Tính cấp thiết của đề tài Đất nước ta đang tiến hành công cuộc đổi mới, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hướng XHCN trong bối cảnh quốc tế và trong nước rất phức tạp, c
Trang 1cs TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS NGUYỄN PHÚC THỌ
HÀ NỘI, 2013
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng: Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này
là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một đề tài nghiên cứu nào
Tôi cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày 10 tháng 04 năm 2013
Tác giả
Phùng Xuân Hải
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới Ban giám hiệu, khoa Sau đại học, trường Đại học Lâm nghiệp, đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Đặc biệt tôi bày tỏ sự biết ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Phúc Thọ đã tận tình
hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn Phòng nội vụ, Trung tâm bồi dưỡng chính tri, Phòng tài nguyên môi trường Huyện Chương Mỹ và các xã Tân Tiến, Lam Điền Văn Võ, Đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cung cấp số liệu, Tài liệu giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn tới gia đình Người thân, bàn bè, đồng nghiệp, đã quan tâm động viên giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện nghiên cứu đề tài
Tuy nhiên, dù có nhiều nỗ lực, song do trình độ và thời gian có hạn nên luận văn không tránh khỏi thiếu sót Vì vậy, Tôi kính mong nhận được sự góp ý chỉ bảo của các thầy cô và sự chia sẻ của các bạn đồng nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 10 tháng 04năm 2013
Tác giả luận văn
Phùng Xuân Hải
Trang 5MỤC LỤC
Trang phụ bìa
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
Viết tắt vi
Viết đầy đủ vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC BIỂU viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu của đề tài 3
2.1 Mục tiêu tổng quát 3
2.2 Mục tiêu cụ thể 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
3.1 Đối tượng nghiên cứu 4
3.2 Phạm vi nghiên cứu 4
Chương 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1 Cơ sở lý luận 5
1.1.1 Một số khái niệm và quan điểm cơ bản về cán bộ và công tác cán bộ 5
1.1.2 Vai trò đội ngũ cán bộ cơ sở cấp xã, phường 13
1.1.3 Đặc điểm của đội ngũ cán bộ cơ sở cấp xã, thị trấn 16
1.1.4 Vai trò của việc bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cơ sở 17
1.1.5 Một số hình thức đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cấp cơ sở 18
1.1.6 Các yếu tố ảnh hưởng tới công tác bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cơ sở 19
1.1.7 Nội dung đánh giá, bồi dưỡng cán bộ cơ sở 21
1.2 Cơ sở thực tiễn 21
1.2.1 Kinh nghiệm bồi dưỡng nguồn nhân lực và cán bộ cơ sở ở một số nước trên thế giới 21
1.2.1.1 Kinh nghiệm của Hàn Quốc 22
1.2.1.2 Kinh nghiệm của Đài Loan 22
Trang 61.2.1.3 Kinh nghiệm Singapo 23
1.2.1.4 Kinh nghiệm Nhật Bản 24
1.2.2 Thực trạng đào tạo nguồn nhân lực và cán bộ cơ sở ở Việt Nam 24
Chương 2: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 27
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 27
2.1.1.1 Vị trí địa lý 27
2.1.1.2 Khí hậu, thủy văn 28
2.1.1.3 Tình hình đất đai 29
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 31
2.2 Phương pháp nghiên cứu 33
2.2.1 Chọn điểm nghiên cứu 33
2.2.2 Phương pháp thu thập tài liệu 33
2.2.2.1 Tài liệu thứ cấp: 33
2.2.2.2 Tài liệu sơ cấp: 33
2.3 Phương pháp xử lý thông tin 35
2.3.1 Phương pháp xử lý thông tin 35
2.3.2 Phương pháp phân tích 35
2.3.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 36
2.3.3.1 Nhóm chỉ tiêu phản ánh số lượng cán bộ 36
2.3.3.2 Nhóm chỉ tiêu phản ánh chất lượng; kết hợp chỉ tiêu định lượng và chỉ tiêu định tính 36
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 37
3.1 Thực trạng đội ngũ cán bộ cơ sở (cấp xã) của huyện Chương Mỹ 37
3.1.1 Theo giới tính và độ tuổi 37
3.1.2 Theo thời gian công tác và thời gian giữ chức vụ hiện tại 38
3.1.3 Theo trình độ 40
3.2 Ý kiến đánh giá của người dân 45
3.2.1 Năng lực chuyên môn của đội ngũ cán bộ cơ sở cấp xã thuộc huyện Chương Mỹ 45
Trang 73.2.2 Năng lực giải quyết công việc của đội ngũ cán bộ cơ sở của huyện Chương Mỹ
49
3.2.3 Về kết quả giải quyết công việc của cán bộ cơ sở cấp xã 53
3.2.4 Chế độ đối với cán bộ, công chức cấp xã 58
3.3 Đánh giá thực trạng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cơ sở (cấp xã) của huyện Chương Mỹ 61
3.3.1 Đánh giá của cơ sở đào tạo, bồi dưỡng 61
3.3.2 Đánh giá của học viên 66
3.4 Phương hướng và những giải pháp chủ yếu nâng cao chất lượng cán bộ cơ sở cấp xã tại huyện Chương Mỹ 73
3.4.1 Phương hướng, mục tiêu nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ cơ sở cấp xã huyện Chương Mỹ 73
3.4.2 Những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng cán bộ cơ sở cấp xã tại huyện Chương Mỹ 78
3.4.2.1 Đổi mới về công tác đánh giá cán bộ chủ chốt cấp xã, và cơ sở cấp xã 78
3.4.2.2 Tiếp tục đổi mới công tác quy hoạch và chuẩn hoá cán bộ cấp xã 80
3.4.2.3 Đẩy mạnh việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chủ chốt xã, thị trấn 85
3.4.2.4 Gắn quy hoạch, đào tạo bồi dưỡng với sử dụng cán bộ 87
3.4.2.5 Cụ thể hóa tiêu chuẩn đội ngũ cán bộ chủ chốt xã, thị trấn cho phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ và thực tiễn địa phương 88
3.4.2.6 Cụ thể hóa chế độ chính sách đối với đội ngũ cán bộ cơ sở cấp xã 91
3.4.2.7 Thực hiện nghiêm túc chế độ tự phê bình và phê bình, tăng cường phản biện xã hội về cán bộ công chức cấp xã 93
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHI ̣ 94
1 Kết luận 94
2 Kiến nghị ……… 96
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ TỪ VIẾT TẮT
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Tình hình sử dụng đất tại huyện Chương Mỹ giai đoạn 2010 -
Trình độ chuyên môn nghiệp vụ cán bộ công chức cơ sở huyện
Trình độ lý luận chính trị của cán bộ, công chức cơ sở huyện
Nhận xét đánh giá của người dân về năng lực chuyên môn của cán
Kết quả giải quyết công việc của cán bộ cơ sở, công chức cấp xã 53
Chế độ tiền lương, phụ cấp của cán bộ cơ sở cấp xã của huyện
Nhận xét của cán bộ cơ sở cấp xã về thời gian làm việc của bản thân 60 Tình hình các lớp bồi dưỡng tại trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện
Đánh giá của học viên về chế độ đãi ngộ và ý thức học viên 70
Trang 10DANH MỤC CÁC BIỂU
Thực trạng cán bộ công chức cơ sở phân theo thâm niên công tác 38 Thực trạng CBCC cơ sở phân theo thời gian đảm nhiệm chức vụ
DANH MỤC CÁC HỘP
Hộp 4.1 Ý kiến người dân 56
Hộp 4.2 Yêu cầu đối với cán bộ, công chức cơ sở 57
Hộp 4.3 Ý kiến của học viên tham gia lớp học 68
Hộp 4.4 Chế độ đối với học viên 70
Hộp 4.5 Ý thức học viên… 71
Hộp 4.6 Tác dụng của các lớp đào tạo, bồi dưỡng 71
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất nước ta đang tiến hành công cuộc đổi mới, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hướng XHCN trong bối cảnh quốc tế và trong nước rất phức tạp, có nhiều thuận lợi nhưng cũng không ít khó khăn, có cả thời cơ và nguy cơ, đòi hỏi đội ngũ cán bộ, công chức trên mọi lĩnh vực công tác "Phải vững vàng về chính trị, gương mẫu về đạo đức, trong sạch về lối sống, có trí tuệ, kiến thức và năng lực hoạt
động thực tiễn, gắn bó với nhân dân (Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng)[01]
Mặt khác, để thực hiện thắng lợi Cương lĩnh, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020 mà Đại hội VII, VIII, IX … đã đề ra, công tác cán bộ, đặc biệt là cán bộ chủ chốt càng cần thiết và cấp bách, kinh nghiệm thực tiễn ở đất nước ta đã chỉ ra rằng độ chính xác của đường lỗi chính sách của Đảng và Nhà nước đều tuỳ thuộc cuối cùng ở công tác cán bộ Trong bất cứ giai đoạn nào, thời kỳ nào cũng như trong bất cứ cơ quan nào công tác cán bộ cũng là vấn đề hàng đầu và giữ một vai trò trọng yếu, nó có ý nghĩa quyết định đến sự thành bại trong đường lối phát triển và tổ chức thực hiện đường lối chính sách của Đảng
Xã, phường, thị trấn là đơn vị hành chính cấp cơ sở, nơi thể hiện trực tiếp và cụ thể các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Vì vậy, việc chăm
lo xây dựng đội ngũ cán bộ ở xã, phường, thị trấn, nhất là đội ngũ cán bộ chủ chốt có
đủ phẩm chất, năng lực là nhiệm vụ thường xuyên, có ý nghĩa hết sức quan trọng, cả trước mắt cũng như lâu dài trong sự nghiệp cách mạng của Đảng Nâng cao chất lượng cán bộ cho phát triển nông nghiệp, nông thôn cho đội ngũ cán bộ cơ sở là một trong những chính sách có ý nghĩa vô cùng quan trọng của Đảng và Nhà nước trong quá trình đổi mới nhằm nâng cao hiệu quả của việc phát triển nông nghiệp, nông thôn hiện nay
Thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, nhiều địa phương trong cả nước đã và đang thực hiện các chương trình quy hoạch đào tạo nâng cao kiến thức cho cán bộ cơ sở Việc làm đó đã trực tiếp góp phần nâng cao kiến thức
Trang 12toàn diện cho cán bộ phát triển nông nghiệp, nông thôn nhằm đáp ứng yêu cầu của thời
kỳ đổi mới (Nghị quyết VII - BCH TW khoá X)
Trong thực tế, hàng năm các địa phương vẫn thường xuyên tổ chức các lớp bồi dưỡng kiến thức, đào tạo cán bộ phục vụ cho phát triển nông nghiệp, nông thôn, phổ cập kiến thức cần thiết về phát triển nông nghiệp, nông thôn
Để nhận xét đánh giá về chất lượng cán bộ hiện tại được đánh giá trên cơ sở của nội dung, tiêu chí, chỉ tiêu khác nhau, như: Về học vấn; thâm niên và thời gian công tác; Về quy định số lượng cán bộ, công chức cấp xã phù hợp với nhiệm vụ cụ thể của chính quyền cấp cơ sở; Về chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức cơ sở; Về chất lượng tuyển dụng ban đầu, chất lượng quy hoạch cán bộ; Về đào tạo cán
bộ cơ bản và có hệ thống… Một trong những nội dung quan trọng để đánh giá đúng, đầy đủ chất lượng cán bộ cơ sở đó là đào tạo Đối với cấp cơ sở việc đào tạo hiện nay chủ yếu các học viên được đào tạo qua các lớp bồi dưỡng phần lớn thu nhận được nhiều kiến thức phục vụ cho công việc của mình Tuy nhiên việc đào tạo cán bộ cơ sở vẫn còn nhiều vấn đề bất cập như: Đào tạo còn mang tính hình thức, phong trào, việc đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ còn chắp vá, chỉ hoàn thành kế hoạch về chỉ tiêu
số lượng còn mặt chất lượng bồi dưỡng chưa chú trọng, chưa được quan tâm đúng mức; phương thức bồi dưỡng chưa được đổi mới nhiều, đặc biệt với cách tiếp cận mới Phương pháp truyền đạt còn nặng về độc thoại; cập nhật kiến thức không thường xuyên; Cơ sở vật chất, phương tiện, tài liệu học tập ở nhiều địa phương còn thiếu thốn và chuẩn bị chưa được chu đáo, chưa đáp ứng được yêu cầu dạy và học…
Chúng ta đang bước vào thời kỳ phát triển mới - Đẩy mạnh CNH - HĐH đất nước phấn đấu năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp: Để thực hiện nhiệm vụ đó Hội nghị lần thứ 7 BCH TW khóa X đã ra Nghị quyết về nông nghiệp, nông dân và nông thôn Để thực hiện thắng lợi nghị quyết này, yêu cầu đặt ra là xây dựng và phát triển một đội ngũ cán bộ, công chức có đủ năng lực và phẩm chất đạo đức Đồng thời để triển khai Nghị định số 92/2009/NĐ – CP, vấn đề đánh giá thực trạng, chất lượng đội ngũ cán bộ công chức cấp xã, cơ cấu và tình hình sử dụng là rất cấp thiết Việc đánh giá này sẽ làm cơ sở cho các cấp lãnh đạo đưa ra định hướng và giải pháp
Trang 13cụ thể nhằm bố trí, sử dụng hợp lý, có giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới
Xuất phát từ một nền nông nghiệp truyền thống lâu đời, huyện Chương Mỹ thành phố Hà Nội không ngừng phát triển, góp phần chung cùng các huyện, thị xã, thành phố đã và đang tạo ra bước ngoặt mới, tạo nền tảng vững chắc để thành phố Hà Nội phấn đấu trở thành một thành phố công nghiệp vào năm 2015 Trong giai đoạn đẩy nhanh, đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước hiện nay, vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn còn bộc lộ nhiều bất cập Một trong những nguyên nhân chính dẫn đến những bất cập đó là năng lực lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện của hệ thống chính trị còn chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển Khả năng tham mưu, đề xuất, cụ thể hoá chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và của thành phố ở một số cơ sở còn yếu; nhận thức của các cấp, các ngành đối với nông nghiệp, nông dân, nông thôn còn hạn chế, bệnh quan liêu, xa dân có biểu hiện tăng Một số cơ chế, chính sách thực hiện thiếu nhất quán, thiếu đồng bộ Đặc biệt là đội ngũ cán bộ cơ sở còn thiếu năng lực cũng như chuyên môn về nông nghiệp, nông dân, nông thôn
Xuất phát từ thực tế trên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ cấp cơ sở tại huyện Chương
Mỹ, thành phố Hà Nội”, góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ cấp cơ sở tại
huyện Chương Mỹ nói riêng, và toàn TP Hà Nội nói chung
2 Mục tiêu của đề tài
2.1 Mục tiêu tổng quát
Trên cơ sở phân tích thực trạng đội ngũ cán bộ cơ sở xã của huyện Chương
Mỹ, luận văn sẽ đề xuất giải pháp góp phần nâng cao chất lượng cho đội ngũ này trên địa bàn nghiên cứu
Trang 14- Đề xuất được định hướng và giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ cấp xã nhằm triển khai thực hiện tốt Nghị Quyết VII- BCH TW khoá X
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là cán bộ cơ sở cấp xã, (19 - 25 chức danh cán bộ, công chức cấp xã) được hưởng lương Ngân sách, theo tinh thần của NĐ 92/2009/NĐCP “về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với CBCC ở
xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã”
3.2 Phạm vi nghiên cứu
* Phạm vi nội dung
Những nội dung nghiên cứu tập trung vào đánh giá thực trạng đội ngũ cán bộ
cơ sở cấp xã về số lượng, chất lượng cán bộ công chức cấp xã Trên cơ sở đánh giá, phân tích đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng cán bộ cơ sở cấp xã huyện Chương
Trang 151.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Một số khái niệm và quan điểm cơ bản về cán bộ và công tác cán bộ
+ Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê Nin về cán bộ và công tác cán bộ
Lý luận cũng như thực tiễn đã chứng minh trong sự nghiệp cách mạng cũng như trong xây dựng Đảng vấn đề cán bộ bao giờ cũng giữ vị trí đặc biệt quan trọng Mác - Ăng ghen và Lê Nin đã khẳng định vai trò đặc biệt quan trọng của cán bộ đối với việc nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng và với thành công của sự nghiệp cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng Các Mác cho rằng: “Muốn thực hiện tư tưởng thì phải có những con người sử dụng lực lượng thực tiễn”[17]
Bất kỳ một giai cấp nào trong lịch sử, muốn trở thành giai cấp lãnh đạo xã hội cũng phải đào tạo đội ngũ cán bộ tiêu biểu cho giai cấp của mình Lê Nin chỉ rõ
“Trong lịch sử chưa hề có một giai cấp nào giành được quyền thống trị, nếu nó không đào tạo ra được trong hàng ngũ của mình những lãnh tụ chính trị, những đại biểu tiên phong có đủ khả năng tổ chức lãnh đạo phong trào” sau này khi đã giành được chính quyền lãnh đạo công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc, đội ngũ cán
bộ lại càng có vị trí quan trọng Lê Nin nhấn mạnh, nếu không có đội ngũ cán bộ tốt
“thì tất cả mọi mệnh lệnh và quyết định sẽ chỉ là mớ giấy lộn”
+ Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán bộ
Hồ Chí Minh trong suốt quá trình hoạt động cách mạng đã giành rất nhiều thời gian, tâm trí quan tâm đến công tác cán bộ, quy hoạch, bố trí, sử dụng, đào tạo bồi dưỡng cán bộ, Người dạy rằng: “Cán bộ là gốc của mọi công việc”, “công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”[17] Quan điểm cách mạng và khoa học của Bác Hồ về cán bộ và công tác cán bộ là những vấn đề có tính lý luận, đúc kết qua thực tiễn vừa thể hiện những nguyên tắc cơ bản của Đảng, chứa đựng truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam Bác Hồ ví cán bộ như một mắt xích, một bộ phận của
cỗ máy, nếu mắt xích hoặc bộ phận nào của cỗ máy mà không tốt thì bộ máy đó ọc ạch hoạt động kém hiệu quả Cán bộ là tế bào, là hạt nhân cách mạng của Đảng, là cầu nối giữa Đảng với nhân dân, “Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng
Trang 16và Nhà nước giải thích cho dân hiểu và thi hành, đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo với Đảng và Nhà nước hiểu rõ để đặt chính sách cho đúng”[18]
Bác Hồ rất quan tâm đến công tác đào tạo, bồi dưỡng sử dụng và đề bạt cán
bộ Công tác cán bộ có vai trò rất quan trọng, nó tạo nên đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của từng thời kỳ cách mạng Công tác cán bộ của Đảng gồm nhiều công việc, có thể gọi mỗi công việc là một phần của công tác cán bộ Trong tác phẩm
“sửa đổi lối làm việc”Bác chỉ ra rằng công tác cán bộ gồm những công việc chủ yếu như: Huấn luyện cán bộ; dạy cán bộ và dùng cán bộ; lựa chọn cán bộ, cách đối với cán bộ; chính sách cán bộ Theo Bác Hồ, công tác “Huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng” và Bác rất quan tâm đến tiêu chuẩn cán bộ, theo Bác người cán bộ phải có đức, có tài, “có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó, có tài mà không có đức là người vô dụng”, phẩm chất đạo đức và năng lực công tác không thể thiếu mặt nào Đảng ta muốn có đội ngũ cán bộ tốt phải đào tạo, huấn luyện để cán
bộ có lòng trung thành với sự nghiệp cách mạng, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao,
có mối quan hệ chặt chẽ với quần chúng nhân dân, có tinh thần tập thể, có ý thức kỷ luật và phải thể hiện ở các mặt cần kiệm, liêm chính, chí công, vô tư Bác Hồ chỉ ra rằng công tác đào tạo cán bộ phải làm thường xuyên, liên tục và lâu dài, không phải chỉ làm vài ba tháng hoặc vài ba năm
+ Quan điểm của Đảng ta về cán bộ và công tác cán bộ
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX và lần thứ X đã chỉ rõ: Mục tiêu của công tác cán bộ là xây dựng được đội ngũ cán bộ đồng bộ và có chất lượng mà nòng cốt là đội ngũ cán bộ chủ chốt của các ngành, các cấp ở cơ sở Một trong những tiêu chuẩn của đội ngũ cán bộ hiện nay là phải có kiến thức, có phẩm chất đạo đức tốt, có năng lực tổ chức tốt các khâu công việc trong công cuộc đổi mới, có tinh thần học tập để không ngừng nâng cao trình độ lý luận, trình độ chuyên môn, nhất là đội ngũ cán bộ
cơ sở ở chi bộ Đảng
Nghị quyết hội nghị lần thứ V ban chấp hành Trung ương khoá IX về đổi mới
và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở xã, phường, thị trấn đã chỉ rõ mục tiêu công tác cán bộ là “Xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở có năng lực tổ chức và vận động
Trang 17nhân dân thực hiện đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước công tâm, thạo việc, tận tuỵ với dân, biết phát huy sức dân, không tham nhũng, không ức hiếp dân, trẻ hoá đội ngũ, chăm lo công tác đào tạo, bồi dưỡng, giải quyết hợp lý đồng
bộ chính sách đối với cán bộ cơ sở”[20]
Cán bộ trong giai đoạn cách mạng mới phải là người có phẩm chất chính trị tốt, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, hết lòng phấn đấu vì lợi ích của nhân dân, của dân tộc; có bản lĩnh chính trị vững vàng không dao động trước những khó khăn, thử thách; có năng lực hoàn thành nhiệm vụ được giao; có nhân cách và lối sống mẫu mực, trong sáng; có ý thức tổ chức kỷ luật cao, tôn trọng tập thể, gắn bó với nhân dân
Để làm tốt công tác cán bộ trong chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, đối với cấp uỷ cơ sở muốn xây dựng đội ngũ cán
bộ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của cơ sở của mình trong thời kỳ này, cần quán triệt tốt
các quan điểm Đảng đó là:
Một là: Xây dựng đội ngũ cán bộ phải xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ của thời
kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, vững bước tiến lên chủ nghĩa
xã hội
Thứ hai: Quán triệt quan điểm giai cấp công nhân của Đảng, phát huy truyền
thống yêu nước và đoàn kết dân tộc
Thứ ba: Gắn việc xây dựng đội ngũ cán bộ với xây dựng tổ chức và đổi mới
cơ chế, chính sách
Thứ tư: Thông qua hoạt động thực tiễn và phong trào cách mạng của nhân
dân, nâng cao trình độ dân trí để tuyển chọn, giáo dục, rèn luyện, bồi dưỡng cán bộ
Thứ năm: Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ
theo nguyên tắc tập trung dân chủ, đồng thời phát huy trách nhiệm của các tổ chức thành viên trong hệ thống chính trị
* Quan niệm về cán bộ chủ chốt
Trang 18Hiện nay đang có nhiều quan niệm khác nhau về cán bộ chủ chốt Để nhận thức đầy đủ và đúng đắn vấn đề này, cần làm rõ một số khái niệm sau đây:
- Công vụ: Công vụ là một loại hoạt động mang tính quyền lực và pháp lý
được thực thi bởi đội ngũ công chức thực hiện các chức năng của Nhà nước trong quá trình quản lý mọi mặt của đời sống xã hội
- Cán bộ: Theo cuốn Đại từ điển tiếng Việt do Nguyễn Như Ý chủ biên thì: "Cán
bộ: dt.1 Người làm việc trong cơ quan nhà nước - cán bộ nhà nước 2 Người giữ chức vụ, phân biệt với người bình thường, không giữ chức vụ trong các cơ quan, tổ chức nhà nước" [21]
Từ những định nghĩa nêu trên, có thể hiểu "cán bộ" là khái niệm dùng để chỉ những người ở trong cơ cấu của một tổ chức nhất định, có trọng trách hoàn thành nhiệm vụ theo chức năng được tổ chức đó phân công
Như vậy, có nhiều quan niệm về cán bộ, nhưng tựu trung lại, có hai cách hiểu
cơ bản:
Một là, cán bộ bao gồm những người trong biên chế nhà nước, làm việc
trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, đoàn thể chính trị xã hội, các doanh nghiệp nhà nước và các lực lượng vũ trang nhân dân từ Trung ương đến địa phương và cơ sở
Hai là, cán bộ là những người giữ chức vụ trong một cơ quan hay một tổ
chức để phân biệt với người không có chức vụ
Từ những khái niệm về cán bộ nêu trên cho thấy, người cán bộ có bốn đặc trưng cơ bản:
+ Cán bộ được sự ủy nhiệm của Đảng, Nhà nước và các tổ chức khác trong
hệ thống chính trị lấy danh nghĩa của các tổ chức đó để hoạt động
+ Cán bộ giữ một chức vụ, một trọng trách nào đó trong một tổ chức của hệ thống chính trị
+ Cán bộ phải thông qua tuyển chọn hay phân công công tác sau khi hoàn thành chương trình đào tạo tại các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, dạy nghề; cán bộ được bổ nhiệm, đề bạt hoặc bầu cử
Trang 19+ Cán bộ được hưởng lương và chính sách đãi ngộ căn cứ vào nội dung, chất lượng hoạt động và thời gian công tác của họ
Như vậy, hiểu theo nghĩa chung nhất, cán bộ là người lãnh đạo, quản lý hoặc người làm chuyên môn, nhà khoa học hay công chức, viên chức làm việc, hưởng lương từ ngân sách nhà nước hoặc từ các nguồn khác Họ được hình thành từ tuyển dụng, phân công công tác sau khi tốt nghiệp ra trường, từ bổ nhiệm, đề bạt hoặc bầu
Từ những nội dung trình bày nêu trên, có thể hiểu "cán bộ chủ chốt" là người
có chức vụ, nắm giữ các vị trí quan trọng, có tác dụng làm nòng cốt trong các tổ chức thuộc hệ thống bộ máy của một cấp nhất định; người được giao đảm đương các nhiệm vụ quan trọng để lãnh đạo, quản lý, điều hành bộ máy thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao; chịu trách nhiệm trước cấp trên và cấp mình về lĩnh vực công tác được giao
Cán bộ chủ chốt có những đặc trưng cơ bản như sau:
+ Cán bộ chủ chốt là người có vị trí quan trọng, giữ vai trò quyết định trong việc xác định phương hướng, mục tiêu, phương pháp công tác; đề ra các quyết định
và tổ chức thực hiện tốt các quyết định của cấp mình hoặc cấp trên giao Kiểm tra, giám sát, kịp thời chấn chỉnh, uốn nắn những biểu hiện lệch lạc; bổ sung, điều chỉnh kịp thời những giải pháp mới khi cần thiết; đúc rút kinh nghiệm, tổng kết thực tiễn để bổ sung, hoàn chỉnh lý luận Đồng thời, cán bộ chủ chốt còn là người giữ vai trò đoàn kết, tập hợp, phát huy sức mạnh của quần chúng thực hiện nhiệm vụ chính trị của đơn vị và xây dựng nội bộ tổ chức vững mạnh
+ Cán bộ chủ chốt là những người đại diện một tổ chức, một tập thể chủ yếu
do bổ nhiệm hoặc bầu cử, giữ một chức vụ trọng yếu trong cơ quan Đảng, chính quyền (cấp trưởng, cấp phó); trưởng các đoàn thể và là những người chịu trách nhiệm
Trang 20trước cấp trên và cấp mình về mọi hoạt động của địa phương, đơn vị hoặc lĩnh vực công tác được đảm nhận
Từ nhận thức đó, đặc biệt nhằm triển khai thực hiện tốt chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, triển khai thực hiện tốt Nghị quyết VII BCH TW khoá X nhằm phát triển kinh tế - xã hội; Nghị định 114/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 của Chính phủ về cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn; Quyết định 04/2004/QĐ-BNV ngày 16/1/2004 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ về tiêu chuẩn đối với CBCC xã, phường, thị trấn; trong quá trình nghiên cứu, tác giả luận văn đề cập đến đội ngũ cán bộ chủ chốt của hệ thống chính trị cấp xã ở huyện Chương Mỹ bao gồm 19 chức danh: Cán
bộ cấp xã bao gồm các chức vụ: Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy; Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND, UBND; Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam; Bí thư Đoàn TNCSHCM; Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam Công chức cấp xã gồm các chức danh: Trưởng Công an; Chỉ huy trưởng Quân sự; Văn phòng - thống kê; Địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn); Địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường (đối với xã); Tài chính – kế toán; Tư pháp - hộ tịch; Văn hóa - xã hội
* Cán bộ, công chức
Cán bộ, công chức: Theo Điều 4 Luật số: 22/2008/QH12 Luật cán bộ công
chức được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ
4 thông qua ngày 13 tháng 11 năm 2008 quy định:
1 Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức
vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước,
tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước
2 Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân
Trang 21quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan,
hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật
3 Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân,
Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội; công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước
* Tiêu chuẩn đối với cán bộ, công chức cấp xã
Theo điều 6 chương 2 Nghị định Số : 114 /2003/NĐ-CP của Chính phủ ngày
10 tháng 10 năm 2003 quy định tiêu chuẩn đối với cán bộ, công chức xã, phường, thị
trấn ban hành kèm theo Quyết định số 04/2004/QĐ-BNV ngày 16 tháng 01 năm 2004 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ quy định:
- Tiêu chuẩn chung
Cán bộ, công chức cấp xã phải đáp ứng những yêu cầu sau:
+ Có tinh thần yêu nước sâu sắc, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và của xã hội; có năng lực tổ chức vận động nhân dân thực hiện có kết quả đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước ở địa phương
+ Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, công tâm, thạo việc, tận tuỵ với dân Không tham nhũng và kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng Có ý thức kỷ luật trong công tác Trung thực, không cơ hội, gắn bó mật thiết với nhân dân, được nhân dân tín nhiệm
Trang 22+ Có trình độ hiểu biết về lý luận chính trị, quan điểm đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; có trình độ học vấn, chuyên môn, đủ năng lực
và sức khoẻ để làm việc có hiệu quả đáp ứng nhu cầu và nhiệm vụ được giao
- Tiêu chuẩn cụ thể của cán bộ, công chức cấp xã là căn cứ để các địa phương thực hiện việc quy hoạch, kế hoạch: bầu cử, tuyển dụng, sử dụng đào tạo, bồi dưỡng, xếp lương, nâng bậc lương và các chế độ, chính sách khác
Các tiêu chuẩn cụ thể đối với từng cán bộ chuyên trách và cán bộ công chức cấp xã đã được quy định tiêu chuẩn cụ thể tại quy định này
* Những yếu tố ảnh hưởng đến đội ngũ cán bộ cơ sở cấp xã
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến đội ngũ cán bộ cơ sở trong đó có những yếu tố chính là:
Thứ nhất: Các yếu tố ảnh hưởng đến số lượng
+ Dân số: Dân số của mỗi địa phương liên quan đến nhiều mặt của hoạt động kinh tế - xã hội của địa phương đó như vậy cũng ảnh hưởng tới công tác quản lý của cán bộ cơ sở
+ Đặc điểm của địa phương: Nếu địa phương là xã, phường, thị trấn ở vùng đồng bằng, miền núi, vùng cao, vùng sâu, vùng xã, hải đảo cũng được quy định số lượng cán bộ cơ sở là khác nhau
Theo Nghị định số 121/2003/NĐ-CP quy định số lượng cán bộ chuyên trách, công chức cấp xã như sau:
1 Đối với xã đồng bằng, phường và thị trấn:
- Dưới 10.000 dân được bố trí không quá 19 cán bộ, công chức;
- Từ 10.000 dân trở lên, cứ thêm 3000 dân được bố trí thêm 01 cán bộ, công chức, nhưng tối đa không quá 25 cán bộ, công chức
2 Đối với xã miền núi, vùng cao, vùng sâu, vùng xa, hải đảo:
- Dưới 1.000 dân được bố trí không quá 17 cán bộ, công chức;
- Từ 1.000 dân đến 5.000 dân được bố trí không quá 19 cán bộ công chức;
- Từ 5000 dân trở lên, cứ thêm 1500 dân được bố trí thêm 1 cán bộ, công chức nhưng tối đa không quá 05 cán bộ, công chức
Trang 23Không chỉ căn cứ vào quy mô dân số như Nghị định 121/2003/NĐ-CP ngày 21/10/2003 của Chính phủ, số lượng cán bộ công chức cấp xã Theo điều 4, mục 1 chương II của NĐ 92/2009/NĐCP ngày 22/10/2009 quy định Số lượng cán bộ, công chức cấp xã được bố trí theo loại đơn vị hành chính cấp xã; cụ thể như sau:
a) Cấp xã loại 1: không quá 25 người;
b) Cấp xã loại 2: không quá 23 người;
c) Cấp xã loại 3: không quá 21 người
Việc xếp loại đơn vị hành chính cấp xã thực hiện theo quy định tại Nghị định này về việc phân loại đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn
Thứ hai: Sự phát triển của giáo dục đào tạo
Nếu giáo dục đào tạo phát triển thì số lượng nguồn lao động có trình độ tăng lên cùng với nó là chất lượng nguồn lao động cũng tăng lên do vậy mà chất lượng đội ngũ cán bộ cơ sở cũng được tăng lên
Thứ ba: Sự phát triển của nền kinh tế - xã hội
Nền kinh tế - xã hội có phát triển thì điều kiện được học tập nâng lên do vậy chất lượng nguồn lao động được cải thiện theo đó chất lượng của đội ngũ cán bộ cơ
sở cũng tăng lên
Thứ tư : Chính sách thu hút người tài
Nếu địa phương nào có chính sách thu hút người tài về làm việc tại địa phương tốt thì chất lượng cán bộ của địa phương đó cũng được nâng lên
Thứ năm: Quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cơ sở
Đây là khâu quan trọng khắc phục tình trạng bồi dưỡng phân tán, tự phát tuỳ tiện, tránh được sự lãng phí của sức người, sức của, thời gian Quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ tốt sẽ nâng cao được chất lượng bồi dưỡng cán bộ cơ sở
Thứ sáu: Điều kiện của các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cơ sở
Điều kiện của cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ bao gồm điều kiện cơ sở vật chất, giảng viên, Nếu điều kiện của các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cơ sở tốt sẽ tạo điều kiện nâng cao chất lượng của cán bộ cơ sở
1.1.2 Vai trò đội ngũ cán bộ cơ sở cấp xã, phường
Trang 24Để phát triển kinh tế - xã hội đất nước nói chung và phát triển nông nghiệp, nông thôn nói riêng không thể thiếu đội ngũ cán bộ quản lý Nhà nước từ cấp trung ương đến cấp cơ sở Cán bộ cấp cơ sở là cầu nối giữa các cơ quan của Đảng, chính quyền các cơ quan chỉ đạo sản xuất và các tổ chức quần chúng với người dân trong
xã, phường, thị trấn Cán bộ cơ sở là những người gần dân nhất, là những người trực tiếp tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đến với nhân dân, đồng thời tham mưu cho cấp trên về mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, biến tinh thần của các chủ chương, chính sách đó thành hành động quần chúng, làm cho quần chúng hiểu và tổ chức quần chúng thực hiện tốt các chủ chương, chính sách đó Như vậy nhiệm vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn không thể thiếu đội ngũ cán bộ cơ sở cấp xã· trực tiếp thực hiện triển khai các chủ chương, chính sách Các chương trình phát triển nông nghiệp, nông thôn tại địa phương mình
Lịch sử phát triển của làng, xã Việt Nam từ trước đến nay cho thấy, để quản lý làng xã, chính quyền nhà nước trung ương bao giờ cũng nắm rất chắc các chức sắc chủ chốt trong xã Thông qua các chức sắc chủ chốt này để thực hiện quyền quản lý, cai trị của chính quyền cấp trên đối với cấp xã Chính quyền cấp trên có nắm và quản
lý, vươn tới được cơ sở hay không phụ thuộc vào việc có nắm được các chức sắc chủ chốt của xã hay không Cũng chính vì vậy chính quyền cấp trên thường rất quan tâm đến đội ngũ cán bộ cấp xã, đặc biệt là các chức danh chủ chốt trong việc tuyển dụng,
bổ nhiệm và đặt ra chế độ, chính sách đãi ngộ, thưởng, phạt Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã nói ''cán bộ là gốc của mọi công việc… công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay xấu"
Bất kỳ lúc nào và ở đâu, vai trò của đội ngũ CBCC cũng rất quan trọng đối với sự nghiệp cách mạng Trong giai đoạn hiện nay, vai trò của CBCC càng đặc biệt quan trọng Vai trò của đội ngũ CBCC trong HTCT cấp xã được thể hiện ở những điểm sau:
- Đội ngũ CBCC của HTCT cấp xã, phải có vai trò quyết định trong việc triển khai tổ chức thực hiện thắng lợi các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước tại cơ sở Là những người giữ vai trò trụ cột, có tác dụng chi phối mọi
Trang 25hoạt động tại cơ sở CBCC cấp xã không những phải nắm vững đường lối, chủ trương, chính sách của các tổ chức Đảng, Nhà nước, đoàn thể cấp trên để tuyên truyền, phổ biến, dẫn dắt, tổ chức cho quần chúng thực hiện mà còn phải am hiểu sâu sắc đặc điểm, tình hình của địa phương để đề ra những nhiệm vụ, giải pháp cụ thể hóa đường lối, chủ trương chính sách ấy cho phù hợp với điều kiện đặc thù của cơ sở
- Đội ngũ CBCC của HTCT cấp xã, phải là những người trực tiếp gần gũi, gắn bó với nhân dân, sống, làm việc và hàng ngày có mối quan hệ chặt chẽ với dân
Họ thường xuyên lắng nghe, tham khảo ý kiến của nhân dân Trong quá trình triển khai, vận động, dẫn dắt nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, họ tạo ra cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân Thông qua họ
mà ý Đảng, lòng dân tạo thành một khối thống nhất, làm cho Đảng, Nhà nước "ăn sâu, bám rễ" trong quần chúng, tạo nên quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ Như vậy, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước có đi vào cuộc sống, trở thành hiện thực sinh động hay không, tùy thuộc phần lớn vào sự tuyên truyền và tổ chức vận động nhân dân thực hiện của đội ngũ CBCC và HTCT cấp xã,
Nhưng ở nước ta đội ngũ cán bộ còn có nhiều hạn chế nhất là năng lực của cán bộ đặc biệt là cán bộ cấp cơ sở Vì vậy nâng cao năng lực của bộ máy quản lý Nhà nước
là nội dung then chốt và chiến lược để tạo nên cục diện phát triển mới Nội dung này đòi hỏi quyết sách táo bạo và đồng bộ trên cả ba mặt: Phát triển nguồn nhân lực, tăng cường tổ chức và cải cách thể chế luật pháp
Trang 261.1.3 Đặc điểm của đội ngũ cán bộ cơ sở cấp xã, thị trấn
Đội ngũ CBCC xã, thị trấn (cấp xã) là đội ngũ gần dân nhất, là cầu nối giữa Đảng với dân Đội ngũ này có vị trí, vai trò hết sức quan trọng vừa phải thực thi các chủ trương chính sách, pháp luật từ cấp trên, vừa phản ánh nguyện vọng của quần chúng nhân dân đến với cấp trên, đồng thời cán bộ cấp xã phải giải quyết các công việc hàng ngày có tính chất quản lý, tự quản mọi mặt ở địa phương Trong quá trình thực thi nhiệm vụ, cán bộ, công chức cấp xã phải chịu sự giám sát trực tiếp, hàng ngày của dân dân Cơ bản đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã vững vàng về chính trị,
có đạo đức trong sạch về lối sống, có trí tuệ, kiến thức và trình độ năng lực để thực hiện các nhiệm vụ được giao, góp phần khẳng định vai trò là hạt nhân lãnh đạo toàn diện các mặt công tác ở cơ sở; khơi dậy được nguồn lực của nhân dân, nâng cao trình
độ dân sinh, dân trí, dân chủ ở cơ sở, đời sống nhân dân được nâng lên đáng kể, góp phần to lớn vào sự nghiệp phát triển kinh tế- xã hội, xây dựng Đảng, chính quyền, đảm bảo an ninh, chính trị, quốc phòng ở các địa phương
Bên cạnh đó, do hiện nay phần lớn đội ngũ cán bộ cấp cơ sở của nước ta được lấy từ nhiều nguồn khác nhau nên trình độ học vấn, trình độ chuyên môn không đảm bảo vì nhiều trường hợp trưởng thành đều tìm cách thoát ly khỏi địa phương, hoặc họ không muốn làm việc trong hệ thống chính quyền cấp xã Do vậy cán bộ cơ sở chủ yếu làm việc theo kinh nghiệm là chính, lâu ngày kiến thức phổ thông bị rơi rụng, kiến thức chuyên môn của cán bộ được bồi dưỡng mang tính chắp nhặt… nên hạn
chế tầm nhìn chiến lược về phát triển nông nghiệp, nông thôn đối với địa phương
Đội ngũ cán bộ cơ sở cấp xã, phường không có nhiều sự lựa chọn, đại bộ phận trưởng thành từ thực tiễn công tác, không được đào tạo cơ bản và hệ thống Vì vậy, trình độ tổng hợp, kiến thức lý luận chính trị còn thấp, kiến thức về kinh tế còn non kém, hạn chế đến tính năng động và tầm nhìn trong quá trình đổi mới
Mặt khác, trình độ của phần lớn cán bộ cơ sở chưa cập nhật với yêu cầu, nói nhiều, làm ít, sợ trách nhiệm; thiếu những người có đủ năng lực trình độ để đảm đương nhiệm vụ, tâm huyết, dám nghĩ dám làm, dám chịu trách nhiệm không đảm
Trang 27bảo yêu cầu trong thời kỳ công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước nói chung và yêu cầu phát triển nông nghiệp, nông thôn nói riêng
Đội ngũ cán bộ cơ sở hiện nay thì cán bộ chuyên trách là do dân bầu cử, còn cán bộ công chức là do được tuyển dụng, phân công Cán bộ làm việc theo nhiệm kỳ nên kinh nghiệm chuyên sâu còn thấp vì ở mỗi chức vụ cán bộ cơ sở phải tham gia học tập những lớp bồi dưỡng phù hợp với chức vụ của mình
1.1.4 Vai trò của việc bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cơ sở
Phát triển nông nghiệp, nông thôn là một vấn đề phức tạp, rộng lớn đòi hỏi sự tham gia và đóng góp của toàn dân, và các tổ chức cùng với sự hỗ trợ của Nhà nước Các cơ quan chính quyền từ thành phố đến cơ sở trực tiếp quản lý và điều hành các hoạt động phát triển kinh tế xã hội tại địa phương Đối với phát triển nông nghiệp, nông thôn các cơ quan này có vai trò xây dựng và triển khai các chương trình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương; Quy hoạch triển khai kinh tế xã hội, quy hoạch phân
bổ sử dụng đất cho các mục đích phát triển nông nghiệp và các mục đích khác; Quản lý các hệ thống DV của Nhà nước trên địa bàn,… Như vậy nếu như trình độ của cán bộ đặc biệt là cán bộ cơ sở nông thôn yếu kém không đáp ứng được yêu cầu của công việc
sẽ ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng công việc gây ảnh hưởng tới người dân ở nông thôn
Đặc biệt trong quá trình CNH – HĐH nông nghiệp, nông thôn thì một đội ngũ cán bộ cấp cơ sở có đủ trình độ chuyên môn và năng lực công tác sẽ giúp cho quá trình CNH – HĐH nông nghiệp, nông thôn tại địa phương đạt được hiệu quả cao nhất Tuy nhiên, hiện nay cán bộ cấp cơ sở còn có nhiều hạn chế về năng lực chuyên môn nghiệp vụ, tiếp dân nhiều, cán bộ nói nhiều, làm ít, sợ trách nhiệm, thiếu những người đủ năng lực trình độ đảm đương được nhiệm vụ, tâm huyết, dám nghĩ dám làm, dám chịu trách nhiệm do vậy việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cơ sở nông thôn là rất quan trọng giúp nâng cao cả về trình độ chuyên môn là năng lực công tác
Đối với Việt Nam, cán bộ cơ sở nông thôn là người trực tiếp cuối cùng chỉ đạo thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; các chương trình dự án phát triển nông thôn Từ đó quyết định ứng xử trong giải quyết công việc của cán bộ
Trang 28cơ sở nông thôn chi phối rất lớn đến việc ổn định và phát triển đời sống kinh tế, chính trị xã hội của mọi hoạt động tầng lớp dân cư nông thôn
Nắm được yêu cầu đó hội nghị Trung ương Đảng, khóa IX đã đề ra Nghị quyết "Về đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn"
Việc bồi dưỡng cán bộ cơ sở nông thôn rất cần thiết vì phần lớn những cán bộ này có trình độ văn hoá thấp, trình độ chuyên môn non yếu, không được đào tạo đến nơi đến trốn và công tác cán bộ, nhất là đối với cán bộ cơ sở còn nhiều bất cập
Mặt khác, ở Việt Nam hiện nay phần lớn cán bộ cấp cơ sở được lấy từ nhiều nguồn khác nhau, họ làm việc do kinh nghiệm là chính, đa số cán bộ có độ tuổi cao, trình độ học vấn không cao, trình độ chuyên môn còn yếu Do thiếu quy hoạch và công tác đào tạo cán bộ gặp nhiều khó khăn nên hội chứng bằng cấp hình thức là phổ biến, tính chuyên sâu thấp Cán bộ công chức chưa hẳn đã là những người có trình độ chuyên môn cao nhất nên “cái uy” thuyết phục của cán bộ chưa cao; đối với cán bộ chuyên trách tuy được đào tạo nhưng nhìn chung trình độ còn thấp và không đồng đều giữa các địa phương Phần lớn cán bộ là chủ gia đình nên bị chi phối ảnh hưởng nhiều của việc gia đình, thậm chí lấn át thời gian cho công việc chung
Chính vì vậy cần mở các lớp đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ cơ sở để nâng cao trình độ chuyên môn cũng như kỹ năng làm việc, giúp họ nhạy bén hơn, sáng tạo hơn trong công tác phục vụ phát triển kinh tế địa phương
1.1.5 Một số hình thức đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cấp cơ sở
- Đào tạo chính quy: Đây là hình thức đào tạo tập trung dài hạn theo chương
trình đào tạo chuẩn Đây là hình thức đào tạo có hệ thống Học viên khi tham gia khoá học theo hình thức này sẽ thu được kiến thức một cách bài bản Tuy nhiên hình thức này học trong thời gian dài nên không phù hợp với việc đào tạo cán bộ cấp cơ sở
vì học viên phải học tập trung tại trường trong khi đội ngũ cán bộ cấp cơ sở lại rất nhiều việc
Trang 29- Đào tạo tại chức: Đây là chương trình đào tạo không tập trung Hình thức
này thuận lợi hơn cho những người đã có thời gian làm việc hoặc phục vụ tại địa phương theo chương trình đào tạo chuẩn, không bao gồm Giáo dục thể chất
- Đào tạo chuyên tu (bồi dưỡng): Đây là chương trình đào tạo bán tập trung
dành cho nhu cầu chuẩn hóa, nâng cao trình độ Loại hình này khá phù hợp với cán
bộ cấp cơ sở vì trong công việc ở địa phương ít bị ảnh hưởng bởi thời gian học tập
- Tham quan: Đây là hình thức giúp cho học viên nâng cao trình độ của bản
thân nhanh chóng, học viên nhanh chóng tiếp thu được kiến thức, nhớ nhanh và vận dụng những kiến thức này vào thực tiễn tốt hơn
- Hội thảo: Đây là hình thức giúp học viên nâng cao kiến thức của mình thông
qua trao đổi thảo luận Học viên có thể học tập được kinh nghiệm của những học viên khác nhanh chóng Tuy nhiên hiện nay khi tham gia còn có nhiều cán bộ cấp cơ sở vẫn chưa thực sự tham gia nhiệt tình, đôi khi những buổi thảo luận như thế chỉ mang tính hình thức
- Học tập thông qua tài liệu: Đây là hình thức mà cán bộ cấp cơ sở có thể tự
nâng cao trình độ của mình qua việc tự nghiên cứu tài liệu phục vụ cho công tác của mình Hình thức này không làm mất nhiều thời gian gây ảnh hưởng tới công tác của cán bộ tại địa phương nhưng phương pháp này chỉ thực sự hiệu quả khi người cán bộ cấp cơ sở có ý thức tự rèn luyện, nghiên cứu tài liệu phục vụ cho công tác của bản thân
1.1.6 Các yếu tố ảnh hưởng tới công tác bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cơ sở
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng bồi dưỡng cán bộ cơ sở, GS.TS Phạm Vân Đình và cộng sự đã đưa ra những nhân tố trực tiếp tác động đến chất lượng bồi dưỡng cán bộ bao gồm:
- Chiến lược phát triển nguồn nhân lực: Đây là chiến lược đưa ra các quyết
định mang tính chiến lược trong công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ của đất nước và địa phương Chiến lược phát triển nguồn nhân lực sẽ tính đến nhu cầu (cả về số lượng
và chất lượng) cán bộ các loại trong từng thời kỳ, từ đó giúp cho công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ được thuận lợi, chủ động theo lộ trình định trước
Trang 30- Nhu cầu bồi dưỡng cán bộ từ các địa phương: Mỗi địa phương đều cần có
một đội ngũ cán bộ có đủ trình độ, năng lực để hoàn thành tốt nhiệm vụ Do vậy mỗi địa phương đều chú trọng đến công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Nếu như việc đào tạo và bồi dưỡng cán bộ xuất phát từ nhu cầu của mỗi địa phương, của mỗi cán bộ đương chức sẽ giúp cho công tác này có hiệu quả hơn
- Chương trình bồi dưỡng từ các cơ sở đào đạo: Các chương trình bồi dưỡng
từ các cơ sở đào tạo có phù hợp với nhu cầu học viên mới giúp học viên học có hứng thú hơn, tiếp thu bài giảng nhanh hơn, từ đó mà hiệu quả khoá học sẽ cao hơn
- Khả năng tiếp thu và tinh thần học tập của học viên: Nếu khả năng tiếp thu
và tinh thần học tập của của học viên nhanh sẽ giúp cho buổi học có hiệu quả hơn, giảng viên có điều kiện đưa vào nhiều kiến thức hơn, kiến thức được đưa xuống kỹ càng hơn, và sẽ có nhiều phương pháp giúp học viên phát huy được tính sáng tạo của bản thân Từ đó công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ đạt kết quả cao hơn
- Nguồn lực vật chất của cơ sở đào tạo bồi dưỡng cán bộ: Nếu như cơ sở đào
tạo bồi dưỡng cán bộ có đầy đủ các phương tiện, tiện nghi… cho việc học tập và giảng dạy giúp nâng cao hiệu quả giảng dạy từ đó giúp cho chất lượng đào tạo được nâng lên
- Năng lực của cơ sở bồi dưỡng cán bộ: Năng lực tổ chức của cơ sở đào tạo;
Năng lực giáo viên và khả năng huy động giáo viên
Một lớp bồi dưỡng cán bộ được tổ chức tốt sẽ giúp cho việc sử dụng nguồn lực có hiệu quả hơn; giảng viên giỏi sẽ phát huy được tính sáng tạo của học viên, sẽ tận dụng tốt các nguồn lực sẵn có làm cho giờ giảng có chất lượng và hiệu quả hơn Nếu như các cơ sở đào tạo bồi dưỡng cán bộ có thể huy động được nguồn giảng viên giỏi thì chất lượng học viên sẽ được nâng lên đáng kể
- Sự quan tâm của chính quyền và ban ngành các cấp: Đây là yếu tố khách
quan tác động đến chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Chính quyền và ban ngành
từ Trung ương đến địa phương quan tâm đến cả cơ sở đào tạo bồi dưỡng cán bộ và học viên giúp cho các cơ sở đào tạo có điều kiện tốt hơn để phục vụ công tác giảng dạy và học tập, giúp cho học viên có tinh thần thoải mái hơn khi tham gia học tập
Trang 311.1.7 Nội dung đánh giá, bồi dưỡng cán bộ cơ sở
Các kiến thức cần được bồi dưỡng cho cán bộ cơ sở: Bồi dưỡng, nâng cao kiến thức lý luận chính trị; chuyên môn; quản lý nhà nước, pháp luật; nghiệp vụ công tác đảng, Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể, tin học văn phòng nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở có phẩm chất chính trị vững vàng, có trình độ kiến thức đúng theo chức trách đảm nhiệm và năng lực thực hiện công vụ
Có thể đánh giá công tác bồi dưỡng cán bộ cơ sở qua
+ Nội dung mà cán bộ cơ sở được bồi dưỡng gồm: Kiến thức lý luận chính trị, quản lý Nhà nước, pháp luật, chuyên môn kỹ thuật, các thông tin, thời sự
+ Yêu cầu kiến thức đối với mỗi loại cán bộ chuyên trách, CBCC ở cơ sở
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Kinh nghiệm bồi dưỡng nguồn nhân lực và cán bộ cơ sở ở một số nước trên thế giới
Trong lịch sử phát triển của các nước trên thế giới, mỗi quốc gia khác nhau sẽ
có đường lối và bước đi của quá trình CNH-HĐH ở mỗi nước, mỗi khu vực khác nhau Song sự giống nhau về các nhân tố đó là là các nước đều quan tâm đến việc phát triển bồi dưỡng nguồn nhân lực, điều đó có nghĩa là thực hiện thành công sự phát triển kinh tế xã hội nhanh hay chậm ở mỗi nước Do đó, mỗi quốc gia phải có một chính sách về kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng – sử dụng đội ngũ cán bộ sao cho phù hợp tránh sự “đào tạo xong để đó” Trong khi đó những vùng núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo đang rất cần những cán bộ có trình độ khoa học kỹ thuật
Tuy nhiên, nghiên cứu tình hình phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia trên thế giới có thể đúc kết những kinh nghiệm quý báu, nắm bắt được những khía cạnh nào đó, để vận dụng vào điều kiện cụ thể như nước ta hoặc “Đi tắt đón đầu” tránh những sai lầm mà nước ta đã gặp phải, chắt lọc một cách khoa học vào quá trình phát triển kinh tế xã hội
Sự xuất hiện các nước khối NICS như Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore, Hồng Công nổi lên những cường quốc về các ngành công nghiệp nhất là trong lĩnh vực chế tạo điện tử Sự phát triển như vũ bão của khoa học và công nghệ, nhất là các ngành công nghệ thông tin, công nghệ sinh học vào những năm cuối của thế kỷ 20 ở các nước Tây Âu (Anh, Pháp, Đức…) và Mỹ, Nhật
Trang 321.2.1.1 Kinh nghiệm của Hàn Quốc
Với chiến lược trở thành một quốc gia hàng đầu thế giới trong những thập kỷ tới, Hàn Quốc cho rằng trước tiên phải xây dựng một chính phủ có tầm vóc hàng đầu, làm nền tảng cho nền kinh tế và xã hội vươn tới mục tiêu này Trong tuyển dụng và đánh giá cán bộ, Hàn Quốc đã đưa ra nhiều biện pháp để thú hút và trọng dụng người tài như “Tìm cán bộ giỏi từ mọi nguồn”, “Đánh giá định lượng”, và “Tuyển chọn công khai”
Đối với việc “Tìm cán bộ giỏi từ mọi nguồn”, Hàn Quốc xây dựng hệ thống
dữ liệu về nguồn cán bộ, trong đó các ứng viên tự ứng cử từ khu vực tư nhân chiếm trên 50% Mọi người dân trong nước cũng như kiều bào ở nước ngoài có thể ứng cử
để tham gia vào hồ sơ dữ liệu này, chức vụ ứng cử có thể tới vị trí Bộ trưởng
Một trang web với tên là samgochoryo “Tam cố thảo lư” (dựa theo tích Lưu
Bị ba lần đến cầu Khổng Minh ra giúp trong truyện Tam Quốc) đã được văn phòng Tổng thống Hàn Quốc Roh- moo-hyun lập ra để tiếp nhận tiến cử người tài của toàn
xã hội vào các vị trí cao trong Chính phủ
Đối với biện pháp “Đánh giá định lượng”, Chính phủ này tiếp tục truyền thống
từ thời Chính quyền Park Chung Hy, theo đó chất lượng hoạt động của các cơ quan
và các dự án được đánh giá rất khoa học và nghiêm ngặt Trong thời kỳ 1962-1982, Hàn Quốc lập ra Hội đồng các Giáo sư đánh giá để đánh giá định kỳ kết quả hoạt động của các bộ ngành và dự án lớn Những năm gần đây, Chính phủ này còn áp dụng các phương pháp hiện đại thông dụng trên thế giới về quản lý định lượng theo kết quả; đặc biệt chú trọng thăm dò sự thỏa mãn của nhân dân về chất lượng hoạt động của các Bộ Ngành Các cán bộ trung cao cấp cũng chịu sự đánh giá định lượng theo đinh kỳ để biết rõ điểm mạnh yếu của mình trong đáp ứng yêu cầu công tác
Đối với biện pháp “Tuyển chọn công khai”, Chính phủ nước này yêu cầu các
cơ quan chính phủ thông báo rộng rãi trên trang web của mình và thông tin đại chúng nhu cầu tuyển dụng và mở rộng cửa đón nhận ứng viên từ mọi nguồn
Hiện nay 3 nước Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản đang hợp tác chặt chẽ với nhau theo hiệp ước được ba bên ký kết với tên là “Sáng kiến Mạng lưới Quản lý Nhân sự Bắc Á” để học hỏi và trao đổi kinh nghiệm trong công tác quản lý cán bộ
1.2.1.2 Kinh nghiệm của Đài Loan
Trang 33Khi tiến hành CNH-HĐH để phát triển kinh tế - xã hội đất nước thì nguồn nhân lực chủ yếu chỉ có đất đai và lao động, bình quân đất đai trên đầu người thấp Công nghiệp hóa ở Đài Loan bắt đầu từ nông nghiệp Họ kết hợp chặt chẽ giữa nông nghiệp và công nghiệp, đồng thời phát triển công nghiệp ở cả thành thị và nông thôn Công nghiệp phân tán ở nông thôn có chính sách đầu tư và khuyến khích đội ngũ cán
bộ khoa học kỹ thuật ở khu vực này tạo điều kiện để kinh tế xã hội ở nông thôn có chính sách đầu tư và khuyến khích đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật ở khu vực này tạo điều kiện để kinh tế xã hội ở nông thôn phát triển Từ đó đã thu hút lực lượng lao động dư thừa làm cho nhiều hộ gia đình trở thành hộ vừa làm nông nghiệp vừa làm công nghiệp và dich vụ
Công nghiệp chế biến phát triển nhanh, tạo điều kiện tăng sản phẩm nông nghiệp và xuất khẩu Quá trình công nghiệp hóa nông nghiệp ở Đài Loan trước hết là quan tâm đến nguồn nhân lực đặc biệt là đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật có trình độ
bố trí sử dụng cán bộ ở những ngành trong nông thôn một cách hợp lý, thường xuyên quan tâm đến bồi dưỡng cán bộ khoa học kỹ thuật, tạo ra sự đột phá trong lĩnh vực công nghệ sinh học và công nghệ gen tạo ra giống cây trồng và vật nuôi làm cho năng suất tăng lên rõ rệt
1.2.1.3 Kinh nghiệm Singapo
Từ năm 1991 Chính phủ Singapo đã đề ra chương trình cải cách công vụ mang tên "Nền công vụ thế XXI" với mục tiêu là xây dựng nền công vụ có hiệu quả, hiệu lực; công chức nêu cao tinh thần liêm chính, tận tuỵ và có chất lượng dịch vụ cao Để làm được điều đó Chính phủ Singapo đặc biệt chú trọng cho đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức, coi đó là giải pháp cơ bản nhất để xây dựng nền công vụ có hiệu quả
Chính phủ này quy định, mỗi CBCC bắt buộc phải được bồi dưỡng 100 giờ/năm; Mỗi công chức phải tự đề ra chương trình học tập cho mình, trong đó có việc sử dụng 100 giờ học theo quy định, tối thiểu phải bảo đảm 60% thời lượng phục
vụ công việc trong cương vị hiện tại, 40% cho công việc tương lai Chính phủ Singapo qui định hỗ trợ 50% chi phí cho người tự học để phục vụ cho công việc đang đảm trách với mục đích khuyến khích việc tự đào tạo của cán bộ
Trang 341.2.1.4 Kinh nghiệm Nhật Bản
Trong quá trình hiện đại hoá đất nước, nền hành chính Nhật Bản đóng vai trò hết sức quan trọng vào quá trình hiện đại hoá đất nước Nhật Bản đã xây dựng được một đội ngũ công chức mạnh và có chất lượng cao
Vai trò của công chức được Nhật Bản đề cao không chỉ tạo cho họ sự an tâm
về nghề nghiệp, ổn định về chuyên môn mà còn khẳng định vị trí của họ trong xã hội
Vì vậy mà họ phải không ngừng tu dưỡng đạo đức và trau dồi chuyên môn của mình
Ở Nhật Bản có tới 64,8% công chức lựa chọn công việc vì lý do thích công việc đó; 57,5% cho là vì lợi ích chung và 42,6% cho là được sử dụng học vấn của mình Sự tôn vinh này không chỉ góp phần nâng cao tính kỷ luật, đạo đức nghề nghiệp của công chức mà điều quan trọng nhất là tạo nên đội ngũ công chức mạnh, hoạt động có hiệu quả cao
Về vấn đề đào tạo cán bộ, có hai giai đoạn đào tạo được thực hiện đối với tất
cả các công chức ở Nhật Bản: Đào tạo để có kinh nghiệm làm việc thông qua các cơ quan khác nhau ở trong và ngoài bộ; Và đào tạo ở các cấp khác nhau (mỗi năm khoảng 4-5 tuần) nhằm cập nhật những kiến thức mới về hành chính kinh tế, chính trị của Nhật Bản và thế giới Ngoài ra, ở cấp trưởng phòng trở lên còn có các lớp do Viện Nhân sự đứng ra tổ chức để giúp họ nắm bắt kịp thời tình hình mới và có dịp
mở rộng quan hệ trao đổi, hợp tác giữa các bộ
1.2.2 Thực trạng đào tạo nguồn nhân lực và cán bộ cơ sở ở Việt Nam
Mỗi quốc gia trong quá trình phát triển không thể thiếu sự đóng góp của nguồn nhân lực Chính vì vậy phát triển nguồn nhân lực chất lượng là mối quan tâm hàng đầu của mỗi quốc gia
Nước ta có một nguồn nhân lực dồi dào nhưng chất lượng còn thấp trong đó
số đông là nguồn nhân lực nông thôn Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng của đội ngũ cán bộ cơ sở nông thôn Nhận thấy được sự non yếu của đội ngũ cán bộ
cơ sở cho phát triển nông nghiệp, nông thôn; Đảng và Nhà nước đã rất chú trọng đến công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cơ sở Đến nay phần lớn đội ngũ cán bộ cấp cơ sở
đã có kinh nghiệm trong chỉ đạo, năng động sáng tạo hơn trong việc thực thi nhiệm
vụ Trình độ học vấn, chuyên môn nghiệp vụ và quản lý đang được nâng lên Tuy
Trang 35nhiên sự chênh lệch về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, quản lý của cán bộ lãnh đạo, đặc biệt là cán bộ cấp cơ sở giữa các vùng trong cả nước còn có sự chênh lệch Sự chênh lệch này thể hiện rõ rệt giữa các tỉnh vùng sâu, vùng xa với miền xuôi, giữa đồng bằng và miền núi Tỷ lệ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở yếu về năng lực, phẩm chất ở những tỉnh miền núi, vùng sâu vùng xa, một số vùng kinh tế mới phần lớn không đáp ứng được yêu cầu của công cuộc đổi mới ở địa phương Nhiều cán bộ không có điều kiện để học chính quy, chỉ có thể học chuyên tu, học tại chức, học từ xa
Với mục tiêu là trang bị những kiến thức và kỹ năng cơ bản, bổ sung kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ và quản lý nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức Nhà nước thành thạo về chuyên môn, nghiệp vụ; trung thành với chế độ XHCN, tận tuỵ với công việc, có trình độ quản lý tốt, đáp ứng yêu cầu của việc kiện toàn và nâng cao hiệu quả của bộ máy quản lý Nhà nước; thực hiện chương trình cải cách một bước nền hành chính Nhà nước Mục tiêu này cũng nhằm đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức Nhà nước, cán bộ cấp cơ sở theo tiêu chuẩn của từng ngạch công chức và chức danh cán bộ quản lý đã được Nhà nước ban hành nhằm khác phục về cơ bản những khiếm khuyết, hẫng hụt hiện nay về thi hành công vụ
Tổ chức thực hiện kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức đa dạng hoá các loại hình đào tạo bồi dưỡng, bám sát các tiêu chuẩn: Văn hoá, lý luận chính trị, chuyên môn nghiệp vụ, quản lý Nhà nước, tin học, ngoại ngữ, cho từng CBCC nhằm từng bước chuẩn hoá được đội ngũ cán bộ
đáp ứng yêu cầu đề ra trong giai đoạn cách mạng mới của đất nước
Công tác đào tạo, bồi dưỡng CBCC hành chính, cán bộ cấp cơ sở của huyện Chương Mỹ còn những khó khăn và hạn chế như: Đào tạo bồi dưỡng CBCC của thành phố chưa có quy hoạch tổng thể thống nhất, kế hoạch đào tạo chưa gắn với kế hoạch sử dụng, chất lượng đào tạo chưa cao; còn có biểu hiện học chạy theo bằng cấp hơn là để nâng cao năng lực công tác, trong công việc cụ thể của các cơ quan, đơn vị còn có người chưa thạo việc; đặc biệt các tiêu chuẩn về chất lượng CBCC cơ sở chậm chuẩn hoá do qua mỗi kỳ bầu cử, đại hội Đảng, đoàn thể các xã, phường, thị trấn lại có không ít sự thay đổi mà sự thay đổi bổ sung đó có nhiều cán bộ, công chức chưa đạt các tiêu chuẩn đề ra
Trang 36Qua hơn hai mươi năm thực hiện công cuộc đổi mới, Đảng ta đánh giá, khái quát tình hình CBCC ở cơ sở hiện nay có những ưu điểm lớn đó là: nhìn chung thế hệ cán bộ hiện nay đã phát huy được truyền thống cách mạng, tinh thần chủ động sáng tạo của các thế hệ đi trước; cán bộ đã được qua rèn luyện thử thách và trưởng thành trong đấu tranh cách mạng đó là những lực lượng nòng cốt, bước vào thời kỳ đổi mới vẫn phát huy tác dụng tốt; đã xuất hiện nhiều cán bộ trẻ được đào tạo căn bản, năng động sáng tạo, tự tin, dám nghĩ dám làm, dám chịu trách nhiệm; qua hơn hai mươi năm đổi mới nhiều mặt của cán bộ được nâng lên rõ rệt, phương pháp tư duy biện chứng có nhiều tiến bộ, năng lực quản lý điều hành có bước phát triển khá tốt, vẫn giữ gìn được phẩm chất đạo đức cách mạng có uy tín với nhân dân và trung thành với
lý tưởng của Đảng
Song cũng bộc lộ một số khuyết điểm tồn tại đó là: một bộ phận không nhỏ cán bộ thoái hoá biến chất, giảm sút ý chí, đạo đức lối sống làm ảnh hưởng lớn đến đời sống kinh tế xã hội; một số cán bộ chưa đáp ứng được yêu cầu của thời kỳ mới; nhiều cán bộ chưa qua đào tạo bồi dưỡng, vẫn còn làm theo kinh nghiệm; tỷ lệ cán bộ
nữ còn thấp, đội ngũ cán bộ chủ chốt chậm trẻ hoá
Trong sự nghiệp đổi mới đất nước ta hiện nay, khi nước ta đang thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước, với nền kinh tế thị trường định hướng XHCN; Việt Nam
đã hội nhập với nền kinh tế quốc tế, đòi hỏi Đảng ta phải xây dựng được đội ngũ cán
bộ quản lý nhà nước ở các cấp có tài, có đức và giỏi trên các lĩnh vực kể cả đội ngũ cán bộ đương chức và kế cận phải đủ tiêu chuẩn về mọi mặt
Trang 37Chương 2:
ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên
2.1.1.1 Vị trí địa lý
Huyện Chương Mỹ nằm ở phía Tây Nam thủ đô Hà Nội, phía Bắc giáp huyện Quốc Oai; phía Đông giáp với quận Hà Đông, huyện Thanh Oai; phía Nam giáp
huyện Ứng Hòa, Mỹ Đức; phía Tây giáp với huyện Lương Sơn (tỉnh Hoà Bình), cách
trung tâm thành phố Hà Nội 20km Trên địa bàn huyện có quốc lộ 6A đi các tỉnh phía Tây Bắc dài 18km, đường tỉnh lộ 419, có chuỗi đô thị Xuân Mai - Hòa Lạc - Sơn Tây; có tuyến đường Hồ Chí Minh chạy qua huyện với chiều dài 16,5km Với những
ưu đãi về vị trí địa lý, Chương Mỹ trở thành trung tâm giao thương kinh tế giữa các tỉnh vùng Tây Bắc với vùng Đông Bắc bộ Huyện có diện tích tự nhiên là 232,26
km2, dân số 29,5 vạn người, với 32 đơn vị xã, thị trấn; mật độ trung bình 1.303 người/km2.Trên địa bàn dân tộc Kinh chiếm đại đa số, dân tộc Mường có 01 thôn
Đồng Ké (thuộc xã Trần Phú) có khoảng 130 hộ với trên 500 nhân khẩu; ngoài ra
còn có một số dân tộc thiểu số khác ở rải rác tại các xã, thị trấn
Địa hình huyện Chương Mỹ khá đa dạng, vừa có đặc trưng của vùng đồng bằng châu thổ, vừa có đặc trưng của vùng bán sơn địa với núi, sông, đồng, bãi, hồ, hang động, … nằm xen kẽ lẫn nhau, chia thành 3 vùng rõ rệt: Vùng bãi, vùng đồi gò
và vùng chuyên lúa; có các sông Đáy, sông Tích, sông Bùi chảy qua và các hồ chứa nước lớn như hồ Đồng Sương, Văn Sơn, hồ Miễu đã được quy hoạch để phát triển thành các khu du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng
Toàn huyện có 68.000 hộ dân, có gần 100 cơ quan, đơn vị Nhà nước của trung ương, thành phố đóng trên địa bàn; trên 600 doanh nghiệp, công ty, doanh nghiệp tư nhân đang tham gia hoạt động sản xuất và kinh doanh, góp phần chuyển dịch mạnh
về cơ cấu kinh tế trong những năm qua
Trang 382.1.1.2 Khí hậu, thủy văn
Khí hậu, thủy văn trong vùng mang đặc điểm chung của khu vực đồng bằng sông Hồng: chủ yếu là chế độ nhiệt đới gió mùa, có mùa đông lạnh, nhiệt độ trung bình năm dao động từ 23 – 240C Mùa hạ nóng ẩm, nhiệt độ trung bình là 270C, nóng nhất là vào tháng 6 và tháng 7 nhiệt độ có khi lên cao nhất tới 36 đến 380C Mùa đông nhiệt độ trung bình là 190C, tháng giêng và tháng hai là tháng lạnh nhất, có q nhiệt độ xuống thấp chỉ vào khoảng 6 đến 80C
Nắng cả năm có trung bình 1276 giờ, số giờ nắng phụ thuộc theo mùa Các tháng hè số giờ nắng nhiều, cao nhất vào các tháng 5, 6, 7 và 10 Ngược lại vào mùa đông thì trời âm u, độ ẩm trong không khí cao, có tháng chỉ có 17 đến 18 giờ nắng (2/1997), trung bình chiếm 28% số giờ nắng trong năm
Độ ẩm giữa các tháng có sự chênh lệch nhau không lớn lắm, giữa tháng khô nhất với tháng ẩm nhất độ ẩm chỉ chênh lệch nhau 12% Các tháng hanh khô là từ tháng 10 – 12 Độ ẩm trung bình tối đa là 92% và tối thiểu là 80%, đây là độ ẩm đặc trung cho khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa
Lượng mua trung bình từ 1800 – 2000mm/năm, song phân bố không đều, tập trung 85% từ tháng 4 đến tháng 10 chỉ có 15% vào mùa khô từ tháng 11 đến 4 Năm mưa nhiều nhất đến 2400mm, mua ít nhất là 1200mm, được chia làm 2 mùa đó là mùa khô và mùa mưa
Mùa mưa từ tháng 4 đến thang 10 lượng mưa chiếm 85%, có năm đến 90% lượng mưa cà năm, cũng có năm cá biệt, mùa mưa kết thúc muộn kéo dài sang tháng
11 vẫn còn mưa lớn và chiếm tới 20% lượng mưa Mưa nhiều nhất vào tháng 7, 8, 9 Mưa nhiều, tập trung gây ngập lụt nhất là khi mưa kết thúc kết hợp với bão làm nước
lũ lên cao
Gió thay đổi theo mùa, tốc độ trung bình từ 2-3 m/s Mùa đông chủ yếu là gió mùa Đông Bắc với tần suất từ 60-70% Tốc độ trung bình là 2,4 – 2,6m/s lớn hơn cả mùa hạ, cuối đông gió chuyển sang hướng Đông Những ngày đầu có gió mùa Đông Bắc thường ở cấp 4, cấp 5 Mùa hạ hướng gió thịnh hành là hướng Đông Nam có tần
Trang 39suất từ 50 – 70%, tốc độ gió là 1,9 – 2,2 m/s, khi có bão tốc độ gió cực đại gần 40m/s Đầu mùa hạ thường xuất hiện gió Tây Nam khô nóng
Hệ thống sông ngòi của huyện có 3 con sông lớn chảy qua địa phận huyện đó
là Sông Tích, sông Đáy và sông Bùi Sông Đáy là một nhánh của sông Hồng, chảy qua địa phận Hà Nội xuống Hà Nam, Ninh Bình rồi đổ ra cửa Đáy Sông chảy qua 9
xã của huyện với chiều dài là 28 km Sông Đáy chảy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, có chiều rộng là khoảng 100 – 120 m Sông Đáy là hiện đang là nguồn cung cấp nước sinh hoạt cho toàn bộ huyện Chương Mỹ, ngoài ra nó còn cung cấp một lượng nước lớn đáng kể cho sản xuất nông nghiệp và các hoạt động công nghiệp Do sông Đáy có độ sâu tương đối, lại kéo dài từ Hà Nội xuống Ninh Bình, nên giao thông đường thủy khá tốt thuận lợi cho tàu bè qua lại
Sông Tích hay còn gọi là sông Tích Giang là phụ lưu cấp I của sông Đáy thuộc hệ thống sông Hồng, bắt nguồn từ dãy nùi Ba Vì, đầu nguồn là các hồ suối Hai, Đồng Mô Sông Tích chảy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, chiều dài chính của sông Tích là 91km diện tích lưu vực 1330 km2 Chiều dài con sông chảy qua huyện là
5 km, nhận nước từ sông Bùi tại vị trí cầu Tân Trượng trên quốc lộ 6 thuộc địa bàn huyện Chương Mỹ và đổ nước vào sông Đáy tại xã Phúc Lâm huyện Mỹ Đức
Chiều dài sông Bùi chảy qua địa phận chuyện Chương Mỹ 23 km từ cầu Tân Trượng đến Ba Thá, chảy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, chủ yếu là cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp
2.1.1.3 Tình hình đất đai
Là một huyện nông nghiệp, đất đai không chỉ là tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thiếu được mà nó còn liên quan đến nhiều mặt về phát triển kinh tế - xã hội của huyện Đánh giá đúng tình hình đất đai sẽ cho ta có phương hướng sử dụng đất
có hiệu quả hơn
Trang 40Bảng 2.1: Tình hình sử dụng đất tại huyện Chương Mỹ giai đoạn 2010 - 2012 (tại thời điểm 31/12 các năm 2010-2012)
Chỉ tiêu
Diện tích (ha)
Tỷ lệ (%)
Diện tích (ha)
Tỷ lệ (%)
Diện tích (ha)
Tỷ lệ (%) 2011/2010 2012/2011