản xuất, nghiên cứu, thiết kế…Các kênh tiêu thụ được xem như những tập hợp các tổ chức phụ thuộc lẫn nhau liên quan đến quá trình tạo ra sản phẩm hay dịch vụ hiện có để sử dụng hay tiêu dùng, kênh tiêu thụ thực hiện việc chuyển hàng hóa từ người sản xuất đến người tiêu dùng và thực hiện các chức năng cơ bản như: Thông tin, khuyến mãi, thương lượng, đặt hàng, tài trợ, chấp nhận rủi ro, làm chủ tài sản vật chất, thanh toán, quyền sở hữu
Cấu trúc của một kênh phân phối thường là:
Nhà sản xuất Người bán buôn Người bán lẻ Người tiêu dùng
Có thể các nhà sản xuất dùng các kênh phân phối song song để đạt được mức bao phủ thị trường nhanh chóng hoặc sử dụng kênh trực tiếp để khai thác người mua, giữa các thành viên trong kênh được kết nối với nhau để tạo ra một mắt xích
có hiệu quả nhất
Ta có thể mô tả khái quát các loại kênh tiêu thụ sản phẩm trên sơ đồ 1.1 + Kênh 1: Mua hàng trực tiếp giữa nhà sản xuất với người tiêu dùng cuối cùng
+ Kênh 2: Lưu thông hàng hóa qua khâu trung gian là người bán hàng
+ Kênh 3 Lưu thông hàng hóa phải qua khâu trung gian là người bán buôn và bán lẻ
+ Kênh 4: Lưu thông hàng hóa xuất hiện người môi giới khi người mua và người bán khó tiếp cận với nhau
Như vậy có 3 dạng kênh phân phối mà Công ty có thể lựa chọn để đưa ra phương án thiết kê kênh phân phối của mình:
- Kênh trực tiếp:
Trang 32Kênh này có ưu điểm: Doanh nghiệp có thể quan hệ trực tiếp với khách hàng
và có thể thu thập thông tin về nhu cầu của thị trường, tình hình giá cả…một cách trực tiếp
Bên cạnh ưu điểm, kênh này có nhược điểm: Hoạt động phân phối tiêu thụ sản phẩm sẽ chậm, phải đảm bảo thực hiện toàn bộ các công việc từ sản xuất đến tổ chức tiêu thụ
Sơ đồ 1.1 Các kiểu kênh tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp
+ Kênh gián tiếp:
Doanh nghiệp sử dụng những người trung gian để đảm nhiệm việc tiêu thụ sản phẩm như: Kênh cấp 1, cấp 2, cấp 3…(nhà bán buôn/nhà bán lẻ) tùy vào số người trung gian Tùy theo từng trường hợp, khách hàng trực tiếp của Công ty là nhà bán buôn
Kênh phân phối hỗn hợp: Kênh này sử dụng cả hai kênh trực tiếp và gián tiếp để tận dụng ưu điểm của hai kênh đồng thời hạn chế nhược điểm của chúng, nhờ đó công tác tiêu thụ được thực hiện một cách linh hoạt
Người sản xuất
Người tiêu dùng
Người bán buôn
Người bán môi giới
Kênh 1
Kênh 2
Kênh 4 Kênh 3
Trang 331.6 Các biện pháp xúc tiến hỗn hợp
Hoạt động xúc tiến chính là truyền tin về sản phẩm của doanh nghiệp tới khách hàng để khuyến khích, thuyết phục họ mua hàng của doanh nghiệp Đây gọi
là các hoạt động truyền thông và hoạt động này không tạo ra sức mua hàng nhưng
nó lại là yếu tố quan trọng thúc đẩy hoạt động mua của khách hàng làm tăng tốc độ lưu thông hàng hóa Hoạt động xúc tiến bán hàng của doanh nghiệp có thể thực hiện thông qua công cụ sau:
Hoạt động quảng cáo: Quảng cáo là toàn bộ các hình thức do người bảo trợ thực hiện và phải trả tiền Quảng cáo là hình thức truyền thông đơn phương của người bán nhằm giới thiệu và khuếch trương các loại hàng, dịch vụ của mình hướng vào những khách hàng tiềm năng của mình Quảng cáo là sự đầu tư nhằm đẩy mạnh tiêu thụ và đóng vai trò quan trọng đối với kết quả tiêu thụ sản phẩm Quảng cáo nhằm vào các mục tiêu như:
+ Thông tin cho khách hàng về sản phẩm của doanh nghiệp
+ Thuyết phục hành vi mua của khách hàng
+ Nhắc nhở người mua về cơ hội mua hàng
+ Tăng số lượng hàng tiêu thụ trên thị trường truyền thống
+ Mở ra thị trường mới
+ Giới thiệu sản phẩm mới
+ Xây dựng và củng cố uy tín những nhãn hiệu hàng hóa và uy tín của doanh nghiệp
Xúc tiến bán hàng: Là một công cụ truyền thông sử dụng hỗn hợp cổ động, kích thích khách hàng nhằm tăng nhanh nhu cầu về sản phẩm tại chỗ tức thì Xúc tiến bán hàng (khuyến mại) có tác động trực tiếp và tích cực tới việc tăng doanh số bằng những lợi ích vật chất bổ sung cho người mua Đây là biện pháp ngắn hạn, tạm thời mà người bán thường áp dụng nhằm kích thích người tiêu dùng hoặc những người phân phối mua các sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp Các hình thức xúc tiến như:
+ Phân phát hàng mẫu
+ Phiếu mua hàng ưu đãi
Trang 34+ Hoàn trả tiền mặt, chiết giá hoặc bớt tiền cho người mua
+ Thưởng hay tặng quà cho người mua
+ Tổ chức các gải thưởng cho người mua
+ Phần thưởng cho các khách hàng thường xuyên
+ Dùng thử, miễn phí cho những khách hàng mới, sản phẩm mới
+ Điều kiện bảo hành thuận lợi hơn cho người mua
Tuyên truyền: Là việc sử dụng những phương tiện truyền thông đại chúng truyền tin không mất tiền về hàng hóa, dịch vụ về doanh nghiệp tới các khách hàng hiện tại và tiềm năng nhằm đạt những mục tiêu cụ thể của doanh nghiệp Tuyên truyền có thể tác động sâu sắc đến mức độ hiểu biết của xã hội có khả năng thuyết phục người mua lớn và ít tốn kém hơn nhiều so với hoạt động quảng cáo Nội dung tuyên truyền:
+ Tuyên truyền cho sản phẩm
+ Tuyên truyền hợp tác
+ Vận động hành lang
Yểm trợ bán hàng: Là hoạt động nhằm hỗ trợ cho việc cạnh tranh và bán hàng của doanh nghiệp Các hình thức yểm trợ bán hàng:
+ Lập hiệp hội kinh doanh, tham gia hội trợ
+ Cửa hàng giới thiệu sản phẩm
Bán hàng cá nhân: Bao gồm những mối quan hệ trực tiếp giữa người bán và các khách hàng hiện tại và tiềm năng Nó là một loại ảnh hưởng cá nhân và là một quá trình giao tiếp phức tạp Tham gia và hoạt động bán hàng gồm nhiều người trong doanh nghiệp như người nhận đơn hàng, người bán hàng trực tiếp…
Marketing trực tiếp: là một biện pháp xúc tiến thương mại trên cơ sở sử dụng những công cụ liên lạc để thông tin cho khách hàng về sản phẩm của doanh nghiệp Công cụ chủ yếu của marketing trực tiếp bao gồm:
+ Marketing bằng catalo giới thiệu bán hàng
+ Marketing bằng thư trực tiếp để chào hàng
+ Marketing qua điện thoại
Trang 35 Công tác tiêu thụ sản phẩm xây dựng trên thế giới và Việt Nam
Trong nền kinh tế thị trường với đầy dẫy những biến động, nó diễn ra liên tục và điều đó đã tạo ra những cơ hội mới nhưng đồng thời cũng làm xuất hiện những nguy cơ và thách thức mới cho doanh nghiệp
Một doanh nghiệp có thể tồn tại và đứng vững trên thị trường hay không điều này tùy thuộc vào doanh nghiệp có thể thích ứng được với những thay đổi liên tục của thị trường đó hay không Để nâng cao khả năng thích ứng thì các doanh nghiệp phải có chiến lược cụ thể để nắm bắt được thời cơ, cơ hội nhưng đồng thời có thể né tránh được các nguy cơ thách thức Một doanh nghiệp thành công hay thất bại trên thương trường thì đều để lại cho bản thân doanh nghiệp cũng như các doanh nghiệp khác những bài học kinh nghiệm quý báu
1.6.1 Doanh nghiệp trong nước
Trong những năm gần đây khi nền kinh tế của chúng ta chuyển sang nền kinh tế thị trường thì đã có không ít các doanh nghiệp ăn nên làm ra, tạo được chỗ đứng cho mình không những ở thị trường trong nước mà còn vươn ra thị trường khu vực và thế giới
Bước vào năm 2012 tình hình kinh tế vĩ mô ở Việt Nam gặp nhiều khó khăn, tiềm ẩn nhiều rủi ro, thị trường trong nước thu hẹp, sức mua giảm mạnh, hàng tồn kho lớn, lãi suất còn cao Một số doanh nghiệp bị giải thể, đình đốn sản xuất tăng cao đặc biệt là khối doanh nghiệp liên quan đến xây dựng và bất động sản, nhiều lao động mất việc làm Tháng 5 năm 2012 Bộ xây dựng đã tổ chức cuộc họp với các doanh nghiệp thuộc các Hội, Hiệp hội và Tổng Công ty thuộc ngành xây dựng để trao đổi tình hình khó khăn trong sản xuất, tiêu thụ sản phẩm và vốn Qua phản ánh cho thấy đã xuất hiện những dấu hiệu suy giảm tăng trưởng kinh tế Tốc độ tăng trưởng GDP quý I năm 2012 chỉ đạt 4% thấp hơn nhiều so với cùng kỳ năm ngoái (5,84%) Trong đó công nghiệp xây dựng chỉ tăng 2,94% Việc thực hiện chính sách tài khóa thắt chặt, chính sách tiền tệ thắt chặt đã góp phần kiềm chế lạm phát, ổn định vĩ mô nhưng cũng để lại không ít khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa Lãi suất vay cao, nhiều doanh nghiệp khó tiếp cận và hấp thụ vốn, chi phí đầu vào
Trang 36lớn, sản phẩm tiêu thụ chậm, tồn kho cao dẫn đến quy mô sản xuất phải thu hẹp, nhiều doanh nghiệp phải ngừng hoạt động hoặc phá sản, giải thể,… gây sức ép lớn đối với ổn định xã hội và đời sống nhân dân Tuy lạm phát giảm mạnh nhưng lãi suất ngân hàng vẫn cao Nợ xấu của hệ thống ngân hàng gia tăng, nhập khẩu giảm mạnh, nhất là khối doanh nghiệp trong nước Việc giảm nhập khẩu nguyên liệu, vật
tư sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến đầu tư và phát triển sản xuất, kinh doanh trong thời gian tới
Chiến lược tiêu thụ sản phẩm là định hướng hoạt động có mục tiêu của doanh nghiệp và hệ thống các giải pháp, biện pháp nhằm thực hiện các mục tiêu đề
ra của doanh nghiệp Trong bối cảnh khủng khoảng kinh tế toàn cầu, chính sách tín dụng thắt chặt đã ảnh hưởng trực tiếp đến vốn của các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây dựng phải luôn đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt giữa các đối thủ
1.6.2 Doanh nghiệp nước ngoài
Các doanh nghiệp nước ngoài, họ rất có kinh nghiệm trong việc tiêu thụ sản phẩm Việc nghiên cứu kinh nghiệm của họ sẽ giúp các doanh nghiệp của chúng ta
có được những bài học quý báu Tuy nhiên, trong thời buổi suy thoái kinh tế như hiện nay đang trở thành bài toán khó với các doanh nghiệp Nền kinh tế gặp khó khăn, đầu tư công giảm đi, thị trường bất động sản suy thoái Những đối tượng khách hàng lớn nhất của thị trường xây dựng gặp khó khăn hiển nhiên thị trường bị giảm sút, thu hẹp Sự phục hồi của ngành xây dựng, cơ hội sẽ không chia đều cho các doanh nghiệp, áp lực sẽ nặng nề hơn và cạnh tranh sẽ gay gắt hơn ở khối doanh nghiệp thi công dự án
Trang 37Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Giới thiệu chung về Công ty cổ phần Bê tông và Xây dựng Vinaconex Xuân Mai
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty cổ phần Bê tông và Xây dựng Vinaconex Xuân Mai
Tên Công ty: Công ty Cổ phần bê tông và Xây dựng Vinaconex Xuân Mai Địa chỉ: Tầng 3 - CT2 - Ngô Thì Nhậm - Đường Hà Cầu - Hà Đông – Hà Nội
Điện thoại: 04.63251050 Fax: 04.63251012
Tiền thân Công ty Cổ phần Bê tông và Xây dựng Vinaconex Xuân Mai là Nhà máy Bê tông Xuân Mai, được thành lập theo Quyết định số 1434 BXD/TCCB ngày 29/11/1983 của Bộ Xây dựng do Liên Xô giúp đỡ xây dựng Đến năm 1996, Nhà máy Bê tông Xuân Mai được đổi tên thành Nhà máy Bê tông và Xây dựng Xuân Mai và chuyển về trực thuộc Tổng Công ty Xuất nhập khẩu Xây dựng Việt Nam theo Quyết định số 1049 BXD/TCLĐ ngày 06/12/1996 của Bộ Xây dựng
Ngày 30/10/2003, Bộ trưởng Bộ Xây dựng có Quyết đi ̣nh số 1434/QĐ-BXD
chuyển Nhà máy Bê tông và Xây dựng Xuân Mai thuộc Tổng Công ty Xuất nhập khẩu xây dựng Việt Nam thành Công ty cổ phần Bê tông và xây dựng Vinaconex Xuân Mai
Ngày 01/01/2004 Công ty chính thức đi vào hoa ̣t đô ̣ng dưới hình thức Công
ty cổ phần với vốn điệu lệ là 18 tỷ đồng, đến quý 1/2007 vốn điệu lệ tăng lên 100 tỷ đồng, trong đó Tổng Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu và xây dựng Việt nam nắm giữ 51% vốn điều lệ
Ngày 14/12/2007, cổ phiếu của Công ty cổ phần Bê tông và Xây dựng
Vinaconex Xuân Mai đã được chấp thuận niêm yết tại Trung tâm giao dịch chứng khoán theo quyết định số 389/QĐ-TTGDHN của giám đốc Trung tâm Số lượng chứng khoán niêm yết: 10.000.000 cổ phiếu, mệnh giá: 10.000 đồng/1cổ phiếu, giá trị chứng khoán niêm yết: 100.000.000.000 đồng (Một trăm tỷ đồng), mã chứng
Trang 38khoán: XMC Ngày 20/12/2007 Công ty Cổ phần Bê tông và Xây dựng Vinaconex
Xuân Mai chính thức khai trương phiên giao dịch đầu tiên, đánh dấu một giai đoạn phát triển mới của Công ty
Ngày 19/10/2008 Công ty đã vinh dự nhận giải thưởng Cúp vàng “Thương
hiệu chứng khoán uy tín” và “Công ty cổ phần hàng đầu Việt nam” do Hiệp hội kinh doanh chứng khoán Việt nam (VASB), Trung tâm thông tin tín dụng Ngân hàng Nhà nước Việt nam (CIC) và tập chí chứng khoán Việt nam - UBCKNN phối hợp và tổ chức trao giải
Ngày 11/11/2010 Công ty được Uỷ Ban Chứng khoán nhà nước cấp giấy
chứng nhận chào bán cổ phiếu ra công chúng tăng vốn điều lệ từ 100 tỷ lên 200 tỷ Ngày 11/3/2011 Công ty được sở giao dịch chứng khoán chấp thuận niêm yết bổ sung cổ phiếu
Năm 2010 Công ty một lần nữa vinh dự nhận giải thưởng Cúp vàng
“Thương hiệu chứng khoán uy tín” và “Công ty cổ phần hàng đầu Việt nam” do Hiệp hội kinh doanh chứng khoán Việt nam (VASB), Trung tâm thông tin tín dụng Ngân hàng Nhà nước Việt nam (CIC) và tập chí chứng khoán Việt nam - UBCKNN phối hợp và tổ chức trao giải
Công ty cổ phần Bê tông và Xây dựng Vinaconex Xuân Mai là Doanh nghiệp có gần 30 năm kinh nghiệm trong ngành xây dựng trên 2 lĩnh vực chính là sản xuất vật liệu xây dựng và thi công xây lắp Các sản phẩm chủ yếu của Công ty là: các loại cấu kiện bê tông dự ứng lực tiền chế, đặc biệt là các loại cấu kiện bê tông dự ứng lực tiền chế phục vụ cho thi công xây lắp dân dụng, công nghiệp, giao thông và gia công kết cấu thép
Công ty đã và đang tham gia thi công xây lắp các công trình dân dụng công nghiệp, hạ tầng kỹ thuật, giao thông… trọng điểm trong phạm vi toàn quốc Điển hình
là các hạng mục thuộc các dự án và đã đạt được các kết quả sau:
Năm 2003, Công ty được Chủ tịch nước trao “huân chương lao động hạng 3”
Trang 39Năm 2005, Công ty được Chủ tịch nước trao “Giải thưởng Nhà nước về
khoa học và Công nghệ cho công trình ứng dụng bê tông dự ứng lực căng trước vào các công trình xây dựng ở Việt Nam”
Năm 2006, Công ty được Bộ xây dựng tặng bằng khen “Đảm bảo và nâng cao
chất lượng công trình - sản phẩm ngành Xây dựng 5 năm 2001-2005”
Năm 2006 Công ty được Bộ khoa học và công nghệ tặng thưởng cúp vàng
ISO
Năm 2010, Công ty được Chính phủ tặng Cờ thi đua “ đơn vị hoàn thành
xuất sắc nhiệm vụ, dẫn đầu phong trào thi đua yêu nước của Thành phố ”
Năm 2010 Công ty được nhà nước trao tặng Huân Chương lao động Hạng nhì
Giới thiệu về Công ty
Trang 40Ngành nghề kinh doanh
Theo Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0303000122 do Sở kế hoạch
và đầu tư tỉnh Hà Tây cấp lần đầu ngày 04 tháng 12 năm 2003, đăng ký thay đổi lần thứ 8 ngày 13 tháng 7 năm 2009, ngành nghề kinh doanh của Công ty bao gồm
- Xây dựng các công trình dân dụng và công nghiệp; Thi công xây dựng cầu, đường, công trình thủy lợi; Xây dựng các khu đô thị, khu công nghiệp; Kinh doanh phát triển nhà, trang trí nội thất
- Sản xuất kinh doanh vật liệu xây dựng, các loại cấu kiện bê tông, các loại ống cấp thoát nước; Chuyển giao công nghệ mới, thiết bị tự động hóa trong xây dựng, sản xuất vật liệu xây dựng
- Kinh doanh vận chuyển hàng hóa, vận chuyển hàng siêu trường, siêu trọng
- Tư vấn đầu tư, thực hiện các dự án đầu tư xây dựng, lập dự án, tư vấn đấu thầu, tư vấn giám sát, quản lý dự án.”
- Chế tạo lắp đặt, sửa chữa, bảo dưỡng các thiết bị, dây chuyền công nghệ, thiết bị tự động hóa trong xây dựng, sản xuất vật liệu xây dựng
- Kinh doanh xăng dầu
- Khai thác đá
- Thiết kế các công trình dân dụng, công nghiệp, giao thông, thủy lợi
- Xuất nhập khẩu vật tư, máy móc thiết bị, phụ tùng dây chuyền công nghệ, vật liệu xây dựng
- Hoạt động kinh doanh bất động sản và dịch vụ thương mại
- Gia công, chế tạo, hoán cải phương tiện vận tải
- Thiết kế, gia công chế tạo thiết bị nâng (không bao gồm thiết kế phương tiện vận tải)
- Khám chữa bệnh – Phòng khám đa khoa
- Kinh doanh dược – Quầy thuốc
Với hơn 2000 cán bộ công nhân viên, Công ty đã và đang tham gia thi công xây lắp các công trình dân dụng công nghiệp, hạ tầng kỹ thuật…trọng điểm trong phạm vi toàn quốc