Các tác hại khi bị ô nhiễm nguồn nước: Các tác hại khi bị ô nhiễm nguồn nước: Đối với các loại động thực vật trong nước Đối với các loại động thực vật trong nước : động thực : động [r]
Trang 1TÍCH HỢP GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
VÀO GIẢNG DẠY HÓA HỌC Ở TRƯỜNG
THPT
Trang 2MÔI TRƯỜNG
Môi trường của chúng ta đang bị ô nhiễm từng ngày từng giờ do các hoạt động vô ý hay cố ý của con người.
Bạn đã làm gì để Bảo vệ môi trường?
Trang 3Rác Th i ả
Tràn ngập khắp nơi
Trang 4X lí rác th i ử ả
• H.2
Trang 5Hi n t ng D u loang ệ ượ ầ
• H.3
Trang 6I Sự cần thiết của việc tích hợp GDBVMT vào giảng dạy
Hóa học ở trường THPT
1 Ô nhiễm môi trường là gì?
ÔNMT là làm thay đổi tính chất của MT, vi phạm tiêu chuẩn MT, làm thay đổi trực tiếp hoặc gián tiếp tới các đặc tính vật lí, hóa học, sinh học… của bất kì thành phần nào trong MT
Chất gây ô nhiễm chính là nhân tố làm cho MT trở nên độc hại hoặc có tiềm ẩn nguy cơ gây độc hại, nguy hiểm đến sức khỏe con người và sinh vật trong
MT đó.
Trang 7I Sự cần thiết của việc tích hợp GDBVMT vào giảng dạy
đề nóng hổi trên toàn cầu
Chính vì vậy việc GDBVMT nói chung, bảo vệ thiên nhiên, tài nguyên đa dạng sinh học nói riêng, là vấn đề cần thiết, cấp bách và bắt buộc(1) khi giảng dạy trong trường
Phổ thông, đặc biệt với bộ môn Hóa học thì đây là vấn đề hết sức cần thiết
Trang 8I Sự cần thiết của việc tích hợp GDBVMT vào giảng dạy
Hóa học ở trường THPT
2 Tại sao cần tích hợp GDBVMT vào giảng dạy
Hóa học ở trường THPTViệc này cung cấp cho HS những kiến thức cơ bản về
MT, sự ÔNMT… tăng cường sự hiểu biết về mối quan hệ tác động qua lại giữa con người với tự nhiên trong sinh hoạt
và lao động sản xuất, góp phần hình thành ở HS ý thức và đạo đức mới đối với MT, có thái độ và hành động đúng đắn
để BVMT
Vì vậy, GDBVMT cho học sinh là việc làm có tác dụng rộng lớn nhất, sâu sắc và bền vững nhất
Trang 9II PHƯƠNG THỨC TÍCH HỢP GDBVMT VÀO BỘ
MÔN HÓA HỌC Ở TRƯỜNG THPT
1.Xác định hệ thống kiến thức GDBVMT trong
môn Hóa học
►Hệ thống kiến thức GDMT ở trường PTTH ở nước ta hiện nay tập trung chủ yếu vào các môn học có liên quan đến môi trường nhiều như Hóa học, sinh học, địa lí, kĩ thuật nông nghiệp, công nghiệp, vệ sinh học đường, đạo đức…
►Nội dung kiến thức GDMT trong bộ môn Hóa học bao gồm:
Trang 10II PHƯƠNG THỨC TÍCH HỢP GDBVMT VÀO BỘ
MÔN HÓA HỌC Ở TRƯỜNG THPT
► - Phần đại cương: cung cấp cho HS một số kiến thức, các khái niệm, các quá tình biến hóa, các hiệu ứng mang tính chất hóa học của môi trường: môi trường là gì, chức năng của MT, bản chất hóa học trong sinh thái, hệ sinh thái, quan hệ giữa con người và MT, ÔNMT…
► - Phần nội dung ÔNMT: phân tích bản chất hóa học của sự ÔNMT, bản chất hóa học của hiệu ứng nhà kính, lỗ thủng tầng ozon, khói mù quang học, mưa axit, hiệu ứng hóa sinh của NO x
, H 2 S, SO x …, các kim loại nặng và một số độc tố khác, tác động của chúng tới MT…
► - Một số nội dung về: đô thị hóa và MT, một số vấn đề toàn cầu (trái đất nóng lên, suy giảm tầng ozon, Elnino, LaNina ) suy giảm sự đa dạng sinh học, dân số - MT và sự phát triển bền vững, các biện pháp bảo vệ MT, luật BVMT, chủ trương chính sách của Đảng - nhà nước về BVMT…
Trang 11II PHƯƠNG THỨC TÍCH HỢP GDBVMT VÀO BỘ
MÔN HÓA HỌC Ở TRƯỜNG THPT
►2 Phương thức tích hợp
GDBVMT là GD tổng thể nhằm trang bị những kiến thức về MT cho HS thông qua môn hóa học sao cho phù hợp với từng đối tượng, từng cấp học.
Việc đưa kiến thức GDBVMT vào hóa học thuận lợi và hiệu quả nhất là hình thức tích hợp và lồng ghép.
Trang 12II PHƯƠNG THỨC TÍCH HỢP GDBVMT VÀO BỘ
MÔN HÓA HỌC Ở TRƯỜNG THPT
Trang 13II PHƯƠNG THỨC TÍCH HỢP GDBVMT VÀO BỘ
MÔN HÓA HỌC Ở TRƯỜNG THPT
►2 Phương thức tích hợp
a Tích hợp
Ví dụ khi giảng về bài “Lưu huỳnh, khí H2S, một số oxit của lưu huỳnh”, song song với việc giảng dạy về các kiến thức về tính chất lí hóa, phương pháp điều chế…, GV cần phải biết khai thác các kiến thức có liên quan đến MT như việc gây ÔNMT khí quyển
Có thể cung cấp cho HS một số thông tin như: người
ta ước tính các chẩt hữu cơ trên Trái đất sinh ra khoảng
31 triệu tấn H2S, mà sự oxi hóa tiếp theo sinh ra SO2 Các hoạt động gây ÔNMT không khí bởi SO2 vẫn giữ vị trí hàng đầu Qua đó có thể nêu các biện pháp xử lí đơn giản đối với không khí bị ô nhiễm chứa lưu huỳnh
Trang 14II PHƯƠNG THỨC TÍCH HỢP GDBVMT VÀO BỘ
MÔN HÓA HỌC Ở TRƯỜNG THPT
►2 Phương thức tích hợp
a Tích hợp
Hoặc khi dạy bài “phân bón hóa học” GV nên hình thành cho HS ý thức BVMT thông qua nội dung bài, cần phân tích cho HS việc sử dụng không hợp lí phân bón, quá liều lượng có thể gây ÔN đất, nguồn nước, gây nhiễm độc cho nông sản, thực phẩm, người và gia súc…
Với sự kết hợp hài hòa, hợp lí giữa nội dung bài dạy
và GDBVMT bài giảng sẽ trở nên sinh động hơn, gây ấn tượng và hứng thú cho việc học của HS
Trang 15II PHƯƠNG THỨC TÍCH HỢP GDBVMT VÀO
BỘ MÔN HÓA HỌC Ở TRƯỜNG THPT
• 2 Phương thức tích hợp
b Lồng ghép
Lồng ghép thể hiện là việc lắp ghép nội dung bài học về mặt cấu trúc để có thể đưa vào bài học một đoạn, một mục, một số câu hỏi có nội dung GDBVMT
Ví dụ, khi giảng bài “ Tính chất hóa học chung của kim loại” GV có thể nêu thêm phần tác hại của một số kim loại nặng: Pb, Cd, Hg, As… với cơ thể con người Qua đó nêu một số phương pháp phòng ngừa và xử lí kịp thời khi bị nhiễm kim loại nặng.
Trang 16II PHƯƠNG THỨC TÍCH HỢP GDBVMT VÀO
BỘ MÔN HÓA HỌC Ở TRƯỜNG THPT
• 2 Phương thức tích hợp
b Lồng ghép
Hình thức lồng ghép có 3 mức độ: lồng ghép toàn phần, lồng ghép một hoặc nhiều bộ phận, lồng ghép liên hệ mở rộng bài học
Tùy thuộc điều kiện, mục tiêu bài học, cấu trúc nội dung bài học để có thể lựa chọn hình thức lồng ghép phù hợp để đem lại hiệu quả GD cao nhất.
Trang 17II PHƯƠNG THỨC TÍCH HỢP GDBVMT VÀO BỘ
MÔN HÓA HỌC Ở TRƯỜNG THPT
3 Phương pháp GDBVMT qua môn Hóa học ở trường THPT
phải bao quát các mặt khác nhau của môi trường: tự nhiên và nhân tạo, công nghệ, xã hội, kinh tế, văn hóa và thầm mĩ Giáo dục môi trường phải nêu rõ mối quan hệ giữa các vấn đề MT địa phương, quốc gia và toàn cầu cũng như các tương quan giữa hành động hôm nay và hậu quả ngày mai” (Dự án GDMT của UNESCO, 1998).
Mục tiêu GDBVMT cho HS: trang bị cho HS những kiến thức cơ bản về hóa học phổ thông, mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên Cung cấp những kĩ năng cơ bản về BVMT, biết cách ứng xử tích cực đối với những vấn đề cụ thể của MT Xây dựng cho HS những kiến thức cơ bản về MT để mỗi HS trở thành một tuyên truyền viên tích cực trong Gia đình, nhà trường và địa phương.
Trang 18a.Phương pháp GDBVMT qua giờ học trên lớp
và trong phòng thí nghiệm
Kiến thức về GDMT được tích hợp và lồng ghép vào nội dung bài học theo 3 mức độ: toàn phần, bộ phận, hoặc liên hệ Tùy từng điều kiện có thể sử dụng một số phương pháp sau:
PP giảng dạy dùng lời (minh họa, giảng giải,
kể chuyện, đọc tài liệu)
PP thảo luận, nêu và giải quyết vấn đề
PP sử dụng các thí nghiệm, các tài liệu trực quan trong giờ dạy
PP khai thác các kiến thức về GDBVMT từ những bài thực hành thí nghiệm trong phòng thí nghiệm
Trang 19b Phương pháp GDBVMT thông qua hoạt động ngoài giờ, ngoại khóa.
Trong nhà trường PT, hoạt động ngoại khóa để GD
MT là hình thức rất có hiệu quả, phù hợp với tâm lí HS,
sự GD của GV và sự tiếp nhận của HS rất nhẹ nhàng và sâu sắc
- Phương pháp hành động cụ thể trong các hoạt động theo từng chủ đề được tổ chức trong trường hay ở địa phương Thông qua tình hình thực tế, giúp HS hiểu biết được tình hình MT của địa phương, về tác động của con người đến MT Từ đó GD cho HS đạo đức MT và ý thức BVMT
- Phương pháp hợp tác và liên kết giữa nhà trường và cộng đồng địa phương trong các hoạt động về GDBVMT
- Thông qua hoạt động ngoại khóa cung cấp cho HS một số kĩ năng và phương pháp tích cực tham gia vào mạng lưới GDMT
Trang 20b Phương pháp GDBVMT thông qua hoạt động ngoài giờ, ngoại khóa.
Nội dung GDBVMT trong chương trình ngoại khóa có thể thông qua một số hình thức sau:
Câu lạc bộ: câu lạc bộ MT sinh hoạt theo các chủ đề
về ăn, uống, sử dụng các năng lượng, rác thải, bệnh tật học đường…
Hoạt động tham quan theo chủ đề: tham quan danh lam thắng cảnh, nhà máy, nơi xử lí rác thải, các loại tài nguyên
Tổ chức xem phim, băng hình, tranh ảnh về các đề tài BVMT, các cuộc thi tìm hiểu về MT và ÔNMT
Hoạt động trồng xanh hóa học đường: nhân các dịp
lễ, Tết, 26/3…, ngày MT thế giới 5/6
Hoạt động Đoàn – Đội về BVMT: tổ chức các chiến dịch tuyên truyền ở nhà trường và địa phương
Trang 21III MỘT SỐ ĐỊA CHỈ TÍCH HỢP GDBVMT
TRONG CHƯƠNG TRÌNH HÓA HỌC THPT
Trang 22III MỘT SỐ ĐỊA CHỈ TÍCH HỢP GDBVMT TRONG CHƯƠNG TRÌNH HÓA HỌC THPT
Trang 23III MỘT SỐ ĐỊA CHỈ TÍCH HỢP GDBVMT TRONG CHƯƠNG TRÌNH HÓA HỌC THPT
Trang 24IV MỘT SỐ NỘI DUNG BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
1.Ô nhiễm không khí, sự suy giảm tầng ozon
Khí quyển của chúng ta được chia thành nhiều tầng, trong đó có tầng ozon (cách mặt đất khoảng 25 km) Ozon (Ozone theo tiếng Hy Lạp nghĩa là “tỏa mùi”), được Friederich Schoben người Thụy Sỹ phát hiện năm
1840 và năm 1858 đã được Houzeau người Pháp xác định là thành phần quan trọng của khí quyển.
Ozon do 3 nguyên tử oxi kết hợp với nhau, chúng được hình thành dưới tác dụng của bức xạ mặt trời, sấm sét… Độ dày mỏng của tầng ozon ở mỗi nơi là không giống nhau Tầng ozon có tác dụng quan trọng trong việc ngăn cản các tia cực tím nguy hiểm từ mặt trời chiếu xuống trái đất.
Trang 25IV MỘT SỐ NỘI DUNG BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
Hiện nay, tầng ozon đã bị báo động là đang “thủng” nghiêm trọng Hiện tượng này được giải thích có nhiều nguyên nhân, trong đó có một nguyên nhân là do các khí thải công nghiệp như CFC, NO2…
Những dữ liệu năm 1994 của UNEP-WMO (tổ chức môi trường thế giới) đã chứng minh rằng các hợp chất hữu cơ có chứa clo và brom khi đi vào tầng bình lưu đã giải phóng nguyên tử clo và brom, đưa chúng về chu kỳ xúc tác phá hoại ozon Axit clohdric do núi lửa phun ra không hòa tan được trong nước khí quyển và không bị nước mưa quét sạch trước khi đi vào tầng bình lưu
Năm 1979 người ta mới phát hiện ra tầng ozon đang bị bào mòn và cho đến nay đã bị thủng ở rất nhiều nơi Theo ước tính, khi tầng ozon giảm 10% thì lượng tia cực tím tăng lên khoảng 13% Và cứ giảm 11% ozon thì sẽ làm tăng 2% trường hợp ung thư da
Trang 26IV MỘT SỐ NỘI DUNG BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
Một số tác nhân gây thủng tầng ozon:
Các chất clofloucacbon (CFC) có tác dụng làm phồng các tấm cách nhiệt (cách âm) và dung môi trong công nghiệp điện tử,
cơ khí, chất làm lạnh trong tủ lạnh, chất đẩy trong các bình xịt tóc…là một trong số những tác nhân nguy hiểm nhất với tầng ozon
Loại hay dùng nhất là Freon, có thời gian tôn tại rất lâu dài,
từ 50-400 năm tùy loại Chúng bay lên không trung tận tầng cao nhất của khí quyển, gặp các tia cực tím và bị vỡ ra làm clo được giải phóng
Mỗi nguyên tử clo phá hủy một phân tử ozon và để tạo thành một phân tử ClO, oxit này lại phản ứng với một oxi nguyên tử để tái tạo clo nguyên tử, sau đó, tiếp tục đi phá hủy một phân tử ozon khác
Một nguyên tử clo có thể phá hủy khoảng 100 nghìn phân tử ozon trước khi bị phản ứng trở lại thành dạng ổn định gọi là “bình chứa”.
Trang 27IV MỘT SỐ NỘI DUNG BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
Cơ chế của sự phá hủy tầng ozon:
Rất may, hiện nay, CFC
đã bị cấm sử dụng Nhưng
không phải vì thế mà tầng
ozon không tiếp tục bị
thủng, lượng tàn dư của nó
trong khí quyển vẫn còn,
thêm vào đó các oxit của
nitơ và lưu huỳnh cũng có
tác hại tàn phá tương tự.
Trang 28IV MỘT SỐ NỘI DUNG BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
Một số nguồn khí thải gây ô nhiễm không khí:
Nguồn ô nhiễm công nghiệp: các chất độc hại trong khí thải công nghiệp như COx,
NOx, SO2… và tro bụi Các nhà máy sản xuất thủy tinh thải ra một lượng lớn bụi HF,
SO2 Các nhà máy gạch, nung vôi thải ra đáng kể một lượng bụi COx, NOx Công nghiệp luyện kim, cơ khí thải ra một lượng đáng kể bụi khói kim loại và nhiều chất độc hại.
Trang 29IV MỘT SỐ NỘI DUNG BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
Nguồn ô nhiễm do giao thông vận tải: Các chất khí độc hại do động cơ đốt trong thải ra, hơi Chì, làm ô nhiễm không khí, hành lang hai bên của tuyến giao thông Một phần không nhỏ bụi bị cuốn theo sự chuyển động của các phương tiện giao thông và vận tải hàng không, đặc biệt là các máy bay siêu âm ở độ cao lớn thải ra một lượng lớn NOx có hại cho tầng Ozon
Nguồn ô nhiễm không khí do sinh hoạt: khí thải ra
do nguồn này chỉ chiếm một phần rất nhỏ, đa phần là các khí COx Hàm lượng tuy nhỏ, nhưng chúng phân bổ dày và cục bộ trong phạm vi nhỏ hẹp của gia đình cho nên có ảnh hưởng trực tiếp đến con người
Các hạt bụi và sol khí là đối tượng chính chứa các kim loại nặng trong khí quyển, là nguồn gốc tạo nên hiện tượng “khói mù quang học”, cản trở ánh sáng và phản xạ ánh sáng mặt trời
Trang 30IV MỘT SỐ NỘI DUNG BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
Hậu quả của ÔNKK
Hậu quả của việc thủng tầng ozon tới khí
hậu : giảm thời gian có nắng, đồng nghĩa với
việc thời gian mưa sẽ tăng lên Đất đai không
có vôi, tăng nồng độ axit dẫn đến cằn cỗi.
Hậu quả trực tiếp với con người : tăng rối
lọan tim mạch, hô hấp, các bệnh phổi, hen, ung thư phổi, các bệnh ung thư da và các bệnh da liễu…
Với các công trình nghệ thuật lịch sử : đá bị
ăn mòn, mặt ngoài công trình bị cáu bẩn, các
bộ phận kim loại gỉ sét nhanh chóng…
Trang 31IV MỘT SỐ NỘI DUNG BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
2 Ô nhiễm nguồn nước
Nước là nguồn sống của con người và mọi loại sinh vật, nó rất cần thiết cho rất nhiều ngành công nghiệp, sinh hoạt và nông nghiệp… Tuy nhiên hiện nay, nguồn nước đang bị ô nhiễm nặng nề.
Có nhiều nguyên nhân gây ra ô nhiễm nguồn nước trong đó có một số nguyên nhân sau:
Trang 32IV MỘT SỐ NỘI DUNG BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
chưa được xử lí, bao gồm chất thải vô cơ và chất thải hữu cơ Nhiều chất chỉ cần với hàm lượng 1mg/lit cũng
đủ để giết chết các động vật (như cromat, xianua…),cũng có thể là hydrocacbua, các chất tẩy rửa Chất bẩn từ quần áo, chất thải từ phân người có khoảng 4,9g Phốtpho/ngày Hậu quả là nếu thải vào nguồn nước
sẽ làm tăng nhanh các sinh vật nổi và thủ tiêu dần các một số động vật khác dưới nước.
nước đô thị, các lò sát sinh, trại chăn nuôi, nhà máy thực phẩm, nhà máy giấy… Lượng chất hữu cơ này trong nước
đã tiêu thụ một phần không nhỏ lượng oxi hòa tan trong nước và hệ quả là làm chết các động - thực vật nước.
Trang 33IV MỘT SỐ NỘI DUNG BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
nhiệt điện và điện nguyên tử đã là tăng nhiệt độ của nước Nước nóng sẽ làm tỷ lệ oxi hòa tan trong nước giảm Khiến cho các loài thủy sản dễ bị ngạt thở, rối loạn chu kỳ sinh học, thậm chí dẫn tới hủy diệt một số loài.
loại này chủ yếu do hàm lượng nitơ trong đất quá mức cho phép vì dùng phân hóa học không đúng cách và không đúng liều lượng, hoặc sử dụng phân chuồng chưa qua xử lí các độc tố
Các độc tố đọng lại trong các loại thực phẩm, vật nuôi
sẽ xâm nhập vào cơ thể con người khi sử dụng Một nguồn ô nhiễm nông nghiệp khác là do sử dụng quá liều lượng các hóa chất diệt cỏ, trừ sâu hại…
Các loại hóa chất này tồn tại rất lâu trong đất, gây ảnh hưởng không chỉ đến nguồn đất mà còn cả nguồn nước
và tất yếu sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến con người.
Trang 34IV MỘT SỐ NỘI DUNG BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
Các tác hại khi bị ô nhiễm nguồn nước:
vật sống được trong nước là do quang hợp được từ ánh sáng mặt trời kết hợp với việc sử dụng oxi hòa tan trong nước để hô hấp, quang hợp.
Đồng thời, chúng cũng lấy các chất dinh dưỡng trong nước để sống Khi các chất thải hữu cơ đổ vào nước, chúng sẽ làm giảm lượng oxi hòa tan trong nước, một số hợp chất hữu cơ tích tụ, đóng váng, kết bè trên mặt nước làm giảm khả năng quang hợp của các loài thực vật, chưa kể đến các chất độc hại mà những nguồn chất thải này mang đến.
Hậu quả là nhiều loại vi sinh vật bị chết, có loài bị nhiễm độc Và hậu quả thật khó lường khi con người tiêu thụ các thực phẩm từ những nguồn nhiễm độc này.
Trang 35IV MỘT SỐ NỘI DUNG BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
Đối với con người: do dùng nước sinh hoạt bị
ô nhiễm để ăn uống, tắm rửa, người ta có thể bị nhiễm khuẩn gây các bệnh phổ biến, các bệnh
dạ dày, ruột, nhiễm virut, viêm gan, nhiễm kí sinh trùng, giun sán…
Ngoài ra, bị các khoáng chất độc hại xâm nhập
cơ thể như: thủy ngân, chì, antimon, các nitrat làm thay đổi hồng cầu, ngăn cản quá trình cố định oxi, rất nguy hiểm, gây tỷ lệ tử vong cao ở trẻ sơ sinh
Nước nhiễm độc flou khi uống có thể gây hỏng men răng…