Trong quá trình xây dựng, phát triển đất nước, Đảng và Nhà nước ta xác định công tác đào tạo nghề cho người lao động là một nhiệm vụ quan trọng để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tro
Trang 2LÊ THỊ CẨM NHUNG
MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU GÓP PHẦN PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN Ở TỈNH QUẢNG TRỊ
Chuyên ngành: Kinh tế Nông nghiệp
Mã số: 60.31.10
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS LÊ MINH CHÍNH
Năm 2012
Trang 4Đặc biệt tôi xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc đến TS Lê Minh Chính, người
đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này
Để hoàn thành luận văn, tôi còn nhận được sự giúp đỡ của Văn phòng Đoàn Đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân tỉnh Quảng Trị, UBND tỉnh Quảng Trị, Cục thống kê tỉnh, Sở Lao động Thương binh và Xã hội tỉnh, các doanh nghiệp, các hộ gia đình tại khu vực nghiên cứu đã cung cấp thông tin, số liệu để tôi hoàn thành luận văn này
Bên cạnh đó, sự giúp đỡ nhiệt tình, sự động viên của gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình thực hiện luận văn
Một lần nữa, tôi xin chân thành cảm ơn!
Tôi xin cam đoan đây là phần nghiên cứu do tôi thực hiện Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Hà Nội, ngày 15 tháng 10 năm 2012
Tác giả
Lê Thị Cẩm Nhung
Trang 5MỤC LỤC
Trang phụ bìa Trang Lời cảm ơn và lời cam đoan I Mục lục II Danh mục các từ viết tắt IV Danh mục các bảng biểu V ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Nội dung nghiên cứu 3
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VẤN ĐỀ LAO ĐỘNG VÀ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN 4
1.1 Cơ sở lý luận về lao động và đào tạo nghề cho lao động nông nghiệp nông thôn 4
1.1.1 Vai trò của lao động đối với các hoạt động sản xuất xã hội 4
1.1.2 Đào tạo nghề và chất lượng đào tạo nghề 9
1.1.3 Sự cần thiết phải đào tạo nghề cho lao động 17
1.2 Tình hình nghiên cứu, giải quyết vấn đề liên quan đến đào tạo nghề cho lao động nông nghiệp nông thôn 26
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
2.1 Đặc điểm cơ bản của tỉnh Quảng Trị 29
2.1.1 Giới thiệu chung về địa bàn tỉnh Quảng Trị 29
2.1.2 Khái quát tình hình và kết quả hoạt động của các cơ sở dạy nghề 50
2.2 Phương pháp nghiên cứu 52
2.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 53
Trang 62.2.2 Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu 53
2.2.3 Phương pháp phân tích chủ yếu 53
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 55
3.1 Phân tích thực trạng của vấn đề đào tạo nghề cho lao động nông nghiệp nông thôn tỉnh Quảng Trị 55
3.1.1 Quy mô, cơ cấu đào tạo nghề tại tỉnh Q Trị trong những năm qua 55
3.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động đào tạo nghề cho lao động nông nghiệp nông thôn ở tỉnh Quảng Trị 74
3.1.3 Đánh giá chung công tác đào tạo nghề cho lao động nông nghiệp nông thôn ở tỉnh Quảng Trị 77
3.2 Các giải pháp đề xuất về vấn đề đào tạo nghề cho lao động nông nghiệp nông thôn ở tỉnh Quảng Trị 80
3.2.1 Quan điểm, định hướng, mục tiêu đào tạo nghề cho lao động nông nghiệp, nông thôn 80
3.2.2 Một số giải pháp chủ yếu góp phần phát triển hoạt động đào tạo nghề cho lao động nông nghiệp nông thôn ở tỉnh Quảng Trị 90
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 101
1 Kết luận 101
2 Khuyến nghị 101 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1 CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
2.3 Tỷ lệ lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế phân theo
trình độ chuyên môn
49
3.1 Trình độ học vấn phổ thông của lao động có việc làm từ 15 tuổi
trở lên điều tra năm 2011
62
3.2 Trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động có việc làm từ 15
tuổi trở lên điều tra năm 2011
64
3.3 Tỷ lệ lao động có việc làm chia theo trình độ CMKT thành thị -
nông thôn
66
3.5 Tổng hợp kết quả điều tra về ngành nghề đào tạo cho lao động
nông nghiệp nông thôn huyện Vĩnh Linh
69
3.6 Tổng hợp kết quả điều tra về ngành nghề đào tạo cho lao động
nông nghiệp nông thôn huyện Triệu Phong
70
3.7 Tổng hợp kết quả điều tra về ngành nghề đào tạo cho lao động
nông nghiệp nông thôn huyện Hướng Hóa
71
3.8 Tổng hợp kết quả điều tra về ngành nghề đào tạo cho lao động
nông nghiệp nông thôn huyện Hải Lăng
72
3.9 Thống kê cán bộ quản lý và giáo viên dạy nghề 75 3.10 Tổng hợp kinh phí đầu tư cho đào tạo nghề 79 3.11 Dự báo chuyển dịch cơ cấu kinh tế đến năm 2020 92 3.12 Dự báo nhu cầu sử dụng lao động đến năm 2020 93
Trang 93.13 Dự báo số lao động nông nghiệp nông thôn trong độ tuổi có nhu
cầu làm việc
94
3.14 Dự báo nhu cầu đào tạo nghề cho lao động nông nghiệp nông
thôn Quảng Trị giai đoạn 2012 – 2020
94
3.15 Cân đối cung cầu lao động nông nghiệp nông thôn 95
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Tính cấp thiết của đề tài
Lực lượng lao đô ̣ng là yếu tố quan tro ̣ng quyết đi ̣nh sự phát triển kinh tế
xã hô ̣i của mỗi quốc gia dựa trên phát triển sản xuất Chúng ta đang sống trong
một thế giới mà sự thay đổi diễn ra hàng ngày, đă ̣c biê ̣t là sự phát triển không ngừng của khoa học kỹ thuật, vô số các công nghê ̣, kỹ thuâ ̣t mới, các thành tựu
mớ i được áp du ̣ng vào sản xuất Trong quá trình xây dựng, phát triển đất nước, Đảng và Nhà nước ta xác định công tác đào tạo nghề cho người lao động là một nhiệm vụ quan trọng để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, trong đó vấn đề đào tạo nghề cho lao động nông thôn thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng nông thôn mới là một nhiệm vụ bức thiết Điều này càng có ý nghĩa hơn khi mà nông nghiệp, nông thôn vẫn giữ một vai trò quan trọng trong cơ cấu kinh
tế, là khu vực sản xuất đảm bảo an ninh lương thực trong điều kiện suy thoái kinh tế của toàn cầu
Hiện ta ̣i hoa ̣t động kinh tế của tỉnh Quảng Tri ̣ thuô ̣c lĩnh vực nông nghiê ̣p
là chủ yếu Là đi ̣a phương nằm trên hành lang kinh tế Đông – Tây, có nhiều tiềm năng phát triển kinh tế Trước những đă ̣c điểm đó, tỉnh Quảng Tri ̣ đã đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu lao động tương ứng với chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chú trọng chuyển đổi nghề nghiệp của lao động từ khu vực nông nghiệp, sang khu vực công nghiệp, dịch vụ, khai thác có hiệu quả tiềm năng, phát huy các lợi thế để tạo nhiều việc làm, tăng thu nhập cho người lao động
Trong những năm qua, tỉnh Quảng Tri ̣ đã chú tro ̣ng đến viê ̣c nâng cao số lượng cũng như chất lượng lao đô ̣ng nông thôn thông qua hê ̣ thống đào ta ̣o nghề Đến nay toàn tỉnh có 24 cơ sở là trường dạy nghề, trung tâm dạy nghề, các doanh nghiệp và các cơ sở giáo dục đào tạo tham gia hoạt động dạy nghề, điều
này góp phần nâng cao tỉ lệ lao động qua đào tạo nghề, bổ sung nguồn nhân lực
Trang 11có chuyên môn kỹ thuật cho các cơ sở sản xuất, kinh doanh, di ̣ch vu ̣ trên đi ̣a bàn
và xuất khẩu lao đô ̣ng
Tuy nhiên hoạt động đào ta ̣o nghề cho lao đô ̣ng nông nghiệp nông thôn đến nay vẫn còn nhiều bất câ ̣p, ha ̣n chế, chưa đáp ứng được nhu cầu về số lượng
cũng như chất lượng lao đô ̣ng Từ thực tế đó, tôi cho ̣n đề tài “Một số giải pháp
chủ yếu góp phần phát triển hoạt động đào tạo nghề cho lao động nông nghiệp nông thôn ở tỉnh Quảng Trị” để nghiên cứ u
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu tổng quát: Mục tiêu chung của đề tài là nhằm phát triển hoạt
động đào tạo nghề cho lao động nông nghiệp nông thôn trên địa bàn tỉnh Quảng Trị trong thời gian tới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Đối tượng nghiên cứu của đề tài là lực
lượng lao động nông nghiệp nông thôn và công tác đào tạo nghề cho lao động nông nghiệp nông thôn ở tỉnh Quảng Trị
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
+ Phạm vi về nội dung: Đề tài nghiên cứu về lao động nông nghiệp nông thôn và công tác đào tạo nghề cho lao động nông nghiệp nông thôn
+ Phạm vi về không gian: Đề tài được tiến hành trên địa bàn tỉnh Quảng Trị
Trang 12+ Phạm vi về thời gian: Từ năm 2007 đến năm 2011
4 Nội dung nghiên cứu
- Cơ sở lý luận lao động và công tác đào tạo nghề cho lao động nông nghiệp nông thôn
- Thực tra ̣ng về lao động nông nghiệp nông thôn và công tác đào tạo nghề cho lao động nông nghiệp nông thôn
- Các giải pháp đề xuất về vấn đề đào tạo nghề cho lao động nông nghiệp nông thôn ở tỉnh Quảng Trị
Trang 13Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ VẤN ĐỀ LAO ĐỘNG VÀ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGHỀ
CHO LAO ĐỘNG NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN
1.1 Cơ sở lý luận về lao động và đào tạo nghề cho lao động nông nghiệp nông thôn
1.1.1 Vai trò của lao động đối với các hoạt động sản xuất xã hội
1.1.1.1 Các khái niệm cơ bản về lao động
* Khái niệm về dân số:
- Dân số: Là tập hợp người sinh sống trong một quốc gia, khu vực, vùng địa lý kinh tế hoặc một đơn vị hành chính [12]
Dân số chỉ tất cả những người sống trong pha ̣m vi mô ̣t đi ̣a giới nhất định (một nước, một vùng kinh tế, mô ̣t đơn vi ̣ hành chính, v.v ) có đến mô ̣t thời điểm hay trong mô ̣t khoảng thời gian nhất đi ̣nh Trong thống kê, dân số được thu thập theo khái niệm “Nhân khẩu thực tế thường trú”, khái niệm này phản ánh những người thực tế thường xuyên cư trú tại hộ tính đến thời điểm thống kê đã được 6 tháng trở lên và những người mới chuyển đến ở ổn định tại hộ, không phân biệt họ đã được đăng ký hộ khẩu thường trú tại xã, phường, thị trấn đang ở hay chưa Đối tượng của các cuộc điều tra lao động việc làm là nhân khẩu thực
tế thường trú tại hộ Nhân khẩu thực tế thường trú tại hộ bao gồm:
+ Những người vẫn thường xuyên ăn ở tại hộ tính đến thời điểm thống kê
đã được 6 tháng trở lên
+ Những người mới chuyển đến ở ổn định tại hộ và những trẻ em mới sinh trước thời điểm thống kê; không phân biệt họ đã có hay không có giấy tờ pháp lý chứng nhận sự di chuyển đó
+ Những người tạm vắng, bao gồm: Những người đi nghỉ hè, đi nghỉ lễ đi công tác, đi du lịch, dự lớp bồi dưỡng nghiệp vụ ngắn hạn, đi chữa bệnh, v.v…;
Trang 14+ Những người đang bị tạm giữ
+ Những người rời gia đình đi làm ăn ở nơi khác tính đến thời điểm thống
kê chưa đủ 6 tháng (nếu đã rời gia đình đi làm ăn ở nơi khác tính đến thời điểm thống kê đủ 6 tháng trở lên thì được tính tại nơi đang ở)
Dân số trong độ tuổi lao động: Là dân số thuộc độ tuổi nhất định nào đó Luật Lao động hiện hành của Việt Nam quy định "tuổi lao động" bao gồm các độ tuổi từ 15 đến hết 60 tuổi đối với nam và từ 15 đến hết 55 tuổi đối với nữ Số còn lại là "ngoài tuổi lao động" Nhưng thực tế tham gia lao động thì không chỉ
có người trong độ tuổi lao động mà còn cả người đã nghỉ hưu trước tuổi lao động theo quy định của Bộ luật Lao động
Dân số hoạt động kinh tế (hay nguồn lao động) bao gồm những người từ
15 tuổi trở lên có việc làm và thất nghiệp (người không làm việc nhưng có nhu cầu việc làm)
Dân số không hoạt động kinh tế bao gồm những người trong độ tuổi lao động đang làm công việc nội trợ trong gia đình mình, đang đi học hoặc mất khả năng lao động, thất nghiệp nhưng không có nhu cầu làm việc, những người nghỉ hưu trước tuổi theo quy định của Bộ Luật Lao động
* Khái niệm lao động:
Lao động là hoạt động có mục đích của con người, bất cứ làm việc gì con người cũng phải tiêu hao năng lực với một lượng nhất định, tuy nhiên chỉ có sự tiêu hao năng lực có mục đích thì mới được gọi là lao động
Theo C Mác: “Lao động trước hết là một quá trình diễn ra giữa con người
và tự nhiên, một quá trình trong đó bằng hoạt động của chính mình, con người làm trung gian, điều tiết và kiểm tra sự trao đổi chất giữa họ và tự nhiên” [2]
Sức lao động là một khái niệm trọng yếu trong kinh tế chính trị Mác-xít
C Mác định nghĩa sức lao động là toàn bộ những năng lực thể chất và tinh thần tồn tại trong một cơ thể, trong một con người đang sống, và được người đó đem
ra vận dụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị thặng dư nào đó Sức lao động là khả
Trang 15năng lao động của con người, là điều kiện tiên quyết của mọi quá trình sản xuất
và là lực lượng sản xuất sáng tạo chủ yếu của xã hội Nhưng sức lao động mới chỉ là khả năng lao động, còn lao động là sự tiêu dùng sức lao động trong hiện thực
Trên giác độ kinh tế và quản trị nguồn nhân lực, sức lao động là phạm trù chỉ khả năng lao động của con người, là tổng hợp thể lực, trí lực và tâm lực được con người vận dụng trong quá trình lao động Theo C Mác, sức lao động hay năng lực lao động là toàn bộ những năng lực thể chất và tinh thần tồn tại trong
cơ thể, trong một con người đang sống được người đó đem ra vận dụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó Như vậy, mỗi con người là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội Khi con người tham gia vào quá trình sản xuất thì
họ là người lao động Những người có khả năng lao động nhưng chưa tham gia lao động sản xuất được coi là nguồn cung ứng sức lao động tiềm năng Những người chưa đến tuổi lao động được hiểu là những người chưa đủ năng lực làm việc hiện tại, nhưng là nguồn cung ứng sức lao động cho tương lai, họ đang tích lũy nhân lực
* Nguồn lao động và lực lượng lao động:
Nguồn lao động và lực lượng lao động là những khái niệm có ý nghĩa quan trọng làm cơ sở cho việc tính toán, cân đối lao động, việc làm trong xã hội
- Nguồn lao động là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động theo quy định của Pháp luật có khả năng lao động, có nguyện vọng tham gia lao động và những người ngoài độ tuổi lao động (trên độ tuổi lao động) đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân” [1]
- Số lượng lao động: Là toàn bộ những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động gồm: Dân số đủ 15 tuổi trở lên, có việc làm và dân số trong
độ tuổi lao động có khả năng lao động nhưng đang thất nghiệp, đang đi học, đang làm việc nội trợ trong gia đình, không có nhu cầu việc làm và những người thuộc tình trạng khác (những người nghỉ hưu trước tuổi)
Trang 16- Chất lượng lao động: Đánh giá ở trình độ chuyên môn, tay nghề (trí lực)
và sức khỏe (thể lực) của người lao động
- Lực lượng lao động: Trên thế giới có nhiều quan niệm khác nhau về lực lượng lao động
Theo quan niệm của ILO (tổ chức lao động quốc tế) là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động, theo thực tế đang có việc làm và những người đang thất nghiệp
Theo giáo trình kinh tế phát triển của trường Đại học kinh tế Quốc dân, ở nước ta hiện nay thường sử dụng khái niệm sau: “Lực lượng lao động là bộ phận dân số đủ 15 tuổi trở lên có việc làm và những người thất nghiệp” [1]
* Thị trường lao động:
Thị trường lao động là một bộ phận của hệ thống thị trường, trong đó diễn
ra quá trình trao đổi giữa một bên là người lao động tự do và một bên là người có nhu cầu sử dụng lao động Sự trao đổi này được thoả thuận trên cơ sở mối quan
hệ lao động như tiền lương, tiền công, điều kiện làm việc thông qua một hợp đồng làm việc bằng văn bản hay bằng miệng
Có rất nhiều khái niệm về thị trường lao động, mỗi một thị trường lao động lại có những đặc điểm riêng của mình Thị trường lao động khác biệt so với thị trường hàng hóa ở chỗ, nó thể hiện phần lớn những biểu hiện kinh tế xã hội của cả xã hội và có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng tới sự phát triển của nó
Theo Tổ chức lao động quốc tế (ILO) thì: “Thị trường lao động là thị trường trong đó có các dịch vụ lao động được mua và bán thông qua quá trình để xác định mức độ có việc làm của lao động, cũng như mức độ tiền công” Khái niệm này nhấn mạnh đến các dịch vụ lao động được xác định thông qua việc làm được trả công
Theo nhiều nhà khoa học kinh tế Việt Nam khái niệm này còn đa dạng và phong phú hơn nhiều: Thị trường lao động là toàn bộ các quan hệ lao động được xác lập trong lĩnh vực thuê mướn lao động (nó bao gồm các quan hệ lao động cơ
Trang 17bản nhất như thuê mướn và sa thải lao động, tiền lương và tiền công, bảo hiểm
xã hội, tranh chấp lao động ), ở đó diễn ra sự trao đổi, thoả thuận giữa một bên
là người lao động tự do và một bên là người sử dụng lao động Thị trường lao động (hoặc thị trường sức lao động) là nơi thực hiện các quan hệ xã hội giữa người bán sức lao động (người lao động làm thuê) và người mua sức lao động (người sử dụng sức lao động), thông qua các hình thức thoả thuận về giá cả (tiền công, tiền lương) và các điều kiện làm việc khác, trên cơ sở một hợp đồng lao động bằng văn bản, bằng miệng, hoặc thông qua các dạng hợp đồng hay thoả thuận khác Thị trường “sức lao động” là nơi thể hiện quan hệ xã hội giữa người lao động làm thuê và người thuê mướn lao động thông qua sự điều chỉnh giá cả tiền công Thị trường lao động biểu hiện mối quan hệ giữa một bên là người có sức lao động và bên kia là người sử dụng sức lao động nhằm xác định số lượng
và chất lượng lao động sẽ đem ra trao đổi và mức thù lao tương ứng [16]
Theo Tìm hiểu một số khái niệm trong văn kiện Đại hội IX của Đảng, thị trường lao động là: "Thị trường mua bán các dịch vụ của người lao động, về thực chất là mua bán sức lao động, trong một phạm vi nhất định” Ở nước ta, hàng hóa sức lao động được sử dụng trong các doanh nghiệp tư bản tư nhân, các doanh nghiệp tư bản nhà nước, các doanh nghiệp tiểu chủ, và trong các hộ gia đình neo đơn thuê mướn, người làm dịch vụ trong nhà Trong các trường hợp đó
có người đi thuê, có người làm thuê, có giá cả sức lao động dưới hình thức tiền lương, tiền công [3]
Tuy có nhiều định nghĩa khác nhau nhưng các nhà nghiên cứu đều thống nhất về nội dung cơ bản hình thành nên thị trường lao động là: Không gian, người cần bán sức lao động, người cần mua sức lao động, giá cả sức lao động và những ràng buộc của các bên, từ đó thị trường lao động được hiểu là: Biểu hiện quan hệ diễn ra giữa một bên là người có sức lao động và một bên là người sử dụng sức lao động, dựa trên nguyên tắc thỏa thuận giá cả, thông qua các quy định yêu cầu công việc và ràng buộc giữa hai bên của hợp đồng lao động
Trang 181.1.1.2 Vai trò của lao động đối với các hoạt động sản xuất xã hội
Lao động một mặt là một bộ phận của nguồn lực phát triển, đó là yếu tố đầu vào không thể thiếu được của quá trình sản xuất Mặt khác lao động là một
bộ phận của dân số, những người được hưởng lợi ích của sự phát triển sự phát triển xã hội là tăng trưởng kinh tế, an sinh xã hội nhằm nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của con người
Vai trò của lao động với với các hoạt động sản xuất xã hội được xem xét qua các chỉ tiêu về số lượng lao động, trình độ chuyên môn, sức khỏe người lao động và sự kết hợp giữ lao động và các yếu tố đầu vào khác Các chỉ tiêu này được thể hiện tập trung qua mức tiền công của người lao động Khi tiền công của người lao động tăng có nghĩa chi phí sản xuất tăng, phản ánh khả năng sản xuất tăng lên Đồng thời khi mức tiền công tăng làm cho thu nhập của người lao động cũng tăng, do đó khả năng chi tiêu của người tiêu dùng tăng Ở các nước đang phát triển, mức tiền công của người lao động nói chung là thấp, do đó ở các nước này lao động chưa phải là động lực mạnh cho sự phát triển Để nâng cao vai trò của người lao động trong các hoạt động sản xuất xã hội cần thiết có các chính sách nhằm tăng thu nhập cho người lao động, đồng thời tạo ra các nguồn lực khác một cách đồng bộ
Đại hội lần thứ IX của Đảng đã định hướng cho phát triển nguồn nhân lực Việt Nam là: “Người lao động có trí tuệ cao, có tay nghề thành thạo, có phẩm chất tốt đẹp, được đào tạo, bồi dưỡng và phát triển bởi một nền giáo dục tiên tiến gắn liền với một nền khoa học, công nghệ hiện đại”
1.1.2 Đào tạo nghề và chất lượng đào tạo nghề
1.1.2.1 Khái niệm về đào tạo nghề, phân loại các hình thức đào tạo nghề
* Khái niệm về đào tạo nghề:
Luật dạy nghề số 76/2006/QH11 của Quốc hội ban hành ngày 29 tháng 11
năm 2006 định nghĩa: “Dạy nghề (đào tạo nghề) là hoạt động dạy và học nhằm
Trang 19trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học” [6]
Mục tiêu dạy nghề là đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ có năng lực thực hành nghề tương xứng với trình độ đào tạo, có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỹ luật, tác phong công nghiệp, có sức khỏe nhằm tạo điều kiện cho người học nghề sau khi tốt nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc học lên trình độ cao hơn, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Như vậy, nội dung của đào tạo nghề bao gồm: trang bị kiến thức lý thuyết cho học viên một cách có hệ thống và rèn luyện các kỹ năng thực hành, tác phong làm việc cho học viên trong phạm vi ngành nghề họ theo học nhằm giúp
họ có thể làm một nghề nhất định
Đào tạo nghề bao gồm: đào tạo công nhân kỹ thuật (công nhân cơ khí, điện tử, xây dựng, sửa chữa ), đào tạo nhân viên nghiệp vụ (nhân viên đánh máy, nhân viên lễ tân, nhân viên bán hàng, nhân viên tiếp thị ) và phổ cập nghề cho người lao động (chủ yếu là lao động nông nghiệp)
* Phân loại và các hình thức đào tạo nghề:
Phân loại đào tạo nghề: Có rất nhiều cách phân loại đào tạo nghề, tùy theo mỗi loại tiêu thức ta có thể phân loại đào tạo nghề thành các loại hình khác nhau Trong đây chỉ xét hai tiêu thức phân loại như sau:
Căn cứ váo thời gian đào tạo nghề:
- Đào tạo ngắn hạn: Là loại hình đào tạo nghề có thời gian đào tạo dưới một năm, chủ yếu áp dụng đối với phổ cập nghề Loại hình này có ưu điểm là có thể tập hợp được đông đảo lực lượng lao động ở mọi lứa tuổi, những người không có điều kiện học tập tập trùn vẫn có thể tiếp thu được tri thức ngay tại chỗ, với sự hỗ trợ của các cơ quan đoàn thể ở địa phương, Nhà nước về mặt giáo trình, giảng viên
Trang 20- Đào tạo dài hạn: Là loại hình đào tạo nghề có thời gian từ một năm trở lên, chủ yếu áp dụng đối với đào tạo công nhân kỹ thuật và nhân viên nghiệp vụ Đào tạo nghề dài hạn thường chất lượng cao hơn đào tạo ngắn hạn
Căn cứ vào nghề đào tạo đối với người học:
- Đào tạo mới: Là loại hình đào tạo nghề áp dụng cho những người chưa
có ngành nghề nhằm đáp ứng yêu cầu tăng thêm lao động có nghề
- Đào tạo lại: Là quá trình đào tạo nghề áp dụng đối với những người đã
có nghề song vì lý do nào đó nghề của họ không còn phù hợp nữa
- Đào tạo nâng cao: Là quá trình bồi dưỡng nâng cao kiến thức và kinh nghiệm làm việc để người lao động có thể đảm nhận được những công việc phức tạp hơn
Các hình thức đào tạo nghề: Các hình thức đào tạo nói chung và đào tạo nghề nói riêng nhìn chung là rất phong phú và đa dạng Tuy nhiên, về cơ bản đào tạo nghề hiện nay thường áp dụng một số hình thức sau đây:
- Đào tạo nghề chính quy:
Theo quy định của Luật dạy nghề, đào tạo nghề chính quy được thực hiện với các chương trình sơ cấp nghề, trung cấp nghề và cao đẳng nghề tại các cơ sở dạy nghề theo các khóa học tập trung và liên tục
Có thể hiểu đào tạo nghề chính quy là loại hình đào tạo tập trung tại các trung tâm dạy nghề, các trường nghề với quy mô đào tạo tương đối lớn, chủ yếu
là đào tạo các công nhân kỹ thuật có trình độ lành nghề cao
Việc đào tạo công nhân kỹ thuật thường chia làm hai giai đoạn: Giai đoạn học tập cơ bản và giai đoạn học tập chuyên môn Giai đoạn học tập cơ bản là giai đoạn đào tạo nghề theo diện rộng, thường chiếm từ 70% đến 80% nội dung giảng dạy và tương đối ổn định Trong giai đoạn học tập chuyên môn, người học được trang bị những kiến thức chuyên sâu và rèn luyện những kỹ năng, kỹ xảo
để năm vững nghề đã chọn
Trang 21Ưu điểm cơ bản của hình thức đào tạo này là: Học viên tự học một cách
có hệ thống từ đơn giản đến phức tạp, từ lý thuyết đến thực hành, tạo điều kiện cho học viên tiếp thu kiến thức nhanh chóng và dễ dàng, đào tạo tương đối toàn diện cả lý thuyết lẫn thực hành
Với hình thức đào tạo chính quy, sau khi đào tạo học viên có thể chủ động, độc lập giải quyết công việc, có khả năng đảm nhận các công việc tương đối phức tạp, đòi hỏi trình độ tay nghề cao Cùng với sự phát triển của sản xuất
và tiến bộ khoa học kỹ thuật, hình thức đào tạo này ngày càng giữ vai trò quan trọng trong việc đào tạo đội ngũ công nhân kỹ thuật
Tuy nhiên, đào tạo chính quy cũng có nhược điểm là: Thời gian đào tạo tương đối dài, đòi hỏi phải đầu tư lớn để đảm bảo đầy đủ cơ sở vật cất, đội ngũ giáo viên, các cán bộ quản lý nên kinh phí đào tạo cho một học viên là rất lớn
- Đào tạo nghề tại nơi làm việc:
Đào tạo nghề tại nơi làm việc là hình thức đào tạo trực tiếp trong đó người học sẽ được dạy những kiến thức, kỹ năng cần thiết cho công việc thông qua thực tế thực hiện công việc và thường là dưới sự hướng dẫn của những người lao động có trình độ cao hơn Hình thức đào tạo này thiên về thực hành ngay trong quá trình sản xuất và thường là do các doanh nghiệp (hoặc cá nhân sản xuất) tự
tổ chức
Chương trình đào tạo áp dụng cho hình thức đào tạo tại nơi làm việc thường chia làm ba giai đoạn: Giai đoạn đầu, người hướng dẫn vừa sản xuất vừa hướng dẫn cho học viên; giai đoạn hai, giao việc làm thử cho học viên sau khi họ
đã nắm bắt được các nguyên tắc và phương pháp làm việc; giai đoạn 3, giao việc hoàn toàn cho học viên khi họ có thể tiến hành làm việc một cách độc lập
Hình thức đào tạo tại nơi làm việc có nhiều ưu điểm như: Có khả năng đào tạo nhiều người cùng một lúc ở nhiều doanh nghiệp, phân xưởng, thời gian đào tạo ngắn, không đòi hỏi điều kiện về trường lớp, giáo viên chuyên trách, bộ máy quản lý, thiết bị học tập riêng nên tiết kiệm chi phí đào tạo Trong quá
Trang 22trình học tập, người học còn trực tiếp tham gia vào quá trình lao động, điều này giúp họ có thể nắm chắc kỹ năng lao động
Nhược điểm cơ bản của đào tạo tại nơi làm việc là: Việc truyền đạt và tiếp thu kiến thức không có tính hệ thống Người dạy không có nghiệp vụ sư phạm nên hạn chế trong quá trình hướng dẫn, việc tổ chức dạy lý thuyết gặp nhiều khó khăn nên kết quả học tập còn hạn chế Học viên không chỉ học những phương pháp tiên tiến mà còn có thể bắt chước những thói quen không tốt của người hướng dẫn Vì vậy, hình thức đào tạo này chỉ phù hợp với những công việc đòi hỏi trình độ không cao
- Tổ chức các lớp cạnh doanh nghiệp:
Đây là hình thức đào tạo theo chương trình gồm hai phần lý thuyết và thực hành Phần lý thuyết được giảng tập trung do các kỹ sư, cán bộ kỹ thuật phụ trách Còn phần thực hành thì được tiến hành ở các xưởng thực tập do các kỹ sư, công nhân lành nghề hướng dẫn Hình thức đào tạo này chủ yếu áp dụng để đào tạo cho những nghề phức tạp, đòi hỏi hiểu biết rộng về lý thuyết và độ thành thục cao
Ưu điểm nổi bật của các lớp cạnh doanh nghiệp là: Dạy lý thuyết tương đối có hệ thống, đồng thời học viên lại được trực tiếp tham gia lao động sản xuất
ở các phân xưởng, tạo điều kiện cho họ nắm vững nghề Bộ máy đào tạo gọn, chi phí đào tạo không lớn Tuy nhiên, hình thức đào tạo này chỉ áp dụng được ở những doanh nghiệp tương đối lớn và chỉ đào tạo cho các doanh nghiệp cùng ngành có tính giống nhau
- Đào tạo nghề kết hợp tại trường và doanh nghiệp:
Hình thức đào tạo nghề kết hợp tại trường và doanh nghiệp được áp dụng khá rộng rãi trên thế giới nhưng mới chỉ xuất hiện ở Việt Nam trong những năm gần đây và còn có nhiều cách hiểu khác nhau Có thể hiểu đào tạo nghề kết hợp tại trường và doanh nghiệp là hình thức đào tạo dựa trên hệ thống dạy và học có
Trang 23hai chỗ học, sự tích hợp chức năng của hai chỗ học tạo thành chức năng chung của hệ thống
Đào tạo nghề kết hợp tại trường và doanh nghiệp có thể được tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhau tùy theo điều kiện, quan điểm ở từng vùng, lãnh thổ
và khu vực
Hình thức đào tạo nghề kết hợp tại trường và doanh nghiệp xuất hiện ở Việt Nam còn quá yếu, mới chỉ thực hiện ở một số khía cạnh của việc kết hợp đào tạo và được biểu hiện ở các hoạt động như đào tạo theo đơn đặt hàng, một số công ty lớn thành lập trường đào tạo riêng, nhà trường có xưởng sản xuất, một số trường liên kết đưa học viên đi thực tập ở các doanh nghiệp
1.1.2.2 Quan điểm về chất lượng đào tạo nghề
Chất lượng giáo dục - đào tạo nói chung và đào tạo nghề nói riêng là vấn
đề cơ bản và là mục tiêu phấn đấu không ngừng của các cấp quản lý và các cơ sở đào tạo trực tiếp, đó cũng là một tiêu chỉ để phát triển hoạt động đào tạo nói chung và đào tạo nghề nói riêng Có nhiều cách hiểu về chất lượng đào tạo nghề với nhiều khía cạnh khác nhau
Quan điểm nguồn lực ở phương Tây cho rằng chất lượng đào tạo nghề phụ thuộc đầu vào của hệ thống đào tạo khi đó các yếu tố đầu vào có chất lượng như: giáo viên giỏi, cán bộ quản lý giỏi, cơ sở vật chất đầy đủ, học viên giỏi thì chất lượng đào tạo nghề được nâng cao Cũng có quan điểm cho rằng chất lượng đào tạo nghề được đánh giá bằng sản phẩm của quá trình đào tạo tức là bằng mức độ hoàn thành của học viên tốt nghiệp một số quan điểm khác lại khẳng định chất lượng đào tạo nghề được quyết định bởi các quá trình hoạt động bên trong, đặc biệt là hệ thống thông tin và hệ thống các quyết định tối ưu
Hệ thống kiểm định quốc gia Việt Nam quan niệm “Chất lượng sẽ được đánh giá bằng cách khách hàng xếp hạng tầm quan trọng của các đặc trưng phẩm chất đối nghịch với tính nhất quán và giá trị bằng tiền” Đào tạo nghề sẽ đảm bảo nâng cao chất lượng và phát triển nếu thực hiện tốt các yếu tố như: đáp ứng yêu
Trang 24của khách hàng, tập trung vào con người và mọi người đóng góp xây dựng tổ chức của mình, có tầm nhìn dài hạn, quản lý sự thay đổi một cách có hiệu quả,
có đổi mới, hữu hiệu, tổ chức tiếp thị tốt với thị trường
Xuất phát từ các quan niệm về chất lượng đào tạo nghề nêu trên, có thể hiểu chất lượng đào tạo nghề với những điểm cơ bản như sau: Chất lượng đào tạo nghề là kết quả tác động tích cực của tất cả các yếu tố cấu thành hệ thống đào tạo nghề và quá trình đào tạo vận hành trong môi trường nhất định
1.1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động đào tạo nghề cho lao động nông nghiệp nông thôn
Các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến công tác đào tạo nghề cho lao động nông nghiệp nông thôn hiện nay gồm:
bị dạy nghề càng tốt, càng hiện đại, theo sát với công nghệ sản xuất thực tế bao nhiêu thì học viên càng có thể thích ứng, vận dụng nhanh chóng trong công việc bấy nhiêu Do vậy, cơ sở vật chất, trang thiết bị đào tạo nghề đòi hỏi phải theo kịp tốc độ đổi mới của máy móc, công nghệ sản xuất
Tài chính cho đào tạo nghề cũng là một trong những yếu tố cơ bản nhằm đảm bảo cho việc phát triển hoạt động đào tạo nghề, vấn đề này tác động lên sự phát triển của hoạt động đào tạo nghề thông qua khả năng trang bị về cơ sở vật chất, phương tiện, thiết bị giảng dạy, khả năng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản
Trang 25lý, giáo viên Tài chính đầu tư cho đào tạo nghề càng dồi dào thì càng có điều kiện phát triển hoạt động này
- Đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý:
Giáo viên dạy nghề là người giữ trọng trách truyền đạt kiến thức lý thuyết cũng như kỹ năng, kỹ xảo, kinh nghiệm của mình cho các học viên trên cơ sở trang thiết bị dạy học hiện có Vì vậy năng lực giáo viên dạy nghề có tác động trực tiếp đến hoạt động đào tạo nghề
Đào tạo nghề đặc biệt là đào tạo nghề cho lao động nông nghiệp, nông thôn có nhiều nét khác biệt so với các cấp đào tạo khác đó là ngành nghề đào tạo rất đa dạng và học viên học nghề cũng có trình độ văn hóa khác nhau Bên cạnh
đó, trình độ cấp trình độ đào tạo ở các cơ sở đào tạo nghề cũng rất khác nhau, sự khác biệt này dẫn đến đội ngũ giáo viên dạy nghề cũng rất đa dạng với nhiều trình độ khác nhau
Vì vậy, giáo viên dạy nghề cho lao động nông nghiệp, nông thôn phải có
đủ về số lượng và chất lượng để theo sát học viên và truyền đạt, giảng dạy cho học viên một cách có hiệu quả
Một thành phần nhân lực khác cũng có ảnh hưởng đến hoạt động đào tạo nghề cho lao động nông nghiệp, nông thôn, đó là đội ngũ cán bộ quản lý đào tạo nghề Trong giai đoạn hiện nay, trước bối cảnh hội nhập quốc tế và sự phát triển của nền kinh tế đất nước đòi hỏi đội ngũ cán bộ quản lý phải là những người thực sự có trình độ Hoạt động đào tạo nghề sẽ bị ảnh hưởng rất lớn bởi khả năng
tổ chức, quản lý, điều phối quá trình đào tạo
- Học viên học nghề:
Học viên học nghề là yếu tố quan trọng nhất, có tính chất quyết định đối với hoạt động đào tạo nghề Trình độ văn hóa, sự hiểu biết, quỹ thời gian của bản thân học viên đều có ảnh hưởng đến hoạt động đào tạo nghề, đặc biệt, đối với lao động nông nghiệp, nông thôn, việc dành thời gian cho học nghề là một trong những khó khăn bởi họ còn làm nhiều việc khác để nuôi sống bản thân
Trang 26cũng như gia đình họ Trình độ văn hóa cũng như khả năng tư duy của học viên càng cao thì khả năng tiếp thu các kiến thức trong quá trình học nghề càng tốt, khi ấy chất lượng đào tạo nghề càng cao và có tác động tích cực đến hoạt động đào tạo nghề
- Một yếu tố quyết định đến sự phát triển của hoạt động đào tạo nghề nữa
đó là chính sách Nhà nước liên quan đến đào tạo nghề Các chính sách này bao gồm chính sách về đất đai, đầu tư, trong đó có đầu tư xây dựng mạng lưới đào tạo nghề, đầu tư mua sắm trang thiết bị phục vụ công tác giảng dạy, quy hoạch phát triển các trường dạy nghề, các cơ sở đào tạo nghề, các chế độ chính sách ưu đãi đối với giáo viên như chính sách tuyển dụng cán bộ, chính sách tiền lương và phụ cấp nghề, chính sách với người lao động được đào tạo như chính sách hỗ trợ kinh phí đào tạo, điều kiện sinh hoạt và nhất là chính sách đối với các đối tượng
là người nghèo, các hộ gia đình bị thu hồi đất nông nghiệp, các gia đình có công
1.1.3 Sự cần thiết phải đào tạo nghề cho lao động
1.1.3.1 Yêu cầu sản xuất công nghệ cao
Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao
đã được Đại hội lần thứ XI của Đảng xác định là một khâu đột phá chiến lược để bảo đảm đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại Đây là một nhiệm vụ rất cơ bản đồng thời cũng rất cấp bách, cần được quan tâm thực hiện ở nhiều cấp khác nhau: từ những người lao động ở các cơ sở sản xuất kinh doanh cho đến các chuyên gia, nhà quản lý (quản lý doanh nghiệp, quản lý nhà nước) đến các nhà hoạch định chính sách ở tầm vĩ mô Sự phát triển của nguồn nhân lực ở các cấp ấy là điều kiện tiên quyết cho sự phát triển bền vững của nền kinh tế nước ta hiện nay
Ở nước ta, sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước mở ra không chỉ vì bản thân sự phát triển tất yếu kinh tế, mà còn xuất phát từ mục tiêu, con đường đi tới chủ nghĩa xã hội mà chúng ta đã lựa chọn Việc thiết kế, thi công và thực hiện thành công mô hình Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là một quá trình
Trang 27phấn đấu lâu dài, gian khó nhưng nhất định thành công Nó đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân ta đồng tâm hiệp lực, có đường đi nước bước rõ ràng, có ý chí và nghị lực để sẵn sàng tạo lập và nắm bắt thời cơ, khắc phục nguy cơ, vượt qua thách thức, đưa đất nước đi lên
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội trong nông nghiệp và ở nông thôn từ lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện sản xuất và phương pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học công nghệ, tạo ra năng suất lao động trong nông nghiệp ngày càng cao, làm thay đổi diện mạo của nông thôn, nâng cao đời sống của nông dân
Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn tác động mạnh mẽ và làm thay đổi nhiều mặt đối với nông nghiệp, nông thôn và nông dân Thực hiện chủ trương của Đảng, Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách, thực hiện nhiều chương trình, dự án để phát triển nông nghiệp, nông thôn cải thiện đời sống nông dân Việc thực thi các chính sách đã đạt được những kết quả đáng kể
* Sản xuất nông nghiệp hàng hóa:
Nền nông nghiệp nước ta hiện nay tồn tại song song nền nông nghiệp cổ truyền và nền nông nghiệp hàng hóa Có rất nhiều nguyên nhân chi phối tới hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp nhưng cơ bản vẫn là do nông nghiệp nước ta
đi lên từ một nền nông nghiệp lạc hậu với tính chất tự cấp, tự túc và phụ thuộc nhiều vào tự nhiên Đường lối đổi mới của nước ta là chuyển sang nền kinh tế thị trường sản xuất hàng hóa có sự điều tiết của Nhà nước
Nước ta có điều kiện phát triển một nền nông nghiệp hiện đại do có điều kiện thuận lợi về tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên phong phú, trình độ chuyên môn kỹ thuật ngày càng phát triển
Trang 28Định hướng, chủ trương của Đảng và Nhà nước là phát triển nông nghiệp sản xuất hàng hóa lớn, có năng suất, chất lượng, hiệu quả cao, thân thiện với môi trường, gắn sản xuất với chế biến và thị trường, mở rộng xuất khẩu Chủ trương này đòi hỏi phải đưa công nghệ mới vào trong sản xuất nông nghiệp như công nghệ sinh học, công nghệ giống, công nghệ bảo quản, chế biến thực phẩm,… nhằm thực hiện hai mục đích là tạo ra sản phẩm nông nghiệp mới và tăng năng suất lao động đối với những sản phẩm nông nghiệp truyền thống
Với chủ trương này, người nông dân là chủ thể trong sản xuất, kinh doanh Để nông dân có thể là chủ thể, cần làm rõ quan điểm, nền nông nghiệp quan trọng nhất là có sứ mệnh đảm bảo sinh kế, công ăn việc làm của hàng triệu nông dân
Để làm được vai trò chủ thể của mình, nông dân không thể như hiện nay,
mà từng bước phải trở thành những hộ sản xuất gia đình quy mô lớn, chuyên nghiệp, cần cù, chịu khó, sẵn sàng tiếp thu kiến thức mới để cải tạo thiên nhiên, giúp ích cho hoạt động nông nghiệp
Trong những năm qua cùng với sự đi lên của tỉnh, nông nghiệp, nông dân, nông thôn Quảng Trị đã đạt được những kết quả quan trọng, nhiều chỉ tiêu đạt và vượt mức so với Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV đề ra Nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá: Diện tích, năng suất, sản lượng các loại cây trồng và con nuôi không ngừng tăng lên Các tiến bộ khoa học
kỹ thuật được ứng dụng rộng rãi đã mang lại hiệu quả thiết thực, nhất là sử dụng các loại giống mới, có hiệu quả, góp phần tăng nhanh năng suất, chất lượng sản phẩm, đổi mới tư duy, thay đổi nhận thức và tập quán canh tác của bà con nông dân từ sản xuất tự cấp, tự túc sang sản xuất hàng hoá Cơ cấu kinh tế nông thôn đang có những chuyển biến tích cực, tỷ trọng ngành nghề và dịch vụ được tăng lên, công nghiệp chế biến nông, lâm sản phát triển gắn với các vùng nguyên liệu, tạo thêm nhiều việc làm mới, tăng kim ngạch xuất khẩu Các hình thức tổ chức kinh tế trong nông nghiệp và nông thôn từng bước đổi mới, phát triển phù hợp
Trang 29với cơ chế thị trường, góp phần quan trọng vào việc thực hiện có hiệu quả các dịch vụ đầu vào và đầu ra cho sản xuất của nông dân
Tuy vậy, nông nghiệp, nông dân, nông thôn của Quảng Trị vẫn còn những mặt khó khăn, tồn tại: Sản xuất hàng hoá tuy đã phát triển nhưng quy mô còn nhỏ, khả năng cạnh tranh một số nông sản chưa cao; chưa khai thác và phát huy hết lợi thế, tiềm năng từng vùng; kết cấu hạ tầng nông thôn chưa đồng bộ, nhất là vùng sâu, vùng xa; kinh tế nông thôn chủ yếu vẫn là thuần nông, ngành nghề, dịch vụ phát triển chưa đều khắp; trình độ tay nghề của bà con nông dân vẫn chưa đáp ứng nền sản xuất hàng hoá; hoạt động của các tổ chức kinh tế hợp tác, kinh tế trang trại, kinh tế hộ chưa mạnh; đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật đã được quan tâm nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn, nhất là ở cơ sở
Để phát huy những thành quả đã đạt được, khắc phục những khó khăn, tồn tại, các cơ quan quản lý về nông nghiệp, nông thôn địa bàn cần có những chủ trương, biện pháp nhằm ổn định các chỉ tiêu an ninh lương thực; đẩy mạnh việc ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ mới vào sản xuất; kịp thời cụ thể hoá
và thực hiện tốt các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; tăng cường nguồn lực đầu tư cho nông nghiệp, xây dựng cơ chế, chính sách khuyến khích, tạo điều kiện cho nông dân phát triển sản xuất hàng hoá để làm giàu, mặt khác thực hiện có hiệu quả các chính sách an sinh xã hội, xoá đói giảm nghèo và các chính sách hỗ trợ kịp thời cho bà con nông dân khi có thiên tai dịch bệnh để ổn định và phát triển sản xuất
Một nội dung không thể thiếu đó là tăng cường công tác đào tạo nguồn nhân lực, đào tạo nghề cho nông dân, coi đây là nhân tố quan trọng để nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phân công lại lao động nông thôn theo hướng CNH, HĐH Ngoài các ngành nghề theo quan niệm truyền thống như: mộc, nề, thêu ren, mây tre đan, bún bánh thì việc trồng lúa, trồng rau, hoa cây cảnh, nuôi lợn, nuôi gà, nuôi tôm giỏi cũng đều là những
Trang 30nghề đòi hỏi phải có bí quyết, kiến thức, tay nghề và am hiểu rất sâu về kỹ thuật
Do đó, công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn phải đa dạng, ai có khả năng và nhu cầu phát triển nghề gì cần được quan tâm đào tạo nâng cao tay nghề
về lĩnh vực đó, tạo điều kiện cho họ chuyên tâm vào nghề, giỏi về nghề, sống được bằng nghề
1.1.3.2 Nội dung công tác đào tạo nghề cho lao động nông nghiệp nông thôn
Thứ nhất, đào tạo nghề cho lao động nông thôn phải xuất phát từ nhu cầu
sử dụng lao động thật sự của các doanh nghiệp trên địa bàn; đồng thời dựa trên nhu cầu thực tế về nghề nghiệp của người dân, chứ không phải là các hoạt động
có tính phong trào, nhất thời Vì vậy, cần nắm chắc được các nhu cầu (theo từng nghề, nhóm nghề, vị trí công việc ) của người dân ở từng địa phương và của doanh nghiệp, thông qua điều tra khảo sát nhu cầu
Thứ hai, cần phải có sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị ở địa phương Thực tế thời gian vừa qua cho thấy, ở địa phương nào có sự quan tâm của cấp ủy Đảng, sự chỉ đạo quyết liệt của chính quyền và sự tham gia tích cực của các tổ chức chính trị - xã hội thì ở địa phương đó công tác dạy nghề cho lao động nông nghiệp nông thôn đạt được kết quả mong muốn
Thứ ba, do tính đa dạng vùng miền và tính đặc thù của người nông dân và lao động nông nghiệp nông thôn (trình độ học vấn không đều, lao động theo mùa
vụ, thói quen canh tác ), nên việc tổ chức các khóa đào tạo phải rất linh hoạt về chương trình đào tạo, hình thức đào tạo, phương thức đào tạo, phương pháp truyền đạt
Thứ tư, đào tạo nghề cho lao động nông nghiệp nông thôn phải gắn với giải quyết việc làm, chuyển dịch cơ cấu lao động, gắn với xóa đói, giảm nghèo
và góp phần bảo đảm an sinh xã hội ở nông thôn; gắn với xây dựng nông thôn mới
1.1.3.3 Kinh nghiệm về công tác đào tạo lao động chất lượng cao ở một số nước trên thế giới
Trang 31* Ở Nhật Bản: Ngay từ những năm 1868, nhà vua Nhật Minh Trị trong quá trình xóa bỏ nền kinh tế phong kiến để tiến tới canh tân kinh tế đất nước đã
đề ra phong trào “Duy tân”, tức đổi mới cách nhìn về nguồn nhân lực, theo đó lao động nông nghiệp được nhà vua giao đất (mua lại từ địa chủ, quý tộc) và khuyến cáo phát triển sản xuất theo hướng hàng hóa với quy mô phù hợp, tạo thành các vùng nông nghiệp được gọi là “vùng khuyến khích sản xuất nông nghiệp hàng hóa tập trung” Chiến lược phát triển nguồn nhân lực nông thôn được xây dựng dài hạn đi đôi với quy hoạch phát triển các vùng nông nghiệp tập trung Tầm nhìn rộng của Minh Trị về nhân lực nông nghiệp vào thời kỳ đó đã tạo ra nền tảng cho chiến lược phát triển nhân lực nông thôn ở Nhật Bản ra đời
và được thực thi trong suốt những năm sau này khi đất nước bước vào quá trình hiện đại hóa sản xuất nông nghiệp với công nghệ cao và công nghiệp hàng hóa nông thôn
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, Nhật Bản đã bắt tay vào công tác đào tạo giáo dục nhân lực nói chung và nhân lực nông thôn nói riêng, nhờ đó mà nguồn nhân lực theo nghĩa rộng ở đất nước này đã trở thành đứng đầu thế giới về dân
số được đào tạo Chính sách phát triển nguồn nhân lực của chính phủ Nhật Bản được phản ánh qua việc đầu tư cao vào đào tạo con người Nhật Bản, coi những khoản chi phí vào đào tạo, phát triển nguồn nhân lực cho nông thôn là khoản đầu
tư dài hạn của Chính phủ [5]
* Ở Đài Loan: Là một mô hình đáng học tập về phát triển nông thôn dựa trên quy hoạch phát triển và sử dụng triệt để nguồn nhân lực tại chỗ ngày một tăng tiến về chất lượng và khả năng tiếp cận công nghệ sản xuất về canh tác nông nghiệp, chế biến và dịch vụ đi kèm
Để thực hiện quy hoạch này, Đài Loan nhất quán thực hiện chiến lược và chính sách vể đất đai, tín dụng hướng vào chủ thể nông dân cùng tham gia vào quá trình hiện đại hóa nông nghiệp và công nghiệp hóa nông thôn
Trang 32Bằng quy hoạch phát triển các thể chế “Nông hội” ở từng vùng sinh thái
để tạo cơ hội cho người dân nông thôn tự ra các quyết định phát triển hiệu quả nhất, mang lại lợi ích cao cho chính họ, Chính phủ Đài Loan đã mạnh dạn sử dụng tới 2/3 nguồn viện trợ của Mỹ vào việc đầu tư kết cấu hạ tầng nông thôn và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực nông thôn dựa trên cơ sở các nông hội này[5]
* Ở Hàn Quốc: Chiến lược phát triển nguồn nhân lực nông thôn của Hàn Quốc mang những nét đặc thù riêng Chính phủ Hàn Quốc đã tiến hành song song việc tăng đầu tư ngân sách vào đào tạo người dân nông thôn với mục tiêu cao nhất là làm thay đổi suy nghĩ thụ động, trông chờ và ỷ lại của người dân vào Nhà nước đã ngự trị trong phần lớn nông dân nước này qua nhiều thế kỷ
Mục tiêu của chính sách đào tạo nông dân là giúp họ có niềm tin mãnh liệt vào chính mình trước những khó khăn về vật chất và tinh thần để họ trở nên tích cực, năng động, sáng tạo đối với sự nghiệp phát triển nông nghiệp, nông thôn trên đất nước Hàn Quốc
Phong trào xây dựng nông thôn mới là một trong những kinh nghiệm tốt của Hàn Quốc trong việc định hướng cho chiến lược phát triển nông thôn nói chung và phát triển nguồn nhân lực nông thôn nói riêng Trong phong trào này, Chính phủ Hàn Quốc đã đề cao và nhấn mạnh yếu tố quan trọng nhất trong phát triển nông thôn là “phát triển tinh thần của nông dân”, lấy kích thích vật chất nhỏ kết hợp với đào tạo và sự cởi mở, thông thoáng của chính sách để tạo động lực kích thích mạnh mẽ tinh thần của người dân nông thôn và qua đó phát huy nguồn vốn nội lực to lớn tiềm tàng của người dân nông thôn [5]
* Ở Singapo: Trong khu vực Đông Nam Á, Singapo được coi là hình mẫu
về phát triển nguồn nhân lực Thực tế đã minh chứng, quốc gia nhỏ bé này đã rất
thành công trong việc xây dựng một đất nước có trình độ dân trí cao và hệ thống giáo dục phát triển hàng đầu châu Á
Chiến lược và chính sách phát triển nguồn nhân lực của Singapo thực hiện trên cơ sở không ngừng đầu tư vào phát triển cơ sở hạ tầng của đào tạo và giáo
Trang 33dục nguồn nhân lực trẻ tiếp cận những thành tựu mới nhất về khoa học công nghệ Chiến lược này đã được triển khai từ những năm 1960, bằng việc thu hút các tập đoàn đa quốc gia vào thực hiện chương trình lớn về đào tạo lao động công nghiệp để nâng cao trình độ của những người lao động đang làm việc và những người lao động trẻ chuẩn bị tham gia vào các hoạt động của công ty và tập đoàn, từ đó tăng cường nguồn cán bộ kỹ thuật có trình độ học vấn và tay nghề cao
Singapo rất coi trọng việc hoạch định phát triển nguồn nhân lực, coi đó là chiến lược quan trọng nhất trong tất cả các loại chiến lược Chiến lược này cần xác định nhu cầu về các loại nhân lực, gồm số lượng các loại nhân lực cần thiết
để đáp ứng nhu cầu công việc trong tương lai Các chiến lược về nhân lực trước hết phải tập trung vào xác định, thu hút và giữ được những người tốt nhất trong các ngành kinh tế [5]
* Thực trạng nguồn nhân lực Việt Nam
Theo kết quả điều tra dân số đến tháng 12/2010, Việt Nam có gần 87 triệu người Điều này phản ánh nguồn nhân lực của Việt Nam đang phát triển dồi dào Nguồn nhân lực Việt Nam được cấu thành chủ yếu là nông dân, công nhân, trí thức, doanh nhân, dịch vụ và nhân lực của các ngành, nghề Trong đó, nguồn nhân lực nông dân có gần 62 triệu người, chiếm hơn 70% dân số; nguồn nhân lực công nhân là 9,5 triệu người (gần 10% dân số); nguồn nhân lực trí thức, tốt nghiệp từ đại học, cao đẳng trở lên là hơn 2,5 triệu người, chiếm khoảng 2,15% dân số; nguồn nhân lực từ các doanh nghiệp khoảng 2 triệu người, trong đó, khối doanh nghiệp trung ương gần 1 triệu người Sự xuất hiện của giới doanh nghiệp trẻ được xem như một nhân tố mới trong nguồn nhân lực, nếu biết khai thác, bồi dưỡng, sử dụng tốt sẽ giải quyết được nhiều vấn đề quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội
Hiện nay ở Việt Nam đang hình thành 2 loại hình nhân lực: nhân lực phổ thông và nhân lực chất lượng cao Nhân lực phổ thông hiện tại vẫn chiếm số
Trang 34đông, trong khi đó, tỷ lệ nhân lực chất lượng cao lại chiếm tỷ lệ rất thấp Cái thiếu của Việt Nam hiện nay không phải là nhân lực phổ thông, mà là nhân lực chất lượng cao Theo số liệu thống kê năm 2010, trong số 20,1 triệu lao động đã qua đào tạo trên tổng số 48,8 triệu lao động đang làm việc, thì chỉ có 8,4 triệu người có bằng cấp, chứng chỉ do các cơ sở đào tạo trong và ngoài nước Số người từ 15 tuổi trở lên được đào tạo nghề và chuyên môn kỹ thuật rất thấp, chiếm khoảng 40% Cơ cấu đào tạo hiện còn bất hợp lý được thể hiện qua các tỷ lệ: Đại học và trên Đại học là 1, trung học chuyên nghiệp là 1,3 và công nhân kỹ thuật là 0,92; trong khi trên thế giới, tỷ lệ này là 1-4-10 Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới (WB), Việt Nam đang rất thiếu lao động có trình độ tay nghề, công nhân kỹ thuật bậc cao và chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam cũng thấp hơn so với nhiều nước khác Nếu lấy thang điểm là 10 thì chất lượng nhân lực của Việt Nam chỉ đạt 3,79 điểm (xếp thứ 11/12 nước Châu Á tham gia xếp hạng của WB) trong khi Hàn Quốc là 6,91; Ấn Độ là 5,76; Malaysia là 5,59; Thái Lan
là 4,94
Cơ cấu phân bổ lao động theo ngành nghề cũng mất cân đối Các ngành
kỹ thuật - công nghệ, nông - lâm - ngư nghiệp ít và chiếm tỉ trọng thấp, trong khi
đó các ngành xã hội luật, kinh tế, ngoại ngữ lại quá cao Nhiều ngành nghề, lĩnh vực có tình trạng vừa thừa vừa thiếu nhân lực Những lĩnh vực hiện đang thiếu lao động như: Kinh doanh tài chính, ngân hàng, kiểm toán, công nghệ thông tin, điện tử, viễn thông, cơ khí chế tạo
Có thể thấy, nguồn nhân lực Việt Nam hiện nay có các đặc điểm sau:
- Nguồn nhân lực khá dồi dào, nhưng chưa được sự quan tâm đúng mức; chưa được quy hoạch, khai thác; chưa được nâng cấp; chưa được đào tạo đến nơi đến chốn
- Chất lượng nguồn nhân lực chưa cao, dẫn đến tình trạng mâu thuẫn giữa lượng và chất
Trang 35- Sự kết hợp, bổ sung, đan xen giữa nguồn nhân lực từ nông dân, công nhân, trí thức,… chưa tốt, còn chia cắt, thiếu sự cộng lực để cùng phối hợp thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Báo chí nước ngoài thường bình luận người Việt Nam thông minh, rất nhanh nhạy trong việc nắm bắt và tiếp thu cái mới Tiếc rằng nguồn nhân lực này lại chưa được khai thác đầy đủ, đào tạo chưa bài bản, điều đó ảnh hưởng đến chất lượng nhân lực và ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế – xã hội Việt Nam
Qua những kinh nghiệm về đào tạo nghề cho lao động của một số nước trên thế giới chúng ta có thể nhận thấy các nước trong khu vực và Việt Nam có một số nét tương đồng Việt Nam và các nước trong khu vực đều có điểm xuất phát tương đối thấp trong thời kỳ đầu công nghiệp hóa và hội nhập kinh tế quốc
tế Những nước này đều chịu áp lực về phát triển nguồn lao động đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao nhằm đáp ứng tiến trình CNH, HĐH, hội nhập kinh tế quốc tế Tuy nhiên, các nước trong khu vực Đông Á cũng có nhiều thuận lợi để phát triển nguồn nhân lực bởi nhiều lý do: thứ nhất những nước này có dân số trẻ, số người trong độ tuổi lao động và sắp bước vào tuổi lao động chiếm
tỷ lệ cao; thứ hai, là những nước chịu ảnh hưởng của nền văn hóa phương Đông,
có tinh thần hiếu học, chịu khó tìm tòi và tinh thần vượt qua khó khăn, thử thách Điều này tạo thuận lợi cho quá trình học tập, đào tạo và tiếp thu kiến thức, khoa học kỹ thuật một cách năng động, là điều kiện nâng cao nguồn nhân lực, đua đất nước sớm hòa nhập với nền kinh tế quốc tế
1.2 Tình hình nghiên cứu, giải quyết vấn đề liên quan đến đào tạo nghề cho lao động nông nghiệp nông thôn
Nông nghiệp, nông dân và nông thôn là vấn đề không chỉ nước ta mà nhiều quốc gia trên thế giới đặc biệt quan tâm Ở Việt Nam, gần 80% dân số sống ở nông thôn và trên 70% lao động nông nghiệp nông thôn trong đó đa phần
có kỹ năng nghề rất thấp; sản xuất nông nghiệp vẫn mang nặng tính truyền thống
Trang 36Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đã được xác định là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước, của các cấp, ngành và xã hội nhằm nâng cao chất lượng lao động nông thôn, đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn Nhiều năm qua, Nhà nước đã tăng cường đầu tư để phát triển hoạt động đào tạo nghề cho lao động nông nghiệp nông thôn, có chính sách bảo đảm thực hiện công bằng xã hội về cơ hội học nghề đối với mọi lao động nông nghiệp nông thôn, khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để toàn xã hội tham gia đào tạo nghề cho lao động nông thôn Học nghề là quyền lợi và trách nhiệm của lao động nông thôn nhằm tạo việc làm, chuyển nghề, tăng thu nhập và nâng cao chất lượng cuộc sống
Nhằm phát triển nguồn lao động nông nghiệp, nông thôn, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định ban hành Đề án 1956 với tổng kinh phí 25.980 tỷ đồng kéo dài từ năm 2010 đến 2020 với mục tiêu mỗi năm đào tạo khoảng 1 triệu lao động nông thôn với mong muốn mở ra nhiều cơ hội việc làm tăng thu nhập cho nông dân Nhà nước cũng đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ đào tạo nghề cho lao động nông nghiệp nông thôn
Đối với tỉnh Quảng Trị, đào tạo nghề cho lao động nông nghiệp nông thôn được xem là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong công cuộc xây dựng nông thôn mới Trong những năm qua, trên những chủ trương, chính sách của Nhà nước, tỉnh Quảng Trị đã thực hiện nhiều biện pháp nhằm phát triển hoạt động đào tạo nghề cho lao động nông nghiệp nông thôn nông thôn, điển hình là UBND tỉnh đã ban hành “Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn tỉnh Quảng Trị giai đoạn 2011 – 2020”, triển khai thực hiện đề án và bước đầu đạt được những kết quả nhất định
Tuy nhiên, một thực tế cũng cần phải thẳng thắn nhìn nhận là thời gian qua, một số địa phương, ngành chức năng vẫn chỉ chú trọng công tác đầu tư xây dựng cơ bản, mua sắm trang thiết bị, trong khi đó việc tổ chức xây dựng bộ máy, điều hành hoạt động của các trung tâm đào tạo nghề vẫn còn nhiều lúng túng,
Trang 37tình trạng một số trung tâm đào tạo nghề không có thầy, thiếu cán bộ quản lý, trang thiết bị thiếu đồng bộ vẫn tồn tại nhiều năm mà chưa được quan tâm giải quyết, thậm chí có những trung tâm dạy nghề đầu tư hàng tỷ đồng mua sắm thiết
bị xong để “đắp chiếu” quá lãng phí Mặt khác, công tác dạy nghề cho lao động nông nghiệp nông thôn nhiều nơi vẫn còn mang tính hình thức, chỉ chạy theo thành tích mà thiếu tính thực chất, chưa có chiều sâu, do đó nhiều lao động đào tạo xong vẫn chưa có nghề hoặc tay nghề không đảm bảo để tạo ra thu nhập, cải thiện cuộc sống
Trang 38Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đặc điểm cơ bản của tỉnh Quảng Trị
2.1.1 Giới thiệu chung về địa bàn tỉnh Quảng Trị
2.1.1.1 Điều kiện tự nhiên
* Vị trí địa lý
Tỉnh Quảng Trị nằm trên tọa độ địa lý từ 16018 đến 17010 vĩ độ Bắc,
106032 đến 107034 kinh độ Đông Phía Bắc giáp huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình; Phía Nam giáp huyện Phong Điền và A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế; Phía Đông giáp Biển Đông; Phía Tây giáp tỉnh Savanakhet và Salavan, nước Cộng hòa Dân chu nhân dân Lào
Quảng Trị có lợi thế về địa lý - kinh tế, là đầu mối giao thông, nằm ở trung điểm đất nước, ở vị trí quan trọng - điểm đầu trên tuyến đường huyết mạch chính của hành lang kinh tế Đông - Tây nối với Lào - Thái Lan - Mianmar qua cửa khẩu quốc tế Lao Bảo đến các cảng biển Miền Trung như: Cửa Việt, Chân Mây, Đà Nẵng, Vũng Áng Đây là điều kiện rất thuận lợi để Quảng Trị mở rộng hợp tác kinh tế trong khu vực, giao thương hàng hóa, vận tải quốc tế, phát triển thương mại, dịch vụ và du lịch
Quảng Trị có điều kiện giao thông khá thuận lợi cả về đường bộ, đường sắt và đường thuỷ Qua địa phận Quảng Trị có các tuyến giao thông huyết mạch như Quốc lộ 1A, đường Hồ Chí Minh , tuyến đường sắt Bắc - Nam chạy dọc qua tỉnh, và Quốc lộ 9 gắn với đường xuyên Á cho phép Quảng Trị có thể giao lưu kinh tế với các tỉnh trong vùng và cả nước Cảng Cửa Việt là một trong những cảng biển có thể phục vụ cho vận chuyển hàng hóa trong vùng và trung chuyển hàng hóa qua đường Xuyên Á Cách không xa trung tâm tỉnh lỵ Đông Hà có sân bay Phú Bài - Thừa Thiên Huế và sân bay quốc tế Đà Nẵng
Trang 39Thời gian qua, cũng như các tỉnh trong khu vực miền Trung được Nhà nước quan tâm đầu tư, cùng một số chính sách ưu đãi khác, tiềm lực kinh tế của Quảng Trị có những bước phát triển mới: Khu kinh tế thương mại đặc biệt Lao Bảo phát triển có nhiều khởi sắc; các khu công nghiệp Nam Đông Hà, khu công nghiệp Quán Ngang; các cụm tuyến du lịch Hiền Lương, Cửa Tùng, Khe Sanh, Lao Bảo được đầu tư về hạ tầng, thu hút đầu tư, đang từng bước phát huy hiệu quả; cơ sở hạ tầng giao thông, mạng lưới điện, cấp thoát nước, bưu chính viễn thông không ngừng được mở rộng; các lĩnh vực xã hội như: xóa đói giảm nghèo,
y tế, giáo dục - đào tạo, văn hóa - thể thao được chú trọng phát triển
Những lợi thế về vị trí địa lý - kinh tế và tiềm lực kinh tế đã đạt được đang tạo cho Quảng Trị một nền tảng rất cơ bản để có thể tăng cường mở rộng giao lưu, hợp tác kinh tế trong nước và tăng cường liên kết, hội nhập với các nước trong khu vực và quốc tế, đẩy nhanh hơn nữa phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong thời gian tới
* Địa hình
Do cấu tạo của dãy Trường Sơn, địa hình Quảng Trị thấp dần từ Tây sang Đông, Đông Nam và chia thành 4 dạng địa hình: vùng núi cao phân bố ở phía Tây từ đỉnh dãy Trường Sơn đến miền đồi bát úp; vùng trung du và đồng bằng nhỏ hẹp chạy dọc tỉnh; kế đến là vùng cát nội đồng và ven biển
- Địa hình núi cao: Phân bố ở phía Tây từ dãy Trường Sơn đến miền đồi bát úp, chiếm diện tích lớn nhất, có độ cao từ 250-2000 m, độ dốc 20-300 bao gồm 2 huyện Hướng Hóa và Đakrông
- Địa hình gò đồi, núi thấp: Là phần chuyển tiếp từ địa hình núi cao đến địa hình đồng bằng, chạy dài dọc theo tỉnh Có độ cao từ 50-250m, một vài nơi
có độ cao trên 500 m Địa hình gò đồi, núi thấp (vùng gò đồi trung du) tạo nên các dải thoải, lượn sóng, độ phân cắt từ sâu đến trung bình Huyện Cam Lộ, một phần diện tích của huyện Gio Linh và Vĩnh Linh có đặc điểm địa hành này Địa
Trang 40hình gò đồi, núi thấp thích hợp cho trồng cây công nghiệp như cao su, hồ tiêu, cây ăn quả lâu năm
- Địa hình đồng bằng: Là những vùng đất được bồi đắp phù sa từ hệ thống các sông, địa hình tương đối bằng phẳng, có độ cao tuyệt đối từ 25-30 m Bao gồm đồng bằng Triệu Phong được bồi tụ từ phù sa sông Thạch Hãn khá màu mỡ; đồng bằng Hải Lăng, đồng bằng sông Bến Hải tương đối phì nhiêu Đây là vùng trọng điểm sản xuất lương thực, nhất là sản xuất lúa ở các huyện Hải Lăng, Triệu Phong, Gio Linh, Vĩnh Linh
- Địa hình ven biển: Chủ yếu là các cồn cát, đụn cát phân bố dọc ven biển Địa hình tương đối bằng phẳng, thuận lợi cho việc phân bố dân cư Một số khu vực có địa hình phân hóa thành các bồn trũng cục bộ dễ bị ngập úng khi có mưa lớn hoặc một số khu vực chỉ là các cồn cát khô hạn, sản xuất chưa thuận lợi, làm cho đời sống dân cư thiếu ổn định
Nhìn chung với địa hình đa dạng, phân hoá thành các tiểu khu vực, nhiều vùng sinh thái khác nhau tạo cho Quảng Trị có thể phát triển toàn diện các ngành kinh tế, đặc biệt là tạo nên các vùng tiểu khí hậu rất thuận lợi cho đa dạng hóa các loại cây trồng vật nuôi trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp
* Khí hậu
Quảng Trị nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có nền nhiệt độ cao, chế độ ánh sáng và mưa, ẩm dồi dào, tổng tích ôn cao là những thuận lợi cơ bản cho phát triển các loại cây trồng nông, lâm nghiệp Tuy nhiên, Quảng Trị được coi là vùng có khí hậu khá khắc nghiệt, chịu ảnh hưởng của gió Tây Nam khô nóng thổi mạnh từ tháng 3 đến tháng 9 thường gây nên hạn hán Từ tháng 10 đến tháng 2 năm sau chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc kèm theo mưa nên
dễ gây nên lũ lụt
Nhiệt độ trung bình năm từ 240-250C ở vùng đồng bằng, 220-230C ở độ cao trên 500 m Mùa lạnh từ tháng 12 đến tháng 2 năm sau nhiệt độ xuống thấp, tháng lạnh nhất nhiệt độ xuống dưới 220C ở đồng bằng, dưới 200C ở độ cao trên